HàNội cũng đang có những tiến bộ nhất định trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp tạo cơ sở cho việc chuyểndịch cơ cấu nguồn nhân lực giúp cho Hà
Trang 1NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC
NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HÀ NỘI HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ
Đặc điểm tự nhiên:
Hà Nội nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ với những thuận lợi
về khí hậu, thuỷ văn, địa hình, địa chất, giao thông Địa thế tự nhiên đãkhiến cho Hà Nội sớm có vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triểncủa dân tộc Việt Nam Nhiều triều đại đã chọn Hà Nội làm kinh đô Hiệnnay, là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội cókhả năng to lớn để thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho sựphát triển của mình; đồng thời sự phát triển của Hà Nội có vai trò to lớn thúcđẩy sự phát triển của cả vùng cũng như cả nước Với vị thế địa chính trị -kinh tế - văn hoá quan trọng, Hà Nội là địa bàn hết sức thuận lợi cho conngười ở đây giao lưu học hỏi, kích thích tính sáng tạo và sự phát triển toàndiện của con người
Hà Nội có diện tích 920,97 km2, gồm 9 quận, 5 huyện với 229 xã,phường Hà Nội đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu và địa giới hành chính, quy
mô thành phố đã mở rộng gấp 6 lần so với trước năm 1954 Điều đó phảnánh xu thế phát triển của Thủ đô đồng thời có tác động không nhỏ đến sựbiến động nguồn nhân lực Nhiều huyện, thị xã, thị trấn của các tỉnh lân cậnđược sát nhập vào Hà Nội làm tăng thêm quy mô dân số, nguồn nhân lựccũng như làm thay đổi cơ cấu dân số và nguồn nhân lực Thủ đô Việc phát
Trang 2huy nguồn nhân lực vì thế phải luôn theo sát yêu cầu phát triển của Thủ đô
và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Trong quá trình đổi mới đất nước, chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tậptrung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc xác lập nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần đã mở ra khả năng khai thác và sử dụng một cáchsâu rộng hơn nguồn nhân lực của Hà Nội trong đó có nguồn nhân lực nữ HàNội cũng đang có những tiến bộ nhất định trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp tạo cơ sở cho việc chuyểndịch cơ cấu nguồn nhân lực giúp cho Hà Nội có cơ hội hoà nhập vào quátrình phát triển năng động của các nước trong khu vực Tỷ trọng các ngànhcông nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên, nhất là dịch vụ và công nghiệpngoài quốc doanh, tạo khả năng thu hút thêm nhiều lao động nữ
Là trung tâm của vùng trọng điểm kinh tế phía bắc và Thủ đô của cảnước, Hà Nội có ưu thế trong giao lưu và hợp tác quốc tế Hiện nay Hà Nội
có quan hệ với các thủ đô, thành phố của hơn 60 nước trên thế giới, khoảng2.000 doanh nghiệp có quan hệ buôn bán với trên 100 quốc gia và vùng lãnhthổ Đây là cơ hội lớn cho người Hà Nội nhanh chóng được tiếp cận vớinhững thành tựu khoa học kỹ thuật và tinh hoa văn hoá của thế giới Bêncạnh phát triển kinh tế trong nước, Hà Nội cũng có nhiều điều kiện thuận lợithu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án tạo việc làm với thu nhập ổn địnhcho gần 40.000 lao động Các khu công nghiệp của Thành phố là khu vực cósức thu hút lao động với số lượng lớn, trong đó có lao động nữ Bên cạnh đó
Hà Nội còn có thế mạnh trong xuất khẩu một số mặt hàng sử dụng nhiều laođộng nữ như dệt may, giày da, thêu ren
Trang 3Hà Nội còn nổi tiếng từ xưa với nhiều làng nghề truyền thống có giá trịkinh tế cao cần nhiều lao động thủ công phù hợp với phụ nữ như: mây tre, đan,gốm sứ, khảm trai, làm tranh dân gian, đúc đồng, chế biến các món ăn ẩmthực
So với cả nước, Hà Nội luôn là một trong những địa phương có tốc
độ tăng trưởng GDP cao hàng đầu với mức tăng bình quân từ 2001 - 2004 là10,7%/năm Năm 2004, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt 18,2 triệu
đồng, gấp hơn hai lần mức bình quân cả nước Tăng trưởng kinh tế đã góp
phần cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân Thủ đô Hà Nội đã hoàn thành phổcập trung học cơ sở từ năm 1999; mạng lưới y tế được kiện toàn đảmbảo100% các trạm y tế xã, phường đều có bác sỹ; hộ nghèo chỉ còn dưới1%; số máy điện thoại bình quân đạt 35 máy/100 dân Hà Nội được đánh giá
là địa phương có điều kiện phúc lợi đảm bảo cho sự phát triển con người caonhất cả nước Chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới(GDI) của Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước
Hà Nội còn có lợi thế đặc biệt về tiềm lực khoa học kỹ thuật với sựtập trung số lượng hơn 100 trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành Nếu có chính sáchkhai thác và phối hợp tốt thì sẽ tạo nên động lực lớn cho sự phát triển kinh tế
và sự phát triển nguồn nhân lực Hà Nội còn là nơi tập trung các cơ quan củaĐảng và Nhà nước, gần 800 văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế vàngười nước ngoài hoạt động trong các ngành kinh tế, khoa học tiên tiến Đây là ưu thế để tăng thêm trí tuệ cho công tác tư vấn, hoạch định các chínhsách phát triển
Bên cạnh những tác động tích cực, việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở
Hà Nội còn gặp những khó khăn do ảnh hưởng của cơ chế cũ quan liêu bao
Trang 4cấp kéo dài nhiều năm trên tất cả các lĩnh vực; sự phát triển đô thị chưa đồng
bộ, tính chất tự phát trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, quy mô vàtốc độ nguồn lao động tăng nhanh, lại thiếu những chính sách biện pháp tổngthể có tính chất chiến lược trong việc sử dụng lao động ở Thủ đô
Tóm lại, có thể nói những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đã tạo
nên những nét đặc thù của Hà Nội có ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát huynguồn nhân lực nữ:
Thứ nhất: Nguồn nhân lực nữ Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển cả về trí lực, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần
Thứ hai: Hà Nội tất yếu cần sử dụng nguồn nhân lực nữ để phát huy
những lợi thế và nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của khu vực và thếgiới Việc phát triển kinh tế - xã hội đồng bộ và bền vững của Thủ đô khôngthể tách rời việc phát huy nguồn nhân lực nữ
2.2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
2.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay
2.2.1.1 Quy mô dân số, cơ cấu lực lượng lao động nữ ở Hà Nội
Năm 2004, dân số Hà Nội là 3,082 triệu người, trong đó nữ chiếm tỷ
lệ 49,9% dân số và 49% lực lượng lao động xã hội Hà Nội là địa phương có
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm thấp nhất (ướckhoảng1,09%/năm).Song, do hiện tượng di dân dưới sức hút của quá trình phát triển kinh tế - xãhội và tác động của đô thị hoá nên biến động cơ học dân số hàng năm rấtcao, vượt xa tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Quy mô dân số tăng nhanh chóng đã làm cho nguồn nhân lực nữ của
Hà Nội rất dồi dào Thời kỳ 1998 - 2000, tỉ lệ tăng dân số trung bình 5,46%/năm, lực lượng lao động nữ tăng trung bình 5,1%/năm Từ năm 1997 đếnnay, bình quân mỗi năm có trên 20.000 người đổ về Hà Nội tìm việc làm,
Trang 5trong đó lao động nữ chiếm tỷ trọng cao Hà Nội còn tiếp nhận một nămkhoảng gần 20.000 lao động tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp Tình hình này đã làm cho nguồn nhân lực nữ của
Hà Nội ngày càng đông đúc về số lượng, nhưng cũng gây sức ép rất lớn vềmọi mặt, tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
Nguồn nhân lực nữ Hà Nội có lợi thế to lớn về nguồn lao động trẻ với
tỷ lệ 44% lao động dưới 35 tuổi, mức độ tham gia các hoạt động kinh tế củaphụ nữ cao và ổn định với tỉ lệ trên 70%
Xét cơ cấu lực lượng lao động theo tuổi cho thấy đại đa số lực lượng
lao động nữ ở độ tuổi 25 - 44, cao nhất là nhóm tuổi 35 - 44 chiếm từ30,55% đến 34,73% lực lượng lao động nữ hàng năm Điều này phù hợp với
xu hướng chung khi tham gia vào lực lượng lao động của nữ trên thế giớibởi trước khi bước vào thị trường lao động, mỗi phụ nữ đều muốn chuẩn bịcho mình một nghề nghiệp nhất định Vì thế, tỉ lệ nữ ở nhóm tuổi 15 - 24tham gia lao động không cao Sau khi đã có nghề hoặc chuyên môn, ở nhómtuổi 25 - 34 tỷ lệ tham gia lao động nhích dần lên, đặc biệt ở nhóm tuổi 35 -
44 là giai đoạn phụ nữ thường đã hoàn thành chức năng sinh và nuôi connhỏ nên tham gia thị trường lao động với tỉ lệ cao
Cơ cấu dân số và lao động theo vùng của Hà Nội cho thấy dân số
thành thị có xu hướng tăng nhanh qua các năm (năm 2004 là 64,86% - tăng13,46% so với 1989) Dân số vùng nông thôn giảm dần Dân số phi nôngnghiệp chiếm tỉ trọng lớn (năm 1999 chiếm 69,2%) so với dân số nông nghiệp(30,8%) Kết cấu dân số và lao động trên đây là kết quả của quá trình đô thị hoá
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố Xu hướng biến đổi nàytạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH,HĐH Thủ đô
Trang 6Cơ cấu lao động nữ theo thành phần kinh tế cho thấy từ khi chuyển
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ cấu phân bố nhân lực
nữ trong các thành phần kinh tế ở Hà Nội có sự thay đổi tích cực theo hướnggiảm dần tỉ trọng lao động nữ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tăngnhanh tỉ trọng lao động nữ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước Năm
2000, lao động nữ trong thành phần kinh tế Nhà nước là 31,12%, trong cácthành phần kinh tế ngoài Nhà nước là 68,88% Xu thế này phù hợp với chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, cho phép giải phóng sức sản xuất
và khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế cho sự nghiệp CNH, HĐHThủ đô
Xét cơ cấu lao động theo ngành, lao động nữ tập trung đông hơn cả
vào ngành dịch vụ (41,5%), tiếp đến là nông nghiệp (38,7%) và thấp nhấttrong nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (19,7%) Mặc dù tập trung kháđông ở ngành dịch vụ nhưng so với nam giới tỷ lệ lao động nữ vẫn thấp hơn(chỉ chiếm 46% tổng số lao động làm dịch vụ), trong ngành công nghiệp vàxây dựng, tỷ lệ lao động nữ là 41%, còn trong ngành nông nghiệp (chiếmchưa tới 3% GDP của thành phố) lao động nữ chiếm tới 55% tổng số laođộng
Xu hướng biến đổi cơ cấu tổng sản phẩm nội địa của Hà Nội là tăng tỉtrọng các ngành công nghiệp và xây dựng, duy trì ở mức độ cao tỉ trọngngành dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Trong khi đó xu hướngbiến đổi cơ cấu lao động nữ lại đi theo chiều ngược lại Đó là duy trì ở mứccao tỉ lệ lao động trong ngành nông nghiệp, giảm tỉ lệ lao động nữ trongngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều này cho thấy lao động nữ HàNội có nguy cơ không theo kịp với xu thế biến đổi cơ cấu kinh tế
Trang 7Cơ cấu lao động nữ theo ngành còn cho thấy lao động nữ chiếm tỉ lệcao trong một số ngành như thương mại 71,3%, giáo dục đào tạo 71%, y tế68%, du lịch 56,3%, tài chính tín dụng 56%, ngân hàng 54%, công nghiệpchế biến 53,3%, dịch vụ công cộng 52%, thông tin viễn thông 52% Mặc dùvậy, so với nam giới, phụ nữ lại chiếm đa số trong lĩnh vực sản xuất trựctiếp, kỹ thuật giản đơn, ở ngành giáo dục đào tạo 100% giáo viên mẫu giáo,gần 80% giáo viên phổ thông cơ sở là nữ; hay ngành y tế, y tá nữ cũngchiếm tới 80%
Như vậy, nhìn tổng thể phân bổ lao động của thành phố thì lao động
nữ không chỉ không theo kịp xu hướng biến đổi cơ cấu kinh tế của thành phố
mà còn tham gia chưa tương xứng tốc độ phát triển của những ngành có cơ
sở kỹ thuật, có khả năng mang lại năng suất và thu nhập cao của thành phố
Trong hoạt động quản lý xã hội, phụ nữ tham gia với số lượng ngàymột tăng ở các vị trí lãnh đạo Tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng,HĐND các cấp tăng liên tục với tỷ lệ cao hơn so với tỉ lệ trung bình của cảnước Hà Nội hiện có tỷ lệ nữ tham gia BCH Đảng bộ ba cấp đạt 18,7%, nữđại biểu HĐND ba cấp đạt 31% và là một trong những địa phương có tỉ lệ
nữ tham gia công tác quản lý lãnh đạo cao nhất nước Trong đó tỷ lệ nữtrong chính quyền, sở, ngành thành phố đạt 16%, nữ cán bộ chủ chốt cấpquận huyện đạt 20,3%, nữ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đạt 15,5%, tỷ lệ nữlãnh đạo quản lý các doanh nghiệp, sở ngành đông nữ đạt gần 60%
Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ nắm giữ các cương vị lãnh đạo còn thấp so với
tỉ lệ phụ nữ trong dân cư và trong các lĩnh vực lao động sản xuất, phụ nữtham gia quản lý chủ yếu ở vị trí cấp phó, không giữ vai trò quyết định Phầnlớn cán bộ nữ chủ chốt ở độ tuổi trên 45 (trong đó có tới 25% ở độ tuổi trên50) tạo nên nguy cơ hẫng hụt lớn về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trong những
Trang 8năm tới Như vậy, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và từ gócnhìn vai trò to lớn phụ nữ thì quy mô và mức độ tham gia của phụ nữ vàoquá trình lãnh đạo quản lý, hoạch định chính sách còn rất hạn chế
Tóm lại, nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội có ưu điểm dồi dào về số
lượng, cơ cấu nguồn lao động trẻ là lợi thế to lớn về sức khoẻ, khả năngtiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh hơn nhiềucác địa phương khác Cơ cấu lực lượng lao động nữ theo khu vực, thànhphần kinh tế phù hợp với xu thế phát triển kinh tế theo hướng CNH,HĐH, sự tham gia đông đảo của lao động nữ trong các lĩnh vực là tiền đềquan trọng cho việc phát huy nguồn lực phụ nữ trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của Thủ đô
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số và lao động do
sự di chuyển của các dòng nhập cư vào Hà Nội đã và đang gây sức ép rất lớn
về việc làm, quản lý đô thị và trật tự an toàn xã hội của Thủ đô, sự phân bổbất hợp lý của lao động theo nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành ở vịthế bất lợi cho phụ nữ đang đặt ra yêu cầu cấp thiết giải quyết hài hoà giữamục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội
2.2.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay
Chất lượng nguồn lực phụ nữ thể hiện tổng hoà nhiều yếu tố, song,khái quát lại có thể đánh giá ở ba khía cạnh chủ yếu là trí lực, thể lực vàphẩm chất đạo đức - tinh thần
Trí lực của phụ nữ Hà Nội thể hiện ở trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, kỹ thuật:
Hà Nội là thành phố duy nhất đứng đầu cả nước về tất cả các chỉ sốgiáo dục cơ bản Tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học tiểu học, trung học
cơ sở và trung học phổ thông đều vượt khá xa so với các thành phố khác Tỷ
Trang 9lệ biết chữ của nữ ở Hà Nội đã được cải thiện nhanh chóng với tỉ lệ tăng từ92,8% năm 1989 lên 95,6% năm 1999 (nữ toàn quốc là 88,2%), trong khi tỷ
lệ biết chữ của nam tăng tương ứng từ 98,5% lên 98,9% Tuy còn có sự
chênh lệch giữa tỉ lệ biết chữ của nam và nữ nhưng xét theo nhóm tuổi, trình
độ học vấn của nam và nữ theo các cấp học (không có sự cách biệt lớn) đãcho thấy khoảng cách về giới trong giáo dục cơ bản ở Hà Nội đã được khắcphục đáng kể
Tuy nhiên, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ laođộng nữ mới là thế mạnh nổi bật của Hà Nội Tỉ lệ lao động nữ mù chữ vàchưa tốt nghiệp tiểu học giảm từ 1,72% năm 1996 xuống còn 0,36% năm
2000, tỉ lệ lao động nữ có trình độ trung học phổ thông tăng tương ứng từ35,24% lên 46,14% Tỷ trọng lực lượng lao động nữ không có chuyên môn
kỹ thuật tức lao động chưa qua đào tạo đã giảm từ 69,11% (năm 1997)xuống còn 60,44% (năm 2000) Trong đó tỷ trọng lực lượng lao động nữ cótrình độ cao đẳng, đại học, trên đại học đã tăng tương ứng từ 12,24% lên17,29% (tỷ lệ trung bình của cả nước là 2,6%) Hà Nội là địa phương có tỉ lệlao động nữ đã qua đào tạo (từ sơ cấp, học nghề trở lên) cao nhất đạt 35,5%(năm 1999) gấp gần 5 lần so với mặt bằng chung cả nước (7,3%) Hà Nộicòn là địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ phụ nữ có học hàm, học vị
Tuy vậy, cơ cấu trình độ lao động nữ cũng đang tồn tại sự bất hợp lýgiữa các bậc đại học, cao đẳng/ THCN/ CNKT Nếu tỉ lệ này ở lực lượng laođộng Thủ đô nói chung là 1/ 0,6/ 1,4 thì ở lực lượng lao động nữ là 1/ 0,75/ 0,8,trong khi tỉ lệ hợp lý trên thế giới phải là 1/4/10 Mặc dù thiếu hụt nghiêm trọnglực lượng CNKT nhưng tỉ lệ nữ CNKT không có sự thay đổi đáng kể từ năm
1997 đến năm 2000 ( vẫn duy trì với tỷ trọng trên 3% và trên dưới 5%) Điều
đó cũng phản ánh phần nào thực tế lớp trẻ nói riêng và người lao động nói
Trang 10chung không tha thiết với học nghề để trở thành CNKT giỏi mà còn quan niệmnâng cao trình độ chuyên môn phải thể hiện trước hết ở học đại học hoặc caohơn
Tuy trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ Hà Nội cao hơnnhiều so với mặt bằng chung của cả nước nhưng lại luôn thấp hơn so vớinam giới Số lượng lao động nữ không có chuyên môn kỹ thuật không chỉrất lớn mà còn cao hơn nam vào khoảng13% (năm 1997) và 9% (năm 2000).Trong khi tỷ trọng lao động nữ có trình độ từ cao đẳng trở lên hàng năm đềuthấp hơn nam: năm 1996 là 12,23% so với 15,34%, năm 2000 là 17,29% sovới 19,09% Ở trình độ chuyên môn trên đại học, tỉ lệ nữ càng thấp hơn nam
Nữ chiếm 34,4% tổng số thạc sĩ, 15,3% tổng số tiến sĩ Tỉ lệ thấp trong sốlao động có trình độ cao không chỉ hạn chế sự đóng góp của phụ nữ mà cònhạn chế tiềm năng của lực lượng lao động Thủ đô nói chung
Sự chênh lệch về trình độ học vấn còn biểu hiện ngay trong lực lượnglao động nữ giữa thành thị và nông thôn Do điều kiện kinh tế khác nhau,đầu tư cho việc học tập giữa gia đình ở thành thị và nông thôn có khoảngcách khá xa nên tỉ lệ không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học của lựclượng lao động nữ ở nông thôn cao hơn lực lượng lao động nữ thành thị12,23 % (năm 1996) và 10,07% (năm 1999) Điều này chỉ rõ chính sách đàotạo, phát triển nguồn nhân lực cần tập trung ưu tiên cho lao động nữ, màtrước hết là nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ nông thôn
Tóm lại, so với mặt bằng chung của cả nước, trí lực của nguồn nhân
lực nữ Hà Nội tương đối cao và nổi trội về nhiều mặt Trình độ học vấn vàtrình độ chuyên môn kỹ thuật cao của lao động nữ Hà Nội quyết định khảnăng tiếp thu nhanh kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kỹ thuật công nghệ hiệnđại Tuy nhiên, nguồn nhân lực nữ Thủ đô vẫn còn khoảng cách khá xa về
Trang 11trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu lao động so với yêu cầu ngày càng caocủa công cuộc CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Khoảng cách giới còn tồn tại trong trình độ chuyên môn kỹ thuật giữalực lượng lao động nữ và nam phản ánh sự bất bình đẳng về giới trong đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực Điều đó làm cho phụ nữ khó tìm việc làm vàthường phải đảm nhiệm các công việc giản đơn, nặng nhọc, điều kiện làm việcbất lợi, vị thế và thu nhập thấp Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệđang diễn ra nhanh chóng hiện nay, trình độ chuyên môn thấp cũng chính lànguyên nhân dễ bị sa thải và mất việc làm trong các doanh nghiệp có quy môsản xuất lớn và công nghệ cao Nguyên nhân chính là do phụ nữ ít có cơ hội sovới nam giới trong việc tiếp cận các hình thức giáo dục - đào tạo và là hệ quảcủa những định kiến đánh giá thấp về vai trò, vị trí của phụ nữ trong lao động
xã hội
Chất lượng nguồn nhân lực nữ thể hiện ở thể lực: Hiện nay, chiều cao
và trọng lượng cơ thể trung bình của người Hà Nội vào loại trung bình thấptrên thế giới Nguồn nhân lực nữ Hà Nội hiện nay còn kém cả về tầm vóc vàthể lực, một mặt là do thể trạng chung của phụ nữ châu Á, một mặt là do sứckhoẻ của bà mẹ và trẻ em nói chung và sức khoẻ của trẻ em gái nói riêngtrong những năm trước đây của Hà Nội rất yếu kém (trong thập kỷ 90 tỉ lệtrẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 50%, trẻ sơ sinh thiếu cân là 14 -16%) đã ảnh hưởng tiêu cực đến tầm vóc và thể lực lao động Hà Nội hiệnnay Bên cạnh đó mức dinh dưỡng bình quân của người dân Hà Nội khoảng
2000 KCalo/ngày, thấp hơn so với mức chuẩn về dinh dưỡng mà Tổ chứcFAO khuyến cáo đối với người lao động các nước châu Á (2.300KCalo/ngày), cơ cấu dinh dưỡng lại bất hợp lý (gạo chiếm trên 70%) Do thểlực yếu so với mặt bằng chung và so với nam giới, lao động nữ kém thíchnghi trong điều kiện lao động nặng nhọc và cường độ lao động cao
Trang 12Chất lượng nguồn nhân lực nữ thể hiện ở những phẩm chất đạo đức tinh thần:
-Sống trong vùng đất địa linh, nhân kiệt " với lịch sử ngàn năm vănhiến, phẩm chất đạo đức- tinh thần của người Hà Nội có những đặc trưngmang tính phổ biến đối với cả dân tộc, song có phần đậm nét, tinh tế hơn doquá trình hội tụ, kết tinh những đặc tính vượt trội về trí tuệ và những nét vănhoá từ bốn phương tập trung về Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử, từ đólan toả và giao lưu với các nơi khác và với quốc tế Người dân Hà Nội cólòng tự trọng cao, trung thực, thẳng thắn, giàu nghĩa khí, coi trọng trí tuệ vàđạo đức hơn tiền bạc và danh lợi, sáng tạo, nhạy cảm, lịch sự tinh tế trongứng xử, giao tiếp; xử lý các mối quan hệ một cách mềm mại, uyển chuyển
mà hiệu quả cao
Phụ nữ Hà Nội ngày nay vừa được kế thừa những giá trị, phẩm chấtđạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, vừa là những người có vai tròquan trọng trong việc gìn giữ và phát huy những nét đẹp trong đời sống vănhoá tinh thần của người Hà thành, nhất là truyền thống thanh lịch" - vẻ đẹpriêng trong tâm hồn, tình cảm, lối sống của phụ nữ Hà Nội xưa Đức tính cần
cù, chịu khó vốn là bản chất tốt đẹp của người lao động, của phụ nữ ViệtNam, cùng với sự tài hoa khéo léo của người Hà Nội trong ngành nghềtruyền thống là những nhân tố khẳng định thêm chất lượng của lao động nữThủ đô Những giá trị đạo đức - tinh thần giúp cho phụ nữ Hà Nội khi thamgia vào quá trình hội nhập và phát triển có thể sáng tạo ra những giá trị kinh
tế và văn hoá tinh thần cao, là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy sự pháttriển toàn diện của nguồn nhân lực nữ Thủ đô
Tuy nhiên, một bộ phận nhất định phụ nữ còn chịu ảnh hưởng nặng nềcủa nếp nghĩ, tác phong làm việc tiểu nông theo kiểu sản xuất nhỏ, kém
Trang 13năng động, thiếu tính kỷ luật, chưa hoàn toàn thích ứng với những mối quan
hệ của kinh tế thị trường Do ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng trọng namkhinh nữ, phần lớn phụ nữ - kể cả phụ nữ trí thức, những nhà khoa học cótrình độ học vấn cao - vẫn còn mặc cảm, tự ti, an phận, cam chịu và thụđộng, thậm chí tuân theo những khuôn phép, chuẩn mực lạc hậu không cònphù hợp với tiến bộ xã hội Điều này hạn chế trực tiếp sự sáng tạo, tính tíchcực, chủ động của lao động nữ Do vậy, không chỉ hạn chế khả năng cốnghiến của phụ nữ mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sức cạnh tranh của nguồnnhân lực nữ khi tham gia vào thị trường lao động khu vực và thế giới
2.2.2. Thực trạng phát huy nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay
2.2.2.1 Thực tiễn tạo việc làm và hiệu quả sử dụng lao động nữ ở Hà Nội
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quátrình đổi mới đất nước đã có những tác động rất lớn đến tình hình việc làmcủa lao động nam và lao động nữ Thành phố đã có nhiều chủ trương, biệnpháp giải quyết việc làm cho người lao động Số lượng việc làm mới đượctạo ra hàng năm tăng nhanh (thời kỳ 1995 - 2000 là 49.300, những năm gầnđây là 50.000 - 55.000 chỗ làm mới) Lao động nữ đã có thể nắm bắt đượcnhững cơ hội mới để tạo ra việc làm
Chủ trương khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh phát triển đã đóngvai trò rất quan trọng trong thu hút lao động Năm 2000, các doanh nghiệpNhà nước trên địa bàn Hà Nội chỉ thu hút 202.099 lao động nữ, trong khi cácdoanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút 466.939 lao động nữ, gấp 2,3 lần Từnăm 1996 đến năm 2000 việc làm trong thành phần kinh tế Nhà nước chiếm
tỷ lệ nhỏ (khoảng 27% - 32% tổng số việc làm), trong khi đó việc làm cho
lao động nữ chủ yếu được thực hiện trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước (chiếm từ 43% - 65% tổng số việc làm)
Trang 14Trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước thì tự tạo việc làm của bảnthân lao động nữ với cách thức để sinh tồn, kinh doanh cá thể và siêu nhỏthuộc khu vực phi chính thức đóng vai trò chủ đạo thu hút lao động nữ HàNội Đó là bộ phận lao động nữ dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanhnghiệp Nhà nước và bộ phận lao động nữ bị phân công vào các công việc cóthu nhập không ổn định do cơ cấu kinh tế thay đổi trong khi nhu cầu đờisống gia đình ngày một tăng Đây là khu vực hoạt động với đặc trưng làtrình độ tổ chức và công nghệ thấp, là tầng trung gian giữa lao động giảnđơn và lao động có kỹ thuật tay nghề cao, góp phần ổn định đời sống nhândân, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, đáp ứng nhu cầu tăng thu nhập.
Chương trình vay vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm được thựchiện hiệu quả trong những năm qua đã có tác dụng lớn trong tạo việc làmcho lao động nữ Chỉ tính từ năm 1992 - 1999 thành phố đã xét duyệt 2880
dự án với tổng số vốn cho vay 223.261 triệu đồng; thu hút 143.556 lao động,trong đó lao động nữ được giải quyết việc làm chiếm gần 48% tổng số laođộng được sắp xếp việc làm Nguồn vốn này đã góp phần chuyển đổi cơ cấukinh tế, lao động khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, kinh tế hộ giađình có sự chuyển dịch rõ nét, tận dụng được nội lực trong mỗi gia đình vàdoanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao mức sống và ổnđịnh xã hội
Hoạt động tạo việc làm của hệ thống dịch vụ việc làm thành phố HàNội đã và đang thu được những kết quả nhất định.Trong đó số lượng phụ nữđược tư vấn, dạy nghề, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động chiếm tỷcao (46,81% - 53,28%) Khả năng nắm bắt thông tin thị trường và hoạt độngcủa các trung tâm, nhất là các trung tâm dành riêng cho nữ đã và đang có tácdụng thiết thực tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội
Trang 15Tuy đã có nhiều cố gắng trong giải quyết việc làm cho người lao độngnói chung và lao động nữ nói riêng, nhưng nhìn chung Hà Nội vẫn chưa khaithác, sử dụng tối đa nguồn nhân lực nhân lực nữ cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của Thành phố Điều đó được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, lực lượng lao động nữ thất nghiệp ở Thủ đô còn rất lớn với
số lượng trung bình 1996 - 1999 là 24.162 người/năm và có xu hướng tănglên từ 3,47% (20.365 người vào năm 1996) lên 5,20% (35.531 người vàonăm 2000) Tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khuvực nông thôn (8,8% so với 1,4%) Đại bộ phận lao động nữ thất nghiệp ở
độ tuổi trẻ và thất nghiệp cao nhất thuộc nhóm tuổi 15 - 24 tuổi với tỉ lệtrung bình từ 1996 - 1999 là 35,92% Thực tế này đặt ra vấn đề cần quan tâmgiải quyết việc làm cho nhóm tuổi này nhiều hơn để góp phần ổn định trật tự
xã hội Bên cạnh thất nghiệp hoàn toàn thì bộ phận lao động nữ thiếu việc
làm (có số giờ làm việc dưới 40 giờ/tuần) khá cao (năm 1999 là 96.507
người) và cũng có xu hướng tăng với tỉ lệ 11,98% (năm 1998) lên 15,25%(năm 1999), đặc biệt lực lượng lao động nữ nông thôn thiếu việc làm tới22,33% Điều này phản ánh thực trạng sử dụng thời gian lao động ở nôngthôn rất thấp do đất đai canh tác bị thu hẹp, dân số tăng, việc chuyển dịch cơcấu lao động nông thôn từ lao động thủ công sang lao động cơ khí trong quátrình thực hiện CNH, HĐH Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng vào làmviệc của lực lượng lao động nói chung và của lực lượng lao động nữ nóiriêng chỉ đạt từ 67,36% đến 84,14%
Xét trong tổng thể chung của thành phố, tình hình thất nghiệp và thiếuviệc làm ngày càng trở nên căng thẳng Trong thời kỳ 1996 - 2000 trungbình tỷ lệ thất nghiệp của thành phố là 5,2% với số lượng 63.683 người, sốngười thiếu việc làm trung bình một năm là 183.496 người chiếm 14,3% lực
Trang 16lượng lao động Cho nên số người thất nghiệp và thiếu việc làm của thànhphố trung bình là 247.159 người/năm Đại bộ phận những người thất nghiệp
ở độ tuổi trẻ Thất nghiệp ở khu vực thành thị hàng năm cao gấp nhiều lần sovới khu vực nông thôn (8,23% so với 1,83%) và cao hơn so với Thành phố
Hồ Chí Minh (7,04%) và mức trung bình của cả nước (7,4%) 47, tr.94
Theo giới tính, thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động
nữ (thời kỳ 1996 - 2000) thấp hơn lực lượng lao động nam (4,65% so với5,81%) trong khi trình độ học vấn, chuyên môn của nam cao hơn nữ Điều
đó không có nghĩa là sự bất bình đẳng về giới dưới góc độ việc làm nghiêng
về phía nam giới mà là do để có việc làm, lao động nữ đã dễ dàng chấp nhậncác công việc có kỹ thuật giản đơn, điều kiện lao động kém, thu nhập thấp,ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực nữ
Nguyên nhân thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động nữtrước hết là do cung lao động nữ vượt quá cầu lao động nữ Trong cácnguyên nhân làm tăng cung lao động nữ Hà Nội phải nói đến hiện tượngtăng cơ học dân số Người lao động ở các tỉnh, số sinh viên tốt nghiệp cáctrường cao đẳng, đại học ở lại Hà Nội tìm việc làm đã làm cho tổng số ngườicần sắp xếp việc làm trung bình một năm của Hà Nội lên tới 123.000 người.Trong khi đó số người được giải quyết việc làm mới đạt khoảng 35%
Cơ cấu trình độ lao động nữ hiện có không phù hợp với cơ cấu laođộng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (thiếu lao động có tay nghề vàtrình độ chuyên môn, thừa lao động giản đơn, thiếu CNKT) đã dẫn đến tìnhtrạng thất nghiệp cơ cấu do người lao động không đáp ứng được yêu cầu củangành nghề mới, các kỹ năng kiến thức mới và thị trường lao động Chỉ tínhriêng số lao động dôi dư do tinh giản biên chế và cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước (thời kỳ 1996 - 1999) thì lao động nữ đã chiếm tới 85,14% tổng số
Trang 17lao động dôi dư Tình hình này sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn đối vớilao động nữ khi đất nước và Thủ đô đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH
Lao động nữ ít cơ hội tiếp cận các thông tin về thị trường lao độngtrong khi công tác này của Thành phố vừa chậm, vừa thiếu lại phải trải quacác khâu trung gian nên người lao động nhất là lao động nữ không nắm bắtkịp thời thông tin thị trường lao động để tìm kiếm và chuyển đổi việc làmphù hợp
Tóm lại, tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động nữ Hà
Nội đang là một vấn đề bức xúc cần có giải pháp hữu hiệu để giải quyết.Thất nghiệp và thiếu việc làm không chỉ là một sự lãng phí nhân lực mà màcòn làm giảm chất lượng cuộc sống do giảm thu nhập, tác động tiêu cực đến
sự phát triển nhân cách của người lao động do thiếu môi trường để khẳngđịnh mình Thất nghiệp, thiếu việc làm của lao động nữ còn ảnh hưởng lớntới vị thế bình đẳng của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Thứ hai, hiệu quả sử dụng lao động nữ có chuyên môn kỹ thuật còn thấp Hà Nội hội đủ các yếu tố tạo nên sức hút đối với nguồn nhân lực chất
lượng cao, đồng thời lại tập trung phần lớn các trường Đại học, cao đẳng vàcác viện nghiên cứu của cả nước Hà Nội có lợi thế hơn các địa phương về
số lượng nữ cán bộ khoa học kỹ thuật, kể cả cán bộ đầu đàn trong nhiều lĩnhvực Tuy nhiên, việc sử dụng và thu hút lực lượng cán bộ nữ có trình độchuyên môn kỹ thuật cao vào công cuộc phát triển Thủ đô thời gian qua cònnhiều hạn chế do chưa có cơ chế và chính sách rõ ràng Sự phân bố nguồnnhân lực nữ có chất lượng cao còn bất hợp lý giữa các thành phần kinh tế,các ngành, khu vực: chủ yếu tập trung trong khu vực kinh tế nhà nước, trongcông nghiệp, trong lĩnh vực sản xuất phi vật chất Ngược lại, đang thiếu trầmtrọng số lao động này trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong nông
Trang 18nghiệp và trong lĩnh vực sản xuất vật chất trực tiếp Lực lượng lao động nữ
đã qua đào tạo chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị
Hiện nay ở Hà Nội chưa thiết lập được mối quan hệ hợp tác chặt chẽgiữa các cơ quan hoạt động thực tiễn, các tổ chức kinh tế - xã hội với các cơquan nghiên cứu đóng trên địa bàn Thủ đô Không ít những trường hợp các
tổ chức kinh tế - xã hội làm công tác chỉ đạo thực tiễn tự nghiên cứu các đềtài khoa học, ngược lại, việc thâm nhập thực tiễn của các cơ quan nghiêncứu còn gặp nhiều khó khăn, công tác xã hội hoá các sản phẩm khoa học cònnhiều hạn chế Tình trạng này đã và đang cản trở việc đưa tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất và chứng tỏ hiệu quả sử dụng lực lượng cán bộ cótrình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa cao Chính sách tiền lương chưa tạođộng lực khuyến khích cán bộ khoa học kỹ thuật tập trung vào nghiên cứuchuyên sâu dẫn đến sự lãng phí một cách nghiêm trọng "chất xám" trongthời gian qua
2.2.2.2 Tình hình quản lý nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội
Để phát huy hiệu quả nguồn lực con người thì việc quản lý nguồnnhân lực với những cơ chế chính sách tuyển dụng, bố trí sắp xếp, đánh giá,đãi ngộ có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường khai thác và phát huykhả năng sáng tạo của người lao động Việc theo dõi, quản lý nguồn nhânlực trên địa bàn thành phố tương đối chặt chẽ, có sự phân công, phân cấpcho ngành chuyên môn theo từng khu vực, đối tượng như: lao động ở khuvực hành chính, sự nghiệp, lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh, khu vựctập thể và cá thể Lực lượng lao động ở khu vực hành chính, sự nghiệp đượcquản lý cụ thể đến từng người, việc tuyển dụng công chức được thực hiệntheo chế độ thi tuyển Đây cũng là khu vực mà các quyền lợi, nghĩa vụ của