- Vấn đề môi trường: Tốc độ gia tăng quá nhanh về công nghiệphóa và đô thị hóa dẫn đến phá hủy một phần hệ môi trường sinh thá, gây ônhiễm… trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, k
Trang 1LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
I CÁC KHÁI NIỆM:
1 Đô thị:
1.1 Khái niệm:
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung
và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp ( Từ điển Báchkhoa Việt Nam)
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp,sống và làm việc theo kiểu thành thị ( Giáo trình QHĐT, ĐH kiến trúc HàNội)
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao độngphi nông nghịêp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trungtâm chuyên nghành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cảnước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh(Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên bộ XD và ban tổ chức cán
bộ của chính phủ )
Khái niệm về Đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độphát triển kinh tế – xã hội, hệ thống dân cư Mỗi nước có quy định riêng tùytheo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Việt Nam quy định Đô thị lànhững thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, với tiêu chuẩn và quy mô dân số caohơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn Điều đó xuất phát từđặc điểm của nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nướcnông nghiệp lên CNXH… Và cũng thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về mốiquan hệ giữa lực lượng sản xuất trong điều kiện cụ thể ở nước ta
1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội của Đô thị:
Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính chất toàn cầu:
Trang 2- Vấn đề môi trường: Tốc độ gia tăng quá nhanh về công nghiệphóa và đô thị hóa dẫn đến phá hủy một phần hệ môi trường sinh thá, gây ônhiễm… trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vìnhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân quan trọng là tài chínhhạn chế và nhận thức không đầy đủ.
- Vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số
Đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư diễn ra song song Theo chiều rộng: từnông thôn vào thành thị, từ nước kém phát triển đến nước phát triển, từthành thị ra ngoại thành Theo chiều sâu: Chuyển dịch cơ cấu lao động từcác hoạt động nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp ngay trong lòngnông thôn
- Vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số Đôthị tập trung quá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đến không điều hòa nổi,gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống Đô thị
- Vấn đề giao thông: Tại các Đô thị lớn, vấn đề tắc nghẽn giaothông, tai nạn giao thông, bụi khói, tiếng ồn đang là vấn đề nhức nhối và cấpbách cho chính quyền Đô thị Có rất nhiều giải pháp được đưa ra nhằm giảiquyết vấn đề trên Tuy nhiên, để lựa chọn từng giải pháp phù hợp với tìnhtrạng, điều kiện hiện có của từng Đô thị là không đơn giản bởi lẽ nó có liênquan đến sự phát triển bền vững của Đô thị
- Quan hệ thành thị và nông thôn luôn tồn tại, ngày càng trở nênquan trọng: Khi muốn tìm hiểu hoạt động của thành phố, chúng ta lại phảinghiên cứu vùng nông thôn Chúng ta sẽ không hiểu thành phố hoạt độngnhư thế nào nếu không biết đến những ảnh hưởng qua lại giữa thành phố vàvùng nông thôn, khi hệ thống địa giới hành chính bắt đầu được hình thành
- Hệ thống thị trường Đô thị với những đặc trưng riêng biệt: Vìthành phố là nơi tập trung đông dân với hoạt động sản xuất chuyên môn hóa
Trang 3cao, nên nhu cầu cung cấp, trao đổi hàng hóa, hay tiêu dùng cũng rất cao.Cung và cầu gặp nhau trên thị trường Đô thị (thị trường Đô thị là một hệthống hoặc địa điểm, ở đó diễn ra việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịchvụ.).
- Đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vậtchất, kinh tế, văn hóa, xã hội…Thành phố Hà nội được xây dựng cách đâyhàng nghìn năm Nền văn hóa đó được kế thừa và phát triển với bản sắc dântộc Việt Nam
2 Đô thị hóa và các khu Đô thị mới:
2.1 Khái niệm về Đô thị hóa:
Đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hìnhthái khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ
Trên quan điểm một vùng: Đô thị hóa là một quá trình hình thành,phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu Đô thị Trong ngôn ngữbáo chí hàng ngày, chúng ta thường gặp các cụm từ “ tốc độ Đô thị hóa “, “trình độ Đô thị hóa “ nhằm mô tả diễn biến, tình trạng của quá trình Tốc độ
Đô thị hóa có thể được hiểu theo hai nghĩa Trên góc độ thống kê, người ta
so sánh quy mô tăng thêm trong một thời kỳ nhất định Trên góc độ kinh tế
xã hội, người ta có thể hiểu nó như là tỷ lệ dân số Đô thị trong tổng số dân ởmột thời điểm nhất định
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hóa là quá trình biến đổi về
sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng khôngphải Đô thị thành Đô thị
2.2 Hình thức biểu hiện:
Mở rộng quy mô diện tích các Đô thị hiện có trên cơ sở hình thànhcác khu Đô thị mới(KĐTM), các quận, các phường mới là hình thức phổ
Trang 4biến với các Đô thị của Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn hạn chế Việchình thành các KĐTM, các quận, phường mới được xem là hình thức Đô thịhóa theo chiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho lực lượngsản xuất phát triển Với hình thức này dân số Đô thị và diện tích Đô thị tăngnhanh chóng Sự hình thành các ĐTM để phát triển đồng đều các khu vực,các ĐTM được xây dựng trên cơ sở các khu công nghiệp và các vùng kinh tế
là xu hướng tất yếu của sự phát triển
Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các Đô thị hiện có là quá trìnhnhanh chóng, thường xuyên và tất yếu của quá trình tăng trưởng và pháttriển Các nhà quản lý Đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn Đô thịthường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho Đô thị của mình Quá trình
Đô thị hóa đòi hỏi họ phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn
có và hoạt động có hiệu quả và trên cơ sỏ hiệnđại hóa trong mọi lĩnh vựckinh tế – xã hội ở Đô thị
Cả hai hình thái đều dẫn đến hiện tượng dân số Đô thị tăng nhanh Sựthay đổi về hành chính dẫn đến những người dân hôm qua còn là nông dân,hôm nay trở thành người thành thị, cộng với sự nhập cư ồ ạt vào các Đô thị
cũ với cơ sở hạ tầng sẵn có đã cung cấp cho Đô thị nguồn nhân lực dồi dào,
là cơ sở cho các doanh nghiệp sản xuất mới ra đời, doanh nghiệp cũ mở rộngquy mô sản xuất… nhưng nó cũng tạo ra những mất cân đối về cung cầu laođộng việc làm và các vấn đề khác trong Đô thị
2.3 Khái niệm và sự cần thiết khách quan của việc xây dựng cácKĐTM
Trang 5Các khu ĐTM thường được gắn với một Đô thị hiện có hoặc với một
Đô thị đang hình thành Trên phương diện pháp luật, KĐTM phải ranh giới
và chức năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng Đô thị được cơquan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
2.3.2 Sự cần thiết khách quan:
Các khu Đô thị mới trên thực tế được hình thành và phát triển tại cáckhu vực gần Đô thị cũ, khi các điều kiện của Đô thị cũ đã quá tải, không đápứng được yêu cầu cuộc sống của dân cư, cũng như yêu cầu phát triển Đô thịthể hiện qua một số mặt như:
+ Sự thiếu đất xây dựng làm giá nhà và đất tăng vọt, gây nên tìnhtrạng thiếu nhà ở, thiếu điều kiện để xây dựng các công trình trong Đô thịhiện hữu
+ Hệ thống hạ tầng quá tải gây nên tình trạng ách tắc giao thông, thiếunước, vệ sinh môi trường không đảm bảo, trong khi đó việc cải tạo quá tốnkém hoặc khó khăn
+ Cơ cấu đất Đô thị cũ không đáp ứng được nhu cầu phát triển mới
* Xây dựng các Khu Đô thị mới nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:+ Hình thành và phát triển những Đô thị mới độc lập trong hệ thống
Đô thị quốc gia Do ở những khu vực mới có quỹ đất xây dựng dồi dào, giáđất được chính phủ duy trì ổn định, tạo sự thu hút việc xây dựng nhiều côngtrình mới thuộc mọi thành phần kinh tế Hệ thống giao thông được xây dựngmới thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu, tạo điều kiện cho Đô thị mới hìnhthành ổn định và phát triển độc lập
+ Tạo dựng Đô thị mới đồng bộ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế gồm:một hệ thống các công trình nhà ở, nơi làm việc, cửa hàng và các công trìnhdịch vụ Đô thị mới thu hút dân cư trong Đô thị cũ đến sống và làm việc
Trang 6trong điều kiện tốt hơn, giảm mật độ dân cư Đô thị cũ, hỗ trợ cho việc giảiquyết ách tắc giao thông, đồng thời có điều kiện bảo tồn và cải tạo Đô thị cũ.
+ Hình thành các Đô thị mới với cơ sở hạ tầng hiện đại, tạo môitrường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm tạo điềukiện công ăn việc làm mới, tiếp thu các công nghệ hiện đại, tiên tiến tạođộng lực phát triển kinh tế
+ Phát triển Đô thị theo một chiến lược dài hạn, có kế hoạch và địnhhướng tránh việc tự phát, tản mạn và sử dụng đất không hợp lý, tạo điều kiệnbảo vệ đất nông nghiệp
+ Quản lý và tập trung ở mức độ cao có hiệu quả các nguồn đầu tưcủa chính phủ và của các thành phần kinh tế khác phục vụ cho sự phát triểncủa Đô thị
*Vị trí xây dựng các khu Đô thị mới:
Quá trình Đô thị hóa đã có những tác động đến việc lựa chọn vị tríxây dựng các khu Đô thị mới Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và có
sự hợp tác quốc tế hiện nay, sự lựa chọn vị trí của các thành phố được tiếnhành trên cơ sở phán đoán về sự lựa chọn ví trí của các doanh nghiệp, các tổchức kinh tế Bởi vì, một Đô thị mới thực sự là Đô thị khi có các doanhnghiệp Tuy nhiên, các kinh nghiệm thực tế cho thấy có 4 điểm để xây dựng
và phát triển các khu Đô thị mới là:
+ Xây dựng các khu Đô thị mới ở vùng ven đô, gắn với 1 Đô thị hiện
có nhằm tiếp tục mở rộng Đô thị đó theo các hướng phát triển thuận lợi nhất
+ Xây dựng các Đô thị mới trong vùng ảnh hưởng của Đô thị lớn,gồm các Đô thị hạt nhân và Đô thị đối trọng
+ Xât dựng các Đô thị mới ở các vùng đang phát triển hoặc kém pháttriển nhằm khai thác hợp lý tài nguyên, khoắng sản và gắn với việc hình
Trang 7thành các cụm, khu công nghiệp mới, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy sự tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế – xã hội các vùng đó.
+ Xây dựng các Đô thị mới trên nền các Đô thị cũ bị tàn phá do chiếntranh hoặc do thiên tai gây ra
Như vậy, trên góc độ vĩ mô các nhà kinh tế – quản lý Đô thị, các nhàquy hoạch Đô thị, cần biết các doanh nghiệp và các tổ chức lựa chọn vị trícủa mình như thế nào để tạo ra các khu Đô thị mới có khả năng cạnh tranhcao Việc lựa chọn sai vị trí sẽ dẫn đến tình trạng Đô thị hoang vắng, kémhiệu quả hoặc không theo kế hoạch dẫn đến lẵng phí các nguồn tài nguyên
3 Công tác giải phóng mặt bằng trong các dự án xây dựng các Khu
Đô thị mới
3.1 Khái niệm:
Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, mọi giai đoạn việc giảiphóng mặt bằng để xây dựng công trình là không thể tránh khỏi, nhịp độphát triển càng lớn thì nhu cầu giải phóng mặt bằng càng cao và trở thànhmột thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉtrong lĩnh vực kinh tế mà cả ở trong lĩnh vực xã hội, chính trị trên pham vịquốc gia
Các yêu cầu ngay càng hoàn thiện về cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật(hệ thống cấp thoát nước, hệ thống giao thông, hệ thống tải điện) cơ sở hạtầng xã hội (bệnh viện, trường học, khu vui chới giải trí, thể dục thể thao…),
cơ sở sản xuất (quy hoạch đồng ruộng, khu công nghiệp) và mở rộng đô thịchỉnh trang dân cư đều dẫn đến việc đền bù giải phóng mặt bằng ngày càngphức tạp, khó khăn và rất dễ xảy ra nhiều tổn thất, nhất là trong nhữngtrường hợp không tự nguyện
Vấn đề giải phóng mặt bằng trở thành một trong những điều kiện tiênquyết của phát triển, nếu không xử lý tốt sẽ trở thành lực cản thực tế đầu tiên
Trang 8mà các nhà phát triển phải vượt qua Bài học từ các nước phát triển dạy rằngnếu xem nhẹ vấn đề náy trong tính toán đầu tư phát triển thì không chỉ làmtăng giá thành mà còn để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề không xử lý đượcbằng tiền Có thể khẳng định rằng, đền bù và giải phóng mặt bằng là vấn đềcủa phát triển, là nội dung không thể né tránh của phát triển và chính nó làmột yếu tố quyết định của tiến bộ và sự thành công của phát triển, bất kỳmột giải pháp nào thiếu đồng bộ, không chặt chẽ đều để lại hậu quả tiêu cực.
Công tác giải phóng mặt bằng không chỉ là việc thu hồi đất nhằmphục vụ các dự án phát triển của chính quyền Đô thị (các dự án phát triển cóthể về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ) mà nó còn là bài toán về mộtloạt các vấn đề liên quan như : giá trị đền bù, tái định cư, công ăn việc làm,bình đẳng xã hội đang đặt ra cho các cấp chính quyền Đô thị phải trực tiếpgiải quyết
Như vậy, có thể hiểu công tác giải phóng mặt bằng đó là hệ thống cácquyết định của chính quyền Đô thị nhằm thu hồi đất phục vụ các dự án pháttriển mà vẫn đảm bảo được vấn đề công bằng đối với các hộ gia đình, chínhquyền, vùng có liên quan Hệ thống quyết định của chính quyền là nhữngvăn bản mang tính pháp lý nhằm triển khai công tác giải phóng mặt bằngxuất phát từ quyết định thu hồi đất, đền bù các công trình trên đất, giải tỏa,bàn giao mặt bằng cho dự án đến việc hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồiđất, và có thể bao gồm cả những văn bản có liên quan đến việc giải quyếtnhững vấn đề phát sinh hậu giải phóng mặt bằng (ví dụ như : việc làm, anninh, xã hội, thu nhập, ổn định cuộc sống…)
Mục đích của công tác giải phóng mặt bằng là:
Trang 9+ Tạo ra quỹ đất để làm mặt bằng tiến hành triển khai thực hiện dự ántrong đó có dự án xây dựng phát triển các khu Đô thị mới.
+ Quy hoạch lại Đô thị, tạo điều kiện cơ sở hạ tầng tốt hơn phục vụcho việc tái định cư của người dân phải di dời ở các dự án giải phóng mặtbằng khác
3.2 Bản chất của công tác giải phóng mặt bằng:
Ăn và ở là hai nhu cầu tối thiểu của con người, một khi hai nhu cầu tốithiểu đó không được đáp ứng thì con người không thể làm khoa học, văn hóa
và hoạt động chính trị
Bài học của một số nước phát triển đã cho chúng ta một cách nhìnmới, đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc chọctrời là những khu nhà ổ chuột của dân lao động- công bằng và nhân quyềnkhông thể chỉ thông qua tuyên truyền mà thực tế lại không thực hiện
Đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa, chúng ta không thể chỉ có những Đô thị đẹp, hiện đại, những khu sảnxuất khổng lồ, những công trình công cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ
ở của người dân phải được nâng cấp tiện nghi hơn, rộng rãi hơn Chính vìvậy mà phải tính một cách toàn diện, không thể có hiện tượng một côngtrình mới ra đời là kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ởkém hơn nơi ở cũ, dù đó là một gia đình
Nếu không nhìn rõ bản chất của vấn đề, mỗi năm chúng ta có hàngngàn dự án đầu tư xây dựng, mỗi dự án chỉ kéo theo một gia đình không cóchỗ ở thì đã có hàng ngàn gia đình không có chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ, nhưvậy là sự phát triển thiên lệch, mục tiêu lớn của quốc gia không đạt được.Vấn đề thiếu chỗ ở không chỉ dừng ở vấn đề ở mà còn kéo theo hàng loạtcác tệ nạn, tiêu cực xã hội phát sinh sẽ ảnh hưởng đến tiến trình phát triểnđất nước
Trang 10Bản chất của việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất sử dụngvào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trongtình hình hiện tại có lẽ không còn phù hợp nữa mà nó còn phải đảm bảo lợiích của những người dân phải chuyển, lợi ích đó là người dân phải di chuyểnphải được có chỗ ở ổn định, có điều kiện sống, và tiện nghi bằng hoặc caohơn chỗ ở cũ, nhưng chắc chắn phải tốt hơn nơi ở cũ về mọi mặt thì mới tạođiều kiện cho người dân sống ổn định và phát triển
Mọi mục tiêu của quốc gia cũng là để cho người dân có ăn, có mặc, cóchỗ ở ổn định và được học hành nâng cao dân trí để xây dựng đất nước.Chính vì vậy trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ cónhiều khu Đô thị, nhiều điểm dân cư, nhiều khu sản xuất, văn hóa mọc lênthì việc di chuyển, giải tỏa dân cư là không thể tránh khỏi, nhưng dù saochúng ta phải có những chính sách mới phù hợp để một việc làm đạt đượchai mục đích - đó là xây dựng những công trình mới và ổn định cho ngườidân phải di chuyển có chỗ ở tiện nghi và tốt hơn nơi ở cũ, đáp ứng các mụctiêu xây dựng đất nước
3.3 Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng:
Sự hình thành và phát triển các KĐTM là hết sức cần thiết và quantrọng nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Một mặt nó
là giải pháp hiệu quả để tạo thêm các công trình hạ tầng xã hội, đặc biệt làquỹ nhà ở vốn đã quá hạn hẹp trong các Đô thị, mặt khác chính bản thân nólại trở thành nhân tố thu hút các nguồn lực thúc đẩy phát triển Do đó dự án
đi vào hoạt động một cách thuận lợi nhanh chóng bao nhiêu càng tốt bấynhiêu Nhưng để đi vào giai đoạn này thì trước hết phải triển khai công tácgiải phóng mặt bằng Nếu kéo dài thời gian GPMB hoặc phải đình chỉ đầu tư
do cản trở về GPMB đều gây ra thiệt hại về lợi ích quốc gia, của chủ đầu tư
và của chính người dân phải di dời Thực tế ở Việt Nam hiện nay thì bản
Trang 11thân việc xây dựng các ĐTM một phần trong đó cũng là để xây dựng cáckhu tái định cư cho những người dân bị di dời do phải GPMB trong các dự
án phát triển kinh tế – xã hội khác Phát triển nhiều khu dân cư mới đồng bộ
về cơ sở hạ tầng với nhà ở chất lượng tốt không chỉ dành riêng cho người bịgiải tỏa mà cho cả những người có nhu cầu về nhà ở Các dự án muốn triểnkhai được thì phải tạo lập được nơi ở mới cho người dân, ở nơi đó họ phảiđược sống trong những điều kiện tôt hơn ở nơi cũ Như thế mới là tạo độnglực để phát triển Vì thế, công tác GPMB trong các dự án xây dựng KĐTMđóng một vai trò hết sức quan trọng, phải được quan tâm và thực hiện tốt củacác cơ quan ban nghành có liên quan
4 Những nội dung chủ yếu của công tác đền bù GPMB.
4.1 Điều tra hiện trạng khu đất quy hoạch dự án:
4.1.1 Phân loại đất quy hoạch dự án:
+ Đất Đô thị: Đất Đô thị là đất nội thành phố, nội thị xã, thị trấn, được
sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuấtkinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, an ninh và vào các mụcđích khác Đất ngoại thành, ngoại thị đã có qui hoạch được cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển dự án đô thị cũng được quản lýnhư đất Đô thị
+ Đất nông nghiệp, lâm nghiệp: Đất nông nghiệp là đất được xác địnhchủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất nghiệp gồm
có đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đíchlâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôidưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp
+ Đất ở thuộc nông thôn: Đất ở của mỗi hộ gia đình nông thôn baogồm đất ở để làm nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống gia đình
Trang 124.1.3 Hiện trạng về dân cư xã hội:
Xác định các số liệu về tình hình dân số, mật độ dân số, phân bố dân
cư trên khu đất bị thu hồi từ đó làm cơ sở cho việc lập phương án di dời vàtáiđịnh cư Về các chỉ tiêu như: số người cư trú, cơ cấu dân cư, số lao động,
cơ cấu lao động, tình hình đời sống dân cư
4.1.4 Hiện trạng về các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trìnhkiến trúc:
Hệ thống giao thông
Hệ thống cấp thoát nước
Hệ thống truyền tải điện
Hệ thống thông tin liên lạc
Các công trình kiến trúc, công nghiêp, kho tàng, trường học, bệnhviện…
4.2 Lập phương án thu hồi đất và đền bù thiệt hại về đất
4.2.1 Nguyên tắc:
Theo Nghị định số 22/ 1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 quy định việcđền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ vào mục đích quốc gia,lợi ích công cộng, nguyên tắc đền bù thiệt hại về đất như sau: Khi nhà nướcthu hồi đất để sử dụng vào các mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc
Trang 13gia, lợi ích công cộng tùy từng trường hợp cụ thể người có đất bị thu hồiđược đền bù bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất, giá trị đền bù không lớn hơn100% và không nhỏ hơn 60% giá trị hiện có của tài sản bị thu hồi.
4.2.2 Phương pháp tính mức đền bù thiệt hại về tài sản:
Đối với nhà, công trình kiến trúc và các tài sản khác gắn liền vơí đấtđược đền bù theo mức thiệt hại thực tế:
Mức đền bù thực = Giá trị hiện có của nhà và công trình + Một khoảntiền bằng một tỷ lệ(%) trên giá trị hiện có của nhà và công trình
Nhưng tổng mức đền bù tối đa không lớn hơn 100% và tối thiểukhông nhỏ hơn 60% giá trị nhà, công trình theo giá xây dựng mới có tiêuchuẩn kỹ thuật tương đương với công trình phá dỡ
Giá trị hiện có của nhà, công trình được định bằng tỷ lệ phần trăm giátrị của nhà, công trình đó được tính theo giá xây dựng mới Giá xây dựngmới của nhà, côn trình là mức giá chuẩn do UBND tỉnh, thành phố trực trựcthuộc Trung ương ban hành theo mức quy định của nhà nước
Mức quy định cụ thể của khoản tiền cộng thêm do UBND do tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương quyết định theo đề nghị của Hội đồng đền
bù GPMB
Riêng đối với nhà cấp IV, nhà tạm và phụ độc lập, mức đền bù thiệthại được tính bằng giá xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹthuật tương đương theo giá chuẩn do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trungương ban hành theo quy định của nhà nước
- Đối với nhà công trình bị phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại và sửdụng được phần diện tích còn lại không sử dụng được thì được đền bù thiệthai cho toàn bộ công trình
- Đối với nhà, công trình bị phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại và sửdụng được phần diện tích còn lại thì được đền bù thiệt hại phần giá trị của