1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch

211 690 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 17,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di sản ghi nhận và thể hiện quá trình phát triển lịch sử lâu dài vốn đã tạo nên bản chất của các thực thể quốc gia, khu vực, bản địa và địa phương và là một bộ phận hữu cơ của đời sống h

Trang 1

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ Bảo tồn di sản văn hóa khu

vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch là do tôi viết và chưa công bố

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa những nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước và có trích dẫn đầy đủ Kết quả nêu trong luận án là trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Hoàng Thị Hoa

Trang 3

MỤC LỤC Trang

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3

DANH MỤC BẢN ĐỒ TRONG LUẬN ÁN 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU VỰC TÂY YÊN TỬ 11

1.1 Cơ sở lý thuyết 11

1.2 Những căn cứ xác định khu vực Tây Yên Tử 32

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án 36

1.4 Hệ thống di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử 42

Tiểu kết chương 1 46

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA KHU VỰC TÂY YÊN TỬ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 47

2.1 Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa tại các điểm tiêu biểu 47

2.2 Thực trạng du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử 62

Tiểu kết chương 2 84

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA KHU VỰC TÂY YÊN TỬ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 86

3.1 Định hướng bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử 86

3.2 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử 95

3.3 Khó khăn và thách thức 113

3.4 Đề xuất và kiến nghị 115

Tiểu kết chương 3 117

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

PHỤ LỤC 139

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1 BCĐ PT DL : Ban chỉ đạo phát triển du lịch

17 UBND : Ủy ban nhân dân

18 UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa

của Liên Hợp Quốc

19 UNWTO : Tổ chức Du lịch thế giới

20 VHTT : Văn hóa thông tin

21 VHTT&DL : Văn hóa thể thao và du lịch

Trang 5

DANH MỤC BẢN ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Bản đồ 1: Kết nối giao thông các di tích……… 71

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác [56] Di sản có nhiều loại, di sản vật thể và phi vật thể ở nhiều dạng thức tồn tại khác nhau từ di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, di sản hỗn hợp với dạng tồn tại đơn lẻ, dạng tồn tại như một khu di sản với những đặc trưng chung Không gian sinh tồn phong phú tồn tại và phát triển trên nhiều địa bàn, địa hình khác nhau Chính vì vậy, cách ứng xử đối với mỗi di sản cụ thể khác nhau và cách thức bảo tồn cho từng loại di sản cũng khác nhau

Văn hóa là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát triển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hóa là một trong những điều kiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Giá trị của những di sản văn hóa: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống… cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hóa nghệ thuật, các bảo tàng… là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho du lịch khai thác và sử dụng Sự khai thác và thu lợi nhuận

từ tài nguyên cùng việc xây dựng các khu điểm du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi trường, điều kiện cho du lịch phát sinh, phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương

Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập cho phép các địa phương tích luỹ và phát triển kinh tế - xã hội; trong đó có văn hóa Nhờ đó các di sản văn hóa được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng mới các cơ sở văn hóa và làm phong phú thêm các giá trị văn

Trang 7

hóa đương đại Chính vì văn hóa và du lịch có mối quan hệ tương tác lẫn nhau như vậy nên văn hóa và du lịch không thể tách rời nhau và càng không thể đối lập nhau

Yên Tử là một dãy núi lớn ở vùng Đông Bắc của miền Bắc Việt Nam, thuộc cánh cung Đông Triều, dài khoảng 80 km, rộng khoảng 50 km Dãy Yên Tử gồm nhiều đỉnh cao, đỉnh cao nhất là khu vực chùa Đồng (cao 1068

m so với mực nước biển) Phía Đông dãy Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh và phía Tây thuộc tỉnh Bắc Giang

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, khu vực phía Đông dãy Yên Tử đã được Chính phủ và tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu, đầu tư, trùng tu, tôn tạo các

di tích lịch sử - văn hóa Đến nay, Yên Tử đã trở thành khu du lịch văn hóa nổi tiếng, thu hút khoảng 3 triệu lượt du khách mỗi năm Du khách đến với Yên Tử không chỉ vì cảnh quan thiên nhiên độc đáo, mà còn bởi nơi đây lưu giữ một hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa gắn với sự ra đời, hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Tương tự với khu vực phía Đông Yên Tử, khu vực phía Tây Yên Tử có cảnh quan thiên nhiên phong phú, có nhiều loại động thực vật quý hiếm Đặc biệt, cách chùa Đồng 2,84 km (dưới chân núi Yên Tử) là khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Ngoài ra, khu vực Tây Yên Tử còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa liên quan tới thời Lý - Trần Đầu tiên phải kể đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đây là ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý, tới thời Trần, nơi đây đã được chọn là trung tâm đào tạo và tu luyện của các tăng đồ Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Nhận thức được những tiềm năng du lịch ở khu vực Tây Yên Tử, năm

2010, tỉnh Bắc Giang đã đề xuất và được Chính phủ cho phép xây dựng ĐT

293 dài 73 km nối từ trung tâm thành phố Bắc Giang tới Khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông (chân núi chùa Đồng - Yên Tử), dự kiến tới năm 2016 hoàn

Trang 8

thành Tuyến đường này sẽ kết nối các điểm di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên khu vực này thành một lộ trình hoàn thiện để đi lên chùa Đồng, Yên Tử Theo tính toán của các nhà chuyên môn, tới năm 2020, khu vực này sẽ thu hút khoảng 2 - 2,5 triệu du khách mỗi năm

Vậy, vấn đề đặt ra cho tỉnh Bắc Giang là cần phải bảo tồn các di sản văn hóa, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và phát triển các dịch vụ để phục vụ du khách tham quan Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đánh giá tổng thể về giá trị của các di sản tại khu vực Tây Yên Tử, cũng như chưa có định hướng bảo tồn hay mô hình quản lý nào cho từng loại hình di sản

nhằm phát triển du lịch tại khu vực này Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài

Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch làm

nghiên cứu của luận án

2 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về di sản văn hóa và du lịch Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử Lấy 3 điểm tiêu biểu làm nghiên cứu: chùa Vĩnh Nghiêm; khu di tích và danh thắng Suối Mỡ; khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông

3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Khu vực Tây Yên Tử cùng với hệ thống di sản văn hóa

vật thể và phi vật thể đa dạng, phong phú Bên cạnh những giá trị văn hóa, lịch sử tiêu biểu, Tây Yên Tử còn là khu vực có nhiều giá trị về sinh thái tự nhiên Trong khuôn khổ của luận án tác giả chọn các điểm nghiên cứu cụ thể: chùa Vĩnh Nghiêm, khu di tích và danh thắng Suối Mỡ, khu bảo tồn sinh thái

Đồng Thông

- Thời gian: Tác giả luận án khảo sát khu vực Tây Yên Tử đã được một

thời gian dài, trong luận án này chúng tôi nghiên cứu từ năm 2010 đến nay Chúng tôi chọn thời gian này nghiên cứu bởi vì từ năm 2010 Chính phủ cho

Trang 9

phép tỉnh Bắc Giang đầu tư kết cấu hạ tầng và lập quy hoạch bảo tồn tổng thể các di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án phân tích, đánh giá các giá trị của di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử, thực trạng bảo tồn di sản văn hóa và phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch, từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử nhằm phát triển du lịch

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các nội dung về lý thuyết, phương pháp luận về di sản văn hóa và phát triển du lịch

- Đánh giá thực tiễn bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử Từ đó xác định tiềm năng để phát triển du lịch của khu vực Tây Yên Tử

- Phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng cách tiếp cận của các bên liên quan trong nghiên cứu khu vực Tây Yên Tử, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước và sự tham gia của cộng đồng vào quá trình này

- Phương pháp tiếp cận liên ngành/đa ngành: Lịch sử, nhân học, văn hóa, du lịch học, văn hóa dân gian, quản lý văn hóa được áp dụng Đặc biệt, trong các thành tố liên ngành, hướng tiếp cận của quản lý văn hóa sẽ giúp các vấn đề nghiên cứu được giải quyết đúng hướng, hiệu quả và toàn diện

- Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, trong

đó có các phương pháp định tính và phương pháp định lượng, một số kỹ thuật của phương pháp này được sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu gồm:

Trang 10

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) nhằm xác định vị trí vai trò của từng điểm trong quá trình phát huy các giá trị di sản trong phát triển du lịch tại địa phương

+ Phương pháp điền dã: Thâm nhập thực tế, quan sát tham dự, ghi chép, chụp ảnh làm rõ những giá trị tiềm ẩn của các di sản nhằm xác định cụ thể vấn đề nghiên cứu, thực trạng nghiên cứu trong nội dung luận án

+ Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu liên quan đến văn hóa và du lịch nhằm phục vụ cho quá trình phân tích các luận điểm được trình bày trong luận án

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia của tỉnh và trung ương về các vấn đề có liên quan đến văn hóa cộng đồng, sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch gắn liền với sản phẩm văn hóa

- Phân tích tổng hợp: Phương pháp này phải dùng nhiều kiến thức khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực để tập hợp các thông tin tài liệu đã thu thập được, xây dựng các vấn đề có liên quan đến lý luận và thực tiễn về cộng đồng, hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp đáp ứng mục tiêu đề ra

6 Đóng góp của luận án

- Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa qua phát triển du lịch Trong đó, gắn bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch với nhiều loại hình di sản, qua các điểm nghiên cứu

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử, đã xác định những di sản có giá trị phát triển du lịch

- Về mặt thực tiễn: Giúp các cấp, các ngành xây dựng các chương trình,

kế hoạch cụ thể nhằm khai thác có hiệu quả từng loại hình di sản Tìm hướng

đi cho công tác phát huy các giá trị di sản văn hóa thông qua phát triển du lịch Kết nối Tây Yên Tử với Đông Yên Tử thành quần thể di tích danh thắng Yên

Tử hoàn chỉnh

Trang 11

7 Bố cục luận án

Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo

(13 trang),Phụ lục (70 trang), Luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu khu vực Tây

Yên Tử (36 trang)

Chương 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn

với phát triển du lịch (39 trang)

Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo tồn di sản văn hóa khu vực

Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch (33 trang)

Trang 12

1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Trong Công ước quốc tế về du lịch văn hóa năm 1999 đã nêu rõ: “Di

sản là một khái niệm rộng lớn gồm cả môi trường thiên nhiên lẫn văn hoá: Bao gồm cảnh quan, các tổng thể lịch sử, các di chỉ tự nhiên và do con người xây dựng và cả tính đa dạng sinh học, các sưu tập, các tập tục truyền thống

và hiện hành, tri thức và kinh nghiệm sống Di sản ghi nhận và thể hiện quá trình phát triển lịch sử lâu dài vốn đã tạo nên bản chất của các thực thể quốc gia, khu vực, bản địa và địa phương và là một bộ phận hữu cơ của đời sống hiện đại”1

Ở nước ta, di sản văn hóa được quy định trong phần nói đầu của Luật

Di sản văn hóa, ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [83]

Điều 1, Luật Di sản văn hóa nói cụ thể hơn: “Di sản văn hóa bao gồm di

sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế

hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [83] Theo cách tiếp cận giá trị văn hóa, di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa, do con người và thiên nhiên tạo nên trong quá khứ Nó là phần tinh túy nhất, tiêu biểu

1

Công ước quốc tế về du lịch văn hóa (được ICOMOS thông qua tại Đại Hội đồng lần thừ 12 ở Mexico, tháng10-1999)

Trang 13

nhất đọng lại sau hàng loạt hoạt động sáng tạo của con người từ thế hệ này qua thế hệ khác Vì tính chất đặc thù của nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian dài, nên di sản văn hóa về phương diện giá trị là đặc biệt bền vững, về số lượng cũng lớn hơn nhiều so với các giá trị của thời hiện tại Bởi vậy, có thể nói di sản văn hóa là một bộ phận quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền văn hóa

1.1.1.2 Quản lý di sản văn hóa

Quản lý văn hóa ở nước ta là quá trình xây dựng đường lối, chính sách

và tổ chức hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu cho văn hóa dân tộc Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhận được

sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước ta Ngay sau khi đất nước giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65-SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam [65] Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị về công tác bảo vệ di sản văn hóa Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã xác định 10 nhiệm vụ quan trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi định hướng và điều tiết quá trình tồn tại, phát triển các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy tốt nhất các giá trị của chúng Đây là lợi ích to lớn nhiều mặt, lâu dài trong cộng đồng dân cư - chủ nhân của các di sản văn hóa đó Đồng thời là trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp hay các tổ chức xã hội, nói cách khác là quản

lý di sản là tổng hòa trách nhiệm của các bên liên quan đến di sản

Thực tế ở nước ta cho thấy quản lý di sản văn hóa là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất cả các cấp độ, các địa phương Công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định vững bền để

Trang 14

tồn tại và phát triển Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu

ấn thời gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá, cho nên chúng ta cần có các biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể giữ gìn lâu dài Đồng thời phải làm cho các di sản đến từ quá khứ phải trở thành một phần quan trọng của đời sống xã hội hiện đại Tất cả các hoạt động đó được coi như công việc thuộc về quản lý di sản văn hóa Tuy nhiên, công tác quản lý di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao giá trị để phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại

Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được đề cập cụ thể tại

điều 54 Luật Di sản văn hóa, gồm 8 nội dung là: 1/ Xây dựng và chỉ đạo thực

hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa; 2/ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 3/ Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; 4/ Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi đưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; 5/ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 6/ Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 7/ Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; 8/ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [83]

Khi bàn về quản lý di sản văn hóa phải xem xét các tác động hai chiều của con người đến di sản văn hóa Không thể bỏ qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, tu bổ, tôn tạo, khai thác, sử dụng di sản văn hóa và phát triển kinh tế có liên quan đến di sản Đối tượng quản lý ở đây không chỉ

là di sản mà bao gồm tất cả các hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa và cả những con người thực hiện các hoạt động đó Vì vậy, trong quản lý

Trang 15

di sản văn hóa người ta luôn quan tâm đến vai trò và trách nhiệm xã hội của toàn thể cộng đồng

Để hiểu rõ bản chất của quản lý di sản theo yêu cầu của UNESCO, chúng ta cũng cần hiểu rõ khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa Có thể hiểu một cách tổng quát, quản lý di sản văn hóa là quản lý các hoạt động của con người, cộng đồng xã hội, là những tác nhân có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới di sản Như vậy, về thực chất quản lý di sản văn hóa cũng là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng cư dân địa phương nơi có di sản, nhằm tạo ra sự đồng thuận về cách thức ứng xử với di sản văn hóa Và quan trọng hơn cả là nhận diện rõ các mặt giá trị nổi bật của di sản, đồng thời đưa ra được những giải pháp thích hợp làm cho các giá trị di sản trở nên thực sự cần thiết, có ích cho hôm nay và mai sau

Quản lý di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các tinh hoa đã được công

bố toàn quốc hoặc những báu vật nhân văn sống, các nghệ nhân, người biểu diễn ít được công nhận và cuối cùng, người trông coi truyền thống, hình thái tôn giáo [92]

Những báu vật nhân văn sống là những cá nhân hoặc nhóm các cá nhân

đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự liên tục của di sản văn hóa phi vật thể và được ghi nhận như người gìn giữ văn hóa quốc gia hoặc quốc tế quan trọng Xét từ góc độ du lịch, số lượng nghệ nhân có thể biểu diễn phục vụ du lịch còn hạn chế Vì vậy, khi làm du lịch văn hóa không dựa vào những người biểu diễn để giải trí cho những khách du lịch là những người có thể biết rất ít

về văn hóa mà họ đang khám phá

Người biểu diễn và nghệ nhân chiến lược quản lý đang được sử dụng

để bảo vệ loại di sản phi vật thể này là thành lập các viện, trung tâm văn hóa, hội trường âm nhạc, công viên, bảo tàng ở đó những người biểu diễn và nghệ nhân có thể được khuyến khích thường xuyên Một hành động quản lý như

Trang 16

vậy cung cấp một số lợi ích cho chính các nghệ nhân, cũng như cho công chúng đi du lịch Những nơi này hình thành trung tâm cho những người có thể

bị phân tán trên một khu vực địa lý rộng lớn Hơn nữa, giá trị của những thứ, những người biểu diễn, nghệ nhân làm được ghi lại có thể được xác nhận lại một lần nữa

Quản lý di sản văn hóa vật thể có thể tóm tắt thành các bước trung gian

cho chương trình quản lý di sản văn hóa vật thể như sau:

1 Nhận dạng, phân loại và cung cấp tài liệu của di sản và các thành tố của nó trong vùng xác định

2 Đánh giá các giá trị văn hóa được gợi ra bằng cơ cấu tự nhiên của di sản

3 Phân tích các cơ hội và hạn chế sẽ có một mối quan hệ tới việc tạo ra chính sách quản lý lần lượt sẽ chỉ đạo việc bảo tồn các giá trị văn hóa của di sản Bước này cũng sẽ bao gồm việc tạo ra 1 bộ tập hợp các kiến nghị hoặc kế hoạch bảo tồn đầy đủ với khung thời gian thực hiện

4 Việc thực hiện các quyết định và kiến nghị được đặt ra sớm hơn trong quá trình này, bao gồm trong đó giám sát những việc đang diễn ra hoặc ghi chép chi tiết trước khi loại bỏ tài sản di sản

Về mặt chiến lược, quản lý di sản văn hóa đặt ra những nhiệm vụ chính phải thực hiện là: Nhận dạng các mặt giá trị tiêu biểu của di sản, tình trạng kỹ thuật, hiện trạng môi trường thiên nhiên và xã hội bao quanh di sản; làm rõ các yếu tố tác động tới di sản theo cả 2 chiều thuận, nghịch để có định hướng kiểm soát được những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng tới sự toàn vẹn và suy giảm giá trị của di sản, nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu các xung đột

có thể xảy ra trong quá trình bảo tồn và phát triển trong khu vực di sản, cũng tức là tạo lập sự cân bằng động giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh

tế - xã hội; truyền thông giáo dục di sản, hình thành thái độ ứng xử có văn hóa cho cộng đồng nơi triển khai các hoạt động liên quan tới di sản Cuối cùng là

Trang 17

huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời đầu tư thỏa đáng nguồn kinh phí của nhà nước cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản

Tất cả các hoạt động xã hội đều hướng đến những mục tiêu nhất định,

do đó công tác quản lý di sản văn hóa nói chung và kế hoạch quản lý di sản thế giới nói riêng cũng phải xác định rõ một số mục tiêu cụ thể là:

- Quản lý di sản văn hóa là nhằm góp phần xây dựng môi trường sống tốt đẹp và lành mạnh - một nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững

- Quản lý di sản văn hóa phục vụ mục tiêu giáo dục, hình thành nhân cách văn hóa, nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

- Quản lý di sản văn hóa nhằm giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước hay giá trị nổi bật toàn cầu của di sản hiện đang được tích hợp trong các di sản văn hóa với tư cách là nguồn tư liệu khoa học nguyên gốc chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho nhân loại hôm nay và mai sau

- Di sản văn hóa với tư cách là tài sản văn hóa, tài nguyên du lịch, nếu được tổ chức tốt và có những loại dịch vụ phù hợp, có thể trở thành điểm đến

du lịch, sản phẩm du lịch hấp dẫn (Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử cũng là ví dụ điển hình) góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững ở từng vùng và phạm vi quốc gia [8; tr.39-43]

Quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thông qua phát triển du lịch là quá trình có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều chuỗi hoạt động tạo ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ du khách Điều này đòi hỏi có sự sâu chuỗi, liên kết của nhiều bên liên quan: nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp

và du khách

1.1.1.3 Quan điểm bảo tồn di sản văn hóa

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo tồn là giữ lại không để mất đi

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức

Trang 18

vốn có của nó [66] Trong nghiên cứu này, đối tượng được bảo tồn là di sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài,

ổn định của di sản văn hóa và được chia làm 2 loại: di sản văn hóa phi vật thể

và di sản văn hóa vật thể

Bảo tồn di sản văn hóa hiện nay đã được các học giả hết sức quan tâm

và có những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận này Ở Việt Nam

và thế giới đã có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề lý luận này Ashworth [140; tr.165-191] đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nước trên thế giới thành ba quan điểm bảo tồn di sản

Bảo tồn nguyên gốc: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn

hóa vật thể của các nhà bảo tàng học Quan điểm này cho rằng các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có Quan điểm này được các nhà bảo tàng học ủng hộ, đặc biệt là nó phù hợp với việc bảo tồn các

di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích và các sưu tập trong bảo tàng

Bảo tồn có sự kế thừa: Quan điểm này thừa nhận sự biến đổi của di

sản, nhưng lại cho rằng mỗi di sản có nhiệm vụ lịch sử ở những không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được phát huy cho phù hợp với nhu cầu thời đại, ngược lại những mặt tiêu cực phải bị loại bỏ Di sản, nhất là di sản văn hóa phi vật thể luôn là một thực thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/tiêu cực; tiến bộ/lạc hậu; tốt/xấu Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu nhận thấy quan điểm này gặp khó khăn ở chỗ cái nào cần kế thừa, cần phát huy, yếu tố nào là thứ yếu và cần loại bỏ

Bảo tồn - phát triển: Quan điểm này không bận tâm với việc tranh cãi

nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại Hạt nhân của quan điểm này là khái niệm “tính chân thực”: Nếu như các quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực là cốt lõi của di sản thì ngày nay người ta lại đánh giá thấp vai trò của tính chân thực này

Trang 19

Chân thực hay không không phải là một giá trị khách quan và độ chân thực được đo bằng trải nghiệm

Tác giả chọn ba quan điểm trên khi xem xét và nghiên cứu các trường hợp trong luận án Theo tác giả, di sản văn hóa vừa là sự kế thừa của các thế

hệ trước cho thế hệ hôm nay vừa là tài sản, là cuộc sống của thế hệ hôm nay truyền lại cho thế hệ mai sau Số ít di sản văn hóa được tiếp nhận từ quá khứ, lưu giữ nguyên vẹn rồi truyền lại cho thế hệ mai sau Hầu hết các di sản văn hóa là được tiếp nhận từ quá khứ, lưu giữ, thực hành, phát huy và truyền lại cho thế hệ mai sau

1.1.2 Phát triển du lịch

1.1.2.1 Khái niệm du lịch

Cùng với sự phát triển của du lịch hiện nay, khái niệm du lịch được

hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét

Vào năm 1942, W Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến [79; tr.9]

Theo Guer Freuler, du lịch là một hiện tượng thời đại của chúng ta dựa trên sự tăng trưởng của nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên

Theo nhà kinh tế Kalíiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức,

do đó tạo nên các hoạt động kinh tế

Theo M.Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh

Trang 20

doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch

Theo quan điểm của Robert W.McIntosh, Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch [79]

Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào tạo hoạt động du lịch bao gồm:

- Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch;

Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc

độ nghiên cứu khác nhau

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Du lịch là tập hợp các hoạt động

tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch

là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được

Trang 21

chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ” [66]

Như vậy, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh:

Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của

con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về

nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế

Luật Du lịch được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa XI năm

2005 đưa ra khái niệm và được hiểu như sau:

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người

ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài

nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu

tham quan của khách du lịch

Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở

cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không

Trang 22

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu

của khách du lịch trong chuyến đi du lịch [84; tr.2]

1.1.2.2 Quản lý nhà nước về du lịch

Theo điều 10, Luật Du lịch, nội dung quản lý nhà nước về du lịch: 1/

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; 2/ Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch; 3/ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; 4/

Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; 5/ Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch; 6/ Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; 7/ Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch; 8/ Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch; 9/ Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch

1.1.2.3 Du lịch văn hóa

Khái niệm về du lịch văn hóa xuất hiện cùng với các câu chuyện của những nhà leo núi ở Himalaya Họ được thăm các khu di tích tôn giáo, tìm hiểu lối sống cộng đồng cư dân và tham dự các lễ hội Cùng với đó là mô hình quản lý linh hoạt của chính quyền cho phép du khách đến các miền đất lạ để khám phá, tìm hiểu nhiều hơn về văn hóa nơi đây Từ đó, du lịch văn hóa với nhiều dạng thức khác nhau từ tham quan di tích lịch sử, thắng cảnh văn hóa, tham dự sự kiện đặc biệt và lễ hội, hoặc tham quan viện bảo tàng đã bắt đầu được công nhận như là một loại sản phẩm du lịch từ cuối những năm 1970 khi các nhà tiếp thị du lịch và các nhà nghiên cứu du lịch nhận ra một số người đi

du lịch để có được một sự hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa hoặc di sản ở một

Trang 23

điểm đến Ban đầu, du lịch văn hóa được coi là một hoạt động chuyên ngành, hoạt động mà được một số ít khách du lịch có điều kiện kinh tế và văn hóa theo đuổi Về sau, du lịch văn hóa trở thành phổ biến và có sức hút đông đảo khách du lịch trong bối cảnh phát triển toàn cầu và dựa trên cơ sở tôn trọng đa dạng văn hóa

Một số quan điểm cho rằng: “Du lịch văn hoá bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hoá hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” (UNWTO)2 “Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng

vì những lợi ích văn hoá - kinh tế - xã hội” (ICOMOS)3

Trong điều 4, Luật Du lịch đã chỉ rõ “Du lịch văn hóa là hình thức du

lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [84]

Ở nhiều nước, nhất là ở Đông Nam Á (theo SEAMEO SPAFA)4

, về mặt lý thuyết, người ta xếp loại hình du lịch văn hoá (cultural tourism) vào loại hình du lịch sinh thái (ecotourism) bởi theo họ, sinh thái học (ecology) cũng bao gồm cả sinh thái học nhân văn (human ecology)

Ở Việt Nam, nhận thấy cảnh quan môi trường tự nhiên với sự đa dạng của các hệ sinh thái (từ núi đồi, cao nguyên, châu thổ đến ven biển, hải đảo và da dạng sinh học) có mối liên quan mật thiết với nhau Người Việt

2 UNWTO: United Nation World Tourism Organization (Tổ chức Du lịch Thế giới)

3 ICOMOS: International Council On Monuments & Sites (Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích)

4 SEAMEO SPAFA: Southeast Asian Ministers of Education Oreanization - Regional Centre for

Archaeology & Fine Arts (Tổ chức các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á về Khảo cổ học và Mỹ thuật)

Trang 24

Nam thích sống hòa hợp với tự nhiên, nên ở Việt Nam đi tham quan thắng cảnh

tự nhiên thường cũng đồng thời là tham quan di tích - di sản văn hoá “Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim tự” [3]

Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với loại hình này chủ yếu là các bản sắc văn hóa, nét đặc trưng khác biệt của nền văn hóa đó, chẳng hạn như những lễ hội truyền thống, những phong tục tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống, lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc… hình thành nên nền văn hóa của người dân nơi mà khách du lịch đến thăm quan Khách du lịch tìm đến du lịch văn hóa để thu nhập thông tin mới, tìm hiểu và trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau Do vậy, du lịch văn hóa gắn bó chặt chẽ với văn hóa bản địa - nơi

có các hoạt động du lịch đang diễn ra

Du lịch văn hóa bao gồm bốn yếu tố chính như sau [92]:

di sản văn hóa - những người có thể nhìn nhận du lịch di sản văn hóa trở thành điểm thu hút du lịch Đây sẽ là nơi thu hút khách tham quan có thể là cục bộ hoặc khách du lịch, những người mà đang đi du lịch chủ yếu có thời gian ngắn và biết rất ít về di sản đang tham quan Những sản phẩm du lịch văn hóa thành công phải được định hướng cho từng loại khách tham quan bằng kiến thức cơ bản

Trang 25

b) Sử dụng tài sản di sản văn hóa

Nội dung chính của du lịch văn hóa là tài sản di sản văn hóa của một cộng đồng hoặc một quốc gia Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ

(ICOMOS) định nghĩa di sản là một khái niệm rộng, bao gồm: di sản vật thể

như môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa, cảnh quan xung quanh, địa điểm lịch sử, các di tích cũng như các di sản phi vật thể như các bộ sưu tập, tập quán văn hóa trong quá khứ và đang tiếp diễn, kiến thức và kinh nghiệm sống (ICOMOS 1999) Những di sản này được xác định và bảo tồn cho các giá trị nội tại của chúng hoặc có ý nghĩa cho cộng đồng hơn các giá trị bên ngoài như là các điểm tham quan du lịch Thực tế, tiềm năng du lịch của di sản hiếm khi được xem xét khi chúng được xác định lần đầu tiên Vào thời điểm này, hầu hết các tài liệu về tầm quan trọng của một di sản tập trung vào giá trị thẩm

mỹ, giá trị kiến trúc, giá trị lịch sử, giá trị tâm linh, còn giá trị giáo dục và giá trị xã hội còn chưa được chú trọng

Một trong những nghịch lý của du lịch văn hóa là một ngành du lịch nhưng lại được quản lý bởi nguyên tắc của quản lý di sản văn hóa Ngoài ra,

di sản văn hóa có thể phục vụ cho vô số nhóm người sử dụng, bao gồm cả khách du lịch hay nhân dân địa phương, “chủ sở hữu truyền thống” và những

cư dân địa phương khác Các nhóm này có thể đánh giá di sản cho những lý

do khác nhau và tìm kiếm lợi ích khác nhau từ việc sử dụng di sản, khiến cho việc giới thiệu di sản một cách phù hợp trở nên khó khăn hơn Những cách tiếp cận cạnh tranh có thể tạo ra mâu thuẫn giữa lợi ích du lịch và lợi ích quản

lý di sản văn hóa

c) Khách du lịch

Du lịch văn hóa phải xem xét đến khách du lịch Khách du lịch văn hóa khuyến khích đi du lịch vì các lí do học hỏi sâu, trải nghiệm hoặc tự khám phá Tuy nhiên, ngoài nhu cầu trên, nhiều khách du lịch văn hóa do tình cờ của chuyến đi hoặc do các yếu tố chi phối khác trở thành du khách

Trang 26

Ngoài ra, loại hình, chất lượng và tính xác thực của thông tin khách du lịch trước khi họ đến với di sản sẽ định hình mong đợi và kỳ vọng của họ trong khi thăm quan Lý tưởng nhất, các nhà quản lý di sản có thể giao tiếp với khách du lịch và truyền đạt chính xác các thông tin cần thiết Trong thực

tế, có nhiều cách tiếp cận trực tiếp đến du khách trước chuyến tham quan và

có thể đóng một vai trò quan trọng trong chuyến đi thực tế

d) Tác động của du lịch

Trong quá trình biến các di sản thành sản phẩm du lịch, sự ảnh hưởng tiêu cực đến di sản là điều tất yếu và du lịch văn hóa không phải là trường hợp ngoại lệ Khách du lịch văn hóa muốn trải nghiệm văn hóa đa dạng, di sản văn hóa phải được chuyển thành các sản phẩm du lịch văn hóa Quá trình chuyển đổi, biến đổi tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch mà các du khách có thể sử dụng không thể thiếu cho sự phát triển bền vững các sản phẩm du lịch văn hóa

Sự phân biệt giữa một di sản văn hóa và một sản phẩm du lịch văn hóa luôn được chú ý Một di sản văn hóa không bị thương mại hóa hoặc di sản sống được xác định bởi các giá trị nội tại của nó Ngược lại, một sản phẩm du lịch văn hóa, đại diện cho một di sản đã bị biến đổi hoặc thương mại hóa thành hàng hóa được phục vụ cho tiêu dùng du lịch Chính vì vậy, những tác động hai chiều của du lịch văn hóa đối với di sản văn hóa như sau:

- Doanh thu từ du lịch có thể trực tiếp cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương

- Truyền sức sống cho văn hóa truyền thống

- Trao đổi văn hóa với khách du lịch có thể dẫn đến sự chấp nhận hơn

về sự khác biệt văn hóa trong xã hội đa văn hóa

Trang 27

- Doanh thu từ du lịch có thể được tái đầu tư vào cung cấp các tài liệu, lập kế hoạch và quản lý tài sản di sản Điều này rất quan trọng đối với tính bền vững của tài sản di sản văn hóa

Các tác động tiêu cực:

- Khi số lượng du khách đông sẽ gây ra sự đông đúc, ồn ào, gây ô nhiễm môi trường, thường gây quá tải tài nguyên được chia sẻ, ví dụ như nước và nhiên liệu

- Phụ thuộc du lịch: Một bộ phận cộng đồng trở nên phụ thuộc vào du lịch, dẫn đến việc mất tính tự chủ và mất các hoạt động theo phong cách truyền thống

- Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch không có kế hoạch: Điều này bao gồm thay đổi tiện nghi của nơi ở cho cộng đồng dân cư địa phương nhằm mục đích thay đổi trải nghiệm của khách du lịch

- Người hưởng lợi hạn chế: Nguồn thu nhập hạn chế cho cộng đồng do thất thoát lãng phí, tạo ra sự chia rẽ và bất mãn trong cộng đồng

- Suy thoái tự nhiên của tài sản: Điều này xảy ra khi không đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình bảo vệ các di sản có nguy cơ bị tổn thương vĩnh viễn, biến mất hoặc không có cách nào chống lại sự ảnh hưởng của văn hóa tiêu dùng; hành vi của người dân địa phương, đặc biệt là giới trẻ, khi họ

từ bỏ phong tục truyền thống ủng hộ nền văn hóa này

1.1.2.4 Du lịch cộng đồng

Khái niệm du lịch cộng đồng có nguồn gốc xuất phát từ hình thức du

lịch tham quan làng bản Các chuyến du lịch thường diễn ra ở các bản làng xa xôi, hẻo lánh, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ khó khăn Khách du lịch cần đến sự tham gia, giúp đỡ của người dân địa phương Sau này, du lịch cộng đồng ngày càng phát triển rộng rãi ra nhiều nước trên thế giới

Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch cộng đồng, tuy nhiên chưa có khái niệm chính thức Khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt tùy thuộc

Trang 28

mục đích, địa điểm nghiên cứu của từng tác giả Theo nhà nghiên cứu McKercher và Hilary: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế

có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [92]

Viện nghiên cứu Phát triển Miền núi (The Mountain Institute) đưa ra khái niệm về du lịch cộng đồng như sau: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển của du lịch bền vững dài hạn Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng” [101]

Theo Võ Quế, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển dựa vào những giá trị tự nhiên và nhân văn của cộng đồng địa phương, có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân nhằm đem lại lợi ích cho chính cộng đồng Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương Hiện nay, du lịch cộng đồng có nhiều tên gọi khác nhau như: Community - Based Tourism (du lịch dựa vào cộng đồng); Community Development in Tourism (Phát triển cộng đồng trong du lịch); Community Based Ecotourism (Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng); Community Participation in Tourism (Du lịch

có sự tham gia của cộng đồng); Community Based Mountain Tourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng) [101; tr.51]

Ở Việt Nam, vấn đề phát triển du lịch cộng đồng được đưa ra tại một số hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm vào những năm 90 của thế kỷ XX Các chuyên gia đã khái quát một số nội dung về phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam Phát triển du lịch cộng đồng phải đảm bảo về văn hóa, thiên nhiên bền vững; có sở hữu cộng đồng; nâng cao nhận thức cho cộng đồng về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường tự nhiên,

Trang 29

các di sản văn hóa của địa phương trong thời hội nhập; tăng cường quyền lực cho cộng đồng

Tuy tên gọi khác nhau nhưng giữa các khái niệm đều có một số vấn đề

cơ bản giống hoặc tương đồng về phương pháp tổ chức, địa điểm, mục tiêu, vị trí phát triển du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng được quy hoạch và được quản lý trên cơ sở những nguyên tắc phát triển của mình sẽ tạo được mối quan hệ cộng sinh với môi trường Vì vậy, việc nhận thức và đánh giá một cách đầy đủ những lợi ích lâu dài, nhiều mặt trong quy hoạch phát triển du lịch là rất cần thiết

Trải qua thời gian, nhiều vấn đề quan trọng, cần thiết cho những người quan tâm đến du lịch cộng đồng cũng đã dần được làm sáng tỏ hơn, bao gồm:

- Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển du lịch cộng đồng ở các khu vực chủ yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách

- Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết phải bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống nhằm bảo tồn đa dạng văn hóa

- Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát triển hoạt động du lịch cộng đồng ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường

- Cần đảm bảo các quyền lợi truyền thống của cộng đồng và quyền lợi của địa phương ở những khu vực thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng

Mô hình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với du lịch cộng đồng cần chú trọng việc xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty

du lịch và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế địa phương phát triển du lịch, BQL du lịch cộng đồng cần phải chủ động, không ngừng tăng cường hợp tác quảng bá và xúc tiến thương mại cho tour du lịch làng nghề tại địa phương mình đối với các nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau, ví dụ như trường học, các tổ chức đoàn thể xã hội như thanh niên, phụ nữ… ở các địa phương khác

Trang 30

Bên cạnh đó, phát triển các sản phẩm, dịch vụ độc đáo đề cao giá trị văn hóa truyền thống của địa phương nhưng thích ứng với điều kiện của khách du lịch

Những năm gần đây, du lịch cộng đồng phát triển một cách nhanh chóng Tuy nhiên, kéo theo đó là không ít mặt trái, trong đó, đáng báo động là nhiều nét văn hóa truyền thống đang mất đi Thực tế, nếu không có nhân dân

và các doanh nghiệp cùng tham gia, chính quyền làm thật nhiều lễ hội cũng không dễ đạt được mục đích du lịch cộng đồng đúng nghĩa Vì thế phải biết lấy các sinh hoạt cộng đồng đậm nét văn hóa làm chất liệu để xây dựng sản phẩm lâu dài, xây dựng các tour du lịch phong phú Việc công nhận các tuyến, điểm du lịch đã tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị kinh doanh xây dựng tour du lịch, sản phẩm du lịch, từ đó giới thiệu, quảng bá tới du khách trong và ngoài nước Bên cạnh đó, đây cũng là điểm đến mời gọi các nhà đầu tư đến tìm hiểu

cơ hội và tiềm năng về lĩnh vực du lịch của địa phương

1.1.2.5 Điểm đến du lịch hấp dẫn

Trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển du lịch, đang tồn tại xu hướng phát huy giá trị di sản văn hóa thành các điểm du lịch hấp dẫn Trong thực tế, các sản phẩm du lịch khác nhau sẽ thu hút sự chú ý của du khách cũng khác nhau Một số sản phẩm du lịch được sự chú ý nhiều của du khách sẽ thu hút nhiều du khách từ những nơi xa đến Ngược lại, sẽ có

ít du khách tới thăm khi sản phẩm du lịch kém hấp dẫn Vì vậy, trong quản lý

du lịch, có phương hướng xây dựng điểm đến hấp dẫn và được phân loại như sau: điểm chính, điểm thứ cấp và điểm phụ Các điểm thu hút chính là rất quan trọng cho hầu hết các điểm đến, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hình ảnh và tác động tới mức độ tham quan Đối với điểm thu hút thứ cấp và điểm phụ, với mỗi địa phương có thể là các điểm du lịch quan trọng Phương hướng phát triển du lịch có đưa ra nội dung phát triển điểm đến

du lịch văn hóa hấp dẫn với các nội dung chủ yếu như sau: 1/ Xây dựng một

Trang 31

điểm thu hút chính; 2/ Liên kết các điểm tham quan ít hơn với nhau; 3/ Tạo ra những khu du lịch; 4/ Phát triển tuyến du lịch; 5/ Sử dụng các sự kiện

1.1.3 Mối quan hệ giữa quản lý du lịch và quản lý di sản văn hóa

Đây là mối quan hệ hợp tác hay đối đầu? Ở nhiều trường hợp hay nhiều giai đoạn mối quan hệ giữa quản lý du lịch và quản lý di sản văn hóa có những giá trị chung hoặc tương tự nhau Mặt khác, xung đột hoặc có khả năng xung đột xuất hiện các quan điểm xa rời mục tiêu của hai bên Theo thời gian, nếu các xung đột không được giải quyết, chúng có xu hướng mở ra một cuộc tranh luận không có hồi kết Qua nghiên cứu, giữa quản lý du lịch và quản lý văn hóa có thể xảy ra 7 mối quan hệ:

Quan hệ hợp tác để đạt các mục tiêu quản lý đã được xác định và nhận

được sự đồng ý của tất cả các bên đó là các nhu cầu kinh tế của ngành du lịch cùng với những ý tưởng quản lý di sản văn hóa được đảm bảo; hệ thống phân cấp quyền lực, quản lý rõ ràng để đảm bảo cho cả hai mục tiêu có thể đạt được một cách cân bằng

Các mối quan hệ công việc là mối quan hệ tôn trọng lợi ích hợp pháp

của nhau, tuy có sự khác biệt, nhưng họ cũng chia sẻ nhiều điểm chung Theo thời gian, một mối quan hệ công việc phát triển để thực hiện một số thích ứng của tình hình mới Cơ cấu quản lý được đưa ra để không mất mối quan hệ đã phát triển đó

Sự chung sống hoà bình có thể tồn tại khi cả hai bên chia sẻ nguồn tài

nguyên này nhưng cảm thấy ít cần phải hợp tác Loại tình trạng này rất có thể xảy ra khi mức độ thăm quan thấp hoặc khi số lượng lớn khách du lịch tiêu thụ sản phẩm theo cách khiêm tốn

Sự tồn tại song song xảy ra khi du lịch và quản lý di sản văn hóa hoạt

động độc lập và khách du lịch có ít quan tâm tới di sản văn hóa điểm đến Những tình huống này có nhiều khả năng xảy ra ở những nơi mà ít hoạt động

du lịch tồn tại hoặc khi hoạt động đó được tập trung xung quanh các vấn đề

Trang 32

khác của một điểm đến, chẳng hạn như bãi biển, khu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí ngoài trời hoặc chơi game Du lịch văn hóa không được coi là một phần thuộc tính sản phẩm của khu vực, không được quảng bá và ít di sản được sử dụng

Sự gây phiền phức có thể dẫn đến một tình trạng xung đột sau này, xảy

ra khi các hành động của một nhóm các chủ thể này can thiệp vào mục tiêu mong muốn của chủ thể khác

Xung đột mới sinh là một bước giữa sự gây phiền phức và xung đột đầy

đủ Các hành động của một chủ thể có ảnh hưởng xấu đến những chủ thể khác Tuy nhiên, các vấn đề phát sinh thách thức có thể dễ dàng được giải quyết Xung đột mới sinh sẽ xuất hiện khi một hệ thống ổn định được đẩy ra khỏi tình trạng ngưng trệ do các yếu tố bên ngoài

Quy mô đầy đủ, xung đột mở có thể xuất hiện giữa chủ thể di sản và chủ

thể du lịch Xung đột rất hay xảy ra khi sự khác biệt thực sự hay nhận thức tồn tại giữa các bên và họ xem xét di sản như thế nào, các mối đe dọa đến tiếp cận thị trường, phong cách hoạt động khác biệt, hay sự khác biệt về mong muốn và động cơ của người tham gia để theo đuổi một hoạt động cụ thể

Có thể thấy, hiện nay du lịch văn hóa không được ngành quản lý di sản văn hóa chú ý đúng mức Trong thực tế, sự phát triển của du lịch văn hóa cần thiết phải nhận được sự bảo vệ di sản văn hóa nhiều hơn Tuy nhiên, du lịch văn hóa được coi là một con dao hai lưỡi của quá trình quản lý di sản văn hóa Một mặt, nhu cầu gia tăng của khách du lịch là cơ hội để mở rộng hoạt động bảo tồn Mặt khác, mức độ tham quan tăng, lạm dụng, sử dụng không phù hợp

và thương mại hóa di sản là mối đe dọa thực sự đối với tính toàn vẹn và trong trường hợp đặc biệt, mối đe dọa đến sự sống còn của di sản

Do đó, sự phát triển du lịch văn hóa và vấn đề quản lý di sản văn hóa luôn phải đặt song song với nhau Ở quy mô lớn, cả hai ngành này ít có mối liên hệ khăng khít với nhau Thay vào đó, du lịch văn hóa có thể và phải đạt

Trang 33

được cả hai mục tiêu về quản lý di sản văn hóa và quản lý du lịch (thị trường hấp dẫn, khả năng thương mại của sản phẩm) Về lý thuyết, mục tiêu này được hỗ trợ rộng rãi bởi cả hai ngành Trên thực tế, theo đuổi một mục tiêu này thì phải loại bỏ hoặc từ bỏ từng phần của mục tiêu kia Và hệ quả là hoạt động du lịch văn hóa làm tổn hại đến tính toàn vẹn di sản hoặc ngược lại

1.2 Những căn cứ xác định khu vực Tây Yên Tử

Yên Tử xưa còn có tên là Tượng sơn (núi Voi), Bạch Vân sơn (núi Mây Trắng), Phù Vân sơn (núi Mây Nổi), Linh sơn (núi Thiêng) Trong những danh sơn nước Việt, Yên Tử được coi là nơi kết hợp hài hòa và hấp dẫn bởi hai mặt: cảnh đẹp kỳ bí của thiên nhiên và chiều sâu lịch sử dân tộc Trong vẻ đẹp hùng vĩ và hoang sơ, núi rừng gắn với cõi thiền xưa, nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Nơi đây còn in đậm dấu tích lịch sử và di tích văn hóa gắn với sự ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và hệ thống lăng mộ các vua Trần

Từ khi hình thành, trải qua nhiều năm tháng, thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử ngày càng thu hút được nhiều phật tử vào những năm đầu của thế kỷ XIV,

có năm lên tới 1.500 người Nên việc xây dựng những chùa, miếu, am, thiền viện để phục vụ sinh hoạt tôn giáo được xây cất ở nhiều nơi Tuy nhiên, do thời gian xây dựng cách đây quá lâu (thế kỷ XIII - XIV) lại thêm thiên nhiên

Trang 34

khắc nghiệt, nên những di sản này cái còn cái mất, chỉ còn lại dấu tích Mặc

dù vậy, những dấu tích này minh chứng đã có một thiền phái từng hiện hữu như một chốn Tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Hiện nay, hệ thống chùa, miếu, am, thiền viện phân bố ở không gian Yên Tử gồm có:

Tỉnh Quảng Ninh: Chùa Đồng, chùa Bảo Sái, chùa Một Mái, chùa

Tiêu, chùa Hoa Yên, Ngự Dược am, Tử Tiêu am, Thạch thất, Ngộ Ngữ viện, chùa Long Động, chùa Giải Oan, chùa Lân, chùa Cầm Thực, chùa Tú Lâm, chùa Hồ Thiên, am/chùa Ngọa Vân, chùa Quan Âm, chùa Quỳnh Lâm, chùa Chân Lạc, chùa Ngũ Đài Sơn, chùa Bắc Mã,

Tỉnh Bắc Giang: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Hồ Bấc, chùa Bình Long,

chùa Cao, chùa Hang Non, chùa Hòn Tháp, chùa Yên Mã, chùa Hang Dong, chùa Ổ Lợn, chùa Am Vãi, chùa Đồng Vành, chùa Chỉ Tác,

Tỉnh Hải Dương: Đền, chùa Côn Sơn - Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai,

chùa Thời Lời, Ngũ Đài, Đá Bạc, chùa Dạo, chùa Mít, chùa Kỳ Lân,…

Có thể thấy Tây Yên Tử (Bắc Giang) là một phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Trong đó Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quan trọng và độc đáo của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử minh chứng rằng những giá trị văn hóa tinh thần từng ngự trị ở nơi đây

Tây Yên Tử là một dải núi kéo dài qua 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang Với diện tích 2680,32 km2, dân số khoảng 639 nghìn người (năm 2014) với 13 dân tộc sinh sống, trong đó chủ yếu

là dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Dao, Sán Chí Cùng với phía Đông dãy Yên Tử, đây là nơi hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, từ

đó dần tạo nên hệ thống di sản văn hóa đa dạng và phong phú với hệ thống các

di tích thời Lý - Trần Bên cạnh những giá trị văn hoá, lịch sử tiêu biểu, Tây Yên

Tử còn là khu vực có nhiều giá trị về sinh thái tự nhiên Đây là vùng có địa hình cao cùng hệ thống những khu rừng nguyên sinh tự nhiên đa dạng tiếp giáp với

Trang 35

các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương Tuy là địa bàn miền núi, song Tây Yên Tử nằm ở vùng có điều kiện khá thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các huyện trong tỉnh, cũng như các tỉnh thành lân cận như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương, Lạng Sơn Nơi đây phân ra làm hai vùng rõ rệt, đó

là địa hình đồi núi thấp và địa hình miền núi chia cắt mạnh

Địa hình đồi núi thấp: Bao gồm của các huyện Lục Nam, Yên Dũng và một phần của huyện Lục Ngạn, chủ yếu là địa hình đồi và núi thấp Phần còn lại dọc các sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam thường có dạng đồi thấp có độ cao từ 15 đến 30 m Có nhiều đồng bằng dọc các tuyến sông được bồi đắp phù sa, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Khu vực còn lại bao gồm huyện Sơn Động và một phần huyện Lục Ngạn, có đặc trưng miền núi, bị chia cắt mạnh Hướng dốc chính từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ dốc khá lớn (bình quân 250), độ cao trung bình lớn, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử 1.068m và các đỉnh Bảo Đài 875 m, Ba Nồi 862 m (đều thuộc dãy Yên Tử), có các cánh đồng nhỏ hẹp nằm xen kẽ với các dải

đồi núi Diện tích tự nhiên chủ yếu là đất rừng

Trong vùng có ba dòng sông chảy qua là sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam với chiều dài khoảng 130 km Các con sông này có lượng nước dồi dào quanh năm, không chỉ cung cấp nước tưới cho nông nghiệp mà còn phục vụ việc đi lại đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hoá, thông thương hàng hoá, phát triển du lịch

Diện tích rừng trong khu vực chiếm khoảng trên 60% Trong đó chủ yếu diện tích rừng đặc dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và một phần là rừng trồng kinh tế chủ yếu là các loại cây bản địa và các loại gỗ quý như: Lim, Lát, Pơmu, Dẻ,…

Về động vật: Trước đây, rừng Sơn Động có rất nhiều loài thú quý hiếm như: Hổ, báo, hươu, nai, gấu,… Hiện nay, do rừng bị khai thác nhiều và do con người săn bắn nên chỉ còn lại một số loài như: Khỉ, nai, lợn rừng, tắc kè,

Trang 36

- Thông báo số 162/TB-VPCP ngày 14/6/2010 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, về việc cho phép tỉnh Bắc Giang lập quy hoạch di tích và danh thắng Tây Yên Tử

- Công văn số 10766/VPCP-KGVX ngày 20/12/2013 của Văn phòng Chính phủ về việc lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử là Di sản thế giới

- Quyết định số 855/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch sinh thái Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang

- Quyết định số 223/QĐ-UBND ngày 20/6/2011 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch vùng bảo tồn tổng thể di tích và danh thắng Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang

- Quyết định số 105/QĐ-UBND ngày 29/01/2013 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt quy hoạch vùng bảo tồn tổng thể hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang

Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng mở đường cho các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử, đặt nền móng cho việc khởi động một loạt các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản trên địa bàn

Trang 37

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án

1.3.1 Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa và quản lý di sản văn hóa và du lịch

Vấn đề bảo tồn di sản gắn với phát triển trong bài viết Vấn đề bảo tồn

và phát huy giá trị lễ hội truyền thống - thảo luận về một số khái niệm cơ bản,

Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và nhà nước trong quá trình bảo tồn và phát huy được giá trị của di sản, trong đó vai trò to lớn của nhà nước có tính chất quyết định, điều tiết, quản lý việc bảo tồn và đề ra các chính sách vĩ mô cho công tác bảo tồn di sản Đồng thời “Bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa là trách nhiệm trước hết của cộng đồng” [71] Bên cạnh đó, nhằm phát huy di sản trong quá trình xây dựng đất nước thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, Nguyễn Chí Bền cho rằng sự “sáng tạo truyền thống không có nghĩa là phủ định bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, mà chúng cần hỗ trợ cho nhau và làm giàu cho nhau Trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, hai hoạt động sáng tạo truyền thống và bảo tồn di sản phải được chú trọng như nhau” [26] Có thể hiểu đây là mô hình bảo tồn di sản dựa vào hai yếu tố: sáng tạo, sử dụng di sản phải đồng thời bảo tồn được di sản

Trong Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích, Đặng Văn Bài

cho rằng “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di tích cụ thể Mục tiêu đặt ra là phải gắn di tích với đời sống đương đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập

quốc tế” [5; tr.35-38] Như vậy, lựa chọn mô hình bảo tồn di sản phải gắn liền với phát triển bền vững đối với từng vùng, từng khu vực nhất định

Thực tế cho thấy phát triển du lịch nhất là du lịch văn hóa dựa trên phát huy giá trị di sản là việc làm khó khăn và phức tạp Điều này phụ thuộc nhiều vào yếu tố kinh tế xã hội của từng địa phương, bên cạnh đó chính quyền đóng

Trang 38

vai trò quan trọng trong tiến trình này Ngoài di tích nguyên gốc, người ta đã tạo dựng nhiều loại hình dịch vụ văn hóa kèm theo, ví dụ như đền tưởng niệm Bến Dược ghi danh các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước để bảo vệ “Vùng đất thép Củ Chi” - cửa ngõ Sài Gòn xưa Tạo ra “hạt nhân tín ngưỡng mới” tại di tích cách mạng và kháng chiến là sự đột phá mang tính sáng tạo trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Lựa chọn mô hình, cách làm thích hợp để phát huy hết tiềm năng của khu vực Tây Yên Tử là một vấn đề cần nghiên cứu cụ thể

Trong báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học “Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại” [6], Đặng Văn Bài cho rằng giải quyết thật thoả đáng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng là vấn

đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập như Việt Nam

Nguyễn Quốc Hùng trong Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa -

thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước ta [68] cho rằng ngành văn hóa

và chính quyền địa phương phải tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thống nhất tổ chức bộ máy quản lý, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Một điều ai cũng biết nhưng ít khi thực hiện, hoặc nói cho có lệ rồi bỏ qua, nói xong mọi việc đâu lại hoàn đó Đó là cần nhìn nhận đánh giá lại các mặt tích cực và tiêu cực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản thế giới phục vụ phát triển và ngược lại tác động của quá trình phát triển đối với di sản, rút ra các bài học kinh nghiệm Phát huy mặt tích cực, hạn chế tiến tới kiểm soát hoàn toàn những tác động tiêu cực

Trong Vai trò của các di sản văn hóa với sự phát triển của du lịch Việt

Nam của Trương Quốc Bình [33]; Bảo tồn và quản lý di sản thế giới trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững của Nguyễn Văn Bình [32]; Khai thác

di sản văn hóa như một tài nguyên du lịch của Nguyễn Thế Chính [40]; Quản

Trang 39

lý di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch của Trịnh Ngọc Chung [42]; Hoạt động lữ hành với việc khai thác và bảo vệ di sản văn hóa Hà Nội của Đinh

Trung Kiên [76]; Du lịch với việc giữ bản sắc văn hóa dân tộc của Lê Hồng

Lý [88]; Về nội hàm văn hóa du lịch của Bùi Thanh Thủy [115],… các tác giả

này có chung quan điểm về di sản là tài nguyên phát triển du lịch, bên cạnh đó quản lý di sản sao cho hợp lý và khoa học, gắn di sản với phát triển du lịch bền vững được các tác giả nhận định và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao ý thức của người dân trong giữ gìn và bảo vệ di sản, đồng thời góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư tại nơi có di sản

1.3.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Yên Tử và khu vực Tây Yên Tử

Năm 2005, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang cho ấn hành Di sản văn hóa Bắc

Giang bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc [19] Đây là tập

hợp các bài nghiên cứu về di sản văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Các nhà nghiên cứu đã giành nhiều năm nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của văn hóa tộc người ở Bắc Giang và cũng có những đánh giá, khuyến nghị cho công tác bảo tồn và phát huy hữu hiệu những di sản mà tỉnh hiện có

Sau đó, năm 2006, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tiếp tục ấn hành cuốn Di

sản Văn hóa Bắc Giang về Văn hóa phi vật thể [20] Có thể nói, tám chương

của cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu về văn hóa phi vật thể tại địa phương này Từ dòng họ, khoa bảng cho đến phong tục tập quán, tri thức dân gian, văn nghệ dân gian và nghệ thuật điêu khắc dân gian đều được khảo cứu bài bản mang nhiều giá trị về văn hóa Trên cơ sở đó, việc nhận dạng rõ nét diện mạo văn hóa Bắc Giang nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bản tỉnh miền núi giúp cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách đúng đắn

Trang 40

Năm 2006, cuốn Địa chí Bắc Giang: Lịch sử và văn hóa [4] của

Nguyễn Quang Ân, Ngô Văn Trụ (chủ biên) do Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang và Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam xuất bản đã khái quát quá trình hình thành và phát triển của Bắc Giang về lịch

sử và văn hóa xã hội Trong chương V phần di tích - danh thắng có nêu vị trí

và vai trò của các di tích - danh thắng được xếp hạng Trong đó có một loạt địa danh như Suối Mỡ, chùa Vĩnh Nghiêm, Thổ Hà, Bổ Đà, rừng nguyên sinh Khe Rỗ là những điểm hấp dẫn du khách tham quan Nổi bật là khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử thuộc các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động Ngoài ra, ba con sông lớn chảy qua tỉnh Bắc Giang đều gắn với quê hương

“sông Lục, núi Huyền” là sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu - đó là những thắng cảnh đẹp

Cũng trong năm 2006, Bắc Giang cho ấn hành cuốn sách Dân ca Cao

Lan [124], loại hình văn hóa phi vật thể được người già đến thanh niên, trẻ

nhỏ, ai cũng say mê, đó là Sịnh ca Bởi nó không chỉ là những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn là những bài hát ca ngợi sản xuất, hát “phụng” Thổ công và Thần Nông, hát mừng nhà mới, hát ru con, hát đố, hát ghẹo,… Qua những làn điệu dân ca này, người Cao Lan có thể gửi gắm những tâm tư, tình cảm với nhau, những ước mơ, nguyện vọng của người lao động với thiên nhiên và thần linh Mỗi khi có dịp gặp nhau, người Cao Lan hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làng bản Những lúc lao động vất vả, mệt nhọc, họ thường cất lên tiếng hát ca ngợi tinh thần lao động, cầu chúc những vụ mùa tươi tốt Khi trai gái làm quen hay bén duyên nhau, họ hát những làn điệu dân ca để ngỏ ý giao duyên và hẹn ước

Năm 2007, cuốn Văn hóa phi vật thể huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

[91] được ấn hành Trong số 30 bài viết đã khái quát những đặc điểm chung

và riêng về điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn hóa dân gian, nếp ăn, ở, ứng xử,… của cộng đồng các dân tộc ở huyện Lục

Ngày đăng: 25/12/2015, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Antonio Machdo (2003), “Du lịch và phát triển bền vững”, tài liệu dịch, trong dự án Xây dựng năng lực cho phát triển du lịch ở Việt Nam, VNAT và FUNDESO, Hà Nội, tr.237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và phát triển bền vững”, tài liệu dịch, trong dự án "Xây dựng năng lực cho phát triển du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Antonio Machdo
Năm: 2003
2. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam Văn hóa sử cương, Tái bản, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
3. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2011), Giáo trình du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ
Tác giả: Trần Thúy Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
4. Nguyễn Quang Ân, Ngô Văn Trụ (chủ biên)(2006), Địa chí Bắc Giang: lịch sử và văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang và Trung tâm Unesco thông tin tƣ liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Bắc Giang: "lịch sử và văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quang Ân, Ngô Văn Trụ (chủ biên)
Năm: 2006
5. Đặng Văn Bài (1995), “Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2, tr 35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 1995
6. Đặng Văn Bài (2007), “Báo cáo đề dẫn”, Hội thảo khoa học Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại, ngày 16/1/2007, tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề dẫn”, Hội thảo khoa học "Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2007
7. Đặng Văn Bài (2013), “Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trong chiến lƣợc phát triển văn hoá đến năm 2020”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (346), tr 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trong chiến lƣợc phát triển văn hoá đến năm 2020”, "Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2013
8. Đặng Văn Bài (2015), “Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - một di sản văn hóa thế giới mang tính liên vùng”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (374), tr 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - một di sản văn hóa thế giới mang tính liên vùng”, "Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2015
9. Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn (2006), Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng
Tác giả: Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2006), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, in tại nhà in Báo Bắc Giang, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Năm: 2006
11. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, in tại nhà in Báo Bắc Giang, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Năm: 2011
13. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
15. Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015 (2015), Báo cáo kết quả chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2011-2015; Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020, UBND tỉnh Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2011-2015; Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015
Năm: 2015
16. Ban Khoa giáo Trung ƣơng (2002), Các văn bản của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ (1981-2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ (1981-2001)
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Quảng Ninh (2013), Kỷ yếu Hội thảo: Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay, tháng 12 - 2013, tại Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo: "Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay
Tác giả: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Quảng Ninh
Năm: 2013
18. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa, Xưởng in tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Năm: 2003
19. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang (2005), Di sản văn hóa Bắc Giang bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa Bắc Giang bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc
Tác giả: Bảo tàng tỉnh Bắc Giang
Năm: 2005
20. Bảo tàng Bắc Giang (2006), Di sản Văn hóa Bắc Giang về Văn hóa phi vật thể, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Văn hóa Bắc Giang về Văn hóa phi vật thể
Tác giả: Bảo tàng Bắc Giang
Năm: 2006
21. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang (2011), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Lý - Trần tỉnh Bắc Giang”, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Lý - Trần tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Bảo tàng tỉnh Bắc Giang
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2011
22. Trần Lê Bảo (2015), “Yên Tử - cảnh quan văn hóa tâm linh”trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, tr 113-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yên Tử - cảnh quan văn hóa tâm linh”trong Kỷ yếu hội thảo khoa học "Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể di tích và danh thắng Yên Tử
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử văn hóa - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
Bảng 2 Cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử văn hóa (Trang 146)
Bảng 3: Những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động  du lịch ở Tây  Yên Tử - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
Bảng 3 Những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch ở Tây Yên Tử (Trang 147)
Bảng 4: Lƣợng khách du lịch đi theo điểm du lịch Tây Yên Tử năm 2014 - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
Bảng 4 Lƣợng khách du lịch đi theo điểm du lịch Tây Yên Tử năm 2014 (Trang 147)
Bảng 5: Lƣợng khách du lịch đi theo tuyến du lịch Tây Yên Tử năm 2014 - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
Bảng 5 Lƣợng khách du lịch đi theo tuyến du lịch Tây Yên Tử năm 2014 (Trang 147)
Bảng 6: Chi tiêu trung bình của du khách tại Suối Mỡ năm 2014 - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
Bảng 6 Chi tiêu trung bình của du khách tại Suối Mỡ năm 2014 (Trang 148)
Hình ảnh chùa Đồng (Yên Tử) nhìn từ Đồng Thông (Sơn Động, Bắc Giang) - Bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch
nh ảnh chùa Đồng (Yên Tử) nhìn từ Đồng Thông (Sơn Động, Bắc Giang) (Trang 210)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w