Qua thực tế, một số vấn đề mới trong day học bộ môn như "giáo dục tích hợpliên môn trong dạy học Địa lí" giáo viên chưa được cập nhật, hay nhiều giáoviên dạy bộ môn địa lí của các trường
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG BÌNH
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
MÔN ĐỊA LÍ CẤP THPT
Năm học: 2013-2014
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện công văn số 3670/ BGD ĐT-NGCBQLGD ngày 30/5/2013 của BộGiáo dục và Đào tạo và công văn số 698/SGDĐT-GDCNTX ngày 16/4/2013của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình về Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyênnăm học 2013 -2014, nhóm biên soạn chúng tôi xây dựng bộ tài liệu với các chủ
đề dựa trên tình hình thực tế và thực trạng dạy học môn Địa lí của các trườngTHPT trong tỉnh
Qua thực tế, một số vấn đề mới trong day học bộ môn như "giáo dục tích hợpliên môn trong dạy học Địa lí" giáo viên chưa được cập nhật, hay nhiều giáoviên dạy bộ môn địa lí của các trường THPT vẫn chưa thống nhất về tiến trìnhdạy bài thực hành hoặc chưa vận dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào dạyhọc địa lí, do vậy chúng tôi đã thống nhất biên soạn bộ tài liệu với ba chủ đề,bao gồm:
1 Tích hợp kến thức liên môn trong dạy học Địa lí
2 Phương pháp dạy bài thực hành trong chương trình Địa lí cấp THPT
3 Kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Địa lí
Trong qúa trình biên soạn, các tác giả đã có nhiều cố gắng, song không thểtránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của cácthầy giáo, cô giáo để tài liệu được hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
Trang 4CHUYÊN ĐỀ I: TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ
Trong từ điển Tiếng Việt chưa có từ “tích hợp”, còn trong từ điển Anh - Việt
“tích hợp” (Integration) được hiểu là: Sự hợp lại, hoặc bổ sung thành một hệ thống thống nhất; sự hợp nhất; sự hoà hợp với môi trường
Vận dụng nghĩa, “tích hợp trong giáo dục” được hiểu theo 2 nghĩa:
- Sự gắn kết các nội dung của một số môn học để tạo thành một thể thống nhất
mới như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học trái đất,…
- Sự bổ sung vào thành thể thống nhất theo nghĩa làm thêm một việc nào đó khi
tiến hành làm việc chính Ví dụ, trên cơ sở thực hiện các nội dung môn học đã có, bổ
sung thêm các yêu cầu của giáo dục môi trường, giáo dục dân số sức khoẻ sinh sản,…
Khái niệm tích hợp được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực giáo
dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kỳ khai sáng (thế kỉ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hoà, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học, thí dụ : lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường vào nội dung các môn học Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân,
1.2 Mức độ thực hiện tích hợp
Tích hợp trong giáo dục đã trở thành quan điểm phổ biến Tuy nhiên mức độ thực hiện thì rất khác nhau Theo d’Hainaut (1977, xuất bản lần thứ 5, 1988), có thể chấp nhận bốn quan điểm khác nhau đối với các môn học để thực hiện mục tiêu giáo dục đồng thời cũng phản ánh bốn mức độ thực hiện tích hợp môn học như sau:
- Quan điểm tích hợp “trong nội bộ môn học”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội
dung của môn học dựa trên những thành tựu của khoa học tương ứng Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ, khi có thêm yêu cầu bổ sung mục tiêu, nội dung,…
sẽ lồng ghép chúng vào những môn học đang có sẵn trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ thông Với loại hình tích hợp này, mức độ đạt được ở mức “lồng ghép”.
Trang 5- Quan điểm tích hợp “đa môn”, trong đó chúng ta đề nghị những tình huống,
những “đề tài” có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa là theo những môn học khác nhau Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ và tích hợp môn học được thực hiện bằng các đề tài được thực hiện ở một số thời điểm nhất định, sau quá trình học tập riêng rẽ các môn học Như vậy, các môn học không thực sự được tích hợp mà chúng chỉ giao nhau tại thời điểm thực hiện tình huống hoặc đề tài
- Quan điểm tích hợp “liên môn”, trong đó chúng ta đề xuất những tình huống
chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ví dụ, câu hỏi “Tại sao cần phải bảo vệ rừng?” chỉ có thể giải thích dưới ánh sáng của nhiều môn
học: Địa lí, Lịch sử, Toán học, Như vậy, quan điểm liên môn là phối hợp sự đóng
góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống.
- Quan điểm tích hợp “xuyên môn”, trong đó chúng ta chủ yếu phát triển
những kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống như: nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, thông báo thông tin, giải một bài toán v.v Những kĩ năng này chúng ta sẽ gọi là những kĩ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học Quan điểm này đòi hỏi phải hướng mục tiêu giáo dục tới việc hình thành các năng lực cần thiết cho người học Những năng lực này được
thực hiện qua một loạt các kỹ năng cụ thể Nói tóm lại, quan điểm xuyên môn, là tìm
cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi.
Hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp các môn học khác nhau không đặt
ra nữa Những nhu cầu của xã hội yêu cầu giáo dục phải gắn với cuộc sống, phải đào tạo ra những người lao động vừa có kiến thức vững chắc, vừa có khả năng vận dụng kiến thức đó vào giải quyết vấn đề của cuộc sống, đòi hỏi chúng ta phải hướng tới một quan điểm liên môn và xuyên môn trong thiết kế chương trình giáo dục và trong quá trình dạy học
Tóm lại, tích hợp là sự kết hợp những nội dung các môn học (hoặc phân môn trong một môn học) theo những cách khác nhau Có hai cách cơ bản để thực hiện tích hợp, đó là tích hợp các môn học có nội dung riêng rẽ thành môn học mới (tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn) và tích hợp không tạo nên môn học mới (tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn)
Việc thực hiện tích hợp không có nghĩa là các môn học tích hợp mới luôn thay thế hoàn toàn các môn học riêng biệt truyền thống đã có, mà tại những thời điểm nhất định, chúng có thể tồn tại song song tùy thuộc vào mục tiêu giáo dục Quan điểm tích hợp được thực hiện rất đa dạng, phong phú Nó có thể tồn tại không chỉ ở mức độ, như
là tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn,… mà còn có thể thực hiện một cách linh hoạt đối với các mức độ tích hợp.
Trang 61.3 Ý nghĩa của tích hợp
- Làm cho người học có tri thức bao quát, tổng hợp hơn về thế giới khách quan, thấy rõ hơn mối quan hệ và sự thống nhất của nhiều đối tượng nghiên cứu khoa học trong những chỉnh thể khác nhau, đồng thời còn bồi dưỡng cho người học các phương pháp học tập, nghiên cứu có tính logic biện chứng làm cơ sở đáng tin cậy để đi đến những hiểu biết, những phát hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn hơn
Nhiều nghiên cứu ứng dụng tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định: mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho người học có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp
- Người học có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn và trở nên linh hoạt hơn vì mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho người học có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình
để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp
- Tích hợp liên môn còn tiết kiệm thời gian công sức vì loại bỏ được nhiều điều trùng lặp trong nội dung và phương pháp dạy học của những bộ môn gần nhau
2 VẤN ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
2.1 Xu hướng tích hợp ở các nước trên thế giới
2.1.1 Tích hợp trong chương trình /môn học
- Trên thế giới, các kiến thức của khoa học xã hội thường được cấu trúc trong các chương trình một số môn học tích hợp Ở các nước khác nhau, khả năng tích hợp, mức độ tích hợp cũng khác nhau
+ Ở một số nước (Nhật Bản, Ôxtrâylia, Hàn Quốc, Xingapo, Philippin,…) các nội dung địa lí cùng với lịch sử, giáo dục công dân được kết hợp với nhau tạo thành một môn học có tên Nghiên cứu xã hội hoặc môn Khoa học xã hội hoặc môn Xã hội
và môi trường Môn học này được dạy từ tiểu học đến trung học bậc thấp Thông thường tại những nước này, mảng kiến thức địa lí tự nhiên đại cương với tên gọi
“Khoa học về Trái đất” được bố trí trong môn Khoa học cùng với các kiến thức về Lý, Hoá, Sinh Trong khi đó ở Pháp, môn Lịch sử, Địa lí được kết hợp thành một môn nhưng vẫn gồm hai phần và giữa chúng có sự phối hợp chặt chẽ Trong chương trình mới của Đức, tích hợp được thực hiện qua việc bố trí một số bài tập thực hành dưới dạng dự án Để giải bài tập này, học sinh cần huy động kiến thức của nhiều bài học địa
lí cũng như của nhiều môn học khác nhau
+ Nhiều nước thực hiện mức độ tích hợp các môn KHXH ở mức cao: liên môn
và xuyên môn Tích hợp xuyên môn, hình thức tích hợp cao nhất được tiến hành tập trung ở cấp tiểu học với môn học về đất nước hoặc về môi trường, hoặc về tự nhiên-
xã hội, hoặc về tự nhiên- xã hội và môi trường Ở đó, với các chủ đề, học sinh tìm hiểu
Trang 7thế giới xung quanh, qua đó các em biết rằng thế giới bao gồm rất nhiều hiện tượng, sự vật, chúng đan xen và tác động lẫn nhau theo thời gian và theo không gian.
+ Đối với cấp THCS, quan điểm tích hợp được thực hiện đa dạng hơn Mức độ tích hợp xuyên môn được thực hiện chủ yếu ở những nước có nền kinh tế phát triển, như Ôxtrâylia, Hoa Kì, Singapo Một số nước phát triển khác thực hiện mức độ tích hợp liên môn như Pháp hoặc đa môn như CHLB Đức, Anh Mức độ tích hợp cao cũng được khá nhiều nước đang phát triển đi theo như Philippin, Thái Lan,… Song trong môn học Nghiên cứu xã hội của những nước này nội dung Lịch sử và Địa lí vẫn được cấu trúc thành những phần riêng.
+ Đối với cấp THPT rất ít thấy việc tích hợp môn học ở mức độ cao Có thể do
yêu cầu chuẩn bị nghề nghiệp cần mang tính chuyên môn sâu hơn nên các môn học được dạy riêng và học sinh được chọn môn học theo hứng thú, khả năng và theo nhu cầu chuẩn bị nghề nghiệp của mình Vấn đề tích hợp liên môn thường được thực hiện qua việc xây dựng các chuyên đề liên môn trong đó kiến thức địa lí và các kiến thức môn liên quan tạo nên chuyên đề riêng
2.1.2 Tích hợp trong dạy và học
Có nhiều con đường để thực hiện dạy học tích hợp nhưng để dạy học tích hợp liên môn và xuyên môn thì dạy học dự án đang được nhiều nước lựa chọn và áp dụng Các chủ đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đời sống hàng ngày của học sinh, có thể nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài chương trình Về
cơ bản, học theo dự án được thực hiện theo quy trình ba bước lớn như sau:
1/ Lập kế hoạch: học sinh lựa chọn chủ đề dự án, xây dựng các tiểu chủ đề có thể nghiên cứu theo năng lực, sở trường và phù hợp với thời gian, nêu được những vấn
đề nghiên cứu, lập kế hoạch các nhiệm vụ thực hiện và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm
2/ Thực hiện dự án: các thành viên đã được phân công theo kế hoạch tiến hành thu thập thông tin, thảo luận với các thành viên khác và với nhóm trưởng, trao đổi và xin ý kiến hỗ trợ của giáo viên
3/ Tổng hợp và trình bày kết quả: trên cơ sở kết quả xử lý thông tin, học sinh xây dựng các sản phẩm trả lời cho vấn đề nghiên cứu, trình bày sản phẩm của nhóm, nhận thông tin phản hồi, rút ra những điều học được sau thực hiện dự án về kiến thức,
kỹ năng, thái độ và bài học kinh nghiêm (TheoTS Cao Thị Thặng - Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam)
2.2 Vấn đề tích hợp ở Việt Nam
2.2.1 Tích hợp trong chương trình/ môn học
Bậc tiểu học một số kiến thức địa lí đã được lồng ghép trong một số chủ đề của môn Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3 Đến lớp 4 và 5, Địa lí cùng Lịch sử tách thành môn riêng nhằm giúp học sinh mở rộng và nâng cao hiểu biết về môi trường xung quanh
Trang 8Bậc THCS và THPT tích hợp mới chỉ ở mức độ tích hợp “trong nội bộ môn học”, thực hiện yêu cầu gắn nội dung giáo dục trong nhà trường với các vấn đề đang được xã hội đương đại quan tâm, môn Địa lí đã xây dựng chương trình tích hợp một số vấn đề như giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội,…
Nhìn chung tích hợp liên môn trong chương trình Địa lí mới chỉ được thực hiện chủ yếu ở cấp tiểu học và tập trung vào lớp 4 Đối với các lớp của cấp học sau, việc tích hợp thực chất chỉ nhằm đưa những yêu cầu của xã hội bổ sung vào trong nội dung vốn có của chương trình môn học.
2.2.2 Tích hợp trong dạy và học
Vấn đề tích hợp trong dạy học địa lí chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ lồng ghép vận dụng các kiến thức môn học khác có liên quan để giải quyết các vấn đề đặt ra của môn học Gần đây ở một số trường THCS đã lựa chọn, xây dựng một số chuyên đề liên môn Sử - Địa để hướng dẫn học sinh thực hiện Như ở trường Tiểu học và THPT Nguyễn Siêu (Hà Nội) với mục đích nâng cao kĩ năng tự học theo nhóm, tự sưu tầm tài liệu theo chủ đề cũng như khả năng vận dụng kiến thức liên môn để trình bày các nội dung theo chủ đề của học sinh, nhóm bộ môn Lịch sử - Địa lý đã thực hiện chương trình học tập liên môn với chủ đề: “Môi trường nhiệt đới với nền văn minh lúa nước” dành cho học sinh khối 8 và 9 Để giải quyết nội dung học tập được đưa ra, các học sinh phải làm việc theo nhóm và phải vận dụng những kiến thức lịch sử, địa lý để giải quyết vấn đề mà nhóm lựa chọn liên quan tới chủ đề liên môn.
Còn dạy học dự án một trong những phương pháp quan trọng để thực hiện dạy học tích hợp liên môn và xuyên môn thì ở Việt Nam, dạy học theo dự án chưa được quy định chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông Song đã có một số dự án được tài trợ của các tổ chức quốc tế đưa dạy học dự án vào Việt Nam, nhưng chỉ trong khuôn khổ của dự án đó và trong phạm vi hạn hẹp và thường ở hoạt động ngoài giờ học.
2.3 Định hướng tích hợp liên môn trong dạy học địa lí
Để định hướng cho tích hợp trong dạy học địa lí có cơ sở và có định hướng lâu dài, có thể tìm hiểu quan điểm của các chuyên gia giáo dục nước ta về xu hướng dạy học mới.
Trong Hội thảo quốc tế về xây dựng, phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 - diễn ra từ ngày 10-12/2012, các chuyên gia giáo dục đã đưa ra
đề án dạy học tích hợp ở Việt Nam với những bước chuyển biến đột phá.
Xu hướng dạy học mới
Dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết.
Trang 9Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ tiến hành việc tích hợp trong phạm vi hẹp Trong tương lai gần, Việt Nam sẽ hướng việc tích hợp sang phạm vi rộng Đó là tích hợp các kiến thức liên quan tới hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Cách tích hợp này được thể hiện qua sách giáo khoa như sau: phần đầu của sách giáo khoa trình bày nội dung của từng môn, phân môn; phần cuối có các chủ đề tích hợp mang tính liên môn hoặc các chủ đề này được thực hiện xen kẽ trong quá trình thực hiện chương trình.
Nhận định về xu hướng này, GS Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng Đại học
Sư phạm Hà Nội khẳng định: “Tích hợp là nguyên lý không bàn cãi bởi tri thức của chúng ta tất cả đều là tích hợp, không có ai chỉ tư duy bằng môn này hoặc môn kia, bởi khi giải quyết một vấn đề thực tiễn phải sử dụng tri thức của nhiều môn học khác nhau Con người cần cái đó thì giáo dục phải giáo dục cái đó là đương nhiên”.
Phương pháp giúp phát triển năng lực toàn diện
Dạy học tích hợp có mục đích xây dựng và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh sẽ là xu hướng cải cách giáo dục của nước ta sau năm 2015.
- Bậc tiểu học: tăng cường tích hợp trong nội bộ môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội (các lớp 1, 2, 3) và lồng ghép các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản…vào các môn học và hoạt động giáo dục Đồng thời, chương trình sẽ xây dựng hai môn học mới ở lớp 4 và lớp 5: Môn Khoa học và Công nghệ (trên cơ sở môn Khoa học và Công nghệ (Kĩ thuật) ở các lớp 4, 5 trong chương trình hiện hành); Tìm hiểu xã hội (trên cơ sở môn Lịch sử và Địa lý các lớp 4, 5 trong chương trình hiện hành và thêm một số vấn đề xã hội).
- Bậc trung học cơ sở: Tăng cường tích hợp trong nội bộ môn học Toán, Ngữ Văn, Ngoại ngữ, Công nghệ, Giáo dục công dân… và lồng ghép các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản,…vào các môn học
và hoạt động giáo dục Bên cạnh đó, chương trình sẽ xây dựng hai môn học mới: Môn Khoa học tự nhiên (trên cơ sở các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học trong chương trình hiện hành) và môn Khoa học xã hội (trên cơ sở các môn Lịch sử, Địa lý trong chương trình hiện hành và một số vấn đề xã hội).
- Bậc trung học phổ thông: tăng cường tích hợp ở nội bộ môn học và lồng ghép các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản… vào các môn học và hoạt động giáo dục.
Trong đó, các môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ 1 được coi là các môn bắt buộc
vì đây là các môn công cụ cần thiết cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của người lao động Việt Nam Môn Giáo dục công dân cũng được xác định là bắt buộc để trang bị những yếu tố nền tảng về đạo đức, phẩm chất không thể thiếu đối với người công dân Việt Nam tương lai Đồng thời, học sinh sẽ phải chọn 3 môn trong danh mục các môn sau: Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Tin học, Môi trường, Công nghệ, Kinh doanh, Nghề (liên quan đến các nghề ở địa phương)… và chọn thêm các chủ đề
Trang 10gắn với định hướng nghề nghiệp, ứng với các môn tự chọn hoặc bắt buộc Mỗi học sinh sẽ học 7 môn (4 môn bắt buộc và 3 môn tự chọn) và một số chủ đề.
Nếu như theo định hướng trên thì sau năm 2015 môn Địa lí thực hiện tích hợp liên môn ở bậc tiểu học chủ yếu ở lớp 4 cùng với Lịch sử tạo thành môn Tìm hiểu xã hội, ở bậc THCS là môn Khoa học xã hội, ở bậc THPT Địa lí tách thành môn riêng và một số chuyên đề tích hợp
Với định hướng đó chúng ta cần phải giải quyết 2 vấn đề trong dạy học:
- Chúng ta chuẩn bị gì cho dạy học tương lai?
- Chương trình hiện hành chúng ta thực hiện tích hợp liên môn trong dạy học địa lí như thế nào?
Với chương trình hiện tại ở bậc THCS và THPT cơ bản là thực hiện tốt dạy học tích hợp trong dạy học địa lí theo các hướng:
- Thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học: trong dạy học địa lý tăng cường thực hiện lồng ghép các nội dung giáo dục mà Bộ đã yêu cầu hoặc giáo viên thấy cần thiết.Ví dụ các nội dung lồng ghép như: bảo vệ môi trường, kỹ năng sống, sử dụng tiết kiệm năng lượng, giáo dục bảo vệ môi trường biển đảo, giáo dục ứng phó với BĐKH,
…
- Thực hiện tích hợp liên môn: trong dạy học địa lý chú ý nhiều khi cần sự phối hợp kiến thức của nhiều môn để làm rõ một vấn đề, từ đó làm cho việc hiểu kiến thức địa lí sâu hơn, toàn diện hơn và xây dựng trong giáo viên, học sinh ý thức liên kết các kiến thức nhiều môn khi tìm hiểu một vấn đề, giải quyết một tình huống Tích hợp liên môn trong dạy học địa lý còn có thể thực hiện qua việc giáo viên xây dựng các tình huống, các đề tài hay đơn giản hơn là các câu hỏi, bài tập địa lí mà khi giải quyết không chỉ trên kiến thức địa lí mà còn dựa trên cơ sở các môn học khác.
2.3.1 Nguyên tắc tích hợp
Khi thực hiện tích hợp các nội dung trong một tiết học cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Đảm bảo mục tiêu bài học
- Không làm quá tải nội dung bài học
- Không phá vỡ nội dung môn học, nghĩa là không biến bài Địa Lí thành bài tích hợp.
- Nội dung, hình thức tích hợp phải phù hợp, không gò ép và chú ý liên hệ thực tiễn địa phương.
2.3.2 Phương thức tích hợp
Hiện nay, các phương thức tích hợp thường dùng là:
- Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi bài học có nội dung trùng với nội dung cần tích hợp Hình thức này hiếm gặp trong chương trình địa lí.
- Tích hợp bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức bài học có nội dung về vấn đề cần tích hợp.
- Liên hệ: là phương thức tích hợp phổ biến trong dạy học địa lí.
2.3.3 Hình thức tích hợp
Trang 11- Tích hợp qua giờ dạy trên lớp.
- Tích hợp qua các HĐNGLL.
- Tích hợp qua giờ dạy ngoài trời, tiết thực địa, tham quan thực tế.
2.4 Một số gợi ý thực hiện tích hợp liên môn trong dạy học Địa lí
- Ví dụ 1:
Có thể xây dựng các chuyên đề liên môn Sử - Địa và tiến hành dạy học theo các
chuyên đề đó, ví dụ chuyên đề: “Tìm hiểu lịch sử, địa lý khu vực Đông Nam Á - Sự
ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN” dành cho học sinh khối 11 và 12 Chuyên đề
được xây dựng trên cơ sở chương trình địa lí và lịch sử lớp 11,12 đều có các nội dung
về khu vực Đông Nam Á từ đó nhóm bộ môn Sử, Địa có thể xây dựng và thực hiện chuyên đề này Có nhiều phương pháp để thực hiện chuyên đề này nhưng phải đảm bảo các bước: GV hướng dẫn HS (nhóm) chọn đề tài, sau đó HS (nhóm) tự làm báo cáo đề tài dưới sự hướng dẫn của giáo viên, phần báo cáo đề tài có thể thực hiện trong một buổi ngoài giờ học hoặc bằng cách xây dựng chương trình ngoại khóa, NGLL
- Ví dụ 2:
Trong mục I.1 Cấu trúc khí quyển bài “Khí quyển Sự phân bố nhiệt độ không khí trên trái đất” Địa lí 10 (chương trình nâng cao), GV đặt câu hỏi cho HS: Nêu sự tạo thành tầng ôzôn trong khí quyển GV hướng dẫn HS dùng kiến thức hóa học để giải thích: Các tia tử ngoại và các điện tích tách phân tử ôxi thành các nguyên tử ôxi, các nguyên tử này lại kết hợp với các phân tử ôxi khác, tạo thành ôdôn (O 2 = O + O ; O 2 +
O = O 3 ) Tầng ôzôn có vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và các loài sinh vật.
- Ví dụ 3:
Trong mục II.1.b Phong hóa hóa học bài “Tác động của ngoại lực đến địa hình
bề mặt trái đất” (chương trình chuẩn), GV có thể đặt câu hỏi: Giải thích sự hình thành địa hình karst ở động Phong Nha (Quảng Bình) Câu hỏi này vừa có ý nghĩa liên hệ thực tế vừa yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết GV hướng dẫn HS dùng kiến thức hoá học để giải thích sự phong hoá đá vôi tạo thành địa hình karst: Nước mưa khí quyển có chứa CO 2 sẽ hoà tan rất mạnh các khoáng vật thuộc nhóm cacbonat, sunphat, chuyển thành canxi cacbonat Ca(HCO 3 ) 2 CO 2 + H 2 O H 2 CO 3 ; CaCO 3 + H 2 CO 3 Ca(HCO 3 ) 2 Do không ổn định về mặt hoá học, nên canxi cacbonat
dễ bị phân tích thành axit cacbonic và canxi cacbonat thừa này tách ra khỏi dung dịch tạo thành túp vôi và các dạng kết tủa trong hang động
Trang 12ngày thường cao hơn trên đất liền, dẫn đến biên độ nhiệt ở đại dương nhỏ, ở lục địa lớn.
KẾT LUẬN
Hiện nay, chúng ta sống trong một thế giới mà các bộ môn ngày càng thâm nhập vào nhau, trong đó ngày càng cần những nhóm làm việc đa môn, và người ta ngày càng đòi hỏi con người phải đa năng Chính vì vậy tích hợp là xu thế tất yếu của việc phát triển CT, SGK và dạy học một số môn học trong nhà trường phổ thông tại hầu hết các nước trên thế giới Công cuộc tiếp tục đổi mới giáo dục Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó
Để thực hiện tốt tích hợp liên môn trong dạy học địa lí đòi hỏi giáo viên có những bước đi chuẩn bị chu đáo Trước hết giáo viên phải nỗ lực học hỏi trang bị cho mình những kiến thức địa lí sâu hơn, rèn luyện lối tư duy đa chiều hơn Thực hiện dạy học liên môn đòi hỏi giáo viên có kiến thức đa môn, đây là một thách thức phải vượt qua bởi chúng ta hầu hết chỉ được đào tạo chuyên sâu về địa lí Một vấn đề nữa là khi vận dụng quan điểm tích hợp liên môn trong dạy học địa lí chúng ta cần cân nhắc hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhà trường, nghiên cứu kĩ chương trình, bài dạy để vận dụng một cách phù hợp, hiệu quả nhất đây quả là vấn đề không dễ Mỗi giáo viên có tâm phải luôn trăn trở tìm cho mình hướng đi đúng, tư duy mới và phương pháp hiệu quả trong dạy học hướng đến mục đích xây dựng và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh.
PHỤ LỤC: GIÁO ÁN THAM KHẢO TÍCH HỢP TRONG
Trang 13DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ
Tiết 19
BÀI 16: SÓNG THUỶ TRIỀU DÒNG BIỂN [1]
I Mục tiêu
1 Kiến thức:
- Khái niệm về sóng biển và nguyên nhân chủ yếu gây ra sóng biển, sóng thần.
- Vai trò của thủy triều, dòng biển đối với sản xuất và đời sống.
- Hiểu rõ tương quan giữa vị trí Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất đã ảnh hưởng tới
thuỷ triều như thế nào.
- Nhận biết được đặc điểm phân bố của các dòng biển trên Trái đất.
2 Kĩ năng:
- Xác định được trên bản đồ sự phân bố các khu vực có sóng thần.
- Xác định được trên bản đồ các dòng biển quan trọng: các dòng biển nóng: Gơnxtrim,
Braxin, Cưrôsưvô, Môzămbich, Đông Úc, các dòng biển lạnh: Dòng biển Peru,
Benguêla, Tây úc, California, Canary, Ôiasivô
- Khai thác kiến thức từ hình ảnh, video.
- Làm việc theo nhóm, kĩ năng vận dụng những kiến thức liên môn, tự tìm kiếm, xử lí
thông tin rút ra được những kĩ năng cần thiết trong vấn đề bảo vệ môi trường biển,
phòng chống thảm họa sóng thần.
3 Thái độ:
- Nhận thức được nguyên nhân sinh ra thuỷ triều Biết được cách vận dụng hiện tượng
này trong cuộc sống.
- Có ý thức học tập tốt, ước mơ tìm tòi những giải pháp kĩ thuật nhằm sử dụng nguồn
năng lượng từ sóng biển, thủy triều
II Thiết bị
- Hình 16.4 - Các dòng biển (phóng to theo SGK)
- Các hình trong SGK ( phóng to)
- Tranh ảnh sóng biển, sóng thần, thủy triều phim về sóng thần
- Bản đồ tự nhiên thế giới, tập bản đồ thế giới và các châu lục.
III Hoạt động dạy học
Nội dung
tích hợp
Kiến thức cơ bản Hoạt động 1:
Bước 1: GV yêu cầu HS đọc SGK, quan sát hình ảnh
trả lời các câu hỏi sau:
- Sóng là gì? Nguyên nhân gây ra sóng?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức:
- GV cung cấp thông tin: trên thực tế chúng ta nhìn thấy dường như sóng chuyển động theo chiều ngang từ ngoài khơi xô vào
bờ, đỉnh sóng và chân sóng liên tiếp thay thế nhau nhưng thực
I Sóng biển
1 Khái niệm
Là hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứng.
Trang 14tế không phải là nước di chuyển theo chiều ngang mà đó chỉ là
sự dẫn truyền dao động của các phân tử nước, còn các phần tử nước chỉ dao động lên xuống tại chổ theo một quỹ đạo gần tròn
so với mực nước trung bình, chân sóng là vị trí thấp nhất còn đỉnh sóng là vị trí cao nhất của quỹ đạo.
- GV: Có một bài thơ rất hay của Xuân Quỳnh mô tả về sóng
đó là bài thơ nào? Em hãy đọc một vài câu thơ trong bài thơ đó?
- HS trả lời
- GV đọc: “ Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể ”
- GV cho HS xem 1 vài hình ảnh minh họa về những con sóng
“dữ dội” , “dịu êm”, “ồn ào” , “lặng lẽ”.
- GV: Nhà thơ Xuân Quỳnh đã có những câu thơ rất hay về nguyên nhân sinh ra sóng: “Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau?”
Sóng chủ yếu bắt đầu từ gió, vậy gió bắt đầu từ đâu?
- HS nhớ lại kiến thức cũ trả lời, GV chốt lại: gió bắt đầu từ sự chênh lệch khí áp.
- GV trình chiếu hình ảnh về sóng bạc đầu và đưa ra câu hỏi:
Em hãy cho biết thế nào là sóng bạc đầu?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức.
- GV: Sóng có vai trò như thế nào?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức: Sóng có tác dụng làm tăng diện tích bốc hơi nước từ các biển và đại dương, làm thay đổi địa hình bờ biển
- GV: Trình chiếu đoạn phim về sóng thần, đặt câu hỏi:
Sóng thần là gì? Nguyên nhân gây ra sóng thần? Sóng thần gây
ra hậu quả gì? Em có hiểu biết gì về thảm họa sóng thần gần đây nhất?
- HS trình bày GV chuẩn kiến thức
- HS trình bày những hiểu biết của mình về thảm họa sóng thần vào ngày 11-3-2011 tại Nhật Bản
- GV cung cấp thêm thông tin: Trận động đất Tohuku với cường độ 9 độ Richte lúc 5h46’ giờ GMT tức khoảng 12h46’
giờ Việt Nam ngày 11/3/2011 xảy ra ngoài khơi phía Đông đảo Hônsu của đất nước Nhật Bản gây ra bởi đứt gãy chờm nghịch
ở trên hoặc ngoài vùng biển đới hút chìm của mảng Thái Bình Dương và mảng Bắc Mĩ Sóng thần cao 38,9m đổ bộ vào vùng ven biển khiến 15.854 người bị chết, 9.677 người bị thương,
3155 người mất tích, 125.000 công trình bị hư hại hoặc phá hủy, đặc biệt là sự cố của nhà máy điện hạt nhân Fucosima làm
rò rĩ chất phóng xạ ra môi trường và làm ô nhiễm môi trường.
Chúng ta biết rằng các chất phóng xạ rất có hại cho sức khỏe,
2 Nguyên nhân
Chủ yếu là do gió
3 Sóng thần
- Khái niệm:
Có chiều cao
và tốc độ rất lớn.
nhân: Chủ yếu
do động đất gây ra.
- Tác động: + Ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch, thể thao
Trang 15là nguyên nhân của các căn bệnh ung thư hiện nay.
- GV: dấu hiệu nhận biết sóng thần là cảm thấy đất rung nhẹ dưới chân khi đứng trên bờ; sau đó nước biển sủi bọt; một thời gian sau, nước biển đột ngột rút ra rất xa bờ; cuối cùng một bức tường nước khổng lồ sẽ đột ngột tiến nhanh vào bờ, tàn phá tất cả những gì trên đường chúng đi qua.
- GV: Là quốc gia giáp biển, sóng thần có thể xảy ra ở vùng ven biển nước ta không?
- HS trả lời, GV cung cấp: Khả năng sóng thần ở nước ta là không lớn nhưng thực sự tiềm ẩn khả năng này Vì vậy chúng
ta cần phải làm tốt công tác dự báo sóng thần để nếu có sóng thần xảy ra chúng ta sẽ có những biện pháp hữu hiệu để phòng
và tránh sóng thần, giảm thiệt hại đến mức có thể
Chuyển ý: Cho HS xem 2 bức tranh về quang cảnh thuỷ triều
lên và xuống của cùng 1 bãi biển, GV hỏi: Bức tranh biểu biện hiện tượng gì? Tại sao lại có hiện tượng đó?
Hoạt động 2:
GV yêu cầu HS nghiên cứu kỹ các hình trong SGK, lần lượt trả lời các câu hỏi sau:
- GV: Thuỷ triều là gì? Nguyên nhân hình thành thuỷ triều?
- HS trả lời GV chuẩn kiến thức và bổ sung:
- Lực tạo triều của Mặt Trăng và Mặt Trời:
- Trái Đất và Mặt Trăng đều quay quanh Mặt Trời nên Trái Đất chịu sức hút của cả Mặt Trăng và Mặt Trời
- Trong hệ Mặt Trăng và Trái Đất Mặt Trăng thường xuyên
- Tàn phá của cải, con người, làm cho môi trường biển bị
ô nhiễm
II Thuỷ triều
1 Khái niệm
Thuỷ triều là hiện tượng chuyển động thường xuyên
và có chu kỳ của các khối nước trong các biển và đại dương.
2 Nguyên nhân
Được hình thành chủ yếu
do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời.
Lực hút của Mặt Trăng Lực ly tâm
Lực dẫn triều của Mặt Trăng
A B
Lực tạo triều của Mặt Trăng
D
C
Trang 16Trong đó M là khối lượng Mặt Trăng, D là khoảng cách từ tâm Mặt Trăng đến các điểm bị hấp dẫn, k là hằng số hấp dẫn Như vậy lực hấp dẫn thường hướng về Mặt Trăng và sẽ lớn nhất ở điểm A nơi Mặt Trăng lên thiên đỉnh và nhỏ nhất ở điểm B nơi Mặt Trăng lên thiên đế Đồng thời trong quá trình chuyển động
cả hai thiên thể này đều quay quanh một trục chung, trục này nằm trên Trái Đất và ở 0.73R (bán kính Trái Đất); Trái Đất lớn hơn và có tỉ trọng lớn hơn Mặt Trăng Do đó, trên Trái Đất phát sinh lực li tâm của hệ Lực này ở mọi điểm trên Trái Đất đều bằng nhau, song song, ngược hướng với Mặt Trăng và bằng: fn = k 2
M k D
M − =
Trong đó R là bán kính Trái Đất.
Tại điểm B khi Mặt Trăng lên thiên đế sẽ nhỏ hơn tại điểm A
là 1/43 Đối với điểm C và D (Bắc và Nam cực) lực tạo triều sẽ bằng ½ ở xích đạo tức là bằng: kM 3
d R
Tuy nhiên lực này cũng nhỏ và ở ngay xích đạo cũng chỉ bằng
6
10 9
1 trọng lực của Trái Đất.
- Tương tự như lực tạo triều của Mặt Trăng lực tạo triều của Mặt Trời cũng được tính tương tự:
Đối với các điểm A và B tại xích đạo sẽ bằng:
từ tâm Mặt Trăng đến tâm Trái Đất nên lực tạo triều của Mặt Trời nhỏ hơn lực tạo triều của Mặt Trăng là 2,17 lần Do đó thủy triều trên Trái Đất chịu tác dụng chủ yếu của Mặt Trăng.
Như vậy lực tạo triều của Mặt Trăng khi ở thiên đỉnh có thể làm bề mặt biển dâng cao 0,55m và của Mặt Trời là 0,25m, mức thủy triều trung bình là 0,40m
- GV cho HS xem sơ đồ về triều cường, triều kém: Khi nào
dao động thuỷ triều lớn nhất, nhỏ nhất? Lúc đó ở Trái Đất sẽ nhìn thấy Mặt Trăng như thế nào? Và vì sao?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức: Khi Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất cùng nằm trên một đường thẳng thì dao động thuỷ triều lớn nhất Lúc đó ở Trái Đất sẽ thấy Mặt Trăng là không trăng ngày sóc (mùng 1) và trăng rằm ngày vọng (ngày 15).
3 Đặc điểm
- Khi Mặt
Trăng và Trái
Trang 17Thủy triều lớn nhất là do sự cộng hưởng của các lực tạo triều
của cả Mặt Trăng và Mặt Trời: tức là = 0,55m + 0,25m =
0,80m
Ngược lại khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm vuông góc với nhau thì dao động thuỷ triều nhỏ nhất lúc đó ở Trái Đất sẽ thấy Mặt Trăng là trăng khuyết (thượng huyền (mùng 7, mùng 8) và hạ huyền (ngày 22,23) Thủy triều sẽ giảm đi (nhỏ nhất)
là do sự triệt tiêu của hai lực tạo triều tức là = 0,55m – 0,25m
= 0,30m.
Như vậy trong một tháng âm lịch thủy triều sẽ có 2 lần lớn và
2 lần nhỏ Ở nước ta mỗi chu kì nửa tháng nhân dân ta gọi là một con nước
- GV: Cho biết thủy triều có vai trò như thế nào đối với sản xuất và quân sự?
- HS trả lời, GV chốt: Vai trò trong việc dẫn nước vào ruộng muối, thuyền vào cảng thuận lợi hơn
+ Lợi dụng thủy triều để đánh giặc: Ngô Quyền đã cho cắm các cọc gỗ đầu bịt sắt nhọn ở giữa sông Bạch Đằng Khi thủy triều lên quân ta ra ngoài khiêu chiến với quân Nam Hán, quân
ta giả vờ thua và rút vào trong, giặc đuổi theo vào trong quân
ta đánh ra lúc này thủy triều rút xuống, các cọc nhọn đâm thủng thuyền của quân giặc, quân giặc thua trận.
+ Ở các vịnh biển người ta sẽ gắn các tuabin Khi thủy triều lên nước ở ngoài biển sẽ chảy vào trong vịnh, nước sẽ đập vào cánh quạt làm cho tuabin quay, khi tuabin quay sẽ tạo ra năng lượng điện Khi thủy triều xuống nước ở trong vịnh lại chảy ra làm tuabin phát điện quay Như vậy từ “cơ năng” đã biến thành
“điện năng”
- GV cho học sinh quan sát các hình ảnh về triều cường ở nước
ta yêu cầu HS cho biết những tác hại mà triều cường mang lại.
+ Bên cạnh những vai trò mà thủy triều mang lại như trên thì triều cường ở nước ta gây ra không ít khó khăn như gây ngập úng, khó khăn trong việc đi lại
+Tác dụng của muối có trong nước biển làm hư hại tàu thuyền
ví dụ: Vỏ tàu biển làm bằng sắt (Fe), bao ngoài vỏ tàu được bao bọc bởi kim loại kẽm (Zn), khi vỏ tàu bị xây xát vỏ tàu sẽ
bị ăn mòn và nhanh chóng bị hư hại Vì vậy, dưới tác động của triều cường ở nước ta chúng sẽ gây hư hại một số công trình,
Đất cùng năm
đường thẳng thì dao động thuỷ triều lớn nhất.
- Khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm vuông gốc với nhau thì dao động thuỷ triều nhỏ nhất.
4 Vai trò của thủy triều
Năng lượng thủy triều; GTVT, quân sự; đánh cá; làm muối.
Trang 18đó chính là ăn mòn kim loại.
Chuyển ý: Khi nhắc đến khái niệm " dòng sông", chúng ta sẽ
hình dung ngay đến những dòng sông xinh đẹp trên lục địa.
Hôm nay chúng ta lại tìm hiểu những "dòng sông" không chảy trên lục địa mà chảy ngay trong biển cả - Giới thiệu phần III.
=> Hiện nay người ta thường dùng theo cách chia: dòng biển nóng và dòng biển lạnh.
- GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung trong SGK, quan sát
hình 16.4, tập bản đồ thế giới và các châu lục, bản đồ tự nhiên thế giới nêu quy luật hoạt động của các dòng biển trên thế giới?
- GV chuẩn xác kiến thức
- GV: Tác động của dòng biển nóng, lạnh đối với khí hậu nơi
nó chảy qua?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức:
+ Dòng biển tham gia vào việc phân bố lại nhiệt trong các biển
và đại dương Bờ có dòng biển nóng chảy qua mưa nhiều, bờ
có dòng biển lạnh chảy qua mưa ít.
+ Nơi gặp gỡ của các dòng biển nóng và lạnh là các ngư trường lớn.
- Các dòng biển lạnh:
- Ở vùng gió mùa:.
- Các dòng biển nóng và lạnh chảy đối xứng qua hai
bờ của các đại dương.
4 Ảnh hưởng
- Kinh tế: Các ngư trường lớn phát triển ngành thủy sản
- Khí hậu: các dòng biển giúp phân bố lại nhiệt trong các biển và đại dương
IV Củng cố
- GV chốt lại những nội dung chính của bài.
V Hoạt động nối tiếp
- Yêu cầu học sinh làm phần câu hỏi và bài tập trong SGK
- Đọc SGK chuẩn bị trước bài 17
[1]- Giáo án dự thi tích hợp liên môn trong dạy học Địa lí – GV: Đoàn Phương Thảo
Trang 19CHUYÊN ĐỀ II: PHƯƠNG PHÁP DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ THPT
Nguyễn Thị Xuân- GV THPT Chuyên
I VAI TRÒ CỦA BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÍ
Chương trình địa lí THPT có một tỉ lệ khá cao bài thực hành, lớp 10: 7 bài
(chương trình cơ bản) và 14 bài (chương trình nâng cao); lớp 11: 8 bài (chương
trình cơ bản) và 12 bài (chương trình nâng cao); lớp 12: 7 bài (chương trình cơ
bản) và 13 bài (chương trình nâng cao)
Các bài thực hành có vai trò:
- Cũng cố lại kiến thức đã học sau mỗi bài, mỗi phần và mỗi chương
- Các bài thực hành trong chương trình Địa lí THPT khá đa dạng về yêu cầu,
đa dạng về kĩ năng, thường bao gồm các kĩ năng sau:
+ Kĩ năng làm việc với bảng số liệu thống kê
+ Kĩ năng lập biểu đồ và phân tích biểu đồ
+ Kĩ năng làm việc với bản đồ
+ Kĩ năng phân tích, tổng hợp
+ Kĩ năng so sánh
+ Kĩ năng vẽ lược đồ
+ Kĩ năng viết báo cáo
Như vậy phần lớn các kĩ năng địa lí được hình thành, rèn luyện thông qua
các bài thực hành
Thông qua các bài thực hành, học sinh còn biết liên hệ, giải thích một số
hiện tượng địa lí địa phương, nơi mình đang sinh sống
Qua các bài thực hành, giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá được các kĩ
năng, mức độ nhận thức về các kiến thức môn địa lí, để từ đó có kế hoạch,
phương án bổ sung kiến thức, kĩ năng cho học sinh
Do bài thực hành địa lí với yêu cầu gần như là các dạng bài tập, do vậy
đây là một trong những cơ sở quan trọng để giáo viên và học sinh phát huy tối
đa phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động trong
day học
II THỰC TRẠNG DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÍ TRONG CÁC TRƯỜNG
THPT.
Do nhiều giáo viên chưa thống nhất về quan điểm dạy bài thực hành nên
mỗi người thường mạnh ai nấy làm, mỗi người có một cách dạy riêng, một
phương pháp dạy riêng
Nhiều giáo viên trong quá trình dạy bài thực hành chủ yếu thiên về dạy kiến
thức, kĩ năng mà quên rằng phần thực hành của học sinh là nội dung rất quan
trọng trong tiết học
Một số giáo viên cho rằng bài thực hành là dành cho học sinh, giáo chỉ có vai
trò đánh giá kết quả sau khi hoc sinh làm xong bài nên giờ thực hành giáo viên
có thể thoải mái “nghỉ ngơi”
Từ những nguyên nhân trên nên việc dạy bài thực hành chưa được giáo
viên và học sinh chú trọng đầu tư về thời gian và phương pháp, do vậy bài thực
Trang 20hành chưa phỏt huy được vai trũ quan trọng của mỡnh trong quỏ trỡnh dạy và họcmụn địa lớ.
III Mục tiêu dạy bài thực hành địa lí
Bài thực hành địa lí có hai mục tiêu cơ bản:
- Trớc hết và quan trọng nhất là nhằm vào việc hình thành (hoặc rèn luyện)
kĩ năng địa lí và kĩ năng vận dụng kiến thức của HS
- Củng cố hoặc vận dụng kiến thức
Mỗi bài thực hành đợc thực hiện trong tiết học trên lớp với các nhiệm vụ cụthể nhằm đạt đợc những mục tiêu rõ ràng
Do cấu trúc của kĩ năng có phần tri thức về kĩ năng và hoạt động hình thành
kĩ năng, nên quá trình thực hiện các bài thực hành cũng phải diễn ra theo hai giai
đoạn tiếp nối nhau:
- Trang bị tri thức về kĩ năng mà học sinh cần đợc hình thành (hoặc rèn luyện) trong bài thực hành
- Tổ chức cho HS hoạt động trên cơ sở các tri thức đã biết để hình thành kĩ năng Giai đoạn đầu giáo viên nên cho HS nhận thức rõ mục tiêu, yêu cầu, các nhiệm vụ phải thực hiện, sau đó cung cấp mới (hoặc ôn lại) tri thức về kĩ năng cần phải thực hiện, hớng dẫn HS cách làm và có thể làm mẫu một số việc nếu thấy cần thiết Khi có đợc những hiểu biết này, HS mới chuyển sang giai đoạn hai, thực hiện các hoạt động (đọc, phân tích, vẽ, nhận xét, )
Hai giai đoạn này có thể thực hiện kế tiếp nhau, nhng cũng có thể xen kẽ nhau trong từng hoạt động của bài thực hành
IV Các bớc dạy học bài thực hành địa lí
Bước 1: Nờu mục đớch, yờu cầu của bài thực hành (HS nhận thức rõ mục
tiêu, yêu cầu, các nhiệm vụ cần phải thực hiện, xác định đợc các bớc đi và sản phẩm của mỗi bớc, hình dung đợc sản phẩm của bài thực hành)
Bước 2: GV hướng dẫn HS tiến hành cỏc thao tỏc, cỏc bước, cỏc cụng việc
cụ thể tựy thuộc vào nội dung thực hành GV có thể làm mẫu một phần nội dung, hoặc gợi ý trực tiếp các nội dung khó, phức tạp của bài thực hành (GV trựctiếp làm, hoặc hớng dẫn em HS giỏi/khá của lớp làm)
GV yờu cầu HS nhắc lại những nội dung đó học cú liờn qua đến bài thực hành (nếu cần)
Bước 3: HS thực hiện cỏc cụng việc theo sự hướng dẫn của GV (có thể theo
hình thức cá nhân/nhóm/toànlớp)
Bước 4: Tổng kết, đỏnh giỏ HS tự đánh giá, GV nhận xét, đánh giá, sửa
chữa
Trang 21- HS trỡnh bày kết quả thực hành (đối chiếu với mục tiờu của bài thực hành), cỏc HS trong lớp nhận xột, đỏnh giỏ GV yờu cầu HS nờu những điểm chớnh
đó học được qua bài thực hành
- GV chuẩn kiến thức, đồng thời sửa lỗi cho HS và nờu những lỗi HS thường gặp
Trong các bớc trên, GV đóng vai trò tổ chức, hớng dẫn, chỉ đạo, còn HS chủ
đụng, tích cực hoạt động để hoàn thành bài thực hành
Trong một số trờng hợp đặc biệt, do những đặc điểm của đối tợng học sinh gây ra, bài thực hành có thể không đợc hoàn thành trọn vẹn trên lớp theo đúng thời gian quy định, đòi hỏi phải có sự giải quyết linh động thích hợp Lý luận dạy học cho rằng, tiết học không phải hoàn toàn kết thúc sau 45 phút ở trên lớp
Do vậy, không nhất thiết trong mọi trờng hợp phải yêu cầu HS hoàn thiện bài thực hành ở trên lớp, mà có thể tiếp tục thực hiện ở nhà Tuy nhiên, giáo viên phải có sự đánh giá cụ thể kết quả làm việc của học sinh vào các thời gian thích hợp ở các buổi học sau
V CÁC VÍ DỤ MINH HỌA
ĐỊA LÍ 10.
Bài 25 Phân tích bản đồ phân bố dân c thế giới
Trang 22- Bảng 22 SGK Địa lí 11, lợc đồ Phân bố dân c thế giới, năm 2000 của SGK Địa
lí 11
- Bản đồ treo tờng Phân bố dân c và các đô thị lớn trên thế giới
III hoạt động dạy học
* Hoạt động 1 : Xác định các khu vực tha dân và các khu vực tập trung dân c đông đúc trên bản đồ
- HS (nhóm đôi) đọc bản đồ, kết hợp với bảng 22, xác định các khu vực thadân và các khu vực tập trung dân c đông đúc trên thế giới
bố dân c Có thể xem lại mục I.3 của bài Phân bố dân c, các lại hình quần c và
đô thị hoá Từ đó xem xét các nhân tố đó ở các châu lục, bán cầu, một số vĩ độ
Tha dân - Các đảo ven vòng cực
Bắc, Ca-na-da, Nga (phần châu á), đảo Grin-len (Đan Mạch)
- Miền tây lục địa Bắc
Mĩ, Trung á, miền tây Trung Quốc
- Bắc Phi, Tây á, Tây úc
- Gần địa cực; khí hậu băng giá
- Địa hình núi, cao nguyên; khí hậukhô,lạnh
- Hoang mạc cận nhiệt đới và nhiệt
Trang 23b Miền Tây Âu, Trung
Âu, Đông Bắc Hoa Kì,
Đông Nam Bra-xin
a Lịch sử khai thác lâu đời Khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới gió mùa, đất tốt, nớc dồi dào; thuận lợi cho nông nghiệp
b Khí hậu ôn hoà, khoáng sản, năng lợng dồi dào, thuận lợi cho c trú và hoạt động kinh tế
Kết luận chung : Do điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội thụân lợi cho
đời sống và sản xuất
2 Giải thích chung nguyên nhân phân bố dân c không đồng đều
a) Do tác động của các nhân tố tự nhiên
- Khí hậu : dân c thờng tập trung đông ở nơi có khí hậu ôn hoà, ấm áp (vùng
ôn đới và nhiệt đới), tha thớt ở nơi có khí hậu khắc nghiệt (sa mạc, vùng cực, maquá nhiều ở vùng rừng rậm xích đạo, )
- Nguồn nớc : nguồn nớc dồi dào thu hút dân c (nh ở châu thổ các sông lớn)
- Địa hình, đất đai : dân c thờng tập trung đông đúc ở nơi có địa hình bằngphẳng, đất đai màu mỡ; ngợc lại, các vùng núi cao, điều kiện phát triển sản xuất
và giao thông khó khăn, dân c tha thớt
- Tài nguyên khoáng sản cũng có ý nghĩa nhất định trong phân bố dân c
b) Do tác động của nhân tố kinh tế - xã hội (đóng vai trò quan trọng hàng đầu)
- Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất : trình độ phát triển của lực lợngsản xuất càng cao, càng chế ngự đợc nhiều khó khăn của tự nhiên để bố trí dân
c (ngày nay, niều điểm dân c đã mọc lên ở nhữn vùng quanh năm băng giá, vùngnúi cao hay hoang mạc, )
- Tính chất nền kinh tế : phân bố dân c phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất củanền kinh tế Những khu dân c đông đúc thờng gắn với hoạt động công nghiệphơn là với nông nghiệp Trong các khu vực công nghiệp, mật độ dân c cao thấpkhác nhau tuỳ theo tính chất của từng ngành sản xuất Trong nông nghiệp cũng t-
ơng tự, việc canh tác lúa nớc cần nhiều lao động nên dân c tập trung đông đúc
Trang 24- Lịch sử khai thác lãnh thổ : những khu vực khai thác lâu đời (các đồngabừng châu thổ ở Đông Nam á, đồng bằng Tây Âu, ) có dân c đông đúc hơnnhững khu vực mới khai thác (ở Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, ).
- Các dòng chuyển c : các dòng chuyển c ít nhiều tác động đến bức tranhphân bố dân c thế giới Số dân và mật độ dân số của Bắc Mĩ, Mĩ La-tinh và Ô-xtrây-li-a tăng lên nhiều nhờ những cuộc chuyển c khổng lồ từ châu Âu và châuPhi tới
ĐỊA LÍ 11.
Bài 9, tiết 3 tìm hiểu về hoạt động kinh tế đối ngoại của nhật Bản
(Bài 11, tiết 4, Nâng cao)
Biểu đồ vẽ theo bảng 9.5 SGK (phóng to)
III Hoạt động dạy học
* Hoạt động 1 : Vẽ biểu đồ
- HS (cá nhân) dựa và bảng số liệu SGK để vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện giátrị xuất, nhập khẩu của Nhật Bản qua các năm (GV hớng dẫn : chọn biểu đồ cộtnhóm)
- Sau khi HS vẽ xong, GV hớng dẫn HS đối chiếu với biểu đồ đã chuẩn bịsẵn, sửa chữa, hoàn thiện biểu đồ cá nhân
* Hoạt động 2 : Nhận xét hoạt động kinh tế đối ngoại
- HS (theo nhóm đôi) lần lợt đọc các thông tin và bảng số liệu, kết hợp vớibiểu đồ đã vẽ, nêu đặc điểm khái quát của hoạt động kinh tế đối ngoại Nhật Bản,
về :
+ Đặc điểm nhập khẩu và xuất khẩu
+ Các bạn hàng chủ yếu
Trang 25+ Đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chínhthức (ODA).
Kết quả làm việc nhóm có thể đợc trình bày thành bảng theo mẫu sau :Bảng 9.1 Đặc điểm hoạt động kinh tế đối ngoại Nhật Bản
Hoạt động kinh tế đối
ngoại
Đặc điểm khái quát
Đờng lối của kinh tế đối
2 Nhận xét hoạt động kinh tế đối ngoại
a Đờng lối của kinh tế đối ngoại
- Tích cực nhập khẩu công nghệ, kĩ thuật nớc ngoài
- Khai thác triệt để những thành tựu khoa học kĩ thuật, nguồn vốn đầu t củaHoa Kì và các nớc khác