1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN NĂM 2020

24 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 7,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu tổng quát: tạo ra một nguồn nhân lực đủ về số lượng, cao về trí tuệ, thành thạo về kỹ năng, khỏe mạnh về thể chất, trong sáng về đạo đức, linhhoạt và văn minh trong ứng xử,

Trang 1

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG

NAM BỘ ĐẾN NĂM 2020

3.1 Những yêu cầu và định hướng phát triển nguồn nhân lực trong hội nhập ở Vùng ĐNB

3.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực

3.1.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Đảng ta

Quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực là:

+ Lấy phát triển bền vững con người làm trung tâm;

+ Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình;

+ Lấy lợi ích của người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động, nhằm tăng năng suất lao động;

+ Bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng thuận; tạo cơ hội thăng tiến cho tất cả mọi người;

+ Có chính sách giải phóng và phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả công việc;

+ Phát triển nguồn nhân lực bám sát thị trường lao động Đây là một vấn đề rất phức tạp, trong đó mấu chốt là phải xây dựng được các chính sách quản lý pháttriển giáo dục và đào tạo đúng đắn;

+ Có hệ thống chính sách sử dụng phù hợp nguồn nhân lực bao gồm tuyển dụng, chính sách lao động, phân công lao động, phân bố nguồn nhân lực, chínhsách cán bộ, tiền lương, khen thưởng, v.v

Vấn đề tạo ra động lực để kích thích mọi người chăm học, chăm làm, động viên tính tích cực xã hội của người lao động làm cho họ năng động, thiện chí, cầutiến, từ đó đi đến sáng tạo là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong tổ chức quản lý vĩ mô, cũng như vi mô nguồn nhân lực, lực lượng lao động Ở đây, cần chú ý cảlợi ích vật chất, cả nhu cầu tinh thần của con người

Ngày nay, vấn đề "Phát triển tài nguyên con người" (Human Resources Development) được thế giới xác định là vấn đề quan trọng nhất trong sự phát triển Nóvừa có tính chất "mục đích" vừa có tính chất "phương tiện" Phát triển để phục vụ cho chính con người và nguồn nhân lực cũng là yếu tố sản xuất có tính chất quyếtđịnh nhất để phát triển kinh tế xã hội nói chung Lý thuyết kinh tế phát triển cho thấy, để xã hội phát triển đạt kết quả cao, cần phải dựa vào 04 yếu tố cơ bản cầnthiết cho tăng trưởng và phát triển kinh tế: Tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ và nguồn nhân lực Đặc biệt, đối với nước ta, một nước có xuấtphát điểm thấp, tài nguyên thiên nhiên mặc dù đa dạng, nhưng trữ lượng ít; nguồn vốn hạn hẹp; kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, việc xây dựng nguồn nhân lực cóchất lượng cao là một lợi thế so sánh tương đối của đất nước hiện nay Chính vì thế, yếu tố NNL trong công cuộc xây dựng đất nước cần được xem là yếu tố pháttriển quan trọng nhất

3.1.1.2 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực Vùng ĐNB

Chăm lo, phát huy, bồi dưỡng nguồn lực con người là bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược con người, là nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp giáo dụcnước ta nói chung và Vùng ĐNB nói riêng trong những năm tới, nhằm tạo ra những điều kiện cơ bản để tiến hành CNH, HĐH, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh, mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc, có thể hội nhập vào xã hội tương lai của loài người đang hướng tới Trong công việc trọng đạinày, chăm lo, phát huy, bồi dưỡng nhân tài có một ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong thời đại thông tin, công nghệ cao, kinh tế tri thức và toàn cầu hoá

Trang 2

Với mục tiêu tổng quát: tạo ra một nguồn nhân lực đủ về số lượng, cao về trí tuệ, thành thạo về kỹ năng, khỏe mạnh về thể chất, trong sáng về đạo đức, linhhoạt và văn minh trong ứng xử, hợp lý về cơ cấu, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH của Vùng ĐNB, theo nhóm nghiên cứu, nâng caochất lượng nguồn nhân lực của Vùng ĐNB cần xuất phát từ các quan điểm sau đây:

Quan điểm 1: Phát triển nguồn nhân lực phải dựa trên quan điểm “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”, “con người và nguồn nhân

lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH” Đó là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá trong chiến lược phát triển KT - XH của

cả nước nói chung và của Vùng ĐNB nói riêng

Quan điểm 2: Phát triển nguồn nhân lực phải sử dụng tổng hợp nhiều giải pháp, trong đó giáo dục - đào tạo phải được coi là “quốc sách hàng đầu”, là chìa

khóa để phát triển nguồn nhân lực - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; coi trọng vai trò của lực lượng trí thức và trọng dụngnhân tài

Quan điểm 3: Phát triển nguồn nhân lực là phát triển năng lực của con người (bao gồm trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ) và sử dụng những năng lực đó

một cách có hiệu quả Đó là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH Phát triển nguồnnhân lực trong giai đoạn hiện nay phải hướng tới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH, tiến trình hội nhập khu vực và thế giới, đồng thời bảo tồn các giá trịtruyền thống và văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của Vùng ĐNB

Quan điểm 4: Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội và tạo điều kiện cho mỗi cá nhân

đều có cơ hội được phát triển toàn diện Trên cơ sở đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vùng ĐNB phải gắn với phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tiến bộ, chuyển đổi bộ mặt nông thôn của Vùng ĐNB theo hướng hiện đại hóa nông thôn; với việc nâng cao dân trí, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầuvật chất, tinh thần của người dân, tạo ra động cơ thúc đẩy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực

Quan điểm 5: Phát triển nguồn nhân lực phải xuất phát từ điều kiện đặc thù của Vùng ĐNB, trên cơ sở phát huy những tiềm năng và thế mạnh của Vùng.

Đồng thời, kết hợp sự hỗ trợ, giúp đỡ từ ngoài Vùng ĐNB, kế thừa những kinh nghiệm trong nước và quốc tế

3.1.2 Nội dung định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Vùng ĐNB

3.1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sử dụng công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta nói chung và ở Vùng ĐNB nói riêng vừa có bước tuần tự vừa có bước nhảy vọt, tức là vừa đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của những ngành công nghiệp cơ bản, giải quyết nhiệm vụ cấp bách mà xã hội đặt ra là nâng cao mức sống của người dân, xóa đói giảm nghèo, việc làm,… vừa phát triển nhanh các ngành kinh tế hiện đại, dựa vào tri thức và công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin để hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế, tạo ngành nghề mới, việc làm mới, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế.

Thực chất của quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng ngành và cả nền kinh tế quốc dân theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức trong từng sản phẩm sản xuất, gia tăng giá trị Trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế vẫn tiếp tục sử dụng công nghệ truyền thống nhưng được cải tiến bằng những tri thức mới để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo việc làm, tận dụng lao động, đất đai tài nguyên, xóa đói giảm nghèo, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Vùng ĐNB có vị trí vai trò đặc biệt trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, do đó đòi hỏi Vùng này phải có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế tri thức.

Trang 3

Tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, phân công lao động xã hội có những thay đổi phù hợp Cơ cấu lao động vùng sẽ chuyển dịch theo hướng tăng lao động dịch vụ và nông nghiệp Năng suất lao động trong hai khu vực này cũng sẽ tăng tương ứng (Bảng 3.1).

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng lao động và năng suất lao động vùng ĐNB

Lao động trong ngành của vùng 6700 7641 8188 8760

Năng suất lao động (1000 đồng)

Nguồn: Tính toán của tác giả từ thống kê vùng và các tài liệu dự báo

3.1.2.2 Sử dụng tri thức để CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

Sử dụng tri thức và thông tin để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của Vùng ĐNB nói riêng và nước ta nói chung Có như vậy chúng ta mới đẩy nhanh quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, góp phần nâng cao năng suất lao động, nếu không nhanh chóng hiện đại hóa nông nghiệp, chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là phát triển ngành nghề mới dựa trên tri thức, công nghệ hiện đại thì không thể tăng năng lực và khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế tri thức.

3.1.2.3 Phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ cao

Các ngành công nghiệp mới cần đi thẳng vào những công nghệ tiên tiến nhất, để tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao, chiếm lĩnh được thị trường thếgiới Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, trước hết là công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, các ngành công nghiệp sinh học, cácngành cơ điện tử, quang điện tử, các ngành vật liệu mới, năng lượng mới,… Phát triển các ngành sử dụng công nghệ hiện đại sẽ góp phần đổi mới công nghệ trongtất cả các ngành, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng nhanh hàm lượng kinh tế tri thức Phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệthông tin không chỉ thúc đẩy đổi mới của các doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động, chất lượng hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà còn tạo điều kiện cho đổimới tổ chức và quản lý, cải cách hành chính, làm việc qua mạng Internet, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.1.2.4 Phát triển giáo dục - đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực

Giáo dục - đào tạo nước ta cũng như Vùng ĐNB đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn: Một mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, pháttriển mạnh mẽ để thu hẹp khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang đổi mới và phát triển Mặt khác, phải khắc phục sự mất cân đối, giữa yêu cầu

Trang 4

phát triển nhanh quy mô và nguồn lực còn hạn chế đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng, giữa yêu cầu vừa tạo được chuyển biến cơ bản, toàn diện vừa giữ được sự ổnđịnh tương đối của hệ thống giáo dục

* Về tính chất giáo dục: Là nền giáo dục tiến bộ, giàu tính nhân văn theo định hướng XHCN vì sự phát triển toàn diện của con người Đây là nền giáo dụcthực sự của dân, do dân, vì dân, là sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền giáo dục nhân văn

* Về mục tiêu giáo dục: Giáo dục phải đào tạo những con người Việt Nam vừa có những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc vừa có năng lực, bản lĩnh để thích ứngvới mọi biến đổi đa dạng và nhanh chóng của thị trường Thế hệ trẻ do nhà trường đào tạo phải có đầy đủ ý thức trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước,phải năng động, sáng tạo, trung thực, phải tích cực học tập và học tập suốt đời; có ý chí vươn lên mạnh mẽ, có khả năng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, vừa gópphần thúc đẩy sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước, vừa nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân

- Trong bối cảnh thời đại và đất nước hiện nay, để tồn tại và phát triển, con người phải học tập suốt đời, xã hội phải là một xã hội học tập Giáo dục phải thoảmãn những nhu cầu học tập khác nhau của các đối tượng khác nhau, do đó phải tiến hành đa dạng hoá trong giáo dục từ loại hình đến nội dung, phương thức giáodục và đa dạng hoá phải được thực hiện trên cơ sở chuẩn hoá Thực hiện xã hội hoá giáo dục là giải pháp cơ bản để xây dựng xã hội học tập

- Trong bối cảnh thế giới hiện nay hội nhập quốc tế về giáo dục không chỉ là xu thế và đòi hỏi khách quan mà còn là động lực quan trọng để phát triển giáodục

- Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Đổi mới tư duy giáo dục cần được thấu suốt trong mọi cấp, mọi ngành, từ đội ngũ lãnh đạo, cán bộquản lý các cấp, đội ngũ giáo viên và học sinh đến đông đảo các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy trí tuệ, khơi dậy tiềm năng, truyền thống hiếu học và sức mạnhsáng tạo của toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước, chấn hưng nền giáo dục nước nhà Đổi mới tư duy giáo dục chỉ có ý nghĩa khi những tư tưởng mới đượcthể hiện cụ thể trong thực tiễn hoạt động giáo dục: Trong việc xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân, trong việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục,tạo dựng môi trường giáo dục, trong việc hoạch định chính sách giáo dục và thực hiện các hoạt động giáo dục khác…

3.1.3 Dự báo xu hướng biến đổi và nhu cầu sử dụng của nguồn nhân lực Vùng ĐNB

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông Tạo ra khối lượng thông tin vàtri thức nhân loại tăng nhanh với gia tốc lớn, điều này vừa khiến cho vòng đời của thông tin nhanh chóng bị rút ngắn lại, thông tin nhanh chóng bị lạc hậu, nhưngvới khối lượng đồ sộ của thông tin bắt buộc hoạt động của con người phải tăng tốc, phải được nâng cấp để bắt kịp sự biển đổi này

- Nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch nhanh chóng sang dạng kinh tế tri thức (knowledge-based economy), nhất là ở các quốc gia phát triển Tuy nhiên đâylại là điều rất khó khăn đối với các nước kém phát triển để có thể bắt kịp Do vậy khoảng cách cách biệt vốn có giữa nước giàu và nước nghèo trên thế giới lại cóđiều kiện mở rộng hơn

Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia, lãnh thổ chủ yếu dựavào các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn tư bản, nguồn lao động đông đúc, thị trường tiêu thụ nhưng trong giai đoạn hiện nay chính là tri thức(knowledge) lại có ý nghĩa hết sức lớn lao, tạo nên sự thịnh vượng, giàu có cho một quốc gia, lãnh thổ một cách vững chắc, lâu dài

- Xu thế toàn cầu hoá (globalization) và sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự ra đời của mạng internet hầu như bao phủ khắp mọi nơi trên hànhtinh chúng ta Điều này khiến cho các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới ngày càng trở nên gần gũi với nhau hơn, khái niệm “Global village” (ngôi làng trái đất) xuấthiện và ngày càng phổ biến trong cuộc sống nhân loại Các tổ chức quốc tế và khu vực như WTO, EU, AFTA, ASEAN, NAFTA thu hút nhiều quốc gia, lãnh thổcùng tham gia, nhưng qua đó sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn nhiều Và tất nhiên ưu thế hầu như bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ nào có chấtlượng nguồn nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn

Trang 5

Từ bối cảnh trên cho thấy, quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của nước ta cũng như Vùng ĐNB đang phải đối đầu với nhiều thách thức của thời đại,trong đó thách thức về chất lượng nguồn nhân lực là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần được quan tâm đúng mức Nguồn nhân lực ngày nay đòi hỏi phảithông minh, có tính linh hoạt cao, có khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, có khả năng sáng tạo, có khả năng làm việc với nhiều người, cótính độc lập v.v Kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới trên thế giới cho thấy chính một nền giáo dục phát triển sẽ đáp ứng được việccung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và đây là nguồn động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của quốc gia.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với sự gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO cuối năm 2006 đang mở ra những cơ hội mới choViệt Nam trong phát triển thương mại quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài; tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thếtrong sự phân công lao động xã hội toàn cầu Vùng ĐNB cũng nằm trong xu hướng đó và chiến lược phát triển KT - XH của Vùng với ưu tiên hàng đầu là nâng caonăng lực cạnh tranh nhất là đối với doanh nghiệp trên quan điểm lấy hiệu quả và lợi thế so sánh làm thước đo, gắn chặt với phân công lao động trong vùng, trongnước và quốc tế Chính vì vậy yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng ĐNB trong giai đoạn này là: Thúc đẩy sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ ngang bằng vớitốc độ của khu vực công nghiệp và xây dựng, tạo điều kiện để khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực công nghiệp và xây dựng trong giai đoạn saunăm 2010 Trong nội bộ ngành, cần có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ hiện đại, tăng tỷ trọng các ngành thâm dụng kỹ thuật cao,chất xám và giá trị gia tăng cao Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng ĐNB đến năm 2020, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nền kinh tếphát triển trong vùng như TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương sẽ có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trên phạm vi

toàn vùng.

Cơ cấu kinh tế của Vùng ĐNB giai đoạn 2011 - 2020 sẽ chuyển theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Tập trung phát triển các ngành, các sảnphẩm mà các tỉnh, thành phố trong vùng có lợi thế cạnh tranh so với các địa phương khác trong cả nước Liên kết, hợp tác với nhau giữa các tỉnh trong vùng để đẩynhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng trên cơ sở hình thành rõ nét những động lực, mũi nhọn, chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế; tạo chuyển biến về phân công lao động xã hội, trong đó tăng tỷ lệ lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao, tăng tỷ lệ lao động làm việctrong các ngành và lĩnh vực tạo ra sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm dịch vụ xuất khẩu

Đối với cơ cấu ngành kinh tế, tập trung chuyển dịch sang các ngành công nghiệp hiện đại, kỹ thuật cao, những ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao Tậptrung phát triển các ngành dịch vụ cao cấp, dịch vụ hỗ trợ sản xuất

Thay đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế dựa vào các yếu vốn và lao động chuyển sang dựa vào sử dụng công nghệ cao tạo ra, nâng cao năng suấtlao động, từ đó tìm kiếm những hướng đi mới, những phương thức kết hợp có hiệu quả nhằm phát huy cao độ lợi thế so sánh và khai thác triệt để tiềm năng, thếmạnh của từng địa phương, nâng cao sức cạnh tranh của vùng trong hội nhập

Cơ cấu nông nghiệp và phi nông nghiệp chuyển đổi theo hướng phát triển nhanh những ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngmại, và dịch vụ) và ngay trong khu vực nông nghiệp có sự chuyển đổi theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn để thu hút lao động, nâng cao mức sống nhândân Tập trung phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, có hàm lượng tri thức cao, giá trị gia tăng lớn, giảm phát triển các ngành thâm dụng lao động giảnđơn, các ngành thâm dụng tài nguyên thiên nhiên ở các địa phương như TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương Mặt khác, tăng tỷ trọng giá trị giatăng của các ngành mũi nhọn, gồm: (1) cơ khí chế tạo, (2) điện tử - tin học – viễn thông, (3) công nghiệp hóa chất và dược phẩm, (4) ứng dụng công nghệ sinh họctrong ngành y dược Đối với các tỉnh còn lại như Bình Phước, Tây Ninh, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp thời kỳ tới vẫn là phát triển các ngành cần nhiều laođộng, có tiềm năng tài nguyên, nguyên liệu nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến Trong lĩnh vực nông nghiệp, Vùng ĐNB sẽ chú trọng ứng dụngkhoa học kỹ thuật để tăng năng suất, ứng dụng công nghệ sinh học để phát triển nông nghiệp, hình thành khu nông nghiệp kỹ thuật cao Đối với khu vực dịch vụ, tậptrung phát triển các ngành dịch vụ mới, cao cấp Phát triển khu vực dịch vụ để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ sản xuất phát triển không chỉ cho vùng mà còn cho cả nước,

đủ sức cạnh tranh với các khu vực khác Phát triển các ngành dịch vụ tài chính, tiền tệ, ngân hàng, bảo hiể, thương mại (dịch vụ thương mại quốc tế), dịch vụ vận tải

Trang 6

và kho vận quốc tế, dịch vụ viễn thông và giá trị gia tăng, công nghệ thông tin – truyền thông, dịch vụ bất động sản Tạo cơ chế, chính sách phù hợp để phát triểndịch vụ tư vấn, nghiên cứu và triển khai, du lịch quốc tế, y tế (dịch vụ y tế kỹ thuật cao), giáo dục đào tạo.

Do đó, nhu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ có những biến đổi cơ bản:

- Trong những năm tới, công nghiệp TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu là những địa phương sẽ đẩy mạnh phát triển các ngành kỹ thuậtcao, hàm lượng chất xám nhiều, vừa củng cố các ngành công nghiệp truyền thống, vừa tập trung hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang các sản phẩm và ngànhcông nghiệp có giá trị lớn và có lợi thế cạnh tranh: cơ khí chế tạo, điện tử - viễn thông - tin học, công nghiệp hóa chất và dược phẩm, chế biến lương thực- thựcphẩm Chính vì vậy nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao, có chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề sẽ ngày càng lớn Tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành, phân công lao động xã hội có những thay đổi phù hợp Cơ cấu lao động vùng sẽ chuyển dịch theo hướng tăng lao động dịch vụ và công nghiệp Năng suấtlao động trong hai khu vực này cũng sẽ tăng tương ứng (xem phụ lục 2)

- Theo nhóm nghiên cứu, xu hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ của Vùng sẽ làm tăng nhu cầu nguôn nhân lực chất lượng cao Nhu cầu lao động sẽtăng cao ở các ngành dịch vụ cao cấp như: tài chính - tín dụng - ngân hàng, bảo hiểm, thương mại - các loại dịch vụ phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu - ngành dịch

vụ logistics (giao nhận - kho vận), dịch vụ vận tải - kho bãi, dịch vụ cảng, bưu chính viễn thông - CNTT - truyền thông, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấnKH-CN, du lịch, y tế và giáo dục- đào tạo chất lượng cao Theo nhận định của nhiều chuyên gia thì thị trường lao động Việt Nam cũng như Vùng ĐNB sau khủnghoảng vẫn sẽ tiếp tục thiếu hụt và khan hiếm nguồn nhân lực cấp quản lý trở lên ví dụ như các chức danh giám đốc bán hàng, giám đốc tiếp thị, trưởng phòng đốingoại… Theo một cuộc điều tra tiến hành tại 630 doanh nghiệp trên hai vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh lân cận của VCCI năm 2009 thìbức tranh về tình hình lao động vẫn không mấy thay đổi, thể hiện ở việc các doanh nghiệp thừa nhận việc tuyển dụng lao động chất lượng cao rất khó khăn Hầu hếtcác doanh nghiệp được điều tra đều cho rằng tuyển dụng cán bộ quản lý giỏi còn khó hơn nhiều Đồng thời, việc giữ lao động ở lại doanh nghiệp mình cũng là vấn

đề không dễ dàng Khi được hỏi về việc giữ lao động giỏi tại doanh nghiệp thì có tới 59% doanh nghiệp khu vực tư nhân, 47% doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,

và 65% doanh nghiệp nhà nước cho rằng việc giữ lao động giỏi ở lại doanh nghiệp là rất khó Điều này một lần nữa cho thấy sau khi cuộc khủng hoảng tài chínhqua đi, khi các doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc và nhu cầu nhân lực có chất lượng cao tăng lên thì chắc chắn sự mất cân đối cung – cầu trên thị trường lao động

sẽ diễn ra ngày càng trầm trọng hơn nếu như không có những biện pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này

- Nhu cầu về lao động phổ thông, không có tay nghề có xu hướng giảm do các ngành thâm dụng lao động, kỹ thuật thấp sẽ được chuyển sang các vùng lâncận

Theo tính toán dự báo của nhóm nghiên cứu, tỷ trọng các ngành nghề có nhu cầu thu hút lao động trong các doanh nghiệp tại Vùng ĐNB từ nay đến năm 2015

sẽ có rất nhiều biến động, nhất là sau khi tình hình kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu phục hồi Trong khi lao động ở các ngành dệt may và giày da sẽ giảm từ32,10% năm 2010 xuống còn 17% năm 2015 thì lao động trong các ngành nghề sản xuất công nghệ cao sẽ tăng từ 10-30%

Đồ thị 3.1: Dự báo tỷ trọng các ngành nghề có nhu cầu thu hút lao động trong các doanh nghiệp tại Vùng ĐNB (Đơn vị tính: %)

Trang 7

3.49 2.46

5.72

7.24 5.27

6.17

13.00 17.00

0 5 10

Năm 2010 Năm 2015

Nguồn: Theo tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên VHLSS2008

- Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực diễn ra ở nhiều ngành nghề của Vùng ĐNB Tình trạng thiếu hụt lao động này không còn dừng lại ở một số ngành nghề

mà đã trở thành vấn đề chung của tất cả các doanh nghiệp trên đại bàn trong vùng Thông qua các phiên giao dịch của Sàn giao dịch việc làm do Trung tâm giớithiệu việc làm của các tỉnh, thành trong vùng tổ chức, chỉ tiêu tuyển dụng của các doanh nghiệp ở mỗi phiên giao dịch luôn ở mức trên 10 nghìn người, nhưng tỷ lệlao động được tuyển dụng luôn ở mức rất thấp [34,tr.8] Sự thiếu hụt lao động diễn ra mạnh ở các lĩnh vực giầy da, may mặc, chế biến thực phẩm, điện - điện tử Sựmất cân đối cung cầu đang diễn ra chủ yếu ở các ngành đang phát triển, cần nhiều lao động kỹ thuật cao như CNTT, quản lý chất lượng sản phẩm, kỹ thuật côngnghiệp, du lịch, tài chính, ngân hàng, ở các ngành dịch vụ như bán hàng, phục vụ, quảng cáo, tiếp thị

Sự phát triển nhanh về kinh tế đã dẫn đến sự xáo trộn trên thị trường lao động khi nhu cầu nguồn nhân lực tăng mạnh nhưng nguồn cung chưa sẵn sàng Nhiềuchuyên gia dự báo rằng, nguồn cung nhân lực của Vùng ĐNB trong thời gian tới có xu hướng giảm sút do nguồn lao động nhập cư có xu hướng giảm vì nhu cầuphát triển của hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước đều tăng Người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm tại quê hương hoặc các vùng lân cận Đặc biệt hiện nay ởTPHCM, Bình Dương, Đồng Nai đang có tình trạng lao động nhập cư, nhất là lao động phổ thông rời bỏ TP.HCM, làm cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạngthiếu hụt nhân công (số lao động nhập cư chiếm đến 40-50% lao động trong các doanh nghiệp ở KCN-KCX) Nguyên nhân chủ yếu, do mức thu nhập của người laođộng ít được cải thiện Mặc dù so với lao động cả nước, mức thu nhập bình quân trong cùng một ngành nghề của lao động ở Vùng ĐNB có cao hơn, nhưng ngườilao động nhập cư phải chịu nhiều áp lực về mức chi phí và giá cả đắt đỏ ở TP.HCM, Bình Dương hay Đồng Nai Mặt khác, các doanh nghiệp lớn, các KCN-KCXchưa có giải pháp tích cực về nhà ở cho công nhân cũng như các biện pháp cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của người lao động nhập cư

Trang 8

Một thực trạng khác đáng được chú ý là: trong khi nhiều doanh nghiệp thiếu hụt nghiêm trọng lao động, thì vẫn còn một lượng không nhỏ lao động thấtnghiệp, thiếu việc làm, nhất là ở các vùng mới đô thị hóa, các khu vực đất nông nghiệp bị thu hồi giải tỏa , do không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, học vấn thấp,không có tay nghề…

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển của vùng hiện nay, mặc dù so với toàn quốc tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật của nguồn nhân lực của Vùng đạt ở mức khá cao Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp trong Vùng ĐNB đều thiếu lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuậtcao Kết quả những lần tổ chức sàn giao dịch việc làm gần đây cho thấy nhu cầu tuyển lao động có tay nghề chuyên môn kỹ thuật của doanh nghiệp chiếm khoảng80%, trong khi nguồn cung chỉ đáp ứng khoảng 10%[3] “Khảo sát 16 doanh nghiệp và 16 trường dạy nghề tại TP HCM cho thấy hầu hết lao động khi mới tuyểndụng đều không đáp ứng yêu cầu chuyên môn kỹ thuật Đa số doanh nghiệp phải tuyển lao động phổ thông rồi đào tạo nghiệp vụ trong quá trình làm việc”[19] Vấn

đề chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là vấn đề của TP.HCM, mà đang là vấn đề chung của Vùng ĐNB khi hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.Trong thời gian tới, với chiến lược tập trung ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao, các ngành dịch vụ hiện đại, nhu cầu về lao động chất lượng cao ngàycàng tăng Đây là một thách thức không nhỏ buộc Vùng ĐNB phải có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển KT -

XH của mình trong giai đoạn tiếp theo

- Biến động lao động trong các KCN-KCX và ở nhiều ngành nghề của Vùng ĐNB, đặc biệt là tại các đơn vị sản xuất thuộc ngành may rất cao, bình quân trên20%/năm (di chuyển qua lại trong các đơn vị sản xuất ngành may khoảng 40 nghìn người/năm); đối với các doanh nghiệp tư nhân, có những đơn vị biến động laođộng 50-60%/năm Tỷ lệ lao động thôi việc, bỏ việc, chuyển chỗ làm việc và tỷ lệ lao động tuyển dụng mới cũng rất cao, bình quân 8-20%/năm/doanh nghiệp[17].Các nhóm nghề dịch vụ như bán hàng, phục vụ, quảng cáo, tiếp thị có nhu cầu tuyển dụng cao, nhưng cũng là những nhóm nghề có tỷ lệ biến động lao động lớnnhất, khoảng 60-70%, gấp 03 lần so với nhóm ngành nghề gia công, sản xuất Dịch chuyển lao động ở cả 03 nhóm lao động phổ thông, lao động kỹ thuật và laođộng quản lý từ các KCN, KCX ra bên ngoài có chiều hướng ra tăng, bình quân 7%/năm (trước đây chỉ 3%/năm)[2, tr.11] Đặc biệt, 1/3 lao động có trình độ cao ởcác KCN-KCX sẵn sàng rời bỏ công việc nếu tìm được nơi làm việc có thu nhập và điều kiện làm việc tốt hơn Ở lĩnh vực tài chính - ngân hàng - thị trường chứngkhoán cũng có tình trạng tương tự Sự phát triển của các công ty chứng khoán dẫn đến việc thiếu trầm trọng nhân lực có trình độ ở lĩnh vực này Việc săn tìm nguồnnhân lực đã đẩy giá nhân công lên cao và làm cho lao động ở khu vực này liên tục “nhảy việc” Nguồn lao động được phân bổ và dao động theo từng giai đoạn, sựthay đổi về cơ cấu ngành nghề góp phần tạo nên sự biến động lớn trên thị trường lao động: nếu trước kia các ngành may mặc, giầy da thu hút nhiều lao động, thì naycác ngành nghề trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ phát triển mạnh, công việc trong các ngành này thường nhẹ nhàng hơn nên đã thu hút một lượng lao động ở cácngành khác chuyển sang Một số nguyên nhân khác khiến người lao động thay đổi chỗ làm việc như: tâm lý mau chán môi trường làm việc nên luôn thay đổi chỗlàm, không chịu nổi áp lực công việc cũ…Tuy nhiên lương bổng vẫn là vấn đề quan trọng nhất, phần lớn người lao động bỏ việc giữa chừng là muốn tìm một côngviệc khác với mức lương cao hơn và có cơ hội phát triển cá nhân

Sự biến động về nhân lực gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc duy trì và phát triển sản xuất dưới áp lực cạnh tranh nặng nề của thời hộinhập, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển chung của Vùng ĐNB trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Quan tâm đến đời sống của ngườilao động, hỗ trợ, chia sẻ khó khăn cùng với họ là cách tốt nhất để “giữ chân” người lao động

- Hệ thống thông tin, thống kê về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực còn yếu, thiếu độ tin cậy Các thông tin cơ bản về nguồn nhân lực như: số lượng nguồnnhân lực đang được sử dụng trong các hoạt động kinh tế, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ thất nghiệp, mức lương, mức cung-cầu nguồn nhân lực…chưa đượccập nhật thường xuyên Đây lại là những thông tin quan trọng cho việc quản lý vĩ mô và điều chỉnh các hoạt động của thị trường lao động nhằm sử dụng hợp lýnguồn nhân lực Các cơ quan quản lý lao động ít nắm được sự di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp, các khu vực kinh tế do không có mối liên hệ đều đặn vớicác chủ sử dụng lao động Chính vì vậy độ tin cậy của các thông tin, số liệu thu thập được chưa cao Đây thực sự là một trở ngại lớn đối với yêu cầu đánh giá thực

Trang 9

trạng, phân tích và dự báo xu hướng phát triển của nguồn nhân lực – cơ sở cho việc hoạch định các chính sách và giải pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn nhân lực cho quá trình CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của Vùng.

Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới phương thức sử dụng nhân lực, phương thức sử dụng nhân lực nhằm khai thác có hiệuquả lợi thế về nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm và của doanh nghiệp, rõ ràng là một khâu đột phá có chiếnlược của quá trình CNH, HĐH trong dài hạn

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Vùng ĐNB trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vùng ĐNB để từ đó phát huy và khai thác có hiệu quả lợi thế nguồn nhân lực phục vụ quá trình CNH, HĐH và đặcbiệt là vấn đề tái cấu trúc lại nền kinh tế sau khủng hoảng là một yêu cầu cấp thiết hiện nay của Vùng ĐNB, để thực hiện những nội dung này, Vùng ĐNB cần tậptrung vào các nhóm giải pháp cơ bản sau:

3.2.1 Nhóm giải pháp tạo môi trường, điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.2.1.1 Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH

Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình là chuyển một bộ phận lao động đang làm với công cụ lao động lạc hậu, năng suất lao động thấp sang công việc mới có năng suất cao hơn nhờ sử dụng công nghệ hiện đại hơn Đòi hỏi của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động là người lao động phải có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật để có thể tiếp thu được quy trình sản xuất, phương pháp sản xuất, thao tác, động tác của công việc mới, chính quá trình này nâng cao chất nguồn nhân lực Cần hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ, giảm dần lao động trong nông nghiệp, điều chỉnh hợp lý phân bổ lao động trong từng ngành Các địa phương trong Vùng ĐNB cần coi vấn đề tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược pháp triển các ngành kinh tế Từ trước đến nay, mối quan hệ này thường bị xem nhẹ nên quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động bao giờ cũng chậm hơn so với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu lao động nhất là cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo trình độ công nghệ sản xuất do chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc phân bổ đầu tư cho các ngành, cơ chế, chính sách của từng ngành Do đó, cơ cấu lao động dịch chuyển nhanh hay chậm phụ thuộc vào quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu lao động đúng hướng, cho phép phát huy hiệu quả trong sử dụng lao động, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Về cơ cấu lao động, cần khắc phục tình trạng bất hợp lý trong cơ cấu lao động giữa các ngành, các khu vực sản xuất trong thời gian qua, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp

Một vấn đề lớn đặt ra trong kế hoạch phát triển KT - XH và một nhiệm vụ đặt ra cho các cơ sở đào tạo trong của Vùng hiện nay là phải cơ cấu lại trình độ lựclượng lao động bao gồm: tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo, cấu trúc trình độ lao động, cơ cấu ngành chuyên môn, cơ cấu xã hội của đội ngũ người học Trong nhữngnăm tới cần phải nỗ lực nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo với cơ cấu: đại học 1, trung học chuyên nghiệp 5, công nhân kỹ thuật 10 Cần nhanh chóng khắcphục tình trạng thừa " thầy", thiếu "thợ" như hiện nay theo hướng gắn việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp cao với hệ thống cáctrường đại học, đào tạo nghề Phát triển nhanh và phân bố hợp lý các trường dạy nghề trong vùng, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năngđộng

Trang 10

Khi cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch sẽ tạo ra sự đa dạng về ngành nghề, thêm vào đó là phải mở rộng quy mô hoạt động của các ngành kinh tế, từ đó tạo ra ngàycàng nhiều việc làm, đặc biệt là trong nông nghiệp và nông thôn, giảm áp lực về dư thừa lao động, tạo ra sự cân đối cần thiết giữa cung - cầu lao động, do đó thunhập, tiền lương tăng lên Giải pháp tối đa hóa lợi nhuận của các ngành sản xuất lúc này là phải đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để giảm chi phí đầu vào,cùng lúc đó quá trình hiện đại hóa nền kinh tế bắt đầu xuất hiện, để đáp ứng yêu cầu sự phát triển của các ngành trong điều kiện trình độ nền kinh tế đã phát triển,chất lượng cung về lao động cũng phải được nâng lên, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch được cơ cấu lao động.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có quan hệ tác động hệ quả, ăn khớp với nhau đảm bảo quá trình phát triển bền vững và hiệu quả nền kinh tế

Để đáp ứng nhu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần chú ý các nội dung sau đây:

- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải gắn bó hữu cơ và phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu lao động hợp lý là cơ sở vững chắc để chuyển dịchthành công cơ cấu kinh tế, đảm bảo tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững

- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải vừa đảm bảo yêu cầu phát triển của các ngành, các lĩnh vực (cơ cấu ngành nghề), yêu cầu lao động kỹ thuật (cơ cấu trìnhđộ), tạo điều kiện phân bổ và sử dụng lao động hợp lý

- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải nhằm nâng cao chất lượng lao động, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếhiệu quả

3.2.1.2 Đổi mới cơ chế chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi phải có hệ thống các chính sách đồng bộ và sát với từng đối tượng

- Giải pháp về cung lao động, đi liền với giáo dục, đào tạo để nâng cao trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật Đồng thời, cần có giải pháp thuận lợicho việc di chuyển lao động, dưới góc độ quản lý nhà nước cần nắm và chủ động trong điều chỉnh kế hoạch vĩ mô; Phát huy vai trò của TP.HCM - nơi có thị trườnglao động hoạt động sôi động nhất hiện nay, với hệ thống trung tâm giới thiệu dịch vụ việc làm được phát triển với số lượng rất lớn, TP.HCM hiện có khoảng 8 trungtâm dịch vụ việc làm và 17 chi nhánh tại các tổ chức đoàn và liên đoàn lao động quận, huyện; ngoài ra trên địa bàn TP.HCM còn có khoảng trên 500 doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực giới thiệu việc làm với hiệu quả khá tốt, rất đáng khích lệ Với chức năng quản lý nhà nước cần có chính sách hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ kịpthời và giám sát chặt chẽ và hiệu quả cao trong bảo vệ lợi ích của người lao động Các cơ quan quản lý lao động cần có mối quan hệ chặt chẽ với các chủ sử dụnglao động để nắm được sự di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp và các khu vực kinh tế, để từ đó có chính sách điều chỉnh kịp thời và hợp lý

- Giải pháp về nhu cầu lao động, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn, nhiều chủ thể tham gia,nhiều doanh nghiệp phát triển ở các quy mô khác nhau và qua đó tạo ra nhiều việc làm cho người lao động; đồng thời Vùng ĐNB tăng cường các biện pháp để khaithác thị trường xuất khẩu lao động vì đây cũng là một lợi thế và mang lại hiệu quả cao

- Đối với nguồn nhân lực là người quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia có trình độ cao

Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thành xây dựng khu đại học tây bắc và đông bắc TP.HCM, gắn với khu nghiên cứu, triển khai công nghệ, khu côngnghiệp; khuyến khích liên kết đào tạo giữa các trường, các trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế với các trường và các nhà khoa học có uy tín; tạo môi trườngcạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trong quá trình đổi mới và phát triển, mở rộng và giao lưu hợp tác quốc tế hiện nay, điều kiện mở ra cho sự thăng tiến của mỗi con người là rất rộng lớn, nhất

là đối với các nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học giỏi Nếu chúng ta không có những giải pháp, những chính sách hữu hiệu và kịp thời thì việc di chuyển nguồnnhân lực có kinh nghiệm và có trình độ cao từ khu vực Nhà nước sang các khu vực khác, nhất là sang khu vực kinh tế tư nhân, các cơ quan đại diện và doanh nghiệpnước ngoài là dễ xảy ra

Trang 11

Vùng ĐNB cần xây dựng đồng bộ các chính sách liên quan đến sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đó là các chính sách như: bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài,huy động và khai thác có hiệu quả mọi nguồn trí thức, nhất là từ các viện nghiên cứu, trường đại học trong vùng, đặc biệt là trên địa bàn TP.HCM và Việt kiều…Nâng cao chất lượng và hiệu quả của nguồn nhân lực có kinh nghiệm quản lý và trình độ chuyên môn cao cần phải được đặc biệt quan tâm trên cả hai phương diện:môi trường và điều kiện cho họ hoạt động và chính sách đãi ngộ hợp lý.

Chính sách về đãi ngộ người lao động

Thực hiện được giải pháp này Vùng ĐNB sẽ khai thác được điểm mạnh về con người “Sài Gòn” năng động trong kinh tế thị trường và hội nhập, vì vậy cần tổchức thực hiện các nội dung sau đây:

- Có chế độ chính sách mới để khuyến khích đội ngũ trí thức và nhân tài; gắn liền kết quả nghiên cứu khoa học với thực tiễn, hạn chế đầu tư dàn trải chonghiên cứu khoa học như hiện nay Phát huy sự đóng góp của lực lượng kiều bào, thông qua các chính sách ưu đãi như: cấp visa dài hạn, không hạn chế điều kiện đểmua nhà tại Việt Nam,…

- Về đội ngũ doanh nhân: xây dựng chương trình đào tạo và đào tạo lại kiến thức kinh doanh toàn cầu cho hệ thống doanh nghiệp; khuyến khích tinh thần dámnghĩ, dám làm; cho phép người nước ngoài tham gia hoạt động quản lý các doanh nghiệp trong nước (có thể là doanh nghiệp Nhà nước)

- Về đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề: xã hội hóa công tác dạy nghề, trong đó Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong qui hoạch mạng lưới, đầu tư cơ sởvật chất, hỗ trợ phát triển đào tạo các ngành nghề mới phù hợp với định hướng phát triển của Vùng ĐNB như công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí, sinh học, hóachất, các ngành sử dụng công nghệ hiện Xây dựng cơ chế và hỗ trợ việc liên kết các trường đào tạo và các doanh nghiệp lớn trong việc đào tạo và sử dụng lao động

- Về đội ngũ công chức và cán bộ quản lý: đẩy mạnh cải cách hành chính đi đôi với việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức Thí điểm thi tuyển vào cácchức danh lãnh đạo cấp Sở, ngành và quận huyện Chính quyền các địa phương trong vùng cần có những biện pháp kịp thời hạn chế nạn “Chảy máu chất xám”(brain drain) từ khu vực Nhà nước sang các khu vực khác, đây là điều khó tránh khỏi

- Hoàn thiện các chế độ lương bổng và phúc lợi, chế độ khen thưởng, chế độ điều động và đề bạt

+ Chế độ lương bổng và phúc lợi được thiết lập trên cơ sở: (a) phù hợp với trình độ đào tạo; (b) phù hợp với thâm niên công tác, cấp bậc và chức vụ đượcgiao; (c) phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp của từng ngành; (d) tăng tương ứng với sự phát triển kinh tế và sự gia tăng giá cả v.v

+ Chế độ khen thưởng: phải kịp thời, đúng lúc cho (a) cá nhân, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ đạt hiệu quả cao; (b) cá nhân, đơn vị có sáng kiến hoặc giải pháp(đột xuất, độc đáo) đem lại lợi ích lớn cho xã hội, không phân biệt đó là cán bộ lãnh đạo hay nhân viên; (c) khen thưởng các sinh viên, cán bộ khoa học - kỹ thuậtđược gửi đi đào tạo ngoài nước hoàn thành tốt nhiệm vụ và trở về nước phục vụ; (d) khen thưởng các cá nhân, đơn vị có những cống hiến tốt cho xã hội và nhândân, không phân biệt ở trong hay ngoài nước

+ Chế độ điều động và đề bạt cán bộ cần thực hiện trên cơ sở công khai, khách quan và vô tư Việc điều động nhân sự đòi hỏi phải đưa đúng người về đúngnơi có nhu cầu, bao gồm cả các cán bộ lãnh đạo lẫn các chuyên viên quản lý hành chính, chuyên viên khoa học - kỹ thuật Song song với chế độ điều động cần cóchế độ đề bạt hợp lý (cả về chức vụ lẫn lương bổng, phúc lợi) để khuyến khích và tạo niềm tin cho những người được điều động để họ phấn đấu hoàn thành nhiệm

vụ được giao

Chính sách về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực

Thực tế ở Việt Nam nói chung và Vùng ĐNB nói riêng cho thấy việc đào tạo, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chưa hợp lý, chưa đồng bộ Trong bối cảnhViệt Nam đang thực hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, VùngĐNB cần phải có chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả bốn đội ngũ sau:

Trang 12

- Đội ngũ lãnh đạo Đảng, quản lý nhà nước, quản lý hành chính: bao gồm những người có chuyên môn, có khả năng nhìn xa trông rộng, có khả năng ra quyếtđịnh đúng và kịp thời, có khả năng lãnh đạo v.v

- Đội ngũ quản lý doanh nghiệp: bao gồm các giám đốc, các nhân viên quản lý doanh nghiệp, xí nghiệp, nhà máy có trình độ thông thạo về luật kinh tế, luậtpháp quốc tế, có năng lực ngôn ngữ và nhất là có khả năng diễn đạt tốt v.v

- Đội ngũ khoa học, kỹ thuật: bao gồm những nhà khoa học đầu đàn, đạt trình độ quốc tế, những chuyên viên kỹ thuật có đẳng cấp, những công nhân kỹ thuậtgiỏi, thành thạo nghiệp vụ Đây là lực lượng có khả năng sáng tạo lớn, có khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến, có khả năng giải quyếtvấn đề (problem solving) v.v

- Đội ngũ tri thức Việt kiều, hiện nay có khoảng 3 triệu Việt kiều đang sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, trong số này có rất nhiều nhà khoahọc, kỹ thuật Việt Nam đạt thành tích cao trong khoa học, đây là nguồn chất xám rất đáng trân trọng Mặt khác, với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng vàNhà nước, hiện nay ngày càng có nhiều thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam đang lao động hoặc học tập tại các nước tiên tiến Do vậy, cần đẩy mạnh chínhsách thu hút tri thức Việt kiều, thu hút các lưu học sinh và lao động sau khi hoàn tất nhiệm vụ trở về phục vụ Tổ quốc So với các vùng khác, Vùng ĐNB có lợi thếtrong thu hút lực lượng này

Công việc này có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau: trở về nước sinh sống và làm việc, trở về nước phục vụ trong một thời gian nhất định, hoặcvẫn sống ở nước ngoài nhưng tham gia tư vấn, tham mưu, kiêm nhiệm v.v Việc thu hút và sử dụng có hiệu quả cả hai nguồn nhân lực được đào tạo trong và ngoàinước có ý nghĩa lớn lao trong việc bổ sung tri thức, chia xẻ kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong phát triển khoa học, công nghệ giúp TP.HCM có thể đạt được tốc độtăng trưởng kinh tế nhanh, tiếp cận trình độ phát triển khu vực và thế giới

Chính sách tiền lương và phúc lợi

- Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn được phép tự định đoạt mức lương, thưởng cho công nhân viên, dựa trên quy luật thị trường lao động và hiệuquả sản xuất kinh doanh Các cơ sở tự quyết định chính sách thu hút nhân tài, kể cả các cơ quan sự nghiệp như bệnh viện, trường học…

- Tiền lương thực sự tuân theo quy luật cung cầu về lao động Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu để bảo vệ lợi ích của người lao động

- Các chế độ lao động được quy định mềm dẻo, linh hoạt hơn nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động nhưng không ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả củacác doanh nghiệp Lược bỏ những quy định mang tính hình thức, cứng nhắc như trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động hiện nay

- Đối với công chức trong các cơ quan quản lý Nhà nước, quy định mức lương tối thiểu đối với các công chức trên địa bàn, cùng các chế độ phụ cấp, khenthưởng, đãi ngộ xứng đáng nhằm thu hút người tài vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ để từ đó có chính sách tiềnlương hợp lý nhằm kích thích nâng cao năng lực làm việc của người lao động (chẳng hạn như chính sách lên lương trước thời hạn, thực hiện tự chủ về tài chính theoquy định của nhà nước)

3.2.1.3 Phát triển nhanh các ngành có hàm lượng công nghệ cao và chuyển giao công nghệ

Thế mạnh của Vùng ĐNB là phát triển các ngành kinh tế hiện đại do có các địa phương nhưng TP.HCM, Bình Dươmg, Đồng Nai hay Bà Rịa - Vũng Tàu cókhả năng phát triển kinh tế nhanh bằng cách tiếp cận công nghệ tiên tiến trên thế giới, để phát huy được lợi thế này, Vùng ĐNB phải tăng cường mở rộng hợp tácquốc tế trong thu hút đầu tư nước ngoài, trong nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực, từ đó có điều kiện đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ tươngđương với các nước trong khu vực, đồng thời phát triển nhanh các ngành có hàm lượng công nghệ cao Đầu tư có hiệu quả vào các chương trình phát triển KT - XH

để đa dạng hóa mô hình tạo việc làm, chú ý tạo việc làm tại chỗ trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, ổn định trật tự an toàn

xã hội Mặt khác, phải phát triển các ngành khoa học kỹ thuật cao để thu hút lao động có chất lượng để tăng thu nhập và khuyến khích người lao động có ý thứcnâng cao trình độ Đây là một trong những yếu tố tạo sự ổn định và phát triển bền vững đối với lao động và việc làm Với lợi thế về trung tâm đào tạo và khoa học -

Ngày đăng: 25/12/2015, 21:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng lao động và năng suất lao động vùng ĐNB - GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN NĂM 2020
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng lao động và năng suất lao động vùng ĐNB (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w