1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên trung học cơ sở môn lý

43 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 382,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo viên cần căn cứ vàonội dung kiến thức và đối tượng học sinh để lựa chọn các phương pháp phù hợp tronggiờ dạy Xác định trong bài học và ứng với đối tượng học sinh cụ thể chỗ nào nênt

Trang 1

Lời nói đầu

Trước những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng giáo dục nóichung và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý nói riêng Với quan điểm giáo viên là mộttrong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục của trường học Đảng, Nhà nước tađặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Một trongnhững nội dung được chú trọng trong công tác này là bồi dưỡng thường xuyên (BDTX)cho giáo viên, công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên được coi là một trongnhững giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, nó có vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thiện

và phát triển nhân cách nghề nghiệp của mỗi giáo viên Công cụ lao động của ngườithầy giáo là tri thức khoa học, mà tri thức thì cần phải được thường xuyên cập nhật vàlàm mới thì mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội Vì vậy, người giáo viên cần phảiđược bồi dưỡng thường xuyên, trong bồi dưỡng phải được định hướng những vấn đề cơbản, cập nhật để có thể tự bồi dưỡng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu trongcông việc của mình

Thực hiện Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông vàgiáo dục thường xuyên của Bộ Giáo dục và Đào tạo (ban hành kèm theo Thông tư số26/2012/TT-BGDĐT) Mỗi giáo viên phải bồi dưỡng 120 tiết/ năm học, với 3 khối kiếnthức chính tập trung vào phát triển năng lực chuyên môn theo yêu cầu chỉ đạo chuyênmôn và thực hiện nhiệm vụ năm học theo cấp học với dung lượng chiếm khoảng 25%chương trình (khoảng 30 tiết/ năm học); tăng cường năng lực cho giáo viên trong việchiện các nhiệm vụ giáo dục theo cấp học ở từng địa phương với dung lượng khoảng25% chương trình (khoảng 30 tiết/năm học) và phát triển các năng lực lao động nghềnghiệp cho giáo viên để đáp ứng chuẩn nghề nghiệp với dung lượng khoảng 50%(khoảng 60 tiết/ năm học)

Để đáp ứng tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên THCS trong tỉnh, ban biên soạn giớithiệu một số phương pháp, kĩ thuật dạy học môn Vật lí cấp THCS nhằm cung cấp chođội ngũ giáo viên Vật lí có cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về phương pháp, kỹ thuật dạyhọc này Tài liệu được biên soạn thành 3 phần, mỗi phần có các hoạt động và các câuhỏi gợi ý cho hoạt động để giáo viên tự tìm hiểu, nghiên cứu Sau mỗi hoạt động, mỗicâu hỏi có thông tin phản hồi cho hoạt động để giáo viên có thể tham khảo Vì thời gian

có hạn và năng lực của ban biên soạn còn hạn chế nên chắc chắn tài liệu này sẽ khôngtránh khỏi sai sót Rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của các đồng chí đồngnghiệp để nội dung của tài liệu ngày càng hoàn chỉnh hơn

Nhóm biên soạn xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong và ngoài tỉnhtrong thời gian qua đã giúp đỡ, góp ý tận tình để chúng tôi kịp thời hoàn thành tài liệunày

Nhóm biên soạn

Trang 2

MỤC LỤC

HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHUNG CỦA VIỆC SOẠN

HOẠT ĐỘNG 2 TÌM HIỂU KĨ THUẬT DẠY HỌC GIỜ LÝ THUYẾT VẬT LÍ 4HOẠT ĐỘNG 3 TÌM HIỂU KĨ THUẬT DẠY GIỜ BÀI TẬP VẬT LÍ 13HOẠT ĐỘNG 4 TÌM HIỂU MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC KHÁC CÓ THỂ ÁP

Phần 2: DẠY HỌC KIỂU BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT MÔN VẬT

HOẠT ĐỘNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG KHI DẠY BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT

HOẠT ĐỘNG 2 TÌM HIỂU NHỮNG BIỆN PHÁP ÁP DỤNG TRONG VIỆC ĐỔI

MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KIỂU BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT VẬT LÍ CẤP

TRUNG HỌC CƠ SỞ.

26

Câu hỏi ôn tập phần 2

Phần 3: DẠY HỌC ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM 31HOẠT ĐỘNG 1 TÌM HIỂU CÁCH NHẬN DIỆN HỌC SINH YẾU KÉM 31HOẠT ĐỘNG 2 TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN HỌC SINH YẾU KÉM 32HOẠT ĐỘNG 3 TÌM HIỂU GIẢI PHÁP DẠY HỌC ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH YẾU

Trang 3

Phần 1 MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC VẬT LÍ

Muc tiêu:

- Xác định được những định hướng chung của việc soạn giảng hiện nay.

- Nêu được các kĩ thuật dạy học cơ bản bộ môn Vật lí cấp THCS; Kĩ thuật dạy học giờ

lý thuyết, kĩ thuật dạy học giờ bài tập và một số kĩ thuật dạy học khác

- Biết áp dụng thành thạo các kĩ thuật dạy học vào các tiết dạy môn Vật lí một cách linh hoạt để nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp

HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHUNG CỦA VIỆC SOẠN GIẢNG HIỆN NAY

Thông tin phản hồi:

- Đặt ra mục tiêu bài học thật rõ ràng: Mục tiêu chính là kết quả sau khi kết thúc

bài học học sinh cần nhớ, cần hiểu và cần vận dụng được những gì (3 mức độ ban đầutrong thang nhận thức Bloom) Mục tiêu bài học phải chi tiết, cụ thể và được thể hiệnbằng các động từ cụ thể như nêu được, phát biểu được, giải thích được, áp dụng được,tóm tắt được, so sánh được Không viết mục tiêu chung chung không rõ ràng Giáoviên cần thuộc lòng mục tiêu bài dạy trước khi lên lớp Sau mỗi tiết học giáo viên có thểkiểm tra xem học sinh đã đạt được những mục tiêu mà mình đề ra chưa

- Luôn chủ động linh hoạt tìm mạch lô gic để làm cho bài giảng được hay, hấp dẫn, lô gic, không quá phụ thuộc vào sách giáo khoa, có thể sử dụng lô gic hình thành

kiến thức theo phương án khác sách giáo khoa hoặc đảo thứ tự các phần, các nội dungtrong bài học miễn sao đạt được mục tiêu bài dạy

- Lựa chọn và cung cấp lượng kiến thức phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của học sinh Trên cơ sở mục tiêu đã biên soạn, giáo viên nên lựa chọn những vấn

đề kiến thức phù hợp với đối tượng, không quá nặng nề phức tạp (nhưng vẫn đảm bảo

là kiến thức trọng tâm, vẫn phải nằm trong mục tiêu của bài) Với những phép chứngminh, giải thích quá phức tạp, rắc rối, học sinh không thể hiểu được thì có thể cho họcsinh công nhận kết quả rồi tìm cách áp dụng vào các trường hợp cụ thể, phần chứngminh có thể yêu cầu những em học sinh khá về nhà đọc sách tự tìm hiểu

- Trong mỗi giờ học sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy: Có nhiều phương pháp

trong giảng dạy môn vật lí như thuyết trình, phát vấn, tổ chức thảo luận nhóm, tổ chứclàm việc cá nhân, trực quan (khai thác phương tiện dạy học) Giáo viên cần căn cứ vàonội dung kiến thức và đối tượng học sinh để lựa chọn các phương pháp phù hợp tronggiờ dạy (Xác định trong bài học và ứng với đối tượng học sinh cụ thể chỗ nào nênthuyết trình, chỗ nào nên đặt câu hỏi dẫn dắt, chỗ nào nên tổ chức thảo luận nhóm, làm

Trang 4

việc cá nhân ) Những nội dung này cần được thể hiện thật cụ thể trong giáo án Trongmỗi giờ học phải sử dụng từ 2 đến 3 phương pháp trở lên để tránh sự nhàm chán đồngthời phát huy tốt tính tích cực của học sinh.

HOẠT ĐỘNG 2 TÌM HIỂU KĨ THUẬT DẠY HỌC GIỜ LÝ THUYẾT

Câu hỏi 1: Đối với một giờ dạy lý thuyết, những hoạt động nào giáo viên thường tiến hành?

Thông tin phản hồi:

1 Dẫn dắt vào vấn đề (nêu vấn đề)

2 Đặt câu hỏi gợi mở, điều khiển sự trả lời của học sinh

3 Thuyết trình, phân tích, diễn giảng

4 Làm thí nghiệm

5 Khai thác các phương tiện dạy học

6 Chia nhóm, tổ chức thảo luận

7 Tạo sự hứng thú cho lớp học

Bảy hoạt động này cần được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và khéo léo sao chođạt được 3 mục đích:

- Học sinh tích cực hoạt động;

- Học sinh đạt được những mục tiêu mà giáo viên đã đề ra;

- Học sinh hứng thú đối với giờ học

Câu hỏi 2: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Dẫn dắt, nêu vấn đề”?

Thông tin phản hồi:

Đây là hoạt động thường tiến hành ở đầu bài học hoặc ở đầu mỗi phần trong bài.Hoạt động này có tác dụng tập trung sự chú ý của học sinh vào nội dung mà giáo viênsắp trình bày Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả thì cần phải làm cho học sinh

cảm thấy tò mò về vấn đề mà giáo viên sắp trình bày Muốn vậy, vấn đề mà giáo viên

dẫn dắt phải mới, lạ và hứng thú đối với học sinh Dưới đây là một số cách dẫn dắt vàovấn đề mà giáo viên có thể tiến hành:

- Nêu một tình huống thực tế có liên quan đến bài học Khẳng định học sinh sẽgiải thích được hiện tượng nếu như học xong bài học

- Đặt một câu hỏi thực tế liên quan đến bài mà học sinh chưa trả lời được (tìnhhuống mới lạ)

- Làm một thí nghiệm mà kết quả có một điểm mới, lạ đối với học sinh

- Kể một câu chuyện có liên quan đến bài học

Trang 5

Câu hỏi 3: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Đặt câu hỏi gợi mở, điều khiển sự trả lời của học sinh”?

Thông tin phản hồi:

Việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ thống các câu hỏi sẽ khơidậy sự tò mò tìm hiểu về bài học, từ đó học sinh chủ động khám phá kiến thức dưới sựhướng dẫn của giáo viên, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh động, học sinh thực sự trởthành chủ động nắm kiến thức của bài, chất lượng, hiệu quả giờ dạy tăng lên rất nhiều

Hệ thống câu hỏi trong dạy học có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc làm cho bàigiảng thực sự tạo được tình huống có vấn đề từ đó phát huy tính tích cực của học sinhtrong học tập Để xây dựng được một hệ thống câu hỏi đạt yêu cầu đòi hỏi người thầyphải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, tìm tòi, cân chỉnh, rút kinh nghiệm quasoạn bài, qua sự thể hiện ở các giờ lên lớp, qua nhiều năm công tác

Mỗi tiết dạy đưa ra nhiều hay ít câu hỏi, còn tùy thuộc vào từng bài và đối tượng họcsinh Điều quan trọng nhất là đưa ra được các câu hỏi cần thiết vừa đủ, có chất lượng,

có tác dụng thiết thực tạo được các tình huống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinhkhám phá kiến thức Có bài hầu như chỉ phù hợp với phương pháp thuyết trình, tuynhiên nếu chịu khó tìm tòi, cân nhắc chúng ta vẫn có cơ hội đưa ra được một số câu hỏitạo tình huống có vấn đề làm tăng hiệu quả giờ dạy

a Yêu cầu đối với câu hỏi

- Câu hỏi có tác dụng đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, động não mới làm sáng tỏ đượcnhững điều mà giáo viên đặt ra

- Câu hỏi dựa trên những kinh nghiệm hoặc kiến thức bài cũ mà học sinh đã học, đãbiết

- Câu hỏi có tính định hướng đến nội dung kiến thức mà giáo viên muốn học sinh chiếmlĩnh, tránh những câu hỏi vu vơ không liên quan

- Câu hỏi cần có hệ thống gợi ý, dẫn dắt để học sinh trả lời các ý, từ đó hoàn chỉnh vấn

đề cần trả lời

b Những câu hỏi không nên dùng

Câu hỏi là phương tiện cần thiết cho việc dạy theo phương pháp nêu vấn đề Tuynhiên, thực tế cho thấy để đưa ra được các câu hỏi đạt yêu cầu quả không phải dễ dàng

Có không ít câu hỏi sử dụng đã tạo ra tác dụng ngược lại làm cho giờ dạy nhạt nhẽo,lũng cũng, tốn thời gian, tạo dấu ấn rất mờ nhạt, không có giá trị phát huy tính tích cựccủa học sinh Cụ thể:

- Câu hỏi không dựa trên kinh nghiệm hoặc nền kiến thức cũ: Những câu hỏi loại nàythường làm học sinh lúng túng và thường phản ứng bằng cách đoán mò hoặc đọc sáchgiáo khoa tìm câu trả lời

Trang 6

- Câu hỏi không định hướng: khó xác định hoặc xác định sai yêu cầu, điều này làm họcsinh rối trí, mất nhiều thời gian đồng thời không hoàn thành được yêu cầu thầy giáo đặt

ra Dạng câu hỏi này thực tế dẫn tới người giải quyết vấn đề lại chính là giáo viên

- Câu hỏi quá dài, học sinh không thể nhớ hết nội dung câu hỏi

- Các câu hỏi quá đơn giản không có giá trị phát huy trí lực học sinh, các câu hỏi vụnvặt với những trả lời như: có, không, đúng ạ… loại câu hỏi này đưa ra vừa làm mất thờigian vừa làm cho giờ dạy đơn điệu nhạt nhẽo

- Câu hỏi đưa ra mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phải độngnão, không cần ghi nhớ, chỉ cần đọc đúng là trả lời được vấn đề mà giáo viên nêu lên

c Kĩ thuật đặt câu hỏi

Bên cạnh hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị thì cách hỏi và điều khiển sự trả lời của họcsinh cũng rất quan trọng Để việc khai thác hệ thống câu hỏi đạt kết quả cao chúng talưu ý một số điểm sau:

- Câu hỏi nêu ra phải chỉ rõ đối tượng trả lời, tránh tình trạng hỏi chung chung rồi sau

đó giáo viên tự trả lời

- Khi đặt câu hỏi phải cho học sinh thời gian suy nghĩ, tránh việc nêu câu hỏi ra rồibắt học sinh trả lời luôn (có thể nói từ từ, nhấn mạnh, lặp đi lặp lại một vài lần)

- Với một câu hỏi có thể gọi một vài học sinh trả lời, nhận xét trả lời để kiểm tra sựnhận thức của các em

- Khi học sinh trả lời câu hỏi xong thì dù trả lời đúng hay sai cũng nên khen học sinh.Điều này làm học sinh tăng sự tự tin trong việc suy nghĩ và trả lời câu hỏi của giáo viên

- Nếu học sinh không trả lời được thì có thể sử dụng gợi ý cho câu hỏi hoặc gọi họcsinh khác, tránh việc dừng quá lâu trước một học sinh sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ bàigiảng

- Đối với việc sử dụng khai thác các câu hỏi gợi ý của sách giáo khoa, tránh việc dùngcụm từ “các em hãy đọc C1 và trả lời C 1…” Giáo viên cần thoát ly sách giáo khoa, nêuhẳn câu hỏi lên theo mạch kiến thức bài học và cho học sinh suy nghĩ trả lời

- Nên có hệ thống câu hỏi chọn lọc phù hợp với đối tượng học sinh Đối với học sinhtrung bình, yếu nên cho trả lời những câu hỏi đơn giản, dễ dàng Còn đối với học sinhkhá giỏi nên cho trả lời những câu hỏi cần suy luận nhiều hơn

- Nếu là câu hỏi có dạng đúng, sai thì phải yêu cầu học sinh giải thích cho câu trả lời của mình

- Không nên đưa ra quá nhiều câu hỏi trong một bài học: điều này sẽ làm cho bài giảng

bị loảng, mất tính hệ thống, giờ giảng bị căng, học sinh mệt mỏi, tốn nhiều thời gian,các kiến thức cốt lõi ít được giảng giải phân tích

Trang 7

Hệ thống câu hỏi là yếu tố rất quan trọng đối với bài giảng, Giáo viên cần đầu

tư thời gian, công sức biên soạn hệ thống câu hỏi thể hiện rõ trong giáo án đồng thời nắm vững những kĩ thuật hỏi để việc khai thác câu hỏi đạt kết quả cao nhất.

Câu hỏi 4: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Thuyết trình, phân tích, diễn giảng”?

Thông tin phản hồi:

Đây là hoạt động không thể thiếu và chiếm thời gian đáng kể trong giờ học Hoạtđộng này thường kết hợp với hoạt động phát vấn (đặt câu hỏi) Sau đây chúng ta cùngphân tích đặc điểm cũng như những điểm lưu ý khi thực hiện hoạt động này

a Khi nào cần phân tích, thuyết trình, diễn giảng?

- Những khái niệm mới

b Để việc phân tích, thuyết trình, diễn giảng đạt hiệu quả cần lưu ý:

- Lời nói, trình bày của người thầy phải sinh động: việc tạo cho giờ dạy có tính sinh

động, thu hút được học sinh có ý nghĩa cực kì quan trọng, chúng ta đã từng chứng kiếncùng một bài dạy được trình bày với cung cách và ngôn ngữ giống nhau song do sựkhác nhau trong trạng thái tâm lí mà có lớp giờ giảng rất sinh động, học sinh tiếp thuhào hứng, đưa lại hiệu quả cao, người ta thường gọi đó là bài giảng có hồn Có lớp giờgiảng diễn ra một cách nhạt nhẽo, buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệu quảrất thấp, những dấu ấn của bài giảng để lại trong trí não học sinh rất mờ nhạt, đó lànhững bài giảng không có hồn

Sự sinh động trong tiết học liên quan đến rất nhiều yếu tố: chuẩn bị bài kĩ lưỡng, nắmchắc, hiểu sâu, biết rộng những điều trình bày, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm đốivới học sinh Giáo viên phải luôn có tâm thế hào hứng đón chờ giờ dạy, thả hồn vào giờdạy, có lòng bao dung, xử lí một cách mềm dẻo, có chừng mực đối với các tình huốngkhông bình thường mà học sinh có thể bộc lộ trong giờ dạy Sự hào hứng trong lờigiảng của thầy sẽ khơi dậy, lôi cuốn sự hào hứng tiếp thu và xây dựng bài của học sinh

Để tạo sự sinh động trong giảng bài thì cần sử dụng ngôn ngữ gần gũi với học sinh,không nhất thiết chỉ toàn sử dụng những thuật ngữ khoa học khô khan, nên sử dụngnhững hình ảnh gần gũi dễ nhận biết, so sánh sự tương đồng giữa hiện tượng vật lí vớihiện tượng trong cuộc sống, giọng điệu phải thay đổi tránh giữ chất giọng đều đều suốt

cả giờ học, đôi khi pha thêm một vài câu đùa vui hóm hỉnh

Trang 8

- Tích cực khai thác, sử dụng kênh hình trong việc phân tích, thuyết trình: Kênh

hình ở đây có thể là hình vẽ trong SGK, hình vẽ chuẩn bị sẵn, các hình ảnh, video màgiáo viên đã chuẩn bị hoặc hình vẽ do giáo viên vẽ lên bảng trong giờ học Việc đưa rahình vẽ, hình ảnh rồi phân tích hiện tượng, quá trình ngay trên hình vẽ, hình ảnh có tácdụng giúp học sinh dễ hình dung, tưởng tượng ra hiện tượng, quá trình từ đó nắm bài tốthơn so với việc giáo viên chỉ nói mà không có bất cứ hình vẽ, hình ảnh nào

- Sử dụng mô hình tương đồng giữa khái niệm, hiện tượng trong vật lí với khái niệm hiện tượng trong cuộc sống quen thuộc đối với học sinh Ví dụ so sánh sự tương

đồng của dòng điện với dòng nước, hiệu điện thế với hiệu độ cao

- Nêu ví dụ và phân tích ví dụ khi cần trình bày một khái niệm, định luật phức tạp:

Một khái niệm khó nếu học sinh chỉ đọc định nghĩa và công thức có thể chưa hiểu ngay,giáo viên cần nêu và phân tích một vài ví dụ về khái niệm, định luật đó Điều này khôngnhững giúp học sinh hiểu ngay tại lớp mà còn giúp cho việc làm bài tập của học sinh

- Kết hợp chặt chẽ việc thuyết trình, diễn giảng với việc đặt câu hỏi và điều khiển sự trả lời của học sinh: không nên thuyết trình quá dài mà nên có câu hỏi xen giữa các nội

dung thuyết trình Điều này giúp cho học sinh vừa phải lắng nghe, quan sát vừa phảisuy nghĩ để trả lời câu hỏi của giáo viên

Câu hỏi 5: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động“Làm thí nghiệm”?

Thông tin phản hồi:

Trong dạy học vật lí, làm thí nghiệm là một hoạt động khá đặc trưng của bộ môn.Đối với các giờ lý thuyết thì thí nghiệm bao gồm hai loại là thí nghiệm biểu diễn củathầy và thí nghiệm đồng loạt của trò Chúng ta phân tích đặc điểm và kĩ thuật tiến hànhcác loại thí nghiệm trên

a Thí nghiệm biểu diễn của thầy: ở loại thí nghiệm này giáo viên sẽ tiến hành thí

nghiệm biểu diễn để khảo sát hoặc minh họa một hiện tượng, quá trình, định luật vật línào đó Để tiến hành một cách hiệu quả chúng ta lưu ý những điểm sau:

- Trước khi làm thí nghiệm:

+ Giới thiệu mục đích thí nghiệm: đây là điều đầu tiên giáo viên cần làm trước khi tiến

hành thí nghiệm Học sinh phải biết là thí nghiệm này để làm gì, từ đó tập trung vàonhững chỗ cốt lõi, chủ yếu trong kết quả thí nghiệm

+ Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm: nêu những bộ phận và tác dụng của từng bộ phận

trong thí nghiệm Không cần quá đi sâu vào chi tiết kĩ thuật, chỉ cần giới thiệu tên gọi,

sơ lược cơ chế hoạt động và tác dụng của bộ phận

+ Hướng dẫn học sinh tập trung quan sát vào kết quả cốt lõi của thí nghiệm, tránh tậptrung vào những kết quả không chủ yếu (xa mục đích)

- Khi làm thí nghiệm:

Trang 9

+ Kết hợp vừa thuyết trình, phân tích vừa tiến hành thí nghiệm.

+ Kết hợp vừa làm thí nghiệm vừa đặt câu hỏi cho học sinh: ví dụ như đang làm thínghiệm thì dừng lại, yêu cầu học sinh dự đoán điều sắp xảy ra, yêu cầu học sinh suynghĩ để lí giải kết quả thí nghiệm…

+ Hướng dẫn học sinh phân tích, xử lí số liệu thu được từ thí nghiệm

+ Chốt lại kết luận sau khi làm xong thí nghiệm và xử lí xong dữ liệu

Về mặt kĩ thuật cần lưu ý: Thí nghiệm phải bố trí cho cả lớp đều quan sát được Nếudụng cụ quá nhỏ không thể quan sát cả lớp có thể gọi từng bàn lên quan sát lần lượt

b Thí nghiệm đồng loạt của trò: Hoạt động này thường tiến hành khi nội dung của thí

nghiệm là đơn giản và có đủ dụng cụ cho các nhóm trong lớp tiến hành đồng loạt Khi

tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm đồng loạt tại lớp cần lưu ý những điểm sau:

- Trước khi làm thí nghiệm: giáo viên cần chia nhóm, giới thiệu mục đích thí nghiệm,dụng cụ thí nghiệm, hướng dẫn học sinh quan sát kết quả cốt lõi của thí nghiệm, nêukhoảng thời gian cho thí nghiệm

- Trong khi làm thí nghiệm: theo dõi hoạt động của các nhóm, hướng dẫn những nhómchưa làm được thí nghiệm, đặt câu hỏi cho các nhóm trong quá trình làm thí nghiệm

- Kết thúc thí nghiệm: hướng dẫn học sinh xử lí số liệu, rút ra kết luận, giáo viên chốtlại

Câu hỏi 6: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Khai thác các phương tiện dạy học”?

Thông tin phản hồi:

Đây là hoạt động tiến hành song song đồng thời với các hoạt động trên Các phươngtiện dạy học cơ bản gồm Bảng, SGK của học sinh, bảng phụ, máy tính, máy chiếu, dụng

cụ thí nghiệm… Chúng ta cùng phân tích cách khai thác hiệu quả các phương tiện chủyếu hay dùng nhất trong các giờ dạy lí thuyết vật lí

Trang 10

- Những nội dung trình bày trên bảng là những nội dung cô đọng thể hiện chuẩn kiếnthức kĩ năng của bài Thông thường ở trên bảng sẽ là các tiêu đề, các công thức, kếtluận quan trọng Nội dung vừa đủ, không quá dài hoặc không quá ngắn

- Nên có một phần trên bảng để tự do thể hiện ý tưởng của giáo viên hoặc học sinh(viết, vẽ xong rồi xóa) bên cạnh phần cố định trình bày kiến thức theo nội dung

b Sử dụng, khai thác sách giáo khoa: Một trong những đổi mới trong phương pháp

dạy học hiện nay đó là rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Sáchgiáo khoa trở thành một phương tiện dùng cho mục đích này và sử dụng trong cáctrường hợp sau:

- Nghiên cứu SGK để rút ra các kết luận về mặt lí thuyết hoặc so sánh các kiến thứccác nội dung liên quan…

- Từ vốn kiến thức SGK để giải thích các tình huống lí thuyết hoặc thực tiễn đặt ra (ví

mà nhanh chóng nhìn vào SGK để tìm câu trả lời Với cách làm này giờ dạy diễn ra có

vẻ trôi chảy nhẹ nhàng và hình như một bộ phận đáng kể giáo viên và nhiều em họcsinh cũng thích cung cách này vì việc học tập diễn ra thật dễ dàng, giáo viên thậm chíkhông cần đọc sách giáo khoa và soạn bài trước mà đến lớp cùng học trò đọc luôn thể.Tuy nhiên hiệu quả giờ dạy rất thấp, dấu ấn các kiến thức được khắc họa trong trí nãohọc sinh rất mờ nhạt, không đạt được các yêu cầu và mục tiêu của việc dạy học Cáccâu hỏi mà giáo viên đưa ra không những không phát huy tính tích cực mà trái lại làmcho học sinh có thói quen trông chờ ỷ lại, ít cố gắng, lười biếng Đây là điều cần tránhtrong các giờ dạy

Trang 11

Để khai thác sách giáo khoa một cách có hiệu quả giáo viên cần:

- Tạo ra cho học sinh nhu cầu muốn tìm hiểu, muốn đọc sách giáo khoa: Có thể thôngqua một hiện tượng thực tế, một câu hỏi định tính nào đó tạo sự tò mò mà câu trả lời sẽ

có sau khi đọc xong nội dung cần tìm hiểu trong sách giáo khoa Điều này sẽ có tácdụng kích thích học sinh ham muốn đọc sách để trả lời vấn đề mà giáo viên nêu ra

- Thưởng điểm cho học sinh thông qua việc đọc sách giáo khoa để trả lời câu hỏi củathầy

- Hướng dẫn học sinh tự đọc những nội dung không cốt lõi, không quan trọng trongsách giáo khoa

- Câu lệnh hướng dẫn học sinh đọc, khai thác sử dụng sách giáo khoa phải rõ ràng,chính xác

c Sử dụng dụng cụ thí nghiệm (xem phần làm thí nghiệm ở trên)

d Sử dụng máy tính, máy chiếu, hình vẽ, bảng phụ nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Kết hợp sử dụng các dụng cụ trên với thuyết trình phân tích và đặt hệ thống câu hỏihợp lí

+ Sử dụng vừa đủ, không tràn lan, không lạm dụng, không biến việc sử dụng phươngtiện thành mục đích của bài dạy

Câu hỏi 7: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Tổ chức hoạt động nhóm”?

Thông tin phản hồi:

Tổ chức hoạt động nhóm là một hoạt động có thể phát huy rất tốt tính tích cực chủđộng của học sinh trong giờ học, tuy nhiên đó cũng là con dao 2 lưỡi Nếu thực hiện tốtthì học sinh sẽ rất tích cực, chủ động xây dựng và nắm kiến thức, hứng thú với tiết học;còn nếu thực hiện không tốt thì có thể làm giờ học trở nên hỗn loạn, khó kiểm soát.Chúng ta phân tích các đặc điểm của hoạt động này

a Tổ chức hoạt động nhóm với những hoạt động như thế nào?

Thường chúng ta tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đối với các trường hợp sau:

- Sử dụng thí nghiệm đồng loạt để kiểm chứng, minh họa, khảo sát quy luật, hiệntượng

- Vấn đề nêu ra để thảo luận không quá trừu tượng phức tạp để học sinh có thể thảoluận, để đi đến kết luận nhưng cũng không quá dễ dàng đối với học sinh

b Cách thức tổ chức hoạt động:

+ Chia nhóm: Giáo viên là người tiến hành chia nhóm Số lượng nhóm và thànhviên trong các nhóm tùy vào tình hình cụ thể của lớp học, cử nhóm trưởng, thư kí, đặttên cho nhóm

Trang 12

+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm : nhiệm vụ giao cho các nhóm phải chi tiết, cụ thể rõràng, giáo viên có thể hướng dẫn phân tích cách làm.

+ Dự kiến thời gian hoạt động của các nhóm, quan sát, bao quát hoạt động của cácnhóm

+ Nghiệm thu sản phẩm của các nhóm, yêu cầu các nhóm nhận xét kết quả

+ Kết luận và chốt lại

Câu hỏi 8: Trình bày nội dung cơ bản của hoạt động “Tạo sự hứng thú trong giờ học”?

Thông tin phản hồi:

Việc tạo sự hứng thú trong giờ học có vai trò khá quan trọng, nó giúp cho học sinhcảm thấy yêu thích môn học hơn, từ đó việc chủ động lĩnh hội kiến thức sẽ đạt hiệu quảhơn Tuy vậy, vấn đề này thường không được nhiều giáo viên để tâm đến Nhiều ngườithường cố gắng hoàn thành bài giảng dưới dạng tròn vai mà không chú tâm đến cácbiện pháp giúp tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Vậy làm thế nào để học sinh

có hứng thú trong giờ học? thực ra để đạt được điều này dựa nhiều vào kinh nghiệm, sựnhiệt tình của giáo viên và đặc điểm của học sinh Chúng ta cùng phân tích một vàibiện pháp giúp tăng sự hứng thú của học sinh trong giờ học

- Tạo điều kiện cho học sinh được làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm: trongquá trình học sinh tự làm hoặc quan sát, dự đoán, phân tích, lí giải thí nghiệm học sinh

sẽ tự xây dựng và chiếm lĩnh kiến thức cho mình đồng thời tăng thêm sự hứng thú đốivới môn học

- Sử dụng các quá trình mô phỏng bằng hình ảnh, video, phần mềm, trình chiếu Nếugiáo viên khai thác tốt (kết hợp với kĩ thuật thuyết trình và phát vấn) và sử dụng hợp lí(vừa mức, không sa đà) thì hiệu quả giờ học sẽ rất cao đồng thời học sinh sẽ rất hứngthú

- Trong quá trình giảng dạy sử dụng ngôn từ tự nhiên, sinh động, không khô khan,cứng nhắc, không quá nhiều thuật ngữ phức tạp, khó hiểu (có thể thay thế bằng từ hoặccụm từ khác dễ hiểu hơn miễn là chính xác)

- Khen ngợi học sinh đúng lúc và đúng chỗ (sau khi học sinh trả lời câu hỏi, có thể chođiểm thưởng) Tuyệt đối không chế diễu, xúc phạm học sinh

- Kể thêm các câu chuyện bên ngoài có liên quan đến nội dung bài học như chuyện vềcác danh nhân, lịch sử phát minh, hiện tượng thực tế …

- Tổ chức nhiều hoạt động học tập mới lạ dạng học mà chơi như mô phỏng các tròchơi trên truyền hình

- Hài hước và tế nhị trong nhắc nhở học sinh

Trang 13

- Khuyến khích học sinh nêu câu hỏi để hỏi lẫn nhau hoặc hỏi ngược lại giáo viên (cóthể thưởng điểm nếu câu hỏi hay).

Các hoạt động gây hứng thú cho học sinh có thể tiến hành vào đầu buổi hoặc song songcùng các hoạt động khác trong suốt cả buổi học Vấn đề quan trọng nhất là tạo được sựhứng thú cao đối với học sinh

Trên đây là 7 hoạt động chủ yếu thường được tiến hành trong các giờ dạy lí thuyếtmôn vật lí Không phải bài nào cũng tiến hành đầy đủ cả 7 hoạt động này mà tùy từngbài cụ thể chúng ta lựa chọn cách thức trình bày các hoạt động cho phù hợp Nhữnghoạt động trên cần được kết hợp với nhau một cách khéo léo và hợp lí sao cho giờ dạyđạt hiệu quả tốt nhất

HOẠT ĐỘNG 3 TÌM HIỂU KĨ THUẬT DẠY GIỜ BÀI TẬP VẬT LÍ

Câu hỏi 1: Trình bày những vấn đề còn tồn tại của tiết bài tập vật lí?

Thông tin phản hồi:

Một số vấn đề còn tồn tại của tiết bài tập vật lí:

- Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khảnăng tiếp thu của học sinh, của chương trình Nếu không xác định đúng mục tiêu rất dễ

đi vào sự đơn điệu

- Một số giáo viên còn xem nhẹ tiết bài tập, chỉ dừng lại khi giải xong các bài tập ởsách giáo khoa

- Thiết kế tiết dạy thường không có sự khái quát, kết luận về từng vấn đề, nên họcsinh khó có thể nêu lên được phương pháp giải bài tập liên quan

- Đa số bài tập ở sách giáo khoa chỉ dừng lại ở mức độ củng cố, còn thiếu so vớilượng kiến thức đã nêu trong lý thuyết Do đó dẫn đến tình trạng học sinh khá giỏikhông thể phát huy được khả năng, học sinh ở mức độ trung bình trở xuống thì bế tắckhi gặp dạng bài tập khác

- Tiết bài tập trong phân phối chương trình còn ít

- Kĩ năng vận dụng kiến thức Toán cho việc giải bài tập còn hạn chế đối với một bộphận không nhỏ học sinh

- Trong bộ sách một số đơn vị kiến thức không trình bày nhưng lại cho bài tập trongsách bài tập, nếu giáo viên không chịu tìm hiểu thì học sinh không biết đâu mà giải khigặp loại bài tập như vậy

Câu hỏi 2: Phân loại và nêu phương pháp giải từng loại bài tập vật lí?

Thông tin phản hồi:

Bài tập vật lí có thể chia làm 4 loại như sau:

Trang 14

- Bài tập vật lí định tính (còn có các tên gọi khác như câu hỏi định tính, câu hỏithực tế )

- Bài tập vật lí định lượng

- Bài tập đồ thị

- Bài tập thí nghiệm

Chúng ta phân tích đặc điểm và phương pháp giải của từng dạng

1 Bài tập vật lí định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết.

a Đặc điểm

- Là bài tập mà học sinh không cần phải tính toán (Hay chỉ có các phép toán đơngiản) mà chỉ vận dụng các định luật, định lý, qui luật để giải thích hiện tượng thông quacác lập luận có căn cứ, có lôgic

- Nội dung của các câu hỏi khá phong phú, và đòi hỏi phải vận dụng rất nhiềucác kiến thức vật lí

b Các bước chung để giải bài tập định tính

Thông thường để giải các bài toán này cần tiến hành theo các bước:

- Phân tích câu hỏi

- Phân tích hiện tượng vật lí có đề cập đến trong câu hỏi để từ đó xác định cácđịnh luật, khái niệm vật lí hay một qui tắc vật lí nào đó để giải quyết câu hỏi

- Tổng hợp các điều kiện đã cho với các kiến thức tương ứng để trả lời câu hỏi

2 Bài tập vật lí định lượng

a Đặc điểm

Đó là loại bài tập vật lí mà muốn giải quyết nó ta phải thực hiện một loạt các phéptính Dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành 2 loại: + Bài tập tập dượt: Là bài tập đơn giản được sử dụng ngay khi nghiên cứu một kháiniệm hay một qui tắc vật lí nào đó để học sinh vận dụng kiến thức vừa mới tiếp thu + Bài tập tổng hợp: Là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó học sinh vận dụngnhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học và thuộc nhiều lĩnh vực.Đặc biệt, khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan thì yêucầu học sinh phải nhớ kết quả cuối cùng đã dược chứng minh trước đó để giải nó mộtcách nhanh chóng Vì vậy yêu cầu học sinh phải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụngkiến thức ở mức độ cao

b Các bước chung để giải

+ Bước 1: Tìm hiểu bài

Đọc kỹ đầu bài, vừa đọc vừa tóm tắt các dữ kiện bài cho, những cái cần phải tính.Trong bước này, chú ý phân tích kỹ để hiểu rõ những thuật ngữ đặc biệt của bài

Trang 15

(Bước này tất nhiên ai cũng phải thực hiện, nhưng nhiều học sinh mới đọc sơ qua đã vộilàm bài nên làm sai hoặc không thể làm được do chưa nắm hết dữ kiện của bài).

+ Bước 2 : Phân tích hiện tượng vật lí

Trong bước này phải vẽ hình, điền các thông số trên hình vẽ, phân tích xem quá trìnhvật lí xảy ra như thế nào, liên quan đến hiện tượng, định luật nào đã học (Bước này vôcùng quan trọng, nhờ nó mà ta mới xác định được hướng giải)

+ Bước 3 : Lập các phương trình liên quan và giải

Dựa vào các hiện tượng, định luật mà bài toán liên quan ta thiết lập các phương trìnhtương ứng Kiểm tra số ẩn và số phương trình lập được nếu bằng nhau thì đã đủ giải,nếu thiếu dựa vào những dữ kiện chưa được sủ dụng lập thêm cho đủ.Giải hệ phương trình để tìm những đại lượng mà bài yêu cầu (Chú ý: khi giải cần tuânthủ đúng các quy tắc toán học, chẳng hạn khi khai căn phải lấy hai giá trị +,- )

+ Bước 4: Biện luận

Xét xem các nghiệm toán học tìm được có phù hợp với ý nghĩa vật lí không, loại bỏnhững nghiệm không phù hợp

dữ liệu để giải quyết một vấn đề cụ thể

+ Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: bài tập này rèn luyện cho học sinh kỹnăng vẽ đồ thị, nhất là biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ lệ xích thích hợp để vẽ đồ thị chínhxác

b Các bước giải

Đọc kỹ đầu bài, xác định yêu cầu của bài, xác định thông tin dựa vào các trục,đơn vị, dạng đồ thị, nhận xét về các cực trị, điểm đặc biệt để suy ra thông tin cần thiết.Khi vẽ cần chọn tỉ lệ và đơn vị thích hợp

4 Bài tập thí nghiệm (xây dựng phương án thực nghiệm)

Trang 16

+ Mức độ 1: Chỉ xây dựng phương án (tính toán lập luận trên giấy, không đo đạc,không làm thí nghiệm thực).

+ Mức độ 2: Tiến hành làm thí nghiệm thực theo phương án đã vạch ra

Bài tập thí nghiêm tạo ra ở học sinh động cơ học tập, sự hăng say tò mò khám pháxây dựng kiến thức mới, gây cho học sinh một sự hứng thú, tự giác tư duy độc lập, tíchcực sáng tạo

Thông qua bài tập thí nghiệm, học sinh sẽ có khả năng tổng hợp kiến thức lý thuyết

và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt động trí óc và thực hành một cách khéo léo, các vốnhiểu biết về vật lí, kĩ thuật và thực tế cuộc sống nhằm phát huy tốt nhất khả năng suyluận và tư duy lô gíc

Với bài tập thí nghiệm, học sinh có thể đề xuất các phương án thí nghiệm khác nhaugây ra không khí tranh luận sôi nổi trong lớp

b Các bước giải:

+ Bước 1: Đọc, hiểu đề bài

+ Bước 2: Phân tích nội dung bài tập thí nghiệm

+ Bước 3: Xác định phương án thí nghiệm

+ Bước 4: Tiến hành các thao tác thí nghiệm

+ Bước 5: Kiểm tra câu trả lời so với kết quả thí nghiệm

Câu hỏi 3: Để thực hiện tốt một tiết dạy bài tập vật lí, giáo viên cần chuẩn bị những gì?

Thông tin phản hồi:

1 Xác định những kiến thức kỹ năng cần củng cố cho học sinh thông qua giờ bài tập.

Thông thường giờ bài tập thường được bố trí sau từ 2 đến 3 giờ lý thuyết, tácdụng của giờ bài tập ở đây thường là củng cố những kiến thức kỹ năng đã học thôngqua những giờ học lý thuyết trước đó, do đó giáo viên cần phải xác định chính xác và

cụ thể những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần củng cố cho học sinh (ví dụ kĩ năng ápdụng định luật gì, kĩ năng giải thích hiện tượng gì, kĩ năng vẽ đồ thị, đọc đồ thị ) đểlựa chọn hệ thống bài tập thích hợp

2 Lựa chọn hệ thống bài tập thích hợp

Đây là một công việc rất quan trọng, để lựa chọn hệ thống bài tập phù hợp giáoviên cần dựa vào việc xác định những kiến thức kỹ năng cần củng cố cho học sinh vàtrình độ của học sinh Sau đây là một số nguyên tắc về lựa chọn hệ thống bài tập:

+ Loại hình bài tập phải đa dạng: nên gồm nhiều loại bài tập trong giờ dạy (cảbài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm ) Sử dụng kết hợp các loại bài

Trang 17

tập đó một cách khéo léo, tránh chỉ sử dụng một loại bài tập duy nhất gây đơn điệunhàm chán trong học sinh.

+ Hệ thống bài tập phải phù hợp với trình độ của đa số học sinh, tránh đưa ranhững bài tập quá dễ hoặc quá khó đối với trình độ chung của lớp

+ Hệ thống bài tập phải trải đều khắp phạm vi kiến thức kĩ năng muốn củng cốcho học sinh, tránh chỉ tập trung bài tập vào một chủ đề kiến thức rất hẹp nào đó

Câu hỏi 4: Nêu những hoạt động thường được tổ chức trong một giờ bài tập vật lí?

Thông tin phản hồi:

1 Gọi học sinh lên bảng trình bày lời giải.

Đây là hoạt động thường được giáo viên áp dụng nhiều nhất trong các giờ bài tập

Ở hoạt động này giáo viên sẽ nêu bài tập (đã đưa ra cho học sinh về làm ở nhà), gọi họcsinh lên bảng tóm tắt và trình bày lời giải, gọi học sinh khác nhận xét lời giải, giáo viêntổng kết bài giải và kết luận

Hoạt động này có những ưu điểm và nhược điểm cụ thể như sau:

- Ưu điểm:

+ Kiểm tra và biết được khả năng hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh lên bảngchữa bài

+ Có thể phân tích và chỉ ra lỗi của học sinh một cách trực tiếp

+ Có thể rèn luyện cho học sinh kĩ năng trình bày bài tập

- Nhược điểm:

+ Trong một giờ bài tập chỉ kiểm tra được một số ít học sinh của lớp

+ Học sinh ở dưới lớp dễ mất trật tự nếu giáo viên không bao quát tốt

Để hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả giáo viên cần lưu ý những nội dung sau:

- Giao bài tập phù hợp với trình độ của học sinh: đối với một lớp thông thường có

nhiều đối tượng học sinh với các mức độ học lực khác nhau, khi giao bài tập giáo viênphải giao đúng đối tượng, bài tập đơn giản, dễ dành cho học sinh yếu và trung bình, bàitập phức tạp, nâng cao dành cho học sinh khá giỏi

- Bao quát lớp, tổ chức các hoạt động khác trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng: Trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng giáo viên có thể kiểm tra bài tập về

nhà của học sinh dưới lớp, đặt câu hỏi định tính, hoặc ra bài tập bổ sung cho học sinh

- Phân tích kĩ những chỗ lỗi của học sinh: qua việc phân tích chỗ lỗi trong bài tập của

học sinh để rèn cho cả lớp những kĩ năng còn yếu (kĩ năng đổi đơn vị, vẽ hình, tínhtoán, suy luận )

Trang 18

- Tổng kết bài tập và chốt lại phương pháp giải cho cả lớp.

2 Hướng dẫn cả lớp giải chung một bài tập

Đây là một hoạt động cũng khả phổ biến trong các giờ bài tập Ở hoạt động nàygiáo viên hướng dẫn học sinh cả lớp cùng giải chung một bài tập thông qua hệ thốngcâu hỏi Hoạt động này thường được tiến hành khi có những bài tập phức tạp, phải giảiqua nhiều bước, ở trong lớp chỉ có một số ít học sinh giải được Chúng ta cùng phântích đặc điểm của hoạt động này:

- Ưu điểm:

+ Nhiều học sinh trong lớp cùng tham gia vào quá trình giải bài

+ Học sinh hiểu các bước suy luận giải bài toán thông qua các câu hỏi của giáo viên.+ Giáo viên dễ bao quát lớp

+ Chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý dẫn dắt hợp lý: Đối với một bài tập giáo viên phải

dự đoán được những chỗ khó mà học sinh hay mắc khi giải bài tập để từ đó lựa chọncâu hỏi, gợi ý dẫn dắt hợp lý Sau đây là một ví dụ về hệ thống câu hỏi dẫn dắt chung:

* Đọc, tóm tắt đề bài, đổi đơn vị, vẽ hình?

* Mô tả và tưởng tượng về hiện tượng nêu trong bài toán?

* Hiện tượng nêu trong bài toán có liên quan đến công thức đã học?

* Viết ra các công thức và phương trình có liên quan?

* Với các phương trình trên ta có xác định được cái cần tìm không?

* Cụm từ " " trong bài có nghĩa như thế nào? Với cụm từ đó ta có thể biểudiễn bằng phương trình toán học như thế nào?

* Có thể giải phương trình, hệ phương trình trên như thế nào?

* Kết quả thu được có hợp lý không?

+ Linh hoạt trong quá trình đặt hệ thống câu hỏi gợi ý cho học sinh: Hệ thống câu

hỏi, các yêu cầu phải phù hợp với đối tượng, không cứng nhắc trong việc đặt câu hỏi(nếu câu hỏi khó, lớp không trả lời được thì chia nhỏ câu hỏi đó thành những câu dễhơn hoặc sử dụng sự liên tưởng, tưởng tượng để học sinh có thể trả lời được); Sử dụngkhéo léo kĩ thuật đặt câu hỏi (hỏi có đối tượng trả lời, khen học sinh sau khi trả lời, cóthể cho điểm với những câu trả lời tốt )

Trang 19

+ Kết hợp tốt phần trình bày trên bảng với phần trả lời câu hỏi gợi ý của học sinh:

Thông thường cứ sau những câu trả lời quan trọng có tác dụng định hướng lời giải củahọc sinh GV nên chốt lại trong phần trình bày bài giải trên bảng

+ Tổng kết và chốt lại phương pháp giải chung của bài toán.

3 Giao phiếu học tập và chia nhóm để học sinh giải bài tập tại lớp.

Ở hoạt động này, giáo viên chuẩn bị các bài tập ra phiếu, chia lớp thành cácnhóm để làm bài tập trong các phiếu Hoạt động này thường tiến hành khi GV đã tiếnxong hoạt động 1 hoặc hoạt động 2 ở trên Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả GVcần lưu ý:

- Số lượng bài tập trong phiếu phải phù hợp với trình độ của học sinh

- Chia nhóm và giao nhiệm vụ thật cụ thể cho các nhóm (số lượng thành viên, nhómtrưởng, các bài tập cần làm, thời gian hoàn thành )

- Nên cho các nhóm làm bài tập trên bảng phụ, sau khi hoàn thành đem lên trình bàytrên bảng Theo dõi, bao quát hoạt động của các nhóm trong quá trình giải bài

- Cho các nhóm cử người lên trình bày bài tập của nhóm mình, các nhóm khác nhậnxét

- Giáo viên tổng kết và chốt lại bài tập, đánh giá về hoạt động của các nhóm

4 Các hoạt động khác.

Ngoài các hoạt động chính nói trên, trong giờ bài tập vật lí có thể tiến hành thêmcác hoạt động khác như sau:

- Nêu câu hỏi định tính cho cả lớp cùng suy nghĩ, thảo luận tìm câu trả lời Để tăng sự

hứng thú cho học sinh giáo viên có thể ra điều kiện về điểm số cho câu trả lời

- Ra các câu hỏi trắc nghiệm để cả lớp cùng làm chung (có thể chuẩn bị trên bảng phụ,

số lượng câu hỏi và mức độ câu hỏi phù hợp, luôn yêu cầu học sinh lý giải cho câu trảlời)

- Tổ chức đặt các câu hỏi dưới dạng hình thức giống như các trò chơi trên truyền hình (Ai là triệu phú, đấu trường một trăm, đối mặt ): Hoạt động này có tác dụng rất lớn

trong việc kích thích sự hứng thú của học sinh Tuy nhiên số lượng câu hỏi và thời gian

bố trí phải phù hợp

- Ra bài tập thí nghiệm cho học sinh (có thể ra ở giờ trước): Yêu cầu học sinh nêu

phương án, GV chốt lại có thể yêu cầu học sinh về nhà làm thí nghiệm thực để kiểm traphương án mà mình nêu ra

Câu hỏi 5: Khi tiến hành các hoạt động trong một giờ bài tập vật lí cần lưu ý gì?

Thông tin phản hồi:

1 Sử dụng phối hợp nhiều hoạt động trong một giờ bài tập.

Trang 20

Nếu toàn bộ giờ học chỉ có một hoạt động duy nhất (ví dụ hoạt động chỉ gọi họcsinh lên bảng) thì dễ gây đơn điệu, nhàm chán cho học sinh đặc biệt là những lớp có sựphân loại học sinh rõ nét GV nên tiến hành ít nhất từ 2 đến 4 hoạt động nêu ở trên,đồng thời kết hợp các hoạt động với nhau một cách hợp lý Điều đó sẽ giúp cho giờ họckhông còn đơn điệu, tạo điều kiện cho học sinh các loại đối tượng đều được tham giahoạt động.

2 Nên khen ngợi và khuyến khích học sinh, cho điểm hợp lý, tuyệt đối không chê bai học sinh.

Theo tâm lý học thì con người ai cũng thích được khen, ghét bị chê Do đó việckhen ngợi học sinh sau khi làm được một bài tập (cho dù là dễ) hoặc trả lời được mộtcâu hỏi là rất cần thiết (kể cả khi học sinh trả lời sai ta cũng khen ngợi vì học sinh đãsuy nghĩ và nói lên suy nghĩ của mình) Việc khen ngợi và cho điểm hợp lý sẽ giúp chohọc sinh tăng thêm sự hứng thú trong môn học Bên cạnh đó nếu có chê trách học sinhthì nên thực hiện một cách khéo léo tế nhị, tránh làm học sinh bị tổn thương, tuyệt đốikhông được mạt sát học sinh, điều này có thể dập tắt ngay sự hứng thú của học sinh đốivới môn học vừa mới được hình thành

3 Luôn luôn tổng kết và chốt lại phương pháp giải của các dạng bài tập đã nêu ra.

Đây là thao tác rất cần thiết, nó giúp cho học sinh xác định được phương phápchung giải bài tập theo dạng và lần sau có thể làm bài tập tương tự

HOẠT ĐỘNG 4 TÌM HIỂU MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC KHÁC CÓ THỂ ÁP DỤNG VÀO DẠY HỌC VẬT LÍ.

Trang 21

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câuhỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình;

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhómđều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trởthành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bàylại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

Vòng 2: “Nhóm mảnh ghép”

- Hình thành nhóm mới khoảng từ 3 - 6 người ( bao gồm 1-2 người từnhóm 1; 1-2 người từ nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3 ), gọi là “nhómmảnh ghép”

- Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhómmới chia sẻ đầy đủ với nhau

- Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ởvòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết

- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

Những lưu ý - Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép ở vòng 1 khi được ghép

lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là

cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2;

- Các “chuyên gia” ở vòng 1có thể có trình độ khác nhau, nên cần xácđịnh các yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi “chuyên gia” có thể hoànthành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2;

- Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên

có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau;

- Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp vàchỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có

Ngày đăng: 25/12/2015, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w