1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về hoạt độngquản lý tập thể lao động và những vấn đề tâm lý của người lãnh đạo trong tập thể người lao động

25 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 202 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm lao động về phương diện lịch sử thì các nhóm lao động xuất hiện rất sớm, chỉ sau nhóm gia đình a.Khái niệm: Nhóm lao động là một hiện tượng tự nhiên có mục đích chính là thực hiện m

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 2

PHẦN II NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP THỂ LAO ĐỘNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TẬP THỂ LAO ĐỘNG 3

1.1 Những vấn đề chung về tập thể lao động 3

1.1.1 Nhóm lao động về phương diện lịch sử thì các nhóm lao động xuất hiện rất sớm, chỉ sau nhóm gia đình 3

1.1.2 Khái niệm tập thể lao động 6

1.1.3 Các mối quan hệ liên nhân cách trong nhóm và tập thể lao động 6

1.1.4 Không khí tâm lý của nhóm lao động 7

1.1.5 Xung đột giữa các cá nhân trong nhóm lao động Việc ngăn ngừa và khắc phục xung đột 9

1.2 Những vấn đề chung về hoạt động quản lý tập thể lao động 10

1.2.1 Thế nào là hoạt động quản lý 10

1.2.2 Các biện pháp quản lý tập thể lao động 11

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG TẬP THỂ LAO ĐỘNG 13

2.1 Các loại phong cách lãnh đạo 13

2.2 Uy tín của người lãnh đạo 14

2.3 Đường lối lãnh đạo tập thể lao động 14

2.4 Những phẩm chất tâm lý cần có đối với người lãnh đạo 16

PHẦN 3 KẾT LUẬN 23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 2

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hoạt động quản lí, người lãnh đạo là chủ thể, là người quyết định sự thành bại

của hoạt động quản lí C Mác đã từng chỉ ra: “Đối với người độc tấu thì anh ta tự điều khiển hành vi của mình, còn với một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng Không có nhạc trưởng thì dàn nhạc không thể hoạt động được, cũng như vậy không có người lãnh đạo thì tổ chức không vận hành được, không tồn tại và phát triển” Chính vì vậy, khi xã hội

phát triển càng cao thì vai trò của những người lãnh đạo càng trở nên quan trọng và đòihỏi ở người lãnh đạo những phẩm chất tâm lý tương xứng với vai trò ấy

Người lãnh đạo, những người bị lãnh đạo và tổ chức là ba chủ thể của hoạt độngquản lí Ba chủ thể này (người lãnh đạo là chủ thể quan trọng nhất) luôn nằm trong quan

hệ biện chứng với nhau, tác động tương hỗ, theo kênh từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên

và các kênh ngang Hoạt động quản lí là hoạt động rất phức tạp, trong đời sống xã hội tồntại đồng thời hai khái niệm quản lí và lãnh đạo, cũng như các khái niệm người quản lí vàngười lãnh đạo Có không ít người đã đồng nhất hai khái niệm này với nhau Vì họ chorằng nội hàm của hai khái niệm này giống nhau và khó phân biệt rạch rời ranh giới củachúng Có một số nhà nhiên cứu lại cho rằng không nên tách chúng thành hai khái niệmriêng biệt, mà nên xếp chúng bên cạnh nhau, dường như thành một khái niệm lãnh đạo,quản lí và từ đây có các khái niệm: tâm lí học lãnh đạo, quản lí; người lãnh đạo, quản lí

Tuy nhiên, trong khoa học tâm lý người ta đã chỉ ra: Điểm chung lớn nhất của haikhái niệm này ở chỗ những người quản lí và người lãnh đạo đều là những người tổ chứchoạt động của tập thể để thực hiện những mục tiêu đã đề ra Họ đều là những người cóảnh hưởng đến những người thừa hành của tổ chức Do vậy, người quản lí và người lãnhđạo có một số chức năng chung nhau (kiểm tra, giám sát, thông tin ) Còn sự khác nhau

giữa người quản lí và lãnh đạo thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, về số lượng Trong một tổ chức

số lượng người quản lí thường nhiều hơn những người lãnh đạo và những người lãnh đạođều là những người quản lí, nhưng không phải tất cả những người quản lí đều là người

lãnh đạo Thứ hai, về vị thế và vai trò Những người lãnh đạo là những người có vai trò

quan trọng nhất, có vị thế cao và có phạm vi ảnh hưởng lớn trong tổ chức

Chính vì sự phức tạp của hoạt động quản lý hay nhầm lẫn và thực tế nhiều người có

xu hướng đồng nhất khái niệm lãnh đạo với quản lý, bên cạnh vai trò quan trọng bậc nhất

của người lãnh đạo là những lý do đã dẫn tôi tới với chủ đề: “Tìm hiểu về hoạt động

quản lý tập thể lao động và những vấn đề tâm lý của người lãnh đạo trong tập thể người lao động” Và đó cũng là một trong những chủ đề cần nghiên cứu trong định

hướng chung của tâm lý học lao động: nghiên cứu những yếu tố tâm lý qua lại giữa conngười và lao động nhằm góp phần phát triển con người toàn diện, đồng thời góp phần cảitiến quá trình lao động và nâng cao hiệu quả lao động của con người

Trang 3

PHẦN II NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP THỂ LAO ĐỘNG VÀ HOẠT

ĐỘNG QUẢN LÝ TẬP THỂ LAO ĐỘNG

Môi trường xã hội là thành tố chủ yếu thứ ba của hệ thống Người – Máy – Môitrường Cùng với môi trường vật lý , nó quy định cấu trúc, chức năng và chất lượng củamôi trường mà trong đó hoạt động lao động đang diễn ra Thành phần được xác định củamôi trường xã hội trong lao động được hình thành bởi hình thức và tính chất của các mốiquan hệ trong lao động

1.1 Những vấn đề chung về tập thể lao động

Tập thể lao động là hình thức cao của nhóm lao động, trước khi tìm hiểu những vấn

đề chung về tập thể lao động ta không thể không xem xét tới hình thức tổ chức lao độngnày

1.1.1 Nhóm lao động về phương diện lịch sử thì các nhóm lao động xuất hiện rất sớm, chỉ sau nhóm gia đình

a.Khái niệm:

Nhóm lao động là một hiện tượng tự nhiên có mục đích chính là thực hiện một sốnhiệm vụ lao động, mà theo đó các thành viên của nhóm phải tiến hành những hoạtđộng nhất định và có sự tác động qua laị giữa các thành viên trong nhóm mang tính cơđộng xuất phát từ:

+ Mục đích lao động của nhóm

+ Sự phân công lao động giữa các thành viên

+ Các mối quan hệ xúc cảm

b.Cấu trúc của các nhóm lao động

Cấu trúc của các nhóm lao động có thể khác nhau rất nhiều do đặc điểm riêng củalao động, của nơi làm việc, do đặc điểm nhân cách của các thành viên trong nhóm quyđịnh

Cấu trúc chức năng của nhóm lao động: Là cấu trúc cơ bản mà thông qua đó các

mục đích lao động được thực hiện; Cấu trúc này buộc các thành viên trong nhóm có sựtác động qua lại được quy định bởi quá trình lao động mà họ tham gia vào; Cấu trúc mangtính chất chính thức; Căn cứ vào cấu trúc này mà các mối quan hệ chính thức giữa cácthành viên trong nhóm được thiết lập

Trang 4

Trong nhóm lao động vị thế quan trọng nhất là vị thế nghề nghiệp gắn với vị trícông tác của mỗi người.

Trong một nhóm lao động thường có các vị thế sau: các vị thế chính thức (thí dụnhư công nhân có nghề cao, công nhân có tay nghề thấp, kỹ sư giảng viên, giảng viênchính,…) và vai trò tương ứng của nó (thí dụ vị thí người thông minh, người nóng nảy,người nghiện thuốc lá,…)

Những vị thế, vai trò này được nảy sinh trong quá trình tác động qua lại của cánhân với các thành viên của nhóm trong hoạt động lao động, với những chuẩn mựccủa nhóm

Để có một sự vận hành tốt cho nhóm trong hoạt động lao động cần có sự giới hạncho các vị thế, còn trong trường hợp đối với những thành viên mới cần giúp đỡ họ giảiquyết các nhiệm vụ từ vị thế mới của họ

 Cấu trúc lựa chọn của nhóm trong nhóm lao động

Trong nhóm lao động thường tồn tại hai loại cấu trúc:

+ Cấu trúc chức năng: các mối quan hệ hoàn toàn mang tính chất chức năng

+ Cấu trúc lựa chọn của nhóm: các quan hệ xúc cảm mang tính lựa chọn

Nguyên nhân tạo nên cấu trúc lựa chọn của nhóm là do có những động cơ và hứngthú khác nhau, do có những kiểu hành vi khác nhau mà giữa các thành viên trong nhómxuất hiện các mối quan hệ xúc cảm với ý nghĩa và cường độ khác nhau

- Toàn bộ các mối quan hệ xúc cảm thuộc loại thiện cảm, ác cảm hoặc thờ ơ đượcbiểu hiện trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên của nhóm hình thànhnên cấu trúc lựa chọn của nhóm hoặc cấu trúc quan hệ tâm lý xã hội của nhóm

- Cấu trúc lựa chọn của nhóm lao động có thể trùng hoặc không trùng với cấu trúcchức năng của nhóm lao động

 Cấu trúc thứ bậc của nhóm lao động:

Không phải tất cả các thành viên của nhóm đều có cùng một chức năng, có cùngtrách nhiệm, và cũng có quyền quyết định trong hoạt động của nhóm do đó trong nhóm cócấu trúc thứ bậc

Cấu trúc thứ bậc của nhóm dựa trên những mối quan hệ phụ thuộc:

+ Quan hệ giữa các thành viên trong nhóm theo ngành ngang giữa các thành viên

có cùng vị thế, được gọi là những mối quan hệ qua lại phối hợp

+ Quan hệ giữa các thành viên theo ngành dọc

Qua đó chúng ta thấy những mối quan hệ giữa các thành viên có vị thế khác nhautrong cấu trúc thứ bậc của nhóm được gọi là những mối quan hệ qua lại phụ thuộc Trongcấu trúc thứ bậc của nhóm người lãnh đạo và phong cách lãnh đạo của người đó có mộtvai trò vô cùng quan trọng Đặc biệt trong cấu trúc này thì cấu trúc quyền lực chiếm một

vị trí quan trọng Cấu trúc quyền lực biểu hiện chủ yếu ở phương thức thực hiện và phânphối quyền quyết định giữa các thành viên của nhóm

 Cấu trúc giao tiếp của nhóm lao động

Trang 5

Trong phạm vi một nhóm lao động, để thực hiện nhiệm vụ lao động giữa các thànhviên trong nhóm xuất hiện những kênh giao tiếp

- Cấu trúc giao tiếp của nhóm lao động có thể mang tính chất chính thức nếu dựatrên các quan hệ chính thức

- Cấu trúc giao tiếp của nhóm lao động có thể mang tính chất không chính thức nếudựa trên các quan hệ không chính thức

- Tính chất, tốc độ, nhịp độ và ý nghĩa của giao tiếp trong nhóm gắn liền với cấu trúccác mối quan hệ liên nhân cách

- Trong quá trình giao tiếp ở phạm vi nhóm lao động có thể xuất hiện những trụctrặc: kẹt thông tin, chuyển tải thông tin sai lệch, chuyển tải thông tin theo một nghĩakhác…

Cấu trúc nhận thức của nhóm lao động

- Trong quá trình làm việc cùng nhau, các thành viên ít nhiều nhận thức được nhau,nhận thức được mối quan hệ liên nhân cách xuất hiện giữa các cá nhân trong nhóm, nhậnthức được vị thế của mình trong cấu trúc quan hệ liên nhân cách trong nhóm

- Cấu trúc nhận thức của nhóm bao gồm toàn bộ các quá trình nhận thức và kết quảcủa các quá trình đó

Cấu trúc của nhóm lao động và những đặc điểm của cá nhân tạo nên nhóm Do đótrong cấu trúc của nhóm bao hàm nhiều yếu tố như giới, lứa tuổi, trình độ chuyên môn,thành phần chính trị, thành phần xuất thân, đạo đức, tôn giáo, thế giới quan, đặc điểmnhân cách tạo nên nhóm

1.1.2 Khái niệm tập thể lao động

Tập thể lao động được hiểu là những nhóm người được tổ chức, được thông nhấtvới nhau bằng những mục tiêu chung, cùng nhau tiến hành thực hiện những hoạt độngcộng đồng vỡ những lợi ích chung của xã hội

- Thực chất của tập thể lao động là ở chỗ những mục đích hoạt động của tập thểvượt ra ngoài phạm vi một nhóm nhất định, tạo nên mối quan hệ về trách nhiệm bên trongnhóm

+ Cơ sở chính trị của tập thể lao động là quyền làm chủ thực sự của người laođộng, sự tham gia rộng rãi của quần chúng vào việc quản lý các công việc của xã hội + Cơ sở xã hội của tập thể lao động là những quan hệ xã hội XHCN giữa các nhóm

xã hội, các tầng lớp, giai cấp khác nhau, là sự thông nhất giữa quyền lợi cá nhân, tập thể,

xã hội của quan hệ công tác và giúp đỡn lẫn nhau của những người lao động

1.1.3 Các mối quan hệ liên nhân cách trong nhóm và tập thể lao động

Quan hệ liên nhân cách được hiểu là những mối quan hệ về mặt tâm lý – xã hội lẫnnhau giữa cac thành viên trong một nhóm xã hội xác định Các mối quan hệ này sẽ đượcthực hiện trên cơ sơ có được những cái chung về nhận thức, tình cảm và sự đồng nhất tâmtrạng ở mức độ nào đó giữa mọi người

* Trong quá trình lao động thường xuất hiện 2 loại quan hệ chủ yếu sau:

Trang 6

- Quan hệ chính thức (quan hệ hành chính hay quan hệ chức năng) là những mốiquan hệ được quy định bởi các đặc điểm của nhiệm vụ lao động, bởi những quy địnhchuẩn mực của tập thể lao động Các mối quan hệ chính thức luôn luôn tồn tại Nếukhông có quan hệ này thì nhóm tập thể lao động sẽ không vận hành được.

- Các mối quan hệ không chính thức (quan hệ tâm lý) là những mối quan hệ không

bị quy định trực tiếp bởi các nhiệm vụ lao động và cũng không có trong quy định chuẩnmực của nhóm tập thể lao động nhưng lại có ảnh hưởng đến hoạt động lao động của nhómtập thể và ảnh hưởng đến hiệu quả của các mối quan hệ chính thức

 Tuỳ theo thứ tự các vị thế của cá nhân trong nhóm và tập thể lao động, người tachia ra 2 kiểu quan hệ qua lại

- Các quan hệ qua lại phụ thuộc được xây dựng theo ngành dọc, có nghĩa là nhữngmối quan hệ giữa các thành viên có vị thế khác nhau trong cấu trúc thứ bậc của nhóm, tậpthể lao động

-Các quan hệ qua lại phối hợp được xây dựng theo ngành ngang, có nghĩa là nhữngmối quan hệ giữa các thành viên cùng có một loại vị thế trong cấu trúc thứ bậc của nhóm,tập thể lao động

Việc nghiên cứu các mối quan hệ cho phép ta xác định được mức độ vững chắccủa nhóm, tập thể, các mối quan hệ cảm xúc giữa các thành viên, các thành viên bị cô lập

 Các quan hệ nhận thức: Là kênh thông tin xã hội mà qua đó các nhân nhận thứcđược vai trò nghề nghiệp của bản thân, xác định được hành vi của mình bằng cách thườngxuyên đối chiếu với những người khác và với tình huống lao động Trên cơ sở đó cá nhân

sẽ hoà nhập nhanh hơn và tốt hơn vào nhóm và tập thể Ở góc độ giá trị của hành vi nhậnthức đối với mỗi cá nhân có thể thu được 4 kiểu tác động qua bảng sau:

Biết + Không biết - Cá nhân 1

Cá nhân 2 Biết + I Công khai II Mù mờ

Không biết - III Dấu diếm IV Không hiểu

Bảng 1 Các kiểu tác động đến giá trị của hành vi nhận thức cá nhân

- Ô công khai (I) được tạo thành từ toàn bộ những thông tin được cả cá nhân 1 và 2nhận thức

- Ô mù mờ (II) gồm những sự kiện được cá nhân 2 nhận thức nhưng cá nhân1 khôngbiết

- Ô dấu diếm (III) bao gồm toàn bộ những thông tin cá nhân 1 biết nhưng khôngthông báo cho cá nhân 2 biết

- Ô không hiểu (IV) là toàn bộ những thông tin mà cả cá nhân 1 và 2 đều không biết.Nhóm nào càng ý thức được nhiều các mối quan hệ liên nhân cách tồn tại giữa cácthành viên thì phạm vi của ô công khai sẽ lớn trong quan hệ giữa các thành viên củanhóm

1.1.4 Không khí tâm lý của nhóm lao động

Trang 7

a Không khí tâm lý của nhóm lao động: là tính chất của các mối quan hệ qua lại giữa các

thành viên trong nhóm, là tâm trạng cảu tập thể

- Không khí tâm lý của nhóm lao động được cụ thể hoá trong đạo đức của nhóm,trạng thái xúc cảm chung của nhóm Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động củanhóm

-Không khí của nhóm lao động có ảnh hưởng đến năng suất lao động Đồng thờinăng suất lao động của các thành viên trong nhóm lao động có ảnh hưởng tới tình trạngcủa không khí tâm lý của nhóm lao động

b Các chỉ tiêu đánh giá bầu không khí tâm lý của nhóm lao động: chỉ tiêu đánh giá này

sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau

-Trong đời sống tâm lý – xã hội của nhóm sẽ luôn luôn có được một khong khí tâm

lý tự do, cởi mở, thân thiện và vui vẻ Tất cả mọi thành viên sẽ luôn luôn được tự do phátbiểu tất cả những vấn đề về nhóm mà không hề có sự áp đặt của người đạo đến mọi thànhviên một cách khiên cưỡng

c Các yếu tố ảnh hưởng đến không khí tâm lý của nhóm lao độn:

- Trong một mức độ nhất định không khí tâm lý của nhóm phụ thuộc vào sự tươngđồng về mặt tâm lý của các thành viên trong nhóm lao động Sự tương đồng về mặt tâm lý

là khả năng phối hợp hoạt động cùng nhau của các thành viên trong nhóm, hoạt động nàyđược dựa trên sự phối hợp tối ưu các thuộc tính tâm lý của họ

- Cấu trúc không chính thức của nhóm lao động cũng có ảnh hưởng tới không khítâm lý của nhóm lao động: sự phát triển của các quan hệ không chính thức thường cần cónơi gặp gỡ,trò truyện Do đó cần tạo điều kiện tổ chức sự nghỉ ngơi một cách thích hợptạo hoàn cảnh cho sự tiếp xúc giữa các thành viên trong nhóm, tập thể lao động

- Tổ chức lao động một cách khoa học (phân công lao động một cách hợp lý, xâydựng chế độ làm việc, nghỉ ngơi một cách hợp lý…) có ảnh hưởng tới bầu không khí củanhóm lao động

Trang 8

- Tính chất của sự lãnh đạo và phong cách quan hệ của người lãnh đạo với cácthành viên trong tập thể có ý nghĩa rất lớn tới việc xây dựng bầu khong khí tâm lý trongtập thể lao động.

Những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới không khí tâm lý của nhóm lao động, đòihỏi các nhà quản lý các tập thể lao động quan tâm vận dụng trong quá trình xây dựng bầukhông khí tâm lý trong tập thể lao động Công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học MỹR.Vanzelst đã minh chứng cho điều trên: R.Vanzelst nghiên cứu trên 74 công nhân làmviệc trên công trường xây dựng nhà ở R.Vanzelst yêu cầu mỗi công nhân chọn 3 ngườibạn đồng nghiệp (theo thứ tự ưu tiên từ 1 đến 3) mà mình muốn làm việc với họ Trên cơ

sở đó lập ma trận chọn những người thích lẫn nhau, tiến hành phân chia thành các tổ sảnxuất Hiệu quả của biện pháp thay đổi cấu tạo nhóm lao động được thể hiện ở bảng sau:

Chỉ số Trước khi chia lại tổ

Chi phí cho một đơn vị nguyên

vật liệu (đô la)

Bảng 2 Hiệu quả của biện pháp thay đổi cấu tạo nhóm lao động

1.1.5 Xung đột giữa các cá nhân trong nhóm lao động Việc ngăn ngừa và khắc phục xung đột

a Khái niệm xung đột:

Xung đột là sự mâu thuẫn giữa con người với nhau, sự mâu thuẫn này mang tínhchất của một sự chống đối

Xung đột là sự mâu thuẫn nảy sinh giữa con người với con người do sự giải quyếtnhững vấn đề này hay khác của đời sống xã hội và đời sống cá nhân gây nên Mâu thuẫnnày dẫn tới xung đột khi nó đụng chạm đến vị trí xã hội của nhóm hay cá nhận, đến quyềnlợi vật chất hay tinh thần của con người, đến kỳ vọng, giá trị đạo đức của cá nhân Mâuthuẫn đó không chỉ gây nên sự nghĩ ngợi mà còn gây nên những cảm xúc nhất định nhưxấu hổ, giận dữ, sợ hãi… Những xúc cảm này thôi thúc con người đi đến đấu tranh

b Các nguyên nhân dẫn đến sự xung đột trong nhóm lao động:

- Những thiếu sót có liên quan tới việc tổ chức lao động chủ yếu trong việc địnhmức lao động, phương thức trả lương, trong việc sử dụng các kích thích tinh thần và vậtchất…

- Những thiếu sót có liên quan trong lĩnh vực quản lý

- Những thiếu sót có liên quan tới những quan hệ liên nhân cách trong nhóm và tậpthể lao động

c Tác hại của xung đột:

Trang 9

Xung đột mang lại tác hại lớn lao tới bầu không khí tâm lý trong tsập thể, nhómlao động và năng suất lao động của tập thể, nhóm lao động và từng thành viên Nhữngxung đột sâu sắc có ảnh hưởng xấu tới trạng thái tâm lý, thần kinh của con người Vớinhững cảm xúc sâu sắc về sự thất bại, con người có thể rơi vào một trạng thái tâm lý đặcbiệt - trạng thái “hẫng” Đó là trạng thái căng thẳng cảm xúc, rối loạn tâm lý Trạng thái

“hẫng” có thể được biểu hiện ra bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau như: tính gâyhấn (sự tức giận, tính hỗn loạn của các phản ứng, tính độc ác, cục cằn…); tiếp tục gắngsức để đạt được mục đích của mình trong khi điều đó là bất lợi và thậm chí có hại; trạngthái này thường nảy sinh ở những người có thần kinh yếu

e Những biện pháp cơ bản để ngăn ngừa xung đột:

+ Lựa chọn các thành viên và xếp loại cán bộ một cách chính xác có tính đến sựtương đồng về tính cách của họ

Muốn quản lý có hiệu quả người lãnh đạo cần lựa chọn cho mình những cấp phó

và người giúp việc phù hợp Vì bản thân sự quản lý cũng có thể có xung đột nảy sinh khikhông có sự nhất trí cao trong hành động Xung đột trong việc quản lý sẽ nhanh chóngchuyển sang tập thể, bởi vì mỗi người có xung đột với nhau đều muốn tìm chỗ dựa trongmột nhóm nào đó trong tập thể Vì vậy, sự thống nhất ý chí trong quản lý, có sự phân địnhchức năng rõ ràng trong ban lãnh đạo là một nhân tố quan trọng để ngăn ngừa xung đột

+ Tổ chức tốt quá trình lao động, vấn đề phân công lao động, tổ chức chế độ laođộng và nghỉ ngơi hợp lý

+ Uy tín của người quản lý đối với tập thể lao động

+ Công tác giáo dục có hệ thống cho tập thể lao động và cá nhân do các tổ chứcĐảng, công đoàn, Đoàn thanh niên và người lãnh đạo

+ Sự hiểu biết về các thành viên trong tập thể (hoàn cảnh gia đình, tính cách, điềukiện sống…) Trên cơ sở đó người lãnh đạo có thể dự kiến được phản ứng của các thànhviên trong tập thể trước những tác động tới họ, từ đó đưa ra những biện pháp ngăn ngừanhững xung đột có thể có

+ Quan hệ tốt giữa người lãnh đạo và các thành viên trong tập thể lao động, thểhiện: thảo luận chung các công việc cần thiết, tôn trọng ý kiến của nhau, biết tiến hànhthảo luận những vấn đề phức tạp, trình bày trung thực các quan điểm của mình ở cả 2phía, cố gắng hiểu rõ ý kiến của người đối thoại, mong muốn có được sự nỗ lực chung

+ Tình hình công việc ổn định thể hiện: có được bầu không khí thân thiện, có sựhiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên làm việc gần nhau, có tinh thần hiệp đồng tronghành động, an toàn lao động, cảm thấy có sự công minh trong các mối quan hệ, nơi làmviệc là nơi hấp dẫn

- Những biện pháp giải quyết xung đột có hiệu quả:

+ Biện pháp giáo dục: thông qua người lãnh đạo, các tổ chức mới đoàn thể thuyếtphục, giúp các bên đương sự đánh giá đúng tình huống xung đột và khắc phục nó

Trang 10

Biện pháp giáo dục có giá trị ở chỗ những nguyên nhân xung đột được thủ tiêu, sựcăng thẳng về cảm xúc cảu các bên đương sự được giảm xuống, ảnh hưởng tốt đến đờisống xã hội – tâm lý của tập thể người lao động.

+ Biện pháp hành chính: được sử dụng khi biện pháp giáo dục không có hiệu quả.Biện pháp hành chính có 2 hình thức giải quyết là thải hồi hoặc chuyển sang mộttập thể khác Biện pháp này có tác dụng làm cho tập thể nhanh chóng trở lại trạng tháibình thường, song mâu thuẫn giữa 2 bên đương sự không mất đi, những người ủng hộ cho

2 bên đương sự chưa hoàn toàn thông cảm lẫn nhau và tập thể mất người

Khi giải quyết xung đột trong tập thể cần chú ý đến đặc điểm tâm lý của các thànhviên, đối với người này thì thuyết phục sẽ tốt hơn, đối với người khác lại đòi hỏi nhữngbiện pháp cứng rắn hơn

1.2 Những vấn đề chung về hoạt động quản lý tập thể lao động

1.2.1 Thế nào là hoạt động quản lý

Lúc đầu thuật ngữ quản lý là thuật ngữ của khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên, cụthể là điều khiển học

Ngay từ đầu và cho đến nay khái niệm quản lý được hiểu như sau: Quản lý là mộtquá trình tác động có mục đích, của con người vào một hệ thống nào đó nhằm làm thayđổi hiện trạng của hệ thống đó, hoặc đưa vào hệ thống đó những thuộc tính mới

Nếu hệ thống tác động là con người gọi là quản lý xã hội (còn gọi là lãnh đạo).Nếu hệ thống tác động ở đây là hệ thống kỹ thuật thì sẽ có quá trình quản lý kỹ thuật

1.2.2 Các biện pháp quản lý tập thể lao động

a Đề ra yêu cầu cho tập thể lao động (quản lý tập thể bằng phương pháp ra lệnh)

Đề ra yêu cầu cho tập thể lao động thực sự là một biện pháp quản lý tập thể vì nó

có đầy đủ những dấu hiệu của khái niệm quản lý Cụ thể là bằng cách đề ra yêu cầu chotập thể thì người lãnh đạo có thể làm thay đổi hiện trạng tập thể Lúc đầu tập thể chấpnhận mệnh lệnh của người lãnh đạo một cách không thoải mái, miễn cưỡng, gò bó Dầndần trong quá trình thực hiện các thành viên thấy rằng việc thực hiện yêu cầu của ngườilãnh đạo đề ra là trách nhiệm của bản thân Theo thời gian dần dần họ còn thấy đó khôngnhững là trách nhiệm mà còn là một nhu cầu của họ

Người lãnh đạo nào cũng có quyền đề ra những yêu cầu cho tập thể, nhưng trongthực tế không phải mọi mệnh lệnh, mọi yêu cầu nào do người lãnh đạo đề ra cũng có tácdụng như là một biện pháp quản lý tập thể Muốn cho việc ra mệnh lệnh thực sự trở thànhbiện pháp quản lý đòi hỏi người lãnh đạo phải tuân thủ những yếu tố sau:

+Yêu cầu phải chính xác, phải có căn cứ hợp lý, hợp tình và phù hợp với hoàncảnh thực tế của tập thể

+Sau khi đề ra yêu cầu người lãnh đạo phải biết tạo dựng một dư luận lành mạnhtrong tập thể làm chỗ dựa cho yêu cầu của mình

b Kiểm tra:

Trang 11

Người lãnh đạo nào có quyền đề ra những yêu cầu cho tập thể, đồng thời họ cóquyền kiểm tra xem tập thể thực hiện yêu cầu đó như thế nào.

Biện pháp kiểm tra có 2 tác dụng cơ bản sau:

+Biết tập thể lĩnh hội những yêu cầu của mình đề ra như thế nào và đã thực hiện nó

ra sao

+Bất luận trong trường hợp nào kiểm tra có tác dụng kích thích tính tích cực củacác thành viên

Người lãnh đạo nào cũng có quyền kiểm tra cấp dưới, những người lao động giỏi

và người lao động xoàng Việc kiểm tra sẽ rất khác nhau Người lãnh đạo giỏi biết xácđịnh cần kiểm tra vào lúc nào vì kiểm tra quá sớm hoặc quá muộn sẽ không có tác dụng.Người lãnh đạo cần phải xác định rõ người nào cần kiểm tra thường xuyên, người nàothỉnh thoảng mới cần kiểm tra (thí dụ như những người có những phẩm chất tốt nhưngchưa được định hình, chưa ổn định khi gặp người tốt sẽ tốt và ngược lại) Những ngườitích cực, gương mẫu có những phẩm chất tốt đẹp không cần kiểm tra Người lãnh đạo giỏirất ít khi trực tiếp kiểm tra mà sử dụng các tổ chức đoàn thể (công đoàn, ban thi đua,Đoàn thanh niên, Đảng…) để tiến hành kiểm tra

+ Khen và chê đều có tác dụng tốt nhưng khen tốt hơn chê Thí dụ nghiên cứu trên

2 nhóm kỹ sư: mỗi nhóm 3 người có trình độ, sức khoẻ như nhau, làm ở 2 phòng thínghiệm có trang thiết bị như nhau Khi cả 2 nhóm đều có những dấu hiệu mệt mỏi, lúc đónhà nghiên cứu chiếu xuống 2 khẩu hiệu khác nhau cho 2 nhóm “các anh cừ lắm, xứngđáng là những kỹ sư”, “các anh tồi lắm, xuống làm công nhân đi” Kết quả thời gian làmviệc còn lại của nhóm kỹ sư khen làm việc có chất lượng tốt hơn so với nhóm bị phê bình

Các nhà tâm lý học đã khẳng định không chỉ có trẻ em mới có nhu cầu được khen

mà cả người lớn cũng có nhu cầu đó Vì vậy người lãnh đạo không tiếc những lời khen,

nụ cười, một sự cảm ơn, bắt tay đối với những người cấp dưới

+ Khen cũng như chê phải chính xác, công bằng

+ Khen cũng như chê phải tính đến điều kiện hoàn cảnh cụ thể cũng như ảnhhưởng và hậu quả của nó

+ Khen cũng như chê phải tính đến đặc điểm tâm lý cá nhân của từng người đượckhen hay chê

Thí dụ: một người vốn tự cao, tự đại khi được khen thì không nên khen công khai,ban lãnh đạo gọi đến gặp trực tiếp, khen sẽ có tác dụng không gây thêm lòng tự cao tự

Trang 12

đại Khi phê bình người lãnh đạo cũng tuỳ theo cá tính của từng người, người nóng tínhkhông nên phê phán trước tập thể mà phê bình cá nhân.

- Tác động của biện pháp đánh giá đến tập thể và các thành viên trong tập thểthông qua các cơ chế sau:

+ Tạo ra trạng thái tâm lý nhất định ở người được đánh giá (vui, buồn, chán nản, biquan,…), tâm trạng này sẽ chi phối toàn bộ hành vi và hoạt động của họ, ảnh hưởng trựctiếp tới năng suất lao động

+ Sự đánh giá của người lãnh đạo có tác dụng gợi ý cho mỗi cá nhân tự đánh giámình cũng theo chiều hướng như vậy: cá nhân được lãnh đạo đánh giá tốt thì lạc quan,ngược lại được lãnh đạo đánh giá xấu thì bi quan Vì vậy người lãnh đạo cần lưu ýnguyên tắc đánh giá rất nhân đạo, không “bới lông tìm vết”, ưu tiên đề cao mặt ưu điểm.Một nhà tâm lý học phương Tây đã có câu nói rất hình ảnh là: đằng trước mình là bị đựngkhuyết điểm, đằng sau mình là bị điểu khiển Nếu bị khuyết điểm mà nặng thì con ngườiluôn cúi xuống chỉ nhìn thấy chân mình Nếu bị ưu điểm nặng hơn thì con người luônngẩng cao đầu hướng tới tương lai

+ Việc đánh giá ảnh hưởng đến hoạt động tiếp theo của đương sự Do đó đánh giácủa người lãnh đạo có thể làm cho họ thuận lợi hay khó khăn trong hành động của mình

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG TẬP

THỂ LAO ĐỘNG

2.1 Các loại phong cách lãnh đạo

Phong cách lãnh đạo là một hệ thống các phương tiện và phương pháp quản lý ổnđịnh và đặc trưng cho từng người lãnh đạo

Trong thực tế có nhiều kiểu phong cách lãnh đạo, song có thể khái quát thành 3kiểu cơ bản là: dân chủ, tự do và độc đoán

a Kiểu dân chủ:

Kiểu lãnh đạo mang tính chất dân chủ có những đặc trưng cơ bản sau:

+Biết đối xử một cách mềm dẻo, linh hoạt, khéo léo, và tế nhị với mọi người.+Biết tôn trọng và lắng nghe mọi ý kiến của quần chúng

+Biết tạo cho nhân viên của mình luôn có được ý thức tự do trong việc bày tỏ sángkiến, kinh nghiệm và ý kiến của mình Trong quá trình thiết lập các mối quan hệ với nhânviên sẽ không bao giờ có sự áp đặt một cách khiên cưỡng, một chiều và máy móc từ phíalãnh đạo

b Kiểu mệnh lệnh – chuyên quyền:

Kiểu lãnh đạo mang tính chất mệnh lệnh, chuyên quyền có những đặc điểm cơ bảnsau:

Ngày đăng: 25/12/2015, 16:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Một số phẩm chất tâm lí của người lãnh đạo - Tìm hiểu về hoạt độngquản lý tập thể lao động và những vấn đề tâm lý của người lãnh đạo trong tập thể người lao động
Bảng 3 Một số phẩm chất tâm lí của người lãnh đạo (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w