Tuy nhiên, bêncạnh đó còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém và nhất là sự suy thoái về đạođức của một bộ phận cán bộ, công chức, tình trạng xuống cấp của hệ thốngcác giá trị văn hóa công sở
Trang 1CBCC : Cán bộ công chức
CBCCVC : Cán bộ công chức viên chức CQHCNN : Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa như một tổng thể những giá trị tinh thần, văn hóa đặc trưngcho một xã hội hay một nhóm xã hội, nó hàm chứa trong bản thân không chỉvăn học, nghệ thuật mà còn bao gồm cả phương thức sống, các quyền cơ bảncủa con người, hệ thống các giá trị truyền thống và tín ngưỡng
Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa còn đang trở thành động lực chủ đạocủa các cơ quan, tổ chức, bởi khi nói đến bất kỳ một cơ quan, tổ chức nàocũng đều nói đến nét văn hóa riêng và nó cho phép người ta có thể phân biệtđược giữa các cơ quan, tổ chức thông qua những phương thức điều hành khácnhau Văn hóa tổ chức nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các
cơ quan, tổ chức cũng như phương thức tồn tại và phát triển của cơ quan, tổchức
Văn hóa được tạo ra như là một cơ chế khẳng định mục tiêu của cơquan, tổ chức, nó hướng dẫn và uốn nắn những hành vi ứng xử của con ngườitrong cơ quan, tổ chức đó và sự tác động của văn hóa tới hoạt động của cơquan, tổ chức có cả yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực Do đó, người đứng đầu
cơ quan, tổ chức phải có phương thức lãnh đạo, chỉ đạo hữu hiệu sao cho pháthuy được tối đa những mặt tích cực và hạn chế tối thiểu những mặt tiêu cựccủa nó
Qua hơn hai mươi năm đổi mới , với nhiều thành tựu đã đạt được, kinh
tế - xã hội phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, đấtnước ta ngày càng khẳng định được vị trí trên trường quốc tế Tuy nhiên, bêncạnh đó còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém và nhất là sự suy thoái về đạođức của một bộ phận cán bộ, công chức, tình trạng xuống cấp của hệ thốngcác giá trị văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính hiện nay, tinh thầntrách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ chưa cao, còn cóhiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, còn có thái độ quan liêu, hách dịchtrong quan hệ ứng xử, giao tiếp với công dân và chưa thực sự xem mình là "
Trang 3công bộc " của dân điều đó, đã gây nên bức xúc trong đời sống xã hội, làmảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức trongquản lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng.
Xuất phát từ tình hình trên và cũng khẳng định tầm quan trọng của vănhóa công sở, ngày 02/8/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số129/2007/QĐ-TTg ban hành kèm theo Quy chế văn hóa công sở tại các cơquan hành chính nhà nước, trong đó chứa đựng các quy định về bài trí công
sở, trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thihành nhiệm vụ Thực chất, việc quy định văn hóa công sở là để các cơ quan,đơn vị trên cơ sở đó công khai, minh bạch về thủ tục trong giải quyết côngviệc cho các tổ chức, công dân cũng như quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm củacán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ; xây dựng lề lối và mốiquan hệ trong công việc thật sự khoa học, hiệu quả thiết thực nhằm đảm bảo
kỷ cương, kỷ luật trong các cơ quan nhà nước, đồng thời nhằm phát huy tínhchủ động, tích cực, sự tương trợ, đồng thuận và đề cao trách nhiệm của mọicán bộ, công chức
Ủy ban nhân dân huyện do Hội đồng nhân dân huyện bầu ra, là cơ quanchấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân huyện và cơ quan nhànước cấp trên Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhànước trên toàn bộ địa giới của huyện, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lýthống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, trong thời gian qua cácUBND huyện đều đã xây dựng và ban hành Quy chế văn hóa công sở nhằmtriển khai phù hợp với cơ quan mình Song việc thực hiện quy chế văn hóacông sở còn nhiều bất cập và có nơi chưa được triển khai thực hiện một cáchthống nhất Chính vì thế, cần phải có sự đánh giá, nhìn nhận một cách kháchquan để có cơ sở khoa học trong việc xây dựng, ban hành và triển khai thựchiện nghiêm túc, có hiệu quả quy chế văn hóa công sở đối với UBND huyệnnói chung
Trang 4Do vậy, tôi chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế văn hóa công sở của UBND huyện - Từ thực tế UBND huyện Đông Anh - Hà Nội ” làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về văn hóa công sở nói chung và
thực trạng thực hiện quy chế văn hóa công sở của UBND huyện Đông Anhhiện nay, những thành công và hạn chế của việc thực hiện quy chế văn hóacông sở này; yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra đối với việc thực hiện quychế văn hóa công sở này, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảthực hiện quy chế văn hóa công sở
Nhiệm vụ nghiên cứu : Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra,luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau :
- Nêu bật những vấn đề lý luận chung về văn hóa, văn hóa công sở vàthống nhất những khái niệm có liên quan đến vấn đề đặt ra
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của văn hóa công sở với hiệu quả hoạt độngcủa UBND cấp huyện
- Khảo sát thực tế triển khai thực hiện quy chế văn hóa công sở tạiUBND huyện Đông Anh, đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân hạn chế củacông tác này
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiệnquy chế văn hóa công sở của UBND cấp huyện nói chung
3 Tình hình nghiên cứu
Văn hóa với tầm quan trọng vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sựphát triển, nó luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của cơ quan, đơn vị haybất kỳ một tổ chức nào Do vậy từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứuquan tâm đến đề tài này, ngoài ra cũng có nhiều giáo trình, tài liệu, luận vănthạc sĩ, luận án tiến sĩ của các trường đại học, các nhà khoa học, các cơ quanviết về lĩnh vực này Tuy nhiên chưa có giáo trình hay tài liệu, luận văn, luận
án nghiên cứu chi tiết về nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế văn hóa công
sở của UBND cấp huyện
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu văn hóa công sở, việc xây dựng vàban hành thực hiện quy chế văn hóa công sở của UBND huyện và qua thực tế
từ UBND huyện Đông Anh, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chếvăn hóa công sở
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn dựatrên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, sử dụng tổng hợp một sốphương pháp như thống kê, phân tích và tổng hợp, điều tra bằng phiếu, phỏngvấn sâu, tổng kết thực tiễn… Ngoài ra luận văn cũng kế thừa kết quả nghiêncứu liên quan, đồng thời dựa vào các chủ trương, đường lối của Đảng, phápluật của Nhà nước quy định về lĩnh vực này
6 Đóng góp của luận văn
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất các giải pháp để nâng caohiệu quả thực hiện quy chế văn hóa công sở của UBND huyện nói riêng, tạicác cơ quan hành chính nhà nước nói chung
Kết quả nghiên cứu có thể là căn cứ để xem xét, đánh giá và nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và nâng cấp môi trường làm việc tạicác cơ quan hành chính nhà nước Đồng thời, qua đó đóng góp vào công cuộccải cách nền hành chính nhà nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương :
Chương I Cơ sở lý luận về văn hóa và văn hóa công sở
Chương II Thực trạng triển khai thực hiện quy chế văn hóa công sở của UBND huyện Đông Anh - Hà Nội
Chương III Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế văn hóa công sở.
Trang 6CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ 1.1 Khái niệm văn hóa công sở
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một khái niệm có từ lâu đời và nó có một nội hàm rất rộnglớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người Trong từng giai đoạnphát triển của xã hội loài người, với nhiều sự đổi thay và tương ứng với từnggiai đoạn phát triển đó là những đặc điểm nhất định đánh dấu bước ngoặtquan trọng của xã hội, đó vừa là thành quả của một thời kỳ, đồng thời cũngghi nhận những bước tiến mới của nhân loại Theo đó, cùng với sự xuất hiện
và phát triển của xã hội loài người, cũng xuất hiện đời sống văn hoá, song đểhiểu một cách chính xác khái niệm về văn hoá thì không hẳn đã thống nhất.Trước đây, con người hiểu văn hoá còn ở một góc độ phiến diện, văn hoá vẫnđược quy về một lĩnh vực chuyên biệt đặc thù nào đó của cong người Đếnnay, cùng với sự phát triển của xã hội loài người văn hoá được nhìn nhận vàđánh giá khá toàn diện dựa trên những góc cạnh khác nhau của cuộc sốngchẳng hạn như: văn hoá là sự phát triển vật chất và tinh thần của loài người;văn hoá là khái niệm có nội dung bao gồm khoa học, kỹ thuật, giáo dục, vănhoá, nghệ thuật; văn hoá chỉ lối sống, nếp sống, đạo đức xã hội Bên cạnh đócòn rất nhiều nhà Nhân học, Dân tộc học đã đưa ra nhiều định nghĩa cho tớinay vẫn chưa thống kê hết được Các quan điểm về văn hoá bao hàm nội dungsâu rộng và phong phú, vì vậy, có thể nói trong khoa học xã hội và nhân vănchưa có khái niệm nào phức tạp như khái niệm văn hoá Do đó, mỗi một họcgiả ở mỗi đất nước, ở mỗi thời kỳ khác nhau đều có cách lý giải không hoàntoàn giống nhau
Theo ngôn ngữ phương Tây, từ tương ứng với văn hóa trong tiếng Việt
là culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur tiếng Đức, có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa là giữ
gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt và nghĩa cầu cúng
Trang 7Với quan điểm của Trung Quốc thì danh từ văn hoá lần đầu tiên xuấthiện ở Thư tịch Trung Quốc, sách Thuyết Uyển, Thiên Chi Vũ, Lưu Hướng(Khoảng 77 đến 56 trước Công nguyên) đời Tây Hán đã đề xuất đến văn hoá:Phàm Vũ Chi Hưng; Vị bất phục dã; Văn hoá bất cải; Nhiên hậu gia chu (Đại
ý là Phàm dùng vũ lực để đối phó với kẻ không phục tùng; dùng văn hoá màkhông thay đổi được thì sau mới giết (trừng phạt)) Văn hoá ở đây nói đến đều
là chỉ văn trị và giáo hoá của nhà nước Từ thời Hán, Đổng Trọng Thư bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật trải qua các vương triều phong kiến đều đề
xướng văn trì giáo hoá để hưng nước yên dân Có lẽ đây là nguyên nhân quantrọng để xã hội phong kiến Trung Quốc tồn tại lâu dài Văn hoá Trung Quốcphồn vinh hưng thịnh đã đồng hoá rất nhiều dân tộc thiểu số và được biệt ảnhhưởng đến văn háo của một số nước phương Đông
Văn hoá là tri thức khoa học, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độtiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học Hệ thống kíến thức được conngười sáng tạo, tiếp thu, tích luỹ, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua lao động,sản xuất, đấu tranh giữa con người với thiên nhiên và xã hội Qua đó conngười tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những cáchđối nhân xử thế nhất định Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và địnhhướng cho lối sống, nếp suy nghĩ, đạo lý, tâm hồn và hoạt động của mỗi dântộc để đạt tới chân, thiện, mỹ trong mỗi quan hệ giữa con người với conngười, giữa con người với môi trường xã hội và tự nhiên
Với nghĩa rộng, văn hoá là tổng hợp sáng tạo văn minh vật chất, vănminh tinh thần trong quá trình phát triển xã hội loài người Nói về nghĩa hẹp,văn hoá chỉ hình thái ý thức và thượng tầng kiến trúc của xã hội, tức là cáihình thức tổ chức và chế độ xã hội thích ứng với hình thái ý thức xã hội.Đồng thời với nghĩa rộng cũng bao gồm văn hoá khảo cổ học, lấy tiêu chuẩn
đồ vật làm đặc trưng Ví dụ như văn hoá trống đồng Văn hoá trở thành mônkhoa học chuyên nghiên cứu hiện tượng văn hoá một cách có hệ thống Nóbắt đầu phát triển ở nước Pháp vào khoảng giữa thế kỷ XIX, trước tiên họ đề
Trang 8xuất khái niệm khoa học văn hoá, chủ trương xây dựng độc lập, tiến hành
nghiên cứu khoa học để nói rõ sự tiến triển của văn hoá
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà văn hoá Mỹ chính thức xác lập nguyên tắckhung văn hoá.Như vậy, văn hoá là một hiện tượng lịch sử, mỗi xã hội đều cónền văn hoá thích ứng với nó và phát triển lên theo đà xã hội Văn hoá phảnánh chính trị, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời lại tác động đến kinh tế vàchính trị của xã hội Văn hoá có tính dân tộc rất rõ rệt, theo sự phát triển củacác dân tộc từ đó mà hình thành nên truyền thống dân tộc riêng Văn hoá lại
có tính liên tục của lịch sử, nó không phải vì triều địa lịch sử nhất thời thayđổi mà xuất hiện tình hình đứt đoạn Văn hoá đã phản ánh sự tổng hoà củamột dân tộc, một quốc gia, cho đến hành vi của loài người ở một khu vực.Văn hoá cũng đang chế ước hành vi xã hội và thế giới tinh thần của mọingười Một dân tộc vĩ đại tất nhiên sẽ sáng tạo ra nền văn hoá vĩ đại và huyhoàng Văn hoá vĩ đại, huy hoàng cũng sẽ tôi luyện cho dân tộc vĩ đại này điđến tương lai càng mới, càng cao, càng tốt đẹp
Văn hoá là những phương thức sản xuất, cách thức sinh hoạt khác nhaucủa cộng đồng người hội tụ tri thức, sáng tạo ra văn minh tinh thần và vănminh vật chất Nó có đặc điểm của tính lịch sử, tính truyền thống, tính dân tộc.v v.v Chính vì vậy, trong lịch sử các thời kỳ khác nhau, ở các nước và khuvực khác nhau, dân tộc khác nhau đều sáng tạo ra những nền văn hoá huyhoàng, xán lạn
Ở nước ta, theo từ điển Việt thì văn hoá có năm nghĩa: Một là, tổng thể
nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong
quá trình lịch sử (Ví dụ: Kho tàng văn hoá Việt Nam); Hai là, những hoạt
động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần – nói một cách
tổng quát (Ví dụ: Phát triển văn hoá); Ba là, tri thức, kiến thức khoa học (Ví dụ: Trình độ văn hoá); Bốn là, trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh (Ví dụ: Sống có văn hoá); Năm là, nền văn hoá cảu
Trang 9một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng thể những di vật tìmthấy được có những đặc điểm giống nhau (Ví dụ: Văn hoá Đông Sơn).
Xuất phát từ cách tiếp cận và các cơ sở lý luận nêu trên có thể hiểu kháiniệm văn hoá như sau:
Văn hoá là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích luỹ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống và sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội Văn hoá có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v.v…
Trên tinh thần hiểu văn hoá theo nghĩa rộng, Tổ chức văn hoá, khoahọc, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa như sau:Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt củađời sống (của các cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũngnhư đang diễn ra trong hiện tại qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệthống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dântộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [52,tr.23]
Đặc biệt, khi nghiên cứu về văn hoá, Hồ Chí Minh đã viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏicủa sự sinh tồn [26, tr.431]
Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hìnhthành và phát triển con người xã hội Vì chính Người với tầm nhìn xa đã thực
sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cáchmạng, sự nghiệp phát triển con người và xã hội
Trang 101.1.2 Khái niệm công sở
Đối với mọi tổ chức khi ra đời đều nhằm những mục tiêu nhất định,không có mục tiêu xác định thì tổ chức không có lý do để ra đời Mục tiêuđược xem là điều kiện tiên quyết để một tổ chức ra đời, tồn tại và phát triển.Công sở cũng là một loại hình của tổ chức, hoạt động với tư cách một tổ chứctrong bộ máy nhà nước Thuật ngữ công sở được sử dụng rộng rãi ở châu Âu
từ cuối thế kỷ XVIII và theo nghĩa cổ điển : Công sở là một tổ chức đặt dưới
sự quản lý trực tiếp của nhà nước để tiến hành một chuyên ngành của nhànước như là : cơ quan hành chính nhà nước, bệnh viện, viện nghiên cứu…đây
là loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, được điều chỉnh bằng côngpháp và phụ trách quản lý một loại công việc hay một loại hoạt động dịch vụcông mang tính chất chuyên ngành
Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế do Nhà xuất bản Thuận Hoá xuất bản năm 1999 đã định nghĩa: công: chung chỉ thuộc về nhà nước; sở: nơi, chỗ Công sở là chỗ làm việc cuả cơ quan nhà nước.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, năm 1994 do Hoàng Phê
chủ biên đã định nghĩa đã định nghĩa công sở là trụ sở cơ quan xí nghiệp nhà nước.
Từ điển và từ ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, định nghĩa công là chung; sở là nơi chốn; công sở là chỗ làm việc của một cơ quan nhà nước.
Có quan điểm cho rằng, Công sở là nơi hoạt động của hệ thống tổ chức
bộ máy nhà nước hoặc tổ chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế côngchức hoặc thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước Công sở có vịtrí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định,được sử dụng công quyền để tổ chức công việc nhà nước hoặc dịch vụ công
vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng
Tuy nhiên, cần lưu ý về thuật ngữ công sở có thể được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau trong những trường hợp khác nhau Cụ thể trong một sốtrường hợp, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ khía cạnh vật chất, địa điểm
Trang 11hoạt động, hay còn gọi là trụ sở, nơi công vụ được tiến hành hoặc dịch vụcông được cung cấp Ví dụ, trong Quyết định 213/2006/QĐ-TTg ngày 25tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý công
sở các CQHCNN thì thuật ngữ công sở được hiểu theo nghĩa này Trong một
số trường hợp khác, thuật ngữ công sở được sử dụng để thay thế cho một
thuật ngữ khác quen dùng là cơ quan hành chính nhà nước Ví dụ, khi xác định nhiệm vụ của các công sở trong việc xây dựng văn hoá công sở (tích
cực)- một cách sử dụng quyền lực đúng đắn và để phục vụ nhân dân tốt nhấtthì thuật ngữ công sở được sử dụng theo nghĩa thứ hai này
Theo đó, công sở thuộc các cấp, hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau
có những đặc điểm đặc thù Song xét trên bình diện thống nhất thì công sở cómột ssặc điểm chung, giúp phân biệt chúng với các loại tổ chức khác trong xãhội, như sau:
-Thứ nhất, công sở là đơn vị cơ bản cấu thành hệ thống hành pháp hoạt
động thường xuyên, liên tục Công sở có địa vị pháp lý, có chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn theo luật định
- Thứ hai, công sở hoạt động để thực thi quyền lực nhà nước Các công
sở quản lý hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để hoạch định
và quản lý quá trình thực thi chính sách công trong khi các công sở sự nghiệpchịu trách nhiệm về việc cung cấp các dịch vụ công như: y tế, giáo dục…
- Thứ ba, công sở có địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về
thực thi công vụ (các chính sách và dịch vụ công) và cơ cấu tổ chức được quyđịnh cụ thể tại các văn bản pháp luật và được hệ thống pháp luật bảo đảm thihành
- Thứ tư, công sở có mối quan hệ mang tính thứ bậc (khái niệm cấp
trong cơ cấu thứ bậc) để đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong điều
hành và có mối quan hệ mang tính phối hợp (khái niệm hệ) để đảm bảo
nguyên tắc phối hợp (đồng bộ) trong hành động với các công sở khác trong hệthống
Trang 12- Thứ năm, công sở được thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ, công chức.
- Thứ sáu, công sở có trụ sở xác định, có kinh phí hoạt động và các
công sản khác để thực thi công vụ
- Thứ bẩy, công vụ hoạt động để phục vụ lợi ích công, lợi ích của nhân
dân
Trong những đặc điểm trên, đặc điểm thứ hai, năm và bẩy là đặc điểmnổi bât nhất, giúp dễ rang nhận dạng và phân biệt công sở với các loại tổ chứckhác trong xã hội Nhưng dù phân loại theo nguyên tắc nào thì công sở nóichung cũng đều có đặc điểm chủ yếu như: Là một pháp nhân, là cơ sở để bảođảm công vụ, có quy chế cần thiết để thực hiện các chuyên môn do Nhà nướcquy định
Từ các đặc điểm trên có thể hiểu về công sở như sau: Công sở là nơi để
tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, quản lý các công việc của đời sống xã hội, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để phục vụ công việc chung, bảo đảm các thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp các bộ phận cán bộ, công chức theo một cơ chế nhất định để thực hiện mọi nhiệm vụ được nhà nước giao Do đó, công sở là bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước.
1.1.3 Khái niệm văn hoá tổ chức
Nghiên cứu văn hoá là một cách thức quan trọng để hiểu về con người.Theo đó nghiên cứu văn hoá của một tổ chức là một điều kiện quan trọng đểhiểu đến các yếu tố tác động đến tư duy, quan điểm và hành vi của các thànhviên trong tổ chức đó Văn hoá liên quan đến niềm tin và cách hành độngtrong nội bộ tổ chức và liên quan đến hình ảnh, diện mạo, uy tín và ảnh hưởngcủa tổ chức đối với bên ngoài Khi nói đến văn hoá người ta thường hàm ý vềkhía cạnh tinh thần Trên thực tế, văn hoá có biểu hiện mang tính vật thể vàphi vật thể Nói như vậy, cũng có nghĩa rằng văn hoá có những điều có thểcảm nhận được bằng các giác quan nhưng cũng có những điều mà ta chỉ đánhgiá qua nhận thức mà thôi
Trang 13Cũng tương tự như khái niệm văn hóa, văn hóa tổ chức trong nhữngnăm gần đây được một số nhà nghiên cứu về tổ chức, quản lý và quản lý hànhchính đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau nhằm phục vụ cho những mục đíchnghiên cứu khác nhau.
GS.TSKH Nguyễn Văn Thâm, trong cuốn “ Tổ chức và điều hành công
sở ” đưa ra cách hiểu : Văn hóa tổ chức là hệ thống các giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với các cơ cấu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tổ chức mà mọi người trong đó đều tuân theo một cách tự nguyện.
TS Nguyễn Văn Hậu ( Học viện Hành chính ) đưa ra cách hiểu : “ Văn hóa tổ chức là toàn bộ những giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, có sự biến động thay đổi theo thời gian, tạo cho tổ chức có một bản sắc riêng.”
Văn hóa tổ chức, theo hướng tiếp cận khác được xem xét với tư cách làmột nguồn lực ( có thể là động lực nhưng cũng có thể là trở lực ) đối với sựvận hành của tổ chức Nguồn lực đó có nguồn gốc từ lịch sử của tổ chức, tạonên cách nghĩ, cách làm mang tính truyền thống của các thành viên thuộc tổchức, có thể nhận biết thông qua các hành vi ứng xử của họ hoặc qua hình ảnhcủa tổ chức được biểu hiện ra bên ngoài Tiếp cận “văn hóa tổ chức” theohướng này cho phép phát hiện và lý giải cách nghĩ, cách làm của cách thànhviên thuộc tổ chức; tạo khả năng sử dụng nguồn lực văn hóa phục vụ cho hoạtđộng của các thành viên thuộc tổ chức
Tóm lại, “ Văn hóa tổ chức ” có thể được hiểu là : Kiểu văn hóa được hình thành, tồn tại và phát triển trong tổ chức; tạo nên nét đặc trưng của tổ chức, tác động đến tư duy và chi phối hành động của các thành viên thuộc tổ chức Văn hóa tổ chức là kết quả hợp nhất trong một khuôn mẫu chung những nguyên tắc định hướng hành động được các thành viên thuộc tổ chức chấp thuận,những giá trị thuộc về tổ chức được các thành viên chú trọng,
Trang 14những tiêu chuẩn hành động được các thành viên đề cao, những quy tắc để tồn tại hòa hợp trong tổ chức được các thành viên áp dụng một cách tự giác.
1.1.4 Khái niệm văn hoá công sở
Quan niệm về văn hoá công sở ở mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ chínhtrị, mỗi quốc gia khác nhau thì khác nhau Trên thế giới, người ta nhắc nhiềuđến văn hoá tổ chức Văn hoá tổ chức được thể hiện dưới các hệ thống giá trị,niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, trong đó mọi hoạtđộng tuân theo những chuẩn mực mang tính truyền thống và những thói quen
có khả năng mang bản sắc riêng mà mọi thành viên trong tổ chức tuân theomột cách tự nguyện Văn hoá tổ chức giúp chúng ta nhìn thấy được sự khácnhau giữa các tổ chức khác nhau
Văn hóa công sở là một bộ phận của văn hóa quốc gia, dân tộc, khi cónhững yếu tố tác động làm thay đổi các mặt của đời sống văn hóa dân tộc,cũng sẽ là những yếu tố làm thay đổi văn hóa công sở Mỗi công sở là một xãhội thu nhỏ, một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn, có lịch sử thànhlập và phát triển, có các mối quan hệ nội bộ bên trong, quan hệ với các công
sở trong cùng một hệ thống và quan hệ với xã hội (các cá nhân và tổ chức )…Trong điều kiện đó, văn hóa công sở được hình thành và phát triển, được pháthuy và góp phần quyết định vào việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụcủa mỗi cơ quan nhà nước Biểu hiện của văn hóa công sở có thể nhận thấytrong các quy định, quy chế, nội quy, điều lệ… Chẳng hạn, quy chế văn hoácông sở của từng cơ quan là một công cụ mà trong quá trình thực thi công vụmọi CBCCVC đều phải nghiêm túc thực hiện thông qua các chế định cụ thể
để hướng đến những giá trị nhất định như trang phục, lễ phục đối vớiCBCCVC là nam giới, nữ giới; cách ứng xử, giao tiếp với đồng nghiệp haykhi tiếp công dân Trong khi đó, sự nghiêm túc, hay thái độ, sự đam mê, hưngphấn trong quá trình thực thi công vụ hoặc những biểu hiện ở thái độ, cử chỉcủa từng CBCCVC hay của một tổ chức nhất định thì phải là sự đánh giábằng nhận thức và suy luận logic mới có thể nhận biết được Nói như vậy, để
Trang 15thấy rằng, yếu tố văn hoá nói chung và văn hoá công sở nói riêng là vấn đề rấtphong phú, tinh tường song rất nhạy cảm và nó chỉ trở thành văn hoá khi sựtinh tế đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tiễn.
Từ sự nhận thức trên có thể khái niệm văn hoá công sở như sau:
Văn hoá công sở là một sự pha trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, trông đợi và chuẩn mực được phát triển và duy trì trong công sở, tạo nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt công sở này với công sở khác.
Văn hoá công sở ảnh hưởng đến các thành viên trong công sở một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp Thông qua các quy định chính thức như Quy chế làmviệc, văn hoá là công cụ để các nhà quản lý định hướng cách thức hành vi củađội ngũ nhân viên theo những kiểu nhất định Đồng thời, văn hoá còn hiệndiện và ảnh hưởng đến nếp làm của cán bộ, công chức thông qua hệ thống cácquy tắc xử sự mang tính thông lệ, không chính thức, không thành văn, nhưngđôi khi có tính lâu bền và sức ẩnh hưởng mạnh mẽ hơn bất cứ công cụ chínhthức nào Lấy ví dụ, trong trường hợp lãnh đạo phản đối một cách quyết liệt
và vô lý một sang kiến thực thi nào đó hoặc đối xử không công bằng với mộtnhân viên nào đó, trong mỗi đơn vị, hoặc cả công sở có thể tồn tại một kiểu
ứng xử riêng, bất thành văn nhưng được chấp nhận một cách gần như đương nhiên hay thế thì phải thế.
Cần phân biệt giữa hiện tượng và văn hoá Hiện tượng có thể xảy ramột hoặc vài lần trong khi văn hoá là các hiện tượng xảy ra (hoặc được thửnghiệm), được cân nhắc, sàng lọc, chấp nhận và duy trì Các quy tắc xử sự,khi được chấp nhận thì được thế hệ nọ truyền cho thế hệ kia, nhóm nọ truyềncho nhóm kia, người nọ truyền cho người kia và người ta cứ thế mà làm
Trên thực tế, để hiểu một cách thấu đáo về văn hoá công sở cũng làđiều phải bàn Bởi lẽ, văn hoá công sở vốn là sự pha trộn riêng biệt có thể làchuẩn mực của tổ chức này nhưng lại là phù phiếm của công sở kia Do vậy,việc xác định các biểu hiện của văn hoá công sở là một yêu cầu quan trọng đểđánh giá công sở Cụ thể:
Trang 16Thứ nhất, biểu tượng: là một công cụ thể hiện về ý chí, về lịch sử và
cũng là cách thức để khuyếch trương hình ảnh của một tổ chức Biểu tượngcủa công sở có thể là lá cờ tổ quốc được treo theo quy định hiện hành về lễtân nhà nước và lôgo, ngoài ra còn thể hiện trong văn bản với tư cách là cácquyết định hành chính hành văn;
Thứ hai, khẩu hiệu: phương châm hành động Điều này thể hiện rất rõ trong các tổ chức kinh doanh Công ty Ford có phương châm là Tất cả những
gì chúng tôi làm là do bạn quyết định, hệ thống các trường đại học ở Anh thì phấn đấu để đạt hệ thống tiêu chuẩn trung tâm của sự hoàn hảo do Chính phủ
ban hành và đánh giá, các công sở của chúng ta hành động theo phương châm
chính là duy trì một hệ thống hành chính của dân, do dân và vì dân Bên cạnh
đó, phương châm này còn được cụ thể hoá hơn tuỳ theo ngành, nghề, địa
phương Ví dụ ở điểm một cửa có phương châm thực thi công vụ là Nguyên tắc: công khai, đơn giản, đúng pháp luật; Yêu cầu: nhanh chóng, thuận tiện, văn minh;
Thứ ba, chiến lược: chương trình, hành động;
Thứ tư, quy trình thủ tục: Các quy định cụ thể về cách thức thực thi và
cách thức đánh giá kết quả thực thi;
Thứ năm, thủ tục: nghi thức, nghi lễ hay nói ngắn gọn hơn là các chuẩn
mực hành động Như thủ tục trình ký văn bản, quy trình hội họp Yếu tố nàyđặc biệt quan trọng vì nó phản ánh toàn bộ cách tư duy, cách hành động vàmức độ tổ chức đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ cảu mình Một ví dụ khác
về nghi thức là cách thức một nhân viên mới ra mắt các đồng nghiệp củamình hoặc việc chia tay một thành viên chuyển sang đơn vị khác, công sởkhác hoặc về hưu;
Thứ sáu, trang phục: trong văn hoá nói chung và văn hoá công sở nói
riêng việc sử dụng trang phục sao cho vừa phù hợp vừa thể hiện vẻ đạp truyềnthống, vừa thuận tiện trong khi làm nhiệm vụ là một đòi hỏi cần thiết, bêncạnh đó, nếu cơ quan, đơn vị nào muốn tạo một dấu ấn riêng có thể áp dụng
Trang 17việc mặc đồng phục, logo trên áo Đây có thể coi là một biểu hiện quan trọngkhi đánh giá về văn hoá công sở;
Thứ bẩy, mức độ gắn kết trong nội bộ: quá trình điều hành cần xây
dựng tập thể thành một khối gắn kết chặt chẽ, trong đó các cá nhân kết hợptrong hành động, mọi thành viên ủng hộ các cấp quản lý và đặc biệt là nhàquản lý cấp cao nhất Có sự gắn kết giữa các nhóm không chính thức xoayquanh việc thực hiện tốt nhiệm vụ;
Thứ tám, các chuẩn mực về xử sự: quan hệ nhân sự (nhân viên với nhân
viên, nhân viên với các nhà quản lý và CBCCVC với dân), tích cực (nhân ái,
hỗ trợ) Có quy định cụ thể về cách thức giao tiếp, xử sự với công dân, tinhthần trách nhiệm, các mối quan hệ chính thức được đánh giá như thế nào? Dưluận tập thể, cách thức xử lý các vấn đề giới, phong cách lãnh đạo, tinh thầnhọc hỏi;
Thứ chín, tinh thần trách nhiệm trong hành động;
Thứ mười, cách thức giải quyết xung đột.
Cách biểu hiện của hành vi văn hoá công sở như thực tế cho thấy, hếtsức đa dạng và phong phú Chúng đòi hỏiphải xem xét tỷ mỉ mới có thể nhậnthấy và từ đó đánh giá được hết mức độ ảnh hưởng của chúng tới năng suấtlao động quản lý, tới hiệu quả hoạt động của công sở nói chung
Kỹ thuật hành chính theo những quan điểm phổ biến nhất liên quan đếnphương thức điều hành các hoạt động của cơ quan công sở, đến nền nếp làmviệc, kỷ cương trong bộ máy quản lý nhà nước Chính vì vậy, mà kỹ thuậthành chính có vai trò rất quan trọng để tạo nên văn hoá công sở Nếu việcđiều hành công sở luôn dựa trên những quy chế chặt chẽ, kỹ thuật điều hànhđược cải tiến không ngừng, các thông tin trong quá trình đó luôn luôn được
xử lý thoả đáng và đáp ứng được yêu cầu của các thành viên trong công sở,thì điều đó cũng có nghĩa là văn hoá công sở đang được đề cao, đang có điềukiện để phát triển
Trang 181.1.5 Các yếu tố cấu thành văn hóa công sở
Khi nói đến các yếu tố cấu thành văn háo công sở, có nhiều cách tiếpcận, trong đó đơn giản và phổ biến nhất là quan niệm về thành phần của vănhóa công sở, bao gồm : Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ( văn hóa tinhthần )
Trong văn hóa công sở, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể liên quanchặt chẽ với nhau Văn hóa phi vật thể trong công sở phản ánh những giá trịvăn hóa mà đời sống văn hóa coi trọng Ngược lại, văn hóa vật thể cũng làmthay đổi những thành phần của văn hóa phi vật thể
1.1.5.1 Giá trị văn hóa vật thể của văn hóa công sở
Giá trị văn hóa vật thể của văn hóa công sở được đặc trưng bởi nhữngyếu tố sau :
Hệ thống văn bản đã ban hành : Văn bản là công cụ điều hành, chứa
đựng thông tin và được trình bày theo một thể thức thống nhất Trong hoạtđộng quản lý nhà nước, trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau,
cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân…Văn bản là một trong những hìnhthức giao tiếp chính thức, là phương tiện thông tin quan trọng, truyền đạt cácmệnh lệnh hay quyết định hành chính trong quản lý, ngoài ra còn được ghichép lại những thông tin mang tính chứng cứ pháp lý
Nội dung văn bản quản lý nhà nước, khi được ban hành phải đảm bảohai yêu cầu là tính hợp pháp và tính hợp lý, đúng thể thức và quy trình banhành… nếu không sẽ không có giá trị về mặt pháp lý hoặc hiệu lực, hiệu quảkhông cao
Trang phục của những người làm việc trong công sở : Trang phục là
biểu hiện bên ngoài của bản sắc văn hóa dân tộc, là thành tố quan trọng củavăn hóa tộc người Trang phục biểu hiện của thẩm mỹ, thuần phong mỹ tục vàphong cách sống của dân tộc Khi nền văn hóa của các quốc gia, dân tộc cóbản sắc riêng tạo nên tính đặc thù, độc đáo của mỗi nền văn hóa, trong đó vănhóa trang phục là yếu tố dễ nhận biết
Trang 19Điều kiện làm việc và thiết bị trong công sở : Khi xem xét các vấn đề
về điều kiện làm việc và trang thiết bị làm việc trong các công sở hiện đại làphải chú ý đến : môi trường làm việc, cách thức bố trí và sắp xếp các bộ phậnlàm việc trong công sở sao cho phù hợp…cùng các trang thiết bị đáp ứngđược yêu cầu của từng công việc, có như vậy nâng cao năng lực, đạt hiệu quảcông việc
Kỹ thuật điều hành công sở : Kỹ thuật điều hành công sở có một vai trò
hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, góp phầntiết kiệm chi phí hành chính của công sở Tạo ra mối quan hệ tốt, gắn bó giữacác cơ quan hành chính nhà nước và người dân một cách thiết thực hơn,qua
đó sẽ làm tăng thêm niềm tin của người dân đối với hoạt động của cơ quannhà nước
1.1.5.2 Giá trị văn hóa phi vật thể của văn hóa công sở
Các giá trị văn hóa phi vật thể của văn hóa công sở được xem xét ở cáckhía cạnh sau :
Văn hóa chính trị là khái niệm có nội hàm rộng lớn và chỉ xuất hiện từkhi quan niệm văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng Chính trị và văn hóa gắn
bó hữu cơ với nhau, chính trị chi phối văn hóa và văn hóa bổ sung cho chínhtrị Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “ văn hóa có liên hệ với chính trị rất mậtthiết”
Văn hóa chính trị nơi công sở trước hết cần quán triệt quan điểm nhândân làm chủ Cán bộ, công chức trong công sở cần nhận thức rõ quá trình thựchiện nhân dân làm chủ đòi hỏi xác lập quan hệ làm việc giữa các tổ chức quầnchúng và các tổ chức nhà nước Quan hệ đó cần được thực hiện thông quanhững quy chế làm việc, theo một chương trình, một kế hoạch có địnhhướng,có mục tiêu rõ ràng Có xác lập quan hệ giữa nhà nước với nhân dânmới có thể mở ra những phương hướng nhằm giải quyết có hiệu quả nhữngvấn đề phức tạp của đời sống xã hội như những vấn đề chống tệ nạn xã hội,chống tham nhũng, chống lãng phí v.v… có quan hệ mật thiết với dân, cán bộ
Trang 20công chức nơi công sở mới hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và qua
đó mới có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ
Văn hóa đạo đức là lĩnh vực then chốt của văn hóa tinh thần xã hội, vănhóa đạo đức có vị trí quan trọng trong đời sống của con người Nó điều chỉnhcác quan hệ của con người với thế giới xung quanh bằng cách ngăn cấm hoặccho phép một cái gì đó, tán thành hoặc chỉ trích môt cái gì đó Ngày nay, cácchức năng của văn hóa, đạo đức được mở rộng, văn hóa đạo đức cần cho conngười để điều khiển hành vi của mình trong cuộc sống, để tự đánh giá, để tựđiều chỉnh các mối quan hệ với thế giới xung quanh.Một trong những nhiệm
vụ quan trọng của việc giáo dục đạo đức là việc hình thành văn hóa đạo đứccho con người
Trong văn hóa công sở, văn hóa đạo đức là một trong những chuẩn mựcphổ quát nhất, nó tạo điều kiện tối đa cho cán bộ, công chức trong thực thinhiệm vụ và trong các quan hệ giao tiếp xã hội Khi nói về nhân cách đạo đứccủa cán bộ, công chức trong công sở trong điều kiện đẩy mạnh CNH-HĐHkhông thể nêu cao giá trị của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh Hồ Chí Minhquan niệm cán bộ, công chức là dây chuyên của bộ máy, nếu dây truyềnkhông tốt, không chạy thì động cơ dù có chạy thì toàn bộ bộ máy cũng bị têliệt Cán bộ công chức là người đem chính sách của chính phủ, đoàn thể thihành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thựchiện được Tư tưởng văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh soi sáng trên nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội là định hướng giá trị mà cán bộ, công chức noi theo,phấn đấu không ngừng để hoàn thành tốt sự nghiệp cách mạng
Văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức
Công sở là nơi thường xuyên diễn ra các mối quan hệ giữa người vàngười trong nội bộ và ngoài công sở Thông qua những mối quan hệ đó, cán
bộ, công chức nơi công sở bộc lộ bản chất của mình vì bản chất của conngười được biểu hiện thông qua quá trình giao tiếp Vấn đề đặt ra đối với mỗicán bộ công chức nơi công sở là thực hiện giao tiếp có văn hóa Giao tiếp có
Trang 21văn hóa là toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong xãhội đạt đến trình độ nhất định của cái đẹp, cái tốt, cái thật, phù hợp với tiêuchuẩn định hướng về văn hóa.
1.2 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng và thực hiện Quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước
Sau hơn hai mươi năm đất nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sựlãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam, công tác xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng Quy trình ban hành các vănbản quy phạm pháp luật được đổi mới Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh đượcban hành tạo khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh, tạo thuận lợi cho nhà nước quản
lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đốingoại
Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao vàphát huy trên thực tế Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăngcường đáng kể Những tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối củaĐảng, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý điều hành của Nhà nước, đẩymạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị- xã hội của đất nước Đểphù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Chính phủ đã xây dựng vàban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 tầmnhìn 2020, xác định khâu theo chốt là công tác cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định vấn đề cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thànhbại của cách mạng, Người cho rằng:
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giảithích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dânchúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng
Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi công việc [26,tr 269]
Cũng như: Muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt haykém Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng
Trang 22những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người cóích cho công viêc chung của chúng ta [26,tr 240].
Với đặc thù của cải cách hành chính là một quá trình thay đổi cơ bản,lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành chính và tất cả các hoạtđộng có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộphận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồnlực để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý và các sản phẩm (dịch vụ hoặc hànghoá) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyềnlực Như vậy, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ địnhnhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máynhà nước: lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính, chỉhuy, phối hợp, kiểm tra, thông tin và đánh giá Do đó, một trong những khâuquan trọng là định thể chế thể hiện qua việc ban hành ra các văn bản quyphạm pháp luật Cơ sở pháp lý của việc thực hiện quy chế văn hoá công sở tạicác CQHCNN được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26tháng 02 năm 1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X quy định về kháiniệm CBCC; nghĩa vụ quyền lợi của CBCC; những việc CBCC không đượclàm; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng CBCC; tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng;điều động, biệt phái; hưu trí, thôi việc; quản lý CBCC; khen thưởng và xử lý
vi phạm Có thể nói đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên, tương đốiđầy đủ những quy định về CBCC nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có phẩmchất đạo đức tốt, có trình độ, có năng lực và tận tụy với nhân dân, trung thànhvới Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Là cơ sở để đưa ra các tiêu chí cũngnhư lộ trình cho công tác đào tạo, sử dụng CBCC đạt hiệu quả cao, đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 21/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28tháng 4 năm 2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X về sửa đổi, bổ
Trang 23sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức Cụ thể tại Điều 17 sửađổi, bổ sung như sau:
CBCC không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản
lý, điều hành cá doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chứcnghiên cứu khao học tư CBCC không được làm tư vấn cho các doanh nghiệp,
tổ chức kinh doanh, dịch vụ và các tổ chức, cá nhân khác ở trong nước vànước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật côngtác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết cảu mình và các công việckhác mà việc tư vấn đó có khả năng gây phương hại đến lợi ích quốc gia.Chính phue quy địnhcụ thể việc làm tư vấn của CBCC
Và Điều 19: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợhoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạtđộng trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lýnhà nước [55]
Tại Pháp lệnh này đã quy định rõ việc CBCC không tham gia vào các
tổ chức kinh tế hoặc những việc có liên quan đến công việc mà CBCC đóđang đảm nhiệm Như vậy, đây cũng là những quy định nhằm hạn chế thấpnhất sự lợi dụng ảnh hưởng của công việc, đạo đức của CBCC để làm tư lợicho cá nhân, khó khăn cho công tác quản lý CBCC Đó cũng có thể là nguồnnguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp tới sự trong sạch, lành mạnh của đội ngũCBCC cũng như vị trí, vai tròcủa cơ quan, đơn vị nơi CBCC đó tham gia làmviệc Bên cạnh đó nhằm điều chỉnh mối quan hệ của CBCC sao cho phù hợp,tập chung tốt hơn vào công việc được giao
Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 11/2003/PL-UBTVQH11 ngày 29tháng 4 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 11 về sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức Theo đó, đã sửa đổi, bổsung một số nội dung cơ bản như: Quy định cụ thể hơn về CBCC trong biênchế; chế độ bầu cử; đối tượng áp dụng theo Pháp lệnh này; các chế độ (như:
Trang 24lương, thôi việc, hưởng chế độ thôi việc, bổ nhiệm, biên chế) đối với CBCC,công chức dự bị; các hình thức kỷ luật Như vậy, đã quy định chi tiết hơn sovới Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 cho phù hợp với hoàn cảnh thực
tế và sự phát triển chung toàn xã hội Quy định như trên cũng nhằm chuẩnhoá đội ngũ CBCC theo hướng chính quy, chuyên nghiệp; mặt khác cũng đưa
ra các chế tài xử lý đối với CBCC khi vi phạm kỷ luật, pháp luật;
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nàhnước giai đoạn 2001-2010 Theo đó, Chính phủ đánh giá thực trạng nền hànhchính nhà nước; những thuận lợi, khó khăn đối với cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001-2010; Đưa ra mục tiêu của cải cách hành chính nhà nướcgiai đoạn 2001-2010 và quan điểm cải cách; Nội dung của chương trình tổngthể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và lộ trình tổ chứcthực hiện từng nội dung công tác Cụ thể là xây dựng và hoàn tgiện các thểchế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa; thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nàh nước.Trong đó, việc đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạmpháp luật là một nội dung then chốt;
Quyết định 169/2003/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2003 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đạihoá công sở của hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn I (2003-2005).Chính phủ đã đánh giá những hạn chế:
Công sở của các CQHCNN các cấp được đầu tư, xây dựng thiếu quyhoạch, tuỳ tiện, gây tốn kém Gần đây một số CQHCNN có điều kiện đã hiệnđại hoá công sở, tuy nhiên chưa có bước đi cụ thể, thiếu tính đồng bộ vàchuẩn hoá, có nơi chưa phù hợp với trình độ của CBCC và trình độ tổ chứclao động trong cơ quan Hiện đại hoá công sở đang được hiểu một cách đơnthuần chỉ là xây cất công sở, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, khôngtính đến khả năng sử dụng và hiệu quả kinh tế kỹ thuật [18]
Trang 25Đồng thời cũng xác định nguyên nhân là do: xuất phát từ thói quen đãđược hình thành trong nền hành chính tập trung quan liêu bao cấp, các cơquan từ trung ương đến địa phương chưa thực sự quan tâm đến việc đổi mớiphương thức lãnh đạo chỉ đạo điều hành, đặc biệt là công tác phối hợp giữacác CQHCNN ở trung ương trong quá trình hoạch định và thực hiện chínhsách; quy chế công vụ, công chức chưa rõ rang, cơ chế trách nhiệm cá nhânchưa được cụ thể, nhất là người đứng đầu CQHCNN [18].
Rõ rang trong quá trình hoạt động của các CQHCNN đã bộc lộ nhữngvấn đề còn hạn chế tại các công sở, song đây là những văn bản kịp thời củaChính phủ nhằm điều chỉnh cho phù hợp với tiến trình đổi mới và xu hướngphát triển của xã hội
Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế Một cửa tại các CQHCNN ở địa phương Khái niệm Một cửa được hiểu là cơ chế giải quyết công việc cảu tổ
chức, công dân thuộc thẩm quyền các CGHCNN từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ
đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả lại kết quả tại CQHCNN Việc thực hiện cơ chế Một cửa nhằm đạt được bước
chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa CQHCNNvới tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, chống tệ quanlieu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước
Quyết định số 213/2006/QĐ-TTg ngày 25 tháng 9 năm 2006 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý công sở các CQHCNN.Nội dung của Quy chế quy định về quản lý sử dụng, điều chuyển, thu hồi, cảitạo và xây dựng mới công sở của các CQHCNN Trong đó, quy định rất cụthể về việc bố trí phòng làm việc, gắn biển cơ quan, nơi tiếp dân, bên ngoàiphòng làm việc phải ghi biển tên đơn vị, chức danh CBCCVC; trong phòngphải bố trí gọn gàng và không đun nấu v.v.v
Tất cả các văn bản trên là cơ sở cho lộ trình thực hiện cải cách hành
Trang 26chính, tuy nhiên để kế hoạch cải cách hành chính nàh nước đạt hiệu quả,thành công, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcthì cần có một đội ngũ CBCCVC chính quy, chuyên nghiệp, có văn hoá- mà ởđây là văn hoá công sở Đây là điều kiện không thể thiếu đối với một nềnhành chính công vụ hiện đại và là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập quốctế.
Nghị quyết số 8-NQ/BCT ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 Trong đó, đã chỉ rõ:
Ban hành Luật công chức, công vụ: xác định rõ cơ quan, công chức nhànước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Xây dựng tiêu chuẩn đạođức nghề nghiệp cho từng loại CBCC và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khenthưởng, kỷ luật đối với CBCC [2]
Trên cơ sở đó, ngày 13 tháng 11 năm 2008 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hộikhoá 12 đã thông qua Luật số 22 về ban hành Luật cán bộ, công chức Luậtnày quy định:
- Quản lý CBCC phải tuân theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độtrách nhiệm công việc là phân công, phân cấp rõ người sử dụng, đánh giá,phân loại CBCC dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hànhcông vụ Thực hiện bình đẳng giới
- CBCC trong khi thi hành công vụ phải chấp hành quyết định của cấptrên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó trái pháp luật thì phải kịp thời báocáo bằng văn bản với người ra quyết định Trường hợp người ra quyết địnhvẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản mà người thi hành phải thihành nhưng không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành Đồngthời phải gửi văn bản đến cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người raquyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định cảu mình Khithi hành công vụ, CBCC phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức, có tácphong lịch sự, giữ gìn uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức đơn vị và đồng
Trang 27nghiệp; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhândân.
- CBCC là người đứng đầu có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quy
định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; xử lý nghiêm minh những CBCC thuộc quyền quản lý có hành vi viphạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan lieu, cửa quyền, hách dịch
- CBCC được nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ,quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước.CBCC làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dântộc thiểu số, vùng có kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; làm việc trong cácngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chínhsách ưu đãi theo quy định của pháp luật
- CBCC làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhànước thì ít nhất trong thời hạn năm năm kể từ khi được quyết định nghỉ hưuhoặc thôi việc thì không được làm việc cho tổ chức, cá nhân trong nước hoặc
tổ chức, cá nhân người nước ngoài hoặc liên doanh với người nước ngoài
Như vậy, trong Luật CBCC đã quy định về cán bộ, công chức, công sở,văn hoá công sở, môi trường làm việc Đây là những điều kiện tốt tạo cơ sở
cho việc xây dựng đội ngũ CBCC vừa hồng vừa chuyên theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cụ thể là mỗi công chức phải giỏi tay nghề, có đạo đức, hành nghề đúng quy chế công vụ Cùng các nhân tố khác trong hệ thống quản
lý hành chính và tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức, viên chức là yếu
tố đảm bảo cho công tác quản lý hành chính có hiệu lực và hiệu quả
Để Luật Cán bộ, công chức đi vào cuộc sống, có hiệu quả thi hành từngày 01 tháng 01 năm 2010; ngày 20 tháng 3 năm 2009, Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quyết định số 365/QĐ-TTg về phê duyệt kế hoạch triển khaithực hiện Luật Cán bộ, công chức, kèm theo đó là phụ lục những công việccần làm cũng như thời gian triển khai, hoàn thành các nội dung trong LuậtCán bộ, công chức đã quy định
Trang 28Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27 tháng 4 năm 2006 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn2006-2010 Tại Quyết định này, Chính phủ đã đưa ra 6 nội dung công tác lớn
đó là: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng vànâng cao chất lượng đội ngũ CBCC; cải cách tài chính công; hiện đại hoá nềnhành chính nhà nước và công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính.Trong nội dung hiện đại hoá nền hành chính nhà nước Chính phủ đề cập và
“giao cho Văn phòng chính phủ chủ trì thực hiện Đề án về xây dựng quy chế văn hoá công sở, thời gian hoàn thành là tháng 3 năm 2007” [13,tr 11] Thực
tiễn cho thấy, đã đến lúc cần đưa vấn đề văn hoá công sở thành một văn bảnquy phạm pháp luật để điều chỉnh toàn bộ các hoạt động công vụ củaCBCCVC trong các CQHCNN, điều đó cũng thể hiện sự cần thiết phải xâydựng và hoàn thiện đội ngũ CBCCVC chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêucầu của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển
Trên đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành và thực hiệnquy chế văn hoá công sở tại CQHCNN Đó không những chỉ là đòi hỏi tất yếuđối với quá trình cải cách hành chính nhà nước mà còn là sự cần thiết để chấnchỉnh tiến tới loại bỏ những nhiêu khê, trì trệ đang tồn tại trong tư duy củamột bộ phận CBCCVC Việc ban hành quy chế văn hoá công sở là phù hợpvới hiến pháp và quan điểm của Đảng về công tác cán bộ cũng như môitrường làm việc; đồng thời thể hiện ý trí, nguyện vọng của nhân dân về mộtnền hành chính phục vụ nhân dân, xứng đáng là công bộc của dân, đó còn làmột đảm bảo pháp lý cao trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Sự ra đời của quy chế văn hoá công sở còn thể hiện tính pháp quyền, gópphần để Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo chủ trương, đường lốicủa Đảng như hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định:
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọimặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
Trang 29kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích Tổquốc và của nhân dân [35].
Đồng thời, sẽ tạo dựng cho CBCCVC trong CQHCNN có thái độ phục
vụ vì nhân dân, một môi trường làm việc hiện đại, khoa học và thân thiện
1.3 Nội dung, hình thức, vai trò của việc thực hiện quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước
1.3.1 Nội dung quy chế văn hoá công sở tại cơ quan hành chính nhà nước
Thứ nhất, quy định về trang phục, giao tiếp và ứng xử của CBCCVC
khi thi hành nhiệm vụ, bài trí công sở tại các CQHCNN bao gồm: Bộ, các cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban nhân dân các cấp Tuynhiên, quy chế không áp dụng với các cơ quan đại diện ngoại giao của ViệtNam ở nước ngoài Theo nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng, các cơ quan đạidiện ngoại giao của ta ở nước ngoài tuy có điều chỉnh bởi các chế tài khácnhư Luật Công pháp Quốc tế, các cam kết khác song việc điều chỉnh văn hoácông sở là điều nên quy định, bởi lẽ lễ tiết, tác phong, thái độ giao tiếp; ứng
xử là văn hoá của người Việt Nam cho dù có đi đâu chăng nữa thì cốt cách,phong tục tập quán là những nét đẹp văn hoá đã thuộc về bản chất, thuộc vềnét riêng của dân tộc Việt Nam thì không dễ gì thay đổi Hơn nữa, nếu không
có sự điều chỉnh bời văn hoá công sở thì rất có thể một số CBCCVC trong các
cơ quan đại diện ngoại giao của ta ở nước ngoài sẽ “quên” phần nào cách ứng
xử, giao tiếp và điều này nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnhcủa Việt Nam ở nước ngoài Thời gian qua có ý kiến khi cán bộ, công dân đicông tác, du lịch, thăm than nhân ở nước ngoài có việc muốn liên hệ với cơquan ngoại giao của ta ở nước sở tại đã không nhận được sự ủng hộ cần thiết,
mà một trong những tồn tại chính là thái độ ứng xử khi giao tiếp
Quy chế đưa ra những nguyên tắc khi thực hiện văn hoá công sở phảituân thủ Đó là, phải phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc vàđiều kiện kinh tế-xã hội; phải phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũCBCCVC chuyên nghiệp, hiện đại; phải phù hợp với các quy định của pháp
Trang 30luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành chính, chủ trương hiện đại hoá nềnhành chính nhà nước Đây là những yêu cầu bắt buộc và rất cần thiết trongquá trình thực hiện Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một đòi hỏi kháchquan, nhất là trong quá trình hội nhập có sự giao thoa giữa các nền văn hoá,nếu không có sự lựa chọn tốt dân tộc ta sẽ phải gánh chịu hậu quả của nhữngluồng gió độc tràn vào cho dù đó là điều ta không mong muốn, nó hoàn toànkhông phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam Đặc biệt đây
là văn hoá công sở tồn tại trong CQHCNN Bên cạnh đó là yếu tố knh tế- xãhội, việc triển khai và thực hiện quy chế pảhi gắn liền với sự phát triển kinhtế- xã hội ở từng đơn vị, địa phương Sẽ là không văn hoá nếu sự đầu tư dàntrải, lãng phí, phô trương có thể là hiện đại nhưng lại mất đi vẻ mỹ quan, môitrường tự nhiên Do vậy, để thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả quy chế, thìhơn ai hết, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và từng CBCCVC nhận thức
rõ cần phải làm gì để xây dựng cơ quan mình là cơ quan văn hoá, đáp ứng sựnghiệp cải cách hành chính với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ văn minh
Mục đích của quy chế nhằm đảm bảo tính nghiêm trang và hiệu quảhoạt động của các CQHCNN; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực củaCBCCVC trong hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũCBCCVC có phẩm chất đạo đức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Để đạtđược mục tiêu trên là một yêu cầu không nhỏ đối với từng cá nhân CBCCVCtrong các CQHCNN Theo đó, cần phải chấn chỉnh những tồn tại như: khôngthống nhất trong viêc bài trí cơ quan công sở, đi muộn về sớm, đến cơ quanthì giành cho việc riêng quá nhiều (chơi game, tán gẫu uống nước trà) thái độlàm việc hời hợt, khi tiếp xúc với nhân dân thì hách dịch, cửa quyền, gây khó
dễ cho nhân dân, thậm chí đòi hối lộ, tham nhũng Đó là ý thức làm việc củaCBCCVC, vì vậy làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, tính nghiêm trangcủa công sở
Trang 31Quy chế đưa ra các hành vi cấm như: không hút thuốc lá trong phònglàm việc; sử dụng đồ uống có cồn tại công sở, trừ trường hợp được sự đồng ýcủa lãnh đạo cơ quan vào các dịp liên hoan, lễ tết, tiếp khách ngoại giao;quảng cáo thương mại tại công sở Hành vi hút thuốc lá trong xã hội nóichung và tại các công sở nói riêng đang diễn ra rất phức tạp, tỷ lệ người hútthuốc lá tăng nhanh theo từng năm Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới:
Thuốc lá giết chết một nửa số người sử dụng nó Một nửa số này chết ởlứa tuổi trung niên Trung bình một ngày trên thế giới có 10.000 người chết
do sử dụng thuốc lá, tương đương với 10 máy bay loại lớn chở khách bị tainạn mỗi ngày Tại Việt Nam 50% nam giới và 3,4% nữ giới hút thuốc lá (caonhất Châu Á theo thống kê của Tổ chức sức khoẻ thế giới) 26% thanh thiếuniên có độ tuổi từ 15 đến 24 hút thuốc lá Trên 40% nam cán bộ y tế và 1,3%
nữ cán bộ y tế hút thuốc lá Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, 10%dân số Việt Nam nghĩa là vào khoảng 7,5 triệu người Việt Nam sẽ chết sớm
do hút thuốc lá Cũng theo ước tính của Tổ chức sức khoẻ thế giới, tới năm
2020 số người Việt Nam chết do sử dụng thuốc lá sẽ nhiều hơn số người chết
do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông và tự tử cộng lại [39]
Vì vậy, hút thuốc lá trong phòng làm việc phải bị cấm và tuyên truyềnrộng tới mọi người; đồng thời coi đay là một trong những hành vi xấu cầnđược ngăn chặn bởi sự ra tay của cả cộng đồng Một vấn đề tiếp theo trongquy chế cấm đó là sử dụng đồ uống có cồn tại công sở Hành vi say xỉn, mặt
đỏ tưng bừng ở một số công sở đã diễn ra trong thời gian qua, nghiêm trọnghơn có trường hợp còn có lời doạ nạt, thậm chí mất lịch sự do hành vi sayrượu, bia gây ra Hoạt động ăn uống, tiệc tùng gây ra sự lẵng phí về thời gian,tiền bạc của nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp tới tư thế, tác phong của CBCCVCkhi đang thi hành công vụ, chất lượng công tác, uy tín của cơ quan, tổ chức
Thứ hai, về trang phục, khi thực hiện nhiệm vụ, CBCCVC phải ăn mặc
gọn gang, lịch sự; trường hợp có trang phục riêng thì thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật như: Lực lượng Hải quan, Quản lý thị trường, Kiểm lâm… Sự
Trang 32thống nhất từ trong nhận thức đến quá trình thực hiện là một điều không dễ,song để tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại thì việc mặctrang phục như thế nào lại là một vấn đề phải bàn và phải quy định cụ thể, cónhư vậy mới khẳng định được vị trí của cơ quan và thể hiện văn hoá trongcách ăn mặc, qua đó còn thể hiện sự tôn trọng tập thể và mọi người trong xãhội Quy chế quy định về lễ phục, lễ phục được xác định là trang phục chínhthức sử dụng trong các buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc tiếp khách nướcngoài Theo đó, lễ phục của nam CBCCVC: bộ comple, áo sơ mi, cravat; lễphục của nữ CBCCVC: áo dài truyền thống, bộ comple nữ Đối với CBCCVC
là người dân tộc thiểu số, trang phục ngày hội dân tộc cũng coi là lễ phục.Đây là nét đẹp nhằm bảo tồn văn hoá truyền thống dân tộc và thể hiện sự tôntrọng phong tục tập quán của 54 dân tộc an hem trong đại gia đình Việt Nam
Thẻ CBCCVC được quy định trong khi thực hiện nhiệm vụ, CBCCVCphải đeo thẻ Thẻ CBCCVC phải có tên cơ quan, ảnh, họ và tên, chức danh,
số hiệu của CBCCVC Việc quy định đeo thẻ CBCCVC tạo thuận lợi cho quátrình thực thi công vụ, giao tiếp, tiếp dân của CBCCVC Tuy nhiên để thốngnhất về mẫu thẻ và cách đeo thẻ thì Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ hướng dẫn
cụ thể
Thứ ba, giao tiếp và ứng xử Đây không chỉ là hai hoạt động có mục
đích cảu con người mà còn là nhu cầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ củaCBCCVC Vậy, hành vi giao tiếp, ứng xử như thế nào được coi là có văn hoá,CBCCVC nhằm thiết lập các mối quan hệ mà trong thực thi công vụ hướngtới Theo đó, khi thi hành công vụ CBCCVC phải thực hiện quy định vềnhững việc phải làm và những việc không được làm Khi giao tiếp và ứng xử,CBCCVC phải có thái độ lịch sự, tôn trọng; ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng,mạch lạc, không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt Giao tiếp và ứng xử vớinhân dân phải có thái độ nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõràng, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc; đồng thờicũng quy định CBCCVC không được có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây
Trang 33khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ; Trong giao tiếp và ứng xử vớiđồng nghiệp phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác Có thể nói, đây lànhững quy định mang tính thể hiện ý thức của mỗi người, vì thế quy chế cóthực sự đi vào cuộc sống và tạo ra một phong cách ứng xử có văn hoá tuỳthuộc rất nhiều vào thái độ tiếp thu và hoạt động nhận thức của mỗi CBCCVCtrong các CQHCNN QUy chế cũng quy định hành vi giao tiếp qua điện thoại.Khi giao tiếp qua điện thoại, CBCCVC phải xưng tên, cơ quan, đơn vị côngtác, trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung công việc; không ngắt điệnthoại đột ngột.
Thứ tư, về bài trí công sở Việc treo Quốc huy được quy định treo trang
trọng tại phía trên cổng chính hoặc toà nhà chính Kích cỡ Quốc huy phải phùhợp với không gian treo Tuy nhiên cần lưu ý không treo Quốc huy quá cũhoặc bị hư hỏng; treo Quốc kỳ cũng phải quy định cụ thể phải treo ở nhữngnơi trang trọng trước cổng công sở hoặc toà nhà chính Quốc kỳ phải đúngtiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định, việc treoQuốc kỳ trong các buổi lễ, đón tiếp khách nước ngoài, tổ chức tang lễ
Thứ năm, bài trí khuôn viên công sở Bao gồm quy định về đặt biển cơ
quan, phải có và đặt tại cổng chính, trên đó ghi rõ tên gọi đầy đủ bằng tiếngViệt và địa chỉ của cơ quan Phòng làm việc phải có biển tên ghi rõ tên đơn
vị, bộ phận, họ và tên, chức danh CBCCVC; việc sắp xếp, bài trí phòng làmviệc phải đảm bảo gọn gàng, ngăn nắp, khoa học, hợp lý; không lập bàn thờ,thắp hương, không đun, nấu trong phòng làm việc Các cơ quan bố trí khu vực
để phương tiện giao thông, không thu phí gửi phương tiện giao thông củangười đến giao dịch, làm việc
1.3.2 Hình thức thực hiện quy chế văn hoá công sở tại cơ quan hành chính nhà nước
Nhà nước xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều quy phạm pháp luật khác nhau
để điều chỉnh các hành vi của chủ thể trong quan hệ pháp luật, sao cho hành
vi đó phù hợp với lợi ích chung của nhà nước và của xã hội Có loại quy
Trang 34phạm pháp luật quy định những hành vi được thực hiện (còn gọi là quy phạmpháp luật cho phép hay trao quyền, tức là xác định quyền của chủ thể ); cóloại quy phạm pháp luật quy định những hành vi không được thực hiện (còngọi là quy phạm pháp luật ngăn cấm); có những loại quy phạm pháp luật quyđịnh những hành vi phải thực hiện (còn gọi là quy phạm pháp luật bắt buộc,tức là xác định nghĩa vụ của chủ thể) Ngoài ra còn “một số loại quy phạmpháp luật khác xác định các hình thức khen thưởng đối với các cá nhân, cơquan, tổ chức có thành tích trong việc thực hiện pháp luật và các biện pháp xử
lý đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm pháp luật” [40, tr 278] Donhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau như vậy cho nên việc thực hiệnchúng cũng được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Và như vậy,trong quy chế văn hoá công sở tại các CQHCNN cũng quy định các hình thứcthực hiện quy chế Dựa trên lý luận của thực hiện pháp luật, quy chế văn hoácông sở tại các CQHCNN có những hình thức hiện chủ yếu sau:
* Chấp hành quy chế là việc CBCCVC thực hiện nghĩa vụ pháp lý của
mình với hành động tích cực Đây là nghĩa vụ pháp lý đương nhiên, là bổnphận, trách nhiệm của mỗi CBCCVC phải thực hiện Chấp hành quy chế làhình thức cơ bản, chủ yếu trong quá trình thực hiện các nội dung về văn hoácông sở của CBCCVC Hoạt động này bao gồm:
- Chấp hành các quy định mà trong quy chế đã nêu như “Trong giaotiếp và ứng xử, CBCCVC phải có thái độ lịch sự, tôn trọng; ngôn ngữ giaotiếp phải rõ ràng, mạch lạc, không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt” [15] Theo
đó, quy chế đã quy định rất cụ thể mà mọi CBCCVC phải thực hiện một cáchtích cực Đó cũng là nét đẹp văn hoá mà nếu thực hiện tốt sẽ tôn lên vẻ đẹpcủa đội ngũ CBCCVC, đưa vị thế cơ quan lên vị trí xứng tầm và được dư luận
xã hội đánh giá cao
Nội dung tiếp theo được quy định trong quy chế: khi giao tiếp với nhândân phải có thái độ nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng,
cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc; đồng thời cũng quy
Trang 35định CBCCVC không được có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn,phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ Đây vừa là yêu cầu nhưng cũng là nét đẹpvăn hoá, thể hiện con người có văn hoá, co strình độ trong quan hệ tiếp dân.Hay nói cách khác đây là khu dịch vụ công, cho nên mỗi CBCCVC xác định
là người phục vụ mà là người phục vụ thì phải thực sự nhiệt tình, có thái độlịch thiệp, tôn trọng Do đó, việc thực hiện tốt quy định này sẽ hạn chếkhoảng cách giữa công dân với các CBCCVC trong các cơ quan nhà nước,hiệu quả công việc sẽ cao, long tin giữa nhân dân đối với Đảng và Nhà nướcđang nâng lên Và như vậy, nhân dân sẽ đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhiềucho công việc của CBCCVC Như Chủ tich Hồ Chí Minh căn dặn:
Làm việc gì cũng phải có quần chúng Không có quần chúng thì khôngthể làm được………
Dễ mười lần không dân cũng chịu,
Khó trăm lần dân liệu cũng xong [28, tr 212]
Để việc chấp hành quy chế đạt hiệu quả cao, mỗi cơ quan, CBCCVCphải linh hoạt, sang tạo, căn cứ vào điều kiện hàon cảnh cụ thể của cơ quan,đơn vị, địa phương mà xây dựng quy chế cho phù hợp để thực hiện, tạo sựhứng khởi cho mọi người và chủ động thực hiện
* Tuân thủ quy chế là việc các CBCCVC phải tự kiềm chế mà không
thực hiện hành vi mà quy chế cấm Chẳng hạn như hành vi cấm hút thuốc látrong phòng làm việc, sử dụng đồ uống có cồn tại công sở, trừ trường hợpđược sự đồng ý của lãnh đạo cơ quan vào dịp liên hoan, lễ tết, tiếp kháchngoại giao [15] Như vậy, mọi chủ thể phải nghiêm túc thực cho dù người đó
là ai, có như vậy mới tạo ra sự đồng thuận cao và cùng nhau tuân thủ thựchiện quy chế
Hành vi không dược lập bàn thờ, thắp hương, đun, nấu trong phòng làmviệc Đây là những quy định nhằm bắt buộc CBCCVC phải tuân theo mộtcách chủ động, tự ghép mình vào tập thể, đặt lợi ích của cơ quan, cộng đồnglên trên, không vì sở thích hay quan điểm cá nhân mà ảnh hưởng tới tập thể,
Trang 36cơ quan, đơn vị Về bản chất thì văn hoá được thể hiện cả ở giá trị vật chất vàtinh thần, do vậy việc lập ban thờ, thắp hương cũng là một dạng biểu hiện củavăn hoá tinh thần hay còn gọi là văn hoá tâm linh và như vậy việc lập ban thờ
và thắp hương là nét văn hoá nhất của chúng ta- theo văn hoá phương Đông.Tuy nhiên, lợi dụng việc lập ban thờ, thắp hương tại phòng làm việc trongthời gian qua đã gây ra ít nhiều phiền toái, mất mỹ quan và vẻ trang nghiêmcủa công sở Đây là việc làm cần chấm dứt, nhất là từ khi quy chế văn hoácông sở tại CQHCNN ban hành
*Sử dụng quy chế là việc CBCCVC thực hiện các quyền mà quy chế đã
quy định cho mình Thể hiện ở những điểm sau:
Căn cứ vào quy định của quy chế mỗi CBCCVC sử dụng quyền đó saocho phù hợp như khi thực hiện nhiệm vụ, CBCCVC phải mặc gọn gang, lịchsự; CBCCVC có trang phục riêng thì thực hiện theo quy định của pháp luật.Như vậy, việc mặc không quy định quá cụ thể phải như thế nào, song mỗiCBCCVC phải xử sự sao cho phù hợp với công việc và vẻ đẹp truyền thốngcủa Việt Nam, lưu ý không ăn mặc lố lăng, gây phản cảm cho mọi người.Quy chế đặt ra nghĩa vụ cho mỗi CBCCVC phải nhận thức và nghiêmchỉnh thực hiện, không được lạm dụng những trang bị của cơ quan để thựchiện một công việc nào đó ngoài nhiệm vụ được giao hay nói cách kháckhông được sử dụng vào múc đích cá nhân Một số cơ quan được trang bịtrang phục riêng như lực lượng hải quan, kiểm lâm, quản lý thị trường… đểthực hiện nhiệm vụ nên CBCCVC không được lợi dụng trang phục đó để thựchiện những việc làm mà cơ quan, đơn vị và pháp luật quy định Vì thế, mỗiCBCCVC phải thực hiện một cách đúng đắn, tức là thực hiện quyền trongphạm vi quy chế và Luật Cán bộ, công chức đã quy định, không được lợidụng quyền của mình để xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, đơn vị và cá nhân
*Áp dụng quy chế là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
hoặc thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức cho CBCCVC thực hiện đầy đủ
Trang 37và nghiêm minh quy chế Trên cơ sở quy chế đã quy định, các cơ quan, tổchức căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để xây dựng quy chế chi tiếtcho phù hợp, qua đó tuyên truyền hoặc giáo dục mọi CBCCVC nghiêm túcthực hiện, đồng thời có thể đưa ra các chế tài xử lý nếu vi phạm như: khônghút thuốc lá trong phòng làm việc, nếu vi phạm phát 100.000đ/lần vi phạm.Lập bàn thờ, thắp hương tại phòng làm việc sẽ phạt cảnh cáo hoặc xem xétkết quả công tác năm đó không hoàn thành nhiệm vụ được giao.v.v.v
Tuy nhiên, việc áp dụng quy chế khác với việc tuân thủ quy chế, chấphành quy chế, sử dụng quy chế ở chỗ: nó chỉ được tiến hành bởi các cơ quannhà nước có thẩm quyền hoặc thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức, do đótrong áp dụng quy chế có cả tuân thủ, chấp hành và sử dụng quy chế
1.3.3 Vai trò của việc thực hiện quy chế văn hoá công sở tại cơ quan hành chính nhà nước
Thực hiện quy chế văn hoá công sở là một hoạt động có mục đích nhằmtạo ra những thương hiệu và phong cách riêng để hướng tới những giá trị vănhoá tốt đẹp nhất Theo đó, vai trò của thực hiện quy chế văn hoá công sở tạicác CQHCNN có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập hành chính chuyênnghiệp, hiện đại Cụ thể, có những vai trò sau:
- Cụ thể hoá mục tiêu, phương hướng hoạt động của cơ quan, tổ chứctrên cơ sở đã xác định để mọi CBCCVC phải thực hiện
- Tạo ra một trật tự, khoa học hay tính đồng nhất cao của cơ quan, tổchức góp phần khẳng định vị trí cũng như địa vị pháp lý của cơ quan, tổ chức
đó trong xã hội; mặt khác tạo nên sự đồng thuận trong thực thi- kể cả lãnh đạo
và nhân viên trong cùng cơ quan Qua đó, họ nắm bắt và chủ động điều chỉnh,kiểm soát công việc của nhau
- Góp phần thực hiện thắng lợi cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010
và những năm tiếp theo đó là: xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp,hiện đại với đội ngũ CBCCVC có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thànhvới Tổ quốc, tận tụy với công việc, nêu cao đạo đức nghề nghiệp và hết long
Trang 38phục vụ nhân dân Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân và tiến hành cải cách hành chính nhà nước; vaitrò của thực hiện văn hoá công sở đóng góp quan trọng tới văn hoá công vụcủa mỗi cơ quan, đơn vị thông qua giao tiếp, ứng xử của CBCCVC trong nội
bộ cơ quan và trong khi tiếp dân Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệulực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, tới tiến trình cải cách hành
chính và đối với việc thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Do đó, việc xây dựng và thực hiện tốt những chuẩn
mực về văn hoá công sở sẽ mang tính pháp lý cho thái độ và hành vi của côngchức trong hoạt động công vụ là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay
- Giúp tạo nên và duy trì trât tự, kỷ cương trong thực thi Góp phần hiệnthực hoá các quy tắc xử sự của cơ quan, công sở phù hợp với văn hoá với mụctiêu là đảm bảo công bằng và ý thức trách nhiệm của mỗi CBCCVC trong cơquan; định hướng và xây dựng cho họ một nề nếp làm việc có kỷ cương Qua
đó, sẽ trách được tình trạng mạnh ai nấy làm, không có tôn ti trật tự và khókiểm soát Đồng thời quy định rõ trách trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ, chế
độ khen thưởng, kỷ luật và các vấn đề khác kèm theo đối với CBCCVC qua
đó thực hiện được mục tiêu quản lý công vụ và công chức
- Tạo ra nề nếp trong cơ quan bởi văn hoá công sở là những giá trị vậtchất, tinh thần được các thành viên trong công sở thừa nhận và tự giác thựchiện Trong quy chế thể hiện rõ các quy định về phong cách làm việc của cán
bộ, công chức tại công sở, qua đó ta có thể nhận biết được cơ quan công sở đómang đặc điểm văn hoá quyền lực hay văn hoá vai trò, từ đó hình thành nênvăn hoá công sở
- Văn hoá công sở phải là nơi biểu hiện tập trung của văn hoá- xã hội,của nhà nước dân chủ Theo đó, văn hoá công sở cùng với trí tuệ sẽ là cộinguồn sáng tạo và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp đổi mới, làm tốtvai trò người phục vụ nhân dân trong xã hội văn minh và hiện đại Dù sựphồn vinh trong xã hội có tăng, dù thế giới vật chất có đến mức nào thì đạo
Trang 39đức, trí tuệ, nhân cách người CBCCVC không thể trở thành phương tiện bịthao túng và khuất phục Vì vây, văn hoá công sở nếu thực hiện tốt sẽ là cơ sởvững chắc cho sự phát triển đất nước, phản ánh đúng bản chất tốt đẹp của nàhnước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
1.3.4 Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng và thực hiện quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước
Văn hoá công sở ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời của các cơ quan, tổchức theo thời gian với sự nỗ lực của tổ chức, cá nhân văn hoá côgn sở đượchun đúc nên những khuôn mẫu riêng để rồi khi tiếp xúc mọi người có thểnhận biết đó là cơ quan, tổ chức nào Như vậy, văn hoá côgn sở có nguồn gốclịch sử và trở thành chuẩn mực chung cho một tổ chức nhất định, do đó, vănhoá còn mang tính tổ chức hay nói cách khác văn hoá công sở chịu sự ảnhhưởng bởi sự quy định của văn hoá tổ chức Chính vì những đặc điểm của vănhoá công sở như vậy mà việc xây dựng nên văn hoá công sở cho một tổ chức,
cơ quan là điều cần thiết có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của tổ chức
đó với các thương hiệu nổi tiếng hoặc sẽ là thất bại trong quá trình hoạt độngnếu như cách thức, phương châm hành động không phù hợp mà trong đó sẽchứa đựng cả yếu tố văn hoá công sở thể hiện ở văn hoá ứng xử, đạo đứcnghề nghiệp Để lý giải tại sao quy chế văn hoá công sở ban hành kèm theoQuyết định số 129/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chínhphủ chỉ áp dụng đối tượng điều chỉnh là CQHCNN; Trước tiên cần điểm quavăn hoá công sở của một số công ty, doanh nghiệp mà hiện nay đã có thươnghiệu nổi tiếng và ổn định trong giới kinh doanh nói riêng và trong đời sống xãhội nói chung:
Hãng Colgate, trong hơn 200 năm họ đã xây dựng uy tín là một công tytuân thủ theo các tiêu chuẩn cao nhất về sự chính trực và đạo đức ở bất cứ nơinào mà họ đang hoạt động kinh doanh Hãng này đã xây dựng bộ Quy tắc xử
sự áp dụng cho toàn hãng và được dịch ra các thứ tiếng địa phương nơi cóhoạt động kinh doanh của hãng Theo đó, quy tắc đưa ra những nội dung như:
Trang 40chúng ta hãy tạo điều kiện thúc đẩy và giao tiếp trên tinh thần cởi mở và chânthành; Coi nhân viên của Colgate như là một nguồn tài nguyên quý giá; Tránhxung đột quyền lợi trong: đầu tư, gia đình, việc làm khác, cá nhân, hội đồngquản trị Họ đã thành lập phòng Tuân thủ đạo đức toàn cầu để theo dõi vàđánh giá chất lượng công việc cũng như ý thức chấp hành của công, nhân viên
cả hãng trên toàn thế giới nơi mà hãng có hoạt động kinh doanh Trongtrường hợp vi phạm quy tắc có thể sa thải ra khỏi hãng
Hãng Nokia cũng xây dựng bộ quy tắc ứng xử riêng, nội dung của quytắc đã định ra khá đầy đủ như các vấn đề liên quan đến thương mại, đầu tư,đấu thầu, cung cấp, phát triển kinh doanh và trong tất cả các mối quan hệ kinhdoanh và tuyển dụng khác Họ đề cao và cho rằng đạo đức tốt có nghĩa làthành công; xây dựng môi trường làm việc; thực hiện chính sách đối xử côngnhân viên như một cam kết cùng sự tồn tại và phát triển của Tập đoàn Nokia Một điều mà chúng ta dễ nhận thấy ở hai Tập đoàn Colgate và Nokia là
sự khẳng định bởi thương hiệu, phong cách phục vụ, đội ngũ nhân viên vàchất lượng sản phẩm đều toát lên một đặc trưng riêng cho dù công ty hay cácđại lý hoạt động ở đất nước nào
Ở Việt Nam, tại các tổ chức có chức năng kinh doanh đã chú trọng tớiviệc xây dựng văn hoá công sở từ rất lâu Thí dụ như hệ thống ngân hàngthương mại Qua nghiên cứu thực tế cho thấy có tới 100% các tổ chức nàyxây dựng văn hoá công sở như việc mặc trang phục, đeo thẻ công chức,hướng dẫn khách hàng đến liên hệ công tác hay làm hồ sơ; đặc biệt là thái độniềm nở luôn hiện diện trên khuôn mặt nhân viên
Tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đãxây dựng vấn đề đạo đức kinh doanh và quy tắc ứng xử, coi đó là cam kết bảođảm cho sự thành công của dự án Thí dụ tại Thành phố Hồ Chí Minh có tậpđoàn bán dẫn Intel và Ban quản lý Khu công nghệ cao đã tổ chức lễ ký kếtBản thoả thuận ghi nhớ về vấn đề đạo đức kinh doanh và Quy tắc ứng xử(CoC), bản ký kết này được ghi nhận như là một bước đi quan trọng của hai