1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

31 487 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 43,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy không chỉ rõ đối tượng nào là cán bộ, viên chức,nhưng qua các quy định của Hiến pháp có thể hiểu trong bối cảnh của điều luật thì cán bộ là những người được bầu để đảm nhiệm các chức

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1.1 Quan niệm chung về cán bộ, công chức

1.1.1 Cán bộ, công chức

Thuật ngữ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dùng phổbiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Ban đầu nó được dùng nhiều trong quân đội

để phân biệt giữa chiến sỹ và cán bộ; cán bộ ở đây là những người làm nhiệm vụ chỉ huy

từ tiểu đội phó trở lên và dần dần từ cán bộ được dùng rộng rãi để chỉ cả những ngườihoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân Khi vào nước ta từ cán bộ đãbiến đổi không còn như nghĩa gốc; tuy nhiên cái hàm nghĩa: Bộ khung, người làm nòngcốt, người chỉ huy luôn được nhận thức và lưu giữ Theo cách hiểu thông thường, cán bộđược coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoànthể, quân đội Trong quan niệm hành chính, trước đây cán bộ được coi là những người cómức lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn mứclương cán sự

Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môntrong các cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị…) Hiểu theo nghĩa khác cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổchức, phân biệt với người thường, không có chức vụ (Đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ,họp cán bộ và công nhân nhà máy, làm cán bộ Đoàn thanh niên…)[21,tr 109]

Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể cán bộ được dùng để chỉ những người đượcbầu giữ chức vụ lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở để phân biệt với đảng viên, đoàn viên,hội viên, hoặc những người làm công tác chuyên trách trong các tổ chức đảng, đoàn thể,hưởng lương từ các tổ chức đó Trong các cơ quan nhà nước cũng có những người thuộcbiên chế nhà nước nhưng làm công tác đảng, đoàn thể chuyên trách được gọi là cán bộchuyên trách Đối với lực lượng quân đội nhân dân, những người giữ chức vụ từ tiểu độitrưởng, tiểu đội phó trở lên được gọi là cán bộ tiểu đội, cán bộ trung đội, cán bộ đại đội…

Trang 2

Trong bộ máy nhà nước cán bộ cũng được sử dụng với nhiều các hiểu khác nhau: Nhữngngười giữ các chức vụ trong các cơ quan nhà nước do được bầu cử (Chủ tịch nước, Thủtướng, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp…) hay được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo,quản lý, điều hành trong các cơ quan nhà nước (Bộ trưởng, Tổng cục trưởng, Vụtrưởng…).

Điều 8, Hiến pháp năm 1992, đã được sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “ Các

cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụnhân dân…” Theo Hiến pháp những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nướcbao gồm cán bộ và viên chức Tuy không chỉ rõ đối tượng nào là cán bộ, viên chức,nhưng qua các quy định của Hiến pháp có thể hiểu trong bối cảnh của điều luật thì cán bộ

là những người được bầu để đảm nhiệm các chức vụ theo nhiệm kỳ trong bộ máy nhànước, những người được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy, điều hành; còn viên chức lànhững người phục vụ nhà nước bằng chuyên môn nhất định (hoạt động của họ có tínhchất nghề nghiệp); những đối tượng mà quan hệ công vụ của họ được hình thành trên cơ

sở hợp đồng hành chính (hợp đồng lao động) trong các cơ quan, tổ chức nhà nước

Cụ thể hóa Hiến pháp, năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháplệnh cán bộ, công chức Trong đó thuật ngữ cán bộ được sử dụng với nội hàm và ngoạibiên rộng hơn thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong Hiến pháp Pháp lệnh không sử dụngthuật ngữ cán bộ, công chức nhà nước mà dùng thuật ngữ cán bộ, công chức nói chung đểchỉ những đối tượng làm việc trong các cơ quan nhà nước và trong các tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị- xã hội Như vậy về hình thức giữa Hiến pháp và Pháp lệnh không có sựthống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ và phạm vi điều chỉnh của các thuật ngữ nàycũng khác nhau Bên cạnh đó, Pháp lệnh chưa đưa ra được định nghĩa cho từng đối tượngcán bộ, công chức Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành cũng không có quy định cụ thể hơn để phân biệt đâu là cán

bộ, đâu là công chức Pháp lệnh chỉ mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh đối với đội ngũcán bộ, công chức cấp xã; cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổchức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội

Trang 3

Có thể thấy, có rất nhiều cách hiểu về cán bộ, tuy nhiên cách hiểu chung nhất cóthể khái quát như sau: Cán bộ là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theonhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, nhữngđối tượng mà hoạt động của họ mang nhiều tính chính trị, gắn liền với chính trị và bị chiphối bởi nhiều yếu tố chính trị[23,tr12] Cụ thể hơn, cán bộ đã được định nghĩa trongLuật cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực từ năm 2010: Cán bộ là công dân ViệtNam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơquan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, ởtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước[22].

Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều nước Đây là kháiniệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộmáy nhà nước mỗi quốc gia Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và chế độichính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà nội dung của kháiniệm công chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ở các quốc gia tồn tại nhiều đảngphái chính trị, công chức chỉ được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trongcác cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức, hưởng lương từ ngân sáchnhà nước Còn ở những nước chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thìquan niệm công chức được hiểu rộng hơn, không chỉ gồm những chủ thể nêu trên mà còn

cả những đối tượng có dấu hiệu tương tự, nhưng làm việc trong cả các tổ chức đảng, tổchức chính trị- xã hội Do đó, trong thực tế khó đưa ra được quan niệm chung về côngchức cho tất cả các quốc gia trong quá trình phát triển của nó; thậm chí ngay trong mộtquốc gia, ở từng thời kỳ phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dungkhác nhau

Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ công chức được đề cập đến trong Quy chếcông chức Việt Nam, ban hành kèm theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịchnước Việt Nam dân chủ, cộng hòa: Những công dân Việt Nam được chính quyền, nhândân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài

Trang 4

nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủQuy định[2] Công chức tại sắc lệnh này thực chất là những người làm việc trong các cơquan Chính phủ, không bao gồm những người làm việc trong các tổ chức sự nghiệp nhànước, trong các cơ quan khác của nhà nước như viện kiểm sát, tòa án…

Hiện nay, từ công chức hiểu theo nghĩa thông thường là: Người được tuyển dụng

và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, hưởng lương dongân sách nhà nước cấp[21,tr207] Cụ thể hơn, tại Luật cán bộ, công chức năm 2008,công chức được xác định là: Công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong tổ chức thuộc Quân đội nhândân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong tổchức thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp vàtrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy địnhcủa pháp luật[22]

Như vậy có thể thấy theo quy định của Luật này thì công chức hiện diện ở cả các

cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị từ trung ương đến tỉnh, huyện…Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định rõ:

Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam Ở Trung ương: Ngườigiữ chức vụ, chức danh cấp phó, trợ lý, thư ký của người đứng đầu và người làm việctrong văn phòng, cục, vụ, cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố ĐàNẵng của Văn phòng Trung ương Đảng, cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các banđảng ở Trung ương; người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của ngườiđứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng

ủy khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; người làmviệc trong bộ phận giúp việc của cơ quan, tổ chức do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan

Trang 5

do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ở tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương: Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu

và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của tỉnh ủy, thànhủy; người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và ngườilàm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của đảng ủy khối trực thuộctỉnh ủy, thành ủy; người làm việc chuyên trách trong văn phòng, ban tổ chức, ban tuyêngiáo, cơ quan ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở trựcthuộc tỉnh ủy, thành ủy Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Người giữ chức vụ,chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong vănphòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộctỉnh

Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toánNhà nước, gồm: Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm Văn phòngQuốc hội, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó vàngười làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập

Công chức trong bộ, cơ quan ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủtướng Chính phủ thành lập: Thứ trưởng và người giữ chức danh, chức vụ tương đương;người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra

và tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ;tổng cục trưởng và tương đương, phó tổng cục trưởng và tương đương, người giữ chức

vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra thuộc tổng cục

và tương đương; cục trưởng, phó cục trưởng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó vàngười làm việc trong văn phòng, phòng, thanh tra, chi cục thuộc cục ; người đứng đầu,cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong các tổ chức do Chính phủ, Thủtướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập

Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện Ở cấp tỉnh: Chánhvăn phòng, phó chánh văn phòng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làmviệc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân,

Trang 6

Văn phòng Ủy ban nhân dân; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và ngườilàm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chứccủa cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; trưởng ban, phó trưởng ban, người giữchức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sựnghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khukinh tế thuộc Ủy ban nhân dân Ở cấp huyện: Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng vàngười làm việc trong Văn phòng hội đồng nhân dânvà Ủy ban nhân dân; chủ tịch, phóchủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, chánh văn phòng, phó chánh văn phòng và ngườilàm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức hộiđồng nhân dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.

Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân: Phó Chánh án Tòa án nhân dân tốicao; chánh án, phó chánh án các tòa và tòa chuyên trách; Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, vụ, ban và các tòa, tòa chuyên tráchthuộc Tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; chánh

án, phó chánh án các tòa chuyên trách; thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thư ký tòaán; người làm việc trong văn phòng, phòng, ban và tòa chuyên trách thuộc tòa án nhândân cấp tỉnh; chánh án, phó chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; thẩm phán tòa án nhândân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện

Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: Phó Viện trưởng Viện Kiểmsát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ,cục, ban và viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, phó việntrưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việctrong văn phòng, phòng thuộc Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh Viện trưởng, phó việntrưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việctrong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện

Trang 7

Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội Ở Trung ương: Chánhvăn phòng, phó chánh văn phòng, trưởng ban, phó trưởng ban và người làm việc trongvăn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức ở Trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam (tổchức chính trị - xã hội); người làm việc trong bộ phận giúp việc của Ủy ban thuộc tổ chứcchính trị - xã hội Ở cấp tỉnh: Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng, trưởng ban, phótrưởng ban và người làm việc trong văn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chứcchính trị - xã hội và tổ chức tương đương Ở cấp huyện: Người làm việc trong cơ quancủa các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương

Công chức trong tổ chức của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân: Ngườilàm việc trong tổ chức thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong tổ chức thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập: Ngườiđứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó tổ chứccủa đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốchội, Chính phủ Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lậpđược ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc các ban và cơ quan tương đươngcủa Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhànước, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan Trung ương các

tổ chức chính trị - xã hội, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướngChính phủ Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinhphí hoạt động thuộc tổng cục, cục và tương đương trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; tỉnh

ủy, thành ủy; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; huyện ủy,quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấptỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Người giữ các vị trí việc

Trang 8

làm gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập được giao thựchiện nhiệm vụ quản lý nhà nước[3].

1.1.2 Cán bộ, công chức chính quyền cơ sở

Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là chính quyền cấp cơ sở, cấp thấp nhấttrong hệ thống chính quyền địa phương Chính quyền cấp cơ sở có vai trò, vị trí đặc biệtquan trọng không chỉ trong cơ cấu quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh

mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cư và toàn thểngười dân trong địa bàn Chính quyền cấp xã theo quan niệm chung còn được xác định là

“trụ cột”, “trung tâm” của hệ thống chính trị cơ sở trong tổ chức, triển khai mọi chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bảo đảm cho chủtrương, chính sách đó đi vào cuộc sống Chỉ có chính quyền cấp xã, với chứng năng,thẩm quyền được thể chế hóa theo phân cấp, cùng với cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ,công chức mới có thể thực hiện được điều đó, mà khó có tổ chức nào ở cơ sở có thể thaythế được

Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng trong xâydựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, trong hoạt động thực thi công vụ Hiệulực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị của cấp xãnói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công táccủa đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã hoạt độngtheo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trướcnhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Là một bộ phận quan trọng trong độingũ cán bộ, công chức nhà nước, hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã sovới cán bộ, công chức ở trung ương, tỉnh, huyện đều hướng theo mục tiêu, nhiệm vụchung là: Họ đều thực thi công vụ; có những yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độnhất định; có trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa

vụ nhất định

Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội quyđịnh: Cán bộ xã, phường, thị trấn (cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức

Trang 9

vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó

Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội Công chức cấp xã là công dânViệt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy bannhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cụ thể, cán bộcấp xã có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồngnhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn cóhoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch HộiCựu chiến binh Việt Nam Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉhuy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường(đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối vớixã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội[22]

Từ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn hay còn gọi là cấp xã (cấp

cơ sở), ta có thể hiểu cán bộ, công chức chính quyền cấp xã chính là những cán bộ, côngchức làm việc tại chính quyền cấp xã, cụ thể là trong Thường trực hội đồng nhân dânvà

trong Ủy ban nhân dân Như vậy, đối chiếu theo quy định: Cán bộ chính quyền cơ sở,

gồm 04 chức vụ: Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ

ban nhân dân và công chức chính quyền cơ sở gồm 07 chức danh: Trưởng Công an; Chỉ

huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường(đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối vớixã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội

1.2.3 Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giớihiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngànhdân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một sốtrường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa dân tộc thiểu số với dân tộc lạc hậu, dân tộc

Trang 10

chậm tiến, dân tộc kém phát triển, dân tộc chậm phát triển… Có nhiều nguyên nhân,trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia.

Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan vềdân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm dân tộcthiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị,trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chiphối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc

Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, ĐảngCộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là mộtquốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người Trongtổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm

là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là dân tộc thiểu

số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất

là trong những năm trước đây còn được gọi là dân tộc ít người Mặc dù hiện nay đã cóqui định thống nhất gọi là dân tộc thiểu số, nhưng cách gọi dân tộc ít người vẫn không bịhiểu khác đi về nội dung

Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dântộc Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh vềdân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thểđược quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốcgia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhưng lạiđược coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số củaTrung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là dân tộc đa số ở Trung Quốc, nhưnglại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của ViệtNam) Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số và dân tộc đa số cũng như nội hàm củachúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét

Trang 11

rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh vềdân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích

ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giớinghiên cứu dân tộc học trên thế giới[25]

Về khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số hiện nay được dùng tương đốiphổ biến ở nước ta Trên cơ sở các khái niệm: dân tộc thiểu số, cán bộ, công chức chothấy: Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số là tập hợp của ba khái niệm: Cán bộ, công chức

và dân tộc thiểu số Khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số chỉ những người cán

bộ, công chức đang công tác trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị có thành phầnxuất thân là các dân tộc thiểu số Tiêu chí để phân biệt “cán bộ, công chức dân tộc thiểusố” trong đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc xuấtthân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” Tiêu chí nàykhông có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ, côngchức Khi đã trở thành cán bộ, công chức thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dântộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ cáctiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình Từ những phântích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ, công chức dân tộc thiểu số,như sau: “Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy địnhtại Luật cán bộ, công chức, đang công tác, làm việc trong một tổ chức xác định của hệthống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam

1.2 Năng lực, năng lực thực thi công việc, năng lực lãnh đạo, quản lý

1.2.1 Năng lực

Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con ngườicần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi lànăng lực Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liềnvới hoạt động của chính họ Nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nộidung và tính chất của đối tượng của nó Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đốitượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định Nói một cách khác thì mỗi

Trang 12

một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân nhữngthuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó

Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộctính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp cácthuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà

là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qualại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo vànhững thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động vàđảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn Ở góc độ này, chúng ta có thể địnhnghĩa: “Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng nhữngyêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”[6,tr190].Nói cách khác: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó”; “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngườikhả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[21,tr660.661]

Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đếnnăng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào

đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạtđộng chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy…Như vậy, có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau: “Năng lực nghề nghiệp là sựtương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghềnghiệp đặt ra Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghềđược”[19,tr72] Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau,theo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau:Tri thức chuyên môn; kỹ năng hành nghề; thái độ với nghề [26]

Dưới góc độ hành chính học, “năng lực” có ba cách tiếp cận sau: “năng lực” làtập hơn ba nhóm yếu tố kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử một người có và sử dụng đểđạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì một người có, biết và làm được

để đạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì một người phải có để hoàn

Trang 13

thành công việc theo quy định Năng lực của mỗi người bao giờ cũng gắn liền với hoạtđộng của chính người đó và cả sản phẩm của chính hoạt động ấy Năng lực chỉ hìnhthành và phát triển trong hoạt động Đến lượt nó, kết quả hoạt động lại tùy thuộc và trình

độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt động này Như vậy, tùy theo hoạtđộng của con người có thể chia thành các loại năng lực khác nhau; năng lực luôn đượcxác định gắn liền với việc thực thi những loại công việc nhất định: Năng lực để đảm nhận

vị trí công việc mang tính chuyên môn; năng lực để đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý

Năng lực cán bộ, công chức (năng lực thực thi công việc được giao) luôn gắn vớicác yếu tố: Loại công việc; quy trình thực thi công việc; kết quả Nói đến năng lực củađội ngũ cán bộ, công chức là nói đến năng lực chung, năng lực tổng quát và năng lực cụthể theo từng nhóm năng lực chung Năng lực tổng quát thường có thể chung cho nhiềuloại tổ chức ; chung cho từng nhóm đối tượng như nhóm cán bộ, nhóm công chức Nănglực cụ thể chính là chi tiết hóa năng lực tổng quát nhưng gắn chặt với họat động của tổchức Cần phân biệt giữa năng lực cần có để thực thi công việc và tiêu chuẩn để bổnhiệm vào một vị trí Tiêu chuẩn mang tính quy định cứng, là điều kiện cần để bổ nhiệm,chủ yếu dựa trên các quy định như đòi hỏi về bằng cấp, lòng trung thành, phẩm chất (khó

đo lường)… Còn năng lực chỉ thể hiện khi kiểm tra, đánh giá hoặc khi thực thi công việc;năng lực là điều kiện cần và đủ để làm tốt công việc được giao; năng lực có thể đo lườngđược thông qua việc đánh giá thực thi được hay không được công việc được giao Trongthực thi công việc được giao nếu năng lực thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, cóthể dùng biện pháp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực

1.2.2 Năng lực thực thi công việc

Năng lực thực thi công việc chính là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao(năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn) Để thực thi công việc được giao, cán bộ, côngchức phải có kiến thức về chuyên môn, kỹ năng thực hiện và thái độ thực thi công việc:

Về kiến thức và trình độ chuyên môn

Trang 14

Kiến thức và trình độ chuyên môn có được do được đào tạo, bồi dưỡng ở cáctrường lớp tạo nên cho con người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét, khả năng

tư duy, xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ và thời điểm Kiếnthức cơ bản của một người thể hiện ở bằng cấp chuyên môn được đào tạo ở các trườnglớp Người có bằng cấp chuyên môn thuộc lĩnh vực nào có nghĩa cá nhân đó có trình độkiến thức ở lĩnh vực đó càng nhiều và kiến thức đó được nhà nước công nhận qua việccấp văn bằng

Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực con người không chỉ qua văn bằng họ có được

mà cần phải đánh giá một cách tổng hợp hơn về nhiều khía cạnh, chẳng hạn như về trình

độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xã hội Những loại kiến thức này vô cùng phong phú, baogồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau Và những loại kiến thức này không nhấtthiết cá nhân nào cũng phải học có bằng cấp mới biết, có người chỉ cần tham khảo, tìmhiểu qua các sách, báo, đài, các phương tiện thông tin đại chúng và việc tự tư duy vậndụng vào thực tiễn họ cũng có đủ năng lực để phát hiện ra thế giới khách quan một cáchnhanh nhạy và chính xác, xử lý các vấn đề mà cuộc sống đặt ra Trên thực tế, có ngườihọc nhiều nhưng vẫn chậm nhận ra được bản chất của hiện thực khách quan cần xử lý

Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từng cương vịcông tác là đòi hỏi tất yếu đối với người cán bộ, công chức chuyên nghiệp Kiến thức vàtrình độ chuyên môn giúp người cán bộ, công chức có năng lực tổ chức thực hiện nghịquyết, chỉ thị các cấp ủy Đảng, hội đồng nhân dân các cấp và những quyết định, chínhsách của chính quyền cấp trên Không có kiến thức và trình độ chuyên môn cán bộ, côngchức khó có thể thực thi nhiệm vụ được giao trong hoạt động thực tiễn Đối với cán bộ,công chức chính quyền cơ sở, tùy theo chức trách nhiệm vụ được giao, yêu cầu về kiếnthức, chuyên môn nghiệp vụ cũng khác nhau Kiến thức, chuyên môn của các cán bộ (chủtịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân) sẽ khác nhau Giữa cán bộ vớicông chức (07 chức danh chuyên môn) cũng khác nhau…

Về kỹ năng thực hiện công việc

Trang 15

Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những hiểu biết có được vào hoạt động thực

tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng cao Có nhiều loại

kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thu tập và xử lý thông tin, kỹ năng phân tích, kỹnăng đánh giá, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng dụng, kỹ năng diễn đạt, truyền đạt …

Kỹ năng có được thường do quá trình làm việc thâm niên, kinh nghiệm tạo nên, ngoài racòn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinh nghiệm truyền giao Người có kỹ năngtiến hành công việc tự tin, nhanh chóng và chất lượng, dễ thu hút sự hài lòng của mọingười có liên quan

Đối với cán bộ công chức chính quyền cơ sở cấp trực tiếp và gần dân nhất thì kỹnăng giao tiếp là rất quan trọng Kỹ năng giao tiếp là hoạt động qua lại giữa các cá nhân,giữa cán bộ, công chức và người dân với nhau Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thựchiện cơ chế “một cửa” ở cấp xã, kỹ năng giao tiếp là một trong những yếu tố giúp ngườicán bộ, công chức đạt được hiệu quả giải quyết công việc cho người dân Kỹ năng giaotiếp thể hiện ở khả năng nhận biết, phán đoán, sử dụng các phương tiện giao tiếp như:Động tác, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ, sắc thái tình cảm ánh mắt, khả năng tạo sức hút, lôicuốn, hứng thú, tập trung…

Cùng với kỹ năng giao tiếp, người cán bộ, công chức chính quyền cơ sở còn phải

có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin Kỹ năng này gồm khả năng thu thập, phân loại,sắp xếp, phân tích, kiểm tra, chọn lựa, xử lý và sử dụng thông tin Với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học và công nghệ như ngày nay, đặc biệt là công nghệ thông tin, kỹ năng xử

lý thông tin ngày càng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn khi dự thảo và ra quyết định cũngnhư thực thi công việc

Một kỹ năng quan trọng nữa mà cán bộ, công chức nói chung, cán bộ công chứcchính quyền cơ sở nói riêng cần phải có đó là kỹ năng phân tích Đây là kỹ năng đòi hỏi

sự không ngừng vươn lên về năng lực, trình độ đối với cán bộ, công chức chính quyền cơ

sở Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của người cán bộ, công chức luôn hàmchứa thời cơ, nguy cơ, mặt mạnh, mặt yếu… đòi hỏi người cán bộ, công chức luôn có sựphân tích để lựa chọn, đánh giá và đề ra các phương án giải quyết thích hợp

Ngày đăng: 25/12/2015, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w