1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Quản ý nguồn nhân lực trong khu vực công

12 4,4K 28

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU*** Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, để thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đòi h

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

***

Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, để thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng cải tổ cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhất là cải cách hành chính, quản lý các nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được xác định là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Như bao quốc gia khác trên thế giới Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính để thực hiện mục tiêu “xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả” Trong bối cảnh đó, hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công cần phải được thay đổi để đáp ứng yêu cầu cải cách và hội nhập Hơn bao giờ hết, yếu tố nhân lực cần được nhận thức một cách đúng đắn và sử dụng hiệu quả hơn Sự thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đối với yếu tố nhân lực có thể dẫn đến tình trạng “hụt hơi” hay “bị loại khỏi vòng chiến” một khi mức độ cạnh tranh tăng cao

Để thực hiện được mục tiêu này cần quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược Đây thực sự là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực hiện công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, đi lên Chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước ta ngày càng phát triển với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh

Trang 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC

1 Nguồn nhân lực

1.1 Khái niệm

Sự phát triển kinh tế- xã hội được hậu thuẫn bởi nhiều nguồn lực khác nhau Nguồn lực là những thành phần cốt lõi, đóng vai trò tạo động lực và bảo dảm cho quốc gia phát triển liên tục, bền vững Trong từng giai đoạn phát triển, sự kết hợp các nguồn lực vật thể và phi vật thể không phải cố định mà luôn luôn thay đổi theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tổ chức quản lý

Trong số các nguồn lực thiết thực, nguồn nhân lực trở thành một trong những nguồn lực trọng tâm, quyết định sự đột phá ngoạn mục trong qúa trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong nền kinh tế dựa vào tri thức hiện nay

Nguồn nhân lực là một loại nguồn lực của tổ chức - đó chính là con người (nhân lực), do chính con người khai thác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995)

Nguồn nhân lực, theo Giáo sư Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó

Nguồn nhân lực còn được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người ( thể lực, trí tuệ, năng lực, kỹ năng) và tính năng động xã hội của con người ( nhân cách, văn hóa, giá trị…) Theo cách tiếp cận này, nguồn nhân lực có nội hàm rất rộng, bao gồm các yếu tố như thể lực, tri thức, khả năng, nhận thức và tiếp thu kiến thức, kỹ năng lao động, yếu tố xã hội như giá trị truyền thống văn hóa

1.2 Đặc điểm

Thể lực,có thể nói rằng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và cá nhân nói riêng Muốn có năng lực lao động thì con người phải có một cơ thể khỏe mạnh, và ngược lại, nếu con người không nâng cao được thể lực thì cũng khó có thể phát triển được trí tuệ, khả năng sáng tạo trong học tập và lao động

Tri thức là đặc điểm quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lựctrong nền kinh tế tri thức.Mọi thành tự phục vụ cuộc sống con người và giải phóng sức lực cho con người trong lao động đều gắn liền với tri thức và kết quả ứng dụng chúng trong thực tiễn

Một đặc điểm đáng lưu ý nữa là con người trong nền kinh tế tri thức phải có khả năng sáng tạo tri thức mới Với yêu cầu này thì không phải bất cứ con người nào nằm trong nguồn nhân cũng có thể đáp ứng được

Bên cạnh kỹ năng, năng lực, nguồn nhân lực mang đặc điểm tập quán riêng, tâm lý riêng Mỗi con người sinh ra và trưởng thành trong môi trường nhất định nên học đều măng theo những tập quán sinh họat, tâm lý, phẩm chất riêng hình thành trong quá trình phát triển của mỗi con người

Trang 3

2 Quản lý nguồn nhân lực

2.1 Khái niệm:

Chúng ta có thể hiểu rằng, quản lý nhân lực nó liên quan chủ yếu đến các vấn đề thuộc về con người khi họ làm việc cho tổ chức

Quản lý nguồn nhân lực gắn với một số điểm như sau:

- Quản lý các vấn đề của con người ( nhân lực)

- Gắn liền mục tiêu chiến lược của tổ chức

- Vấn đề môi trường làm việc

- Công cụ làm việc

Tóm lại, Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tổng hợp gắn liền với các nội dung liên quan đến toàn bộ các vấn đền nguồn nhân lực trong bối cảnh cụ thể của tổ chức và gắn liền với môi trường làm việc cũng như chiến lược phát triển tổ chức

2.2 Đặc điểm

Phải xác định rằng, quản lý nguồn nhân lực không chỉ quản lý con người Chính vì vậy muốn đạt được mục tiêu trong quản lý cần chú ý đến các điểm sau:

- Người lao động của tổ chức được đầu tư để phát triển vì tổ chức và vì mình Do đó trong vấn đề này cần phải quan tâm đến cả việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng giáo dục, nâng cao trình độ và nhận thức chung

- Người lao động có nhiều loại nhu cầu khác nhau: tinh thần, vật chất quản

lý họ không chỉ vì công việc mà còn đáp ứng nhu cầu của họ nhằm khuyến khích động viên họ đẩy mạnh hơn nữa năng suất, hiệu suất làm việc

- Người lao động cần một môi trường làm việc thân thiện Đây chính là nguyên nhân của không ít trường hợp phải rời bỏ công sở, tổ chức bởi không khí làm việc quá nặng nề, áp lực, hay thiếu thiện chí dễ làm cho người lao động chán nản, bi quan

- Quản lý nhân sự (con người) cần gắn với các loại chức năng quản lý khác (chiến lược phát triển tổ chức)

- Quản lý nguồn nhân lực là công việc của tất cả các nhà quản lý các cấp và thường xuyên

2.3 Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực: theo 5 nội dung sau đây:

- Thứ nhất là đúng số lượng: Trong việc hoạch định chiến lược của tổ chức cần phải lưu ý đến số lượng của đội ngũ cán bộ công chức phù hợp với tính chất, quy mô của từng loại hình công việc, từ đó góp phần cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được đặt ra Ngược lại, khi không đảm bảo số lượng thì các họat động sẽ bị ảnh hưởng và làm cho năng suất công việc không được như kế hoạch

- Thứ hai: Đúng yêu cầu trình độ và kỹ năng phù hợp: Đây là một mục tiêu rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức Liên kết chặt chẽ các chiến lược nguồn nhân lực với các mục tiêu, chiến lực của tổ chức Nếu như nguồn nhân lực đảm bảo trình độ và kỹ năng theo yêu cầu của công việc khi ấy họat động đồng bộ hơn, chất lượng đầu ra cơ bản đảm bảo hơn, hiệu quả cuối cùng sẽ cao hơn

Trang 4

- Thứ ba: Đúng nơi: với mục tiêu này đòi hỏi khi quản lý nguồn nhân lực cần chú ý đến cả phạm vi từ diện rộng đến chiều sâu của nguồn nhân lực, làm cho nguồn nhân lực bổ sung giá trị gia tăng càng cao, càng tốt cho tổ chức

- Thứ tư Đúng lúc: Cần phải có kế hoạch về nguồn nhân lực theo từng giai đoạn, từng chu kỳ, từng thời điểm Có như vậy thì mục tiêu quản lý nguồn nhân lực mới được thực hiện tốt, qua đó tạo điều kiện để tổ chức giữ được cam kết với người lao động trong tổ chức

- Thứ năm là đáp ứng đòi hỏi thay đổi của môi trường tổ chức Tạo điều kiện

để người lao động cam kết với mục tiêu, chiến lược của tổ chức

3 Quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược

3.1 Khái niệm

Quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược là cách thức hiệu quả để tổ chức lực lượng lao đông theo một chiến lược cụ thể để thực thi công việc của người lao động hướng đến mục tiêu đã đề ra của tổ chức

Quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược là quản lý nguồn nhân lực thực hiện theo một cách có tính chiến lược và lồng ghép nhiều chiến lược khác

Họat động quản lý nguồn nhân lực luôn gắn kết chặt chẽ mục tiêu của tổ chức nhằm hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ của tổ chức và phát triển văn háo tổ chức để thúc đẩy đổi mới trong tổ chức

Gắn với việc đề ra và thực hiện chính sách nguồn nhân lực để tạo ra những con người có năng lực, hành vi phù hợp với mục tiêu chiến lược của tổ chức

3.2 Nội dung của quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược

3.2.1 Chuyển đối con người và cơ cấu nguồn nhân lực:

Để tạo triết lý quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược trong tổ chức, chúng ta phải quan tâm đến việc chuyển đổi nhân sự và cơ cấu tổ chức theo cách thức mà qua đó nhân viên thực hiện các họat động nguồn nhân lực của họ Có hai khía cạnh của việc chuyển đổi này:

a Chuyển đổi con người: làm cho họ có năng lực phù hợp với tổ chức.

Trong quản lý nguồn nhân lực theo truyền thống thì các thành viên nguồn nhân lực là các chuyên viên trong các lĩnh vực chức năng và phải có các kỹ năng cấn thiết để thực hiện các họat động nhân sự truyền thống chẳng hạn như chiêu

mộ, phỏng vấn và đạo tạo trong khi đó đối với quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược thì họ phải là những nhà tổng hợp, bao quát nhiều nội dung, nhiều vấn

đề khác nhau…

b Chuyển đổi cấu trúc nguồn nhân lực: Đó là cần nhiều loại người khác

nhau, không phụ thuộc chỉ vào bằng cấp

Trong việc thực hiện chuyển đổi nhân sự truyền thống sang quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược, việc chuyển đổi cấu trúc của bộ phận nguồn nhân lực là điều hoàn toàn hiển nhiên Trong bất cứ một hình thái tái cấu trúc tổ chức theo một chiến lược mới, vấn đề chủ chốt là phải thiết kế và xây dựng bộ phận

Trang 5

quản trị nguồn nhân lực chiến lược mới và xác định những họat động nên tập trung

và những họat động nào nên phân quyền

3.2.2 Gia tăng hiệu quả quản lý nguồn nhân lực bằng chuyên môn hóa

Các nhà quản lý nguồn nhân lực phải đóng vai trò chủ động trong việc tái cơ cấu tiến trình hành chính và các quy trình khác trong tổ chức và tìm ra cách thức

để chia sẻ dịch vụ một cách có hiệu quả trong toàn tổ chức Mục tiêu ở đây là phải gia tăng hiệu quả dịch vụ nguồn nhân lực Một nhân tố có thể góp phần cắt giảm chi phí nguồn nhân lực trong tổ chức tốt nhất là các dịch vụ hành chính nguồn nhân lực ( tiền lương, phúc lợi…) thì có khuynh hướng cần phải được kết hợp và chia sẻ trong khi những dịch vụ này thường có khuynh hướng manh mún và gấp đôi trong các tổ chức điển hình

Cần phải thực hiện một số quá trình làm tăng mức độ chuyên nghiệp hành chính quản lý của các bộ phận nguồn nhân lực

Hiệu quả quản lý hành chính cũng được gia tăng thông qua việc xây dựng phát triển các dịch vụ nguồn nhân lực chuyên nghiệp và được thực hiện, chia sẻ trong toàn tổ chức Tiến trình cuối cùng liên quan đến các nhân viên nguồn nhân lực để giúp họ trở thành các chuyên gia hành chính bằng cách yêu cầu họ suy nghĩ lại một cách thấu đáo về cách thức tạo ra giá trị chó tổ chức thông qua các hoạt động hành chính quản lý Trọng tâm là làm cho các tổ chức, đơn vị nguồn nhân lực tạo lập các chương trình tạo ra giá trị cho người nhận nó là khách hàng của chương trình, chứ không phải là người tạo ra các chương trình

3.2.3 Lồng ghép nguồn nhân lực trong tiến trình hoạch định chương trình, chính sách của tổ chức

Các chương trình, chính sách được các bộ phận cùng tham gia Nhà quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong tiến trình xây dựng các chương trình, chính sách của tổ chức

Lồng ghép không đơn giản là việc nhà quản lý nguồn nhân lực được phép cung cấp các thông tin liên quan đến nguồn nhân lực cho những người đưa ra quyết định chiến lược Để đạt được sự lồng ghép, tích hợp cao, đầy đủ, các nhà quản lý nguồn nhân lực cần phải có khả năng ảnh hưởng đến việc xây dựng và lựa chọn thông tin được sử dụng trong việc quyết định chiến lược, cũng như có khả năng ra các quyết định hoặc ảnh hưởng đến bản thân các quyết định

3.2.4 Chiến lược nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực gắn kết với chiến lược kinh doanh và chiến lược khác

Việc kết nối hoạt động nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh doanh hiện đại và có lẽ vấn đề này đều dành sự quan tâm hàng đầu của cả nhà quản lý lẫn nhân viên nguồn nhân lực Nói một cách đơn giản, thì sự kết nối nguồn nhân lực bao hàm việc bảo đảm các hoạt động nguồn nhân lực nhằm bảo đảm cho tổ chức đạt mục tiêu chung

Có hai khía cạnh kết nối với nguồn nhân lực Đầu tiên liên quan đến sự liên kết bên ngoài, việc kết nối các hoạt động nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh chung Khía cạnh thứ hai là liên kết bên trong, liên quan đến mối quan hệ tương hỗ giữa các hoạt động nguồn nhân lực Nếu liên kết bên ngoài xảy ra thì liên

Trang 6

kết bên trong cần tiến hành thường xuyên Để đạt được liên kết bên ngoài hoặc bên trong, các nhà quản lý nguồn nhân lực phải hợp tác chặt chẽ với nhà quản lý trực tuyến, phải lực chọn chính xác bản chất và loại chương trình về nguồn nhân lực được sử dụng trong tổ chức

3.2.5 Sự phối kết hợp giữa chuyên gia quản lý nguồn nhân lực với các nhà quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh

Nhà quản lý nguồn nhân lực cần hiểu: “phương hướng kinh doanh của công

ty, bao gồm sản phẩm là gì, nó có thể làm gì và khách hàng của công ty là ai, làm thế nào công ty định vị được vị thế cạnh tranh trên thị trường”

Để trở thành đối tác kinh doanh, bộ phận nguồn nhân lực phải cố gắng tìm hiểu về kinh doanh của tổ chức càng nhiều càng tốt; chịu trách nhiệm và phải nhận thức nhiều hơn về nhu cầu và định hướng của tổ chức; thay đổi chức năng nguồn nhân lực truyền thống; có mối quan hệ hỗ trợ và cộng tác với giới quản trị trong toàn tổ chức và chỉ ra rằng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong thành công của tổ chức

3.2.6 Đánh giá nhân sự và quản trị nguồn nhân lực

Bộ phận nguồn nhân lực từ lâu bị chỉ trích là không tạo ra kết quả cơ bản của tổ chức Như Tim Epps, Phó chủ tịch nguồn nhân lực của công ty Saturn nói:

Nguồn nhân lực phải trở thành nền tảng giá trị Nó phải chứng thực được giá trị của nó đối với kinh doanh, khả năng hoàn thành các mục tiêu kinh doanh vafkhar năng phát biểu, truyền thông các thành tựu theo ngôn ngữ kinh doanh Chức năng nguồn nhân lực phải thực hiện, tiến hành theo cách thức có thể đo lường và chịu trách nhiệm được cho việc đạt được mục tiêu kinh doanh

Vậy trong quá trình quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược có những thách thức nào, nhất là trong khu vực công? Đó là:

- Tổ chức khu vực công đang thức thức với chiến lược phát triển của tổ chức

- Không có chiến lược phát triển nguồn nhân lực Đây là một trong những điểm yếu của quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược trong khu vực công hoặc có nhưng không đảm bảo tính bến vững

- Không có điều kiện để lồng ghép vì chịu nhiều tác động, nhiều loại văn bản pháp luật

4 Ý nghĩa của quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược

Nhiều thập niên trôi qua, vai trò của quản lý nguồn nhân lực trong việc tạo

ra lợi thế cạnh tranh của tổ chức vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi Những thay đối trong thế giới kinh doanh đang làm xuất hiện ngày càng nhiều ý kiến cho rằng nguồn nhân lực sẽ đại diện cho nguồn lực lâu dài và độc đáo tạo ra lợi thế cạnh tranh của công ty trong nhiều ngành kinh doanh hiện đại Jeff Alef, phó tổng giám đốc điều hành, kiêm giám đốc bộ phận nguồn nhân lực tại ngân hàng đệ nhất Chicago phát biểu:

Đã có một thời, nguồn vốn được sử dụng như là một lợi thế cạnh tranh, nhưng ngày nay khả năng huy động vốn với số lượng lớn là điều dễ dàng Cũng có

Trang 7

lúc, công nghệ tạo ra cho bạn một lợi thế cạnh tranh, thậm chí việc này cũng dễ dàng đạt được trong thời đại ngày nay cùng với xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá Và cũng có lúc, cụ thể là trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tài chính, khi

mà chu kỳ bán rã của sản phẩm rất dài Giờ đây, bạn không thể duy trì lợi thế lâu

dài dựa trên loại sản phẩm hoặc dịch vụ mà bạn cống hiến Lợi thế duy nhất và

lâu dài là con người.

Nói tóm lại, ngoài những nhận thức về tầm quan trọng chiến lược của nguồn nhân lực trên những khía cạnh khác nhau, và cách thức chúng tác động lên sự thành công chiến lược của công ty trong việc tạo ra giá trị Chúng ta có thể khái quát rằng quản trị nguồn nhân lực chiến lược là cách thức tiếp cận với quản trị nguồn nhân lực, trong đó các hoạt động quản trị nguồn nhân lực gắn kết chặt chẽ với nhau và cùng hướng đến việc hình thành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức, tạo ra giá trị cho khách hàng và tổ chức

II CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

1 Thực trạng về quản lý nguồn nhân lực mang tính chiến lược ở Việt Nam hiện nay

Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hành chính Các nội dung cải cách hành chính được Nhà nước ta xác định bao gồm: cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của

bộ máy nhà nước Tất cả những nội dung này hướng vào một mục tiêu chung đó là: xây dựng bộ máy hành chính ngày càng kiện toàn; xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình đổi mới đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và mở cửa, hội nhập quốc tế là cả một chặng đường phấn đấu lâu dài với những nhiệm vụ cao cả, vô cùng khó khăn phức tạp đòi hỏi Nhà nước ta đẩy mạnh cải cách hành chính Đặc biệt là việc nâng cao đội ngũ cán bộ, công chức Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém Không có đội ngũ cán bộ tốt thì đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng cũng không trở thành hiện thực Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức luôn được Đảng ta quan tâm chú ý đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cụ thể trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì cách mạng Viêt Nam

Trong 20 năm đổi mới vừa qua đội ngũ cán bộ, công chức đã được quan tâm

về mọi mặt, ngày càng trưởng thành và đảm đương nhiều nhiệm vụ, đứng vững trước mọi khó khăn thử thách: thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Qúa trình đổi mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức có đủ năng lực và phẩm chất, không ngừng sáng tạo, phải vươn mạnh mẽ hơn nữa mới có thể đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, ngày càng nặng nề và khó khăn

Tuy nhiên, hiên nay đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam có hiện tương vừa thiếu lại vừa yếu, tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo, thiếu đội ngũ kế cận diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành Một bộ phận không nhỏ suy thoái về đạo đức, chính trị , lối sống; cơ hội thực dụng tham ô, tham nhũng, lãng phí đang làm suy giảm niềm tin với nhân dân và gây cản trở tiến trình đổi mới

Trang 8

Công tác cán bộ nhất là khâu đánh giá đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ còn nhiều vấn đề nổi cộm, cần phải giải quyết Vậy để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ năng lực và phẩm chất có đủ đức và tài để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng và nhà nước ta cần nghiên cứu cả lý luận

và thực tiễn, từ việc xem xét đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đến kiểm tra, quản lý và việc thực hiện chế độ, chính sách cán bộ cần được xem xét, để công tác lãnh đạo quản lý hiệu quả

Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người… Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40% Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao

và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94

Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội luật, kinh tế, ngoại ngữ lại quá cao Nhiều ngành nghề, lĩnh vực

có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện

tử, viễn thông, cơ khí chế tạo

Có thể thấy, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay có các đặc điểm sau:

- Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn

Trang 9

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất

- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Báo chí nước ngoài thường bình luận người Việt Nam thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới Tiếc rằng nguồn nhân lực này lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam

Theo các chuyên gia, để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trước mắt và lâu dài cần phải tính đến yếu tố chất lượng sinh đẻ và yếu tố bồi dưỡng sức dân Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sinh ra những đứa trẻ còi cọc, ốm yếu Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sức dân không được bồi dưỡng Vấn đề này liên quan đến hàng loạt các yếu tố khác như chính sách xã hội, chính sách y tế, chính sách tiền lương, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng… Các vấn đề này hiện vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất thấp kém; tỷ lệ lao động mới qua đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình

độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin kém…

2 Kinh nghiệm một số nước về đào tạo nguồn nhân lực:

Tại Mỹ, với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho giáo dục đại học của Mỹ đến từ các nguồn khác nhau, như các công ty, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện Nguồn kinh phí dồi dào mang lại cho các trường khả năng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên giỏi cũng như xây dựng quỹ hỗ trợ sinh viên Trong giáo dục đại học ở Mỹ, tính cạnh tranh giữa các trường rất khốc liệt Nếu sinh viên vào được các trường đại học tốt, nổi tiếng và học giỏi, cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rất nhiều

Để phát triển nguồn nhân lực, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho nước Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu giỏi từ Châu Âu và nhiều nước khác đã nhập cảnh vào Mỹ Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực

Tại Cộng hòa Séc, để đón trước cơ hội và thúc đẩy hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu (EU), nước này đã xây dựng và hoàn thành Chiến lược phát triển nguồn nhân lực (tháng 12-2000) Chiến lược này là một bộ phận cấu thành

của Chương trình Thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực Trong các

chiến lược thành phần, đáng chú ý có chiến lược phổ cập tiếng Anh, chiến lược cải thiện nhân lực hành chính công, chiến lược phát triển giáo dục đại học - cao đẳng

và liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược phát triển học suốt đời

Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên,

Trang 10

để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở

là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Và Nhật Bản đã trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới

Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm

Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa mù chữ cho toàn dân Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy mạnh như: phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kỹ thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học suốt đời Năm

1992, Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện có thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt đời Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện hiệu quả Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức

Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức Năm 2003, Trung Quốc đã đề

ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học

Singapore áp dụng linh hoạt chính sách giáo dục và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của mình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học -công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Singapore luôn chú trọng

Ngày đăng: 25/12/2015, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w