1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh

120 719 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 1 Biểu đồ 3.1 Mối liên hệ giữa các kiểu khí chất hướng nội và hướng ngoại với mức độ stress của học sinh THPT Hà Huy Tập 62 2 Biểu đồ 3.2 Mối liên hệ giữa khí chất v

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là do công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện những số liệu trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực Các đoạn trích được trích dẫn rõ ràng, đúng quyền tác giả Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố

Trang 2

Lời cảm ơn ! Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học sư

phạm Đà Nẵng, Thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – giáo dục đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt 4 năm học tập tại trường cũng như trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo ThS Tô Thị Quyên cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện

khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ Sử - Địa và bộ môn Giáo dục công dân, giáo viên chủ nhiệm và tập thể học sinh các lớp 10a1, 10a13, 12b1 và 12b6 cùng toàn thể các em học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh đã nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác để em có thể hoàn thành khó luận tốt nghiệp này

Cảm ơn các bạn trong lớp và các anh chị khóa trước đã chia sẽ tài liệu và giúp đỡ tôi rất trong quá trình thực hiện đề tài này

Báo cáo tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để bài đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 22 tháng 5 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Viết Hưng

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng nghiên cứu 11

5 Giả thuyết khoa học 12

6 Phương pháp nghiên cứu 12

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 12

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 12

6.2.1 Phương pháp quan sát 12

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 12

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn 12

6.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 12

6.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 12

PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 13

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về khí chất 13

1.1.2 Tổng quan về nghiên cứu về stress 17

1.1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 17

1.1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 20

1.2 Những vấn đề chung về khí chất 22

1.2.1 Khái niệm về khí chất 22

1.2.1.1 Định nghĩa 22

1.2.2.1 Những thuộc tính cơ bản của khí chất 23

1.2.2 Cơ sở hình thành của khí chất 23

1.2.2.1 Cơ sở sinh lý của khí chất 23

1.2.2.2 Bản chất xã hội của khí chất 26

1.2.3 Đặc điểm của các kiểu khí chất 27

1.2.3.1 Kiểu khí chất Xăngghanh: linh hoạt 27

1.2.3.2 Kiểu khí chất nóng nảy - kiểu Côlêric 28

Trang 4

1.2.3.3 Kiểu khí chất bình thản - Phlecmatic 28

1.2.3.4 Khí chất ưu tư - Mêlăngcôlic 29

1.3 Những vấn đề chung về stress 31

1.3.1 Khái niệm chung về stress 31

1.3.1.1 Stress là gì? 31

1.3.1.2 Cơ chế gây bệnh của stress 35

1.3.2 Cách phân loại stress 37

1.3.2.1 Stress tích cực (Eustress) 37

1.3.2.2 Stress tiêu cực (Distress) 38

1.3.2.3 Hyperstress 38

1.3.2.4 Hypostress 29

1.3.3 Các giai đoạn của trạng thái stress 39

1.3.4 Nguyên nhân gây ra stress 40

1.3.4.1 Những yếu tố sinh học và sức khỏe 40

1.3.4.2 Môi trường sống 43

1.3.4.3 Yếu tố tâm lý 43

1.3.5 Dấu hiệu nhận biết stress 44

1.3.5.1 Dấu hiệu về stress về mặt cơ thể 44

1.3.5.2 Dấu hiệu về mặt tâm lý 44

1.3.5.3 Dấu hiệu về hành vi 46

1.3.6 Ảnh hưởng của stress đối với con người 47

1.3.6.1 Ảnh hưởng tiêu cực 47

1.3.6.2 Ảnh hưởng tích cực 48

1.3.7 Cách phòng và điều trị stress 49

1.3.7.1 Các cách phòng ngừa stress 49

1.3.7.2 Các cách tiếp cận trong điều trị stress 50

1.4 Cơ sở lý luận mối liên hệ giữa khí chất và stress 52

1.4.1 Khái niệm liên hệ 52

1.4.2 Cơ sở lý luận mối liên hệ giữa khí chất và stress 52

1.5 Những vấn đề chung về học sinh THPT 55

1.5.1 Khái niệm học sinh THPT 55

Trang 5

1.5.2 Sự phát triển thể chất của học sinh THPT 55

1.5.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 55

1.5.3.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh THPT 56

1.5.3.3 Đặc điểm tình cảm của học sinh THPT 57

1.5.4 Đặc điểm hoạt động học tập ở học sinh THPT 58

1.5.5 Một số vấn đề về stress của học sinh THPT hiện nay 59

Kết luận chương 1 62

Chương 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP 64

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể khảo sát 64

2.2 Mô tả quá trình nghiên cứu 65

2.3 Mô tả các phương pháp nghiên cứu 65

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 65

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 65

2.3.2.1 Phương pháp trắc nghiệm 65

2.3.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 68

2.3.2.3 Phương pháp quan sát, dự giờ 69

2.3.2.4 Phương pháp phỏng vấn 69

2.3.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 69

2.3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 70

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71

3.1 Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 71

3.1.1 Mối liên hệ giữa các kiểu khí chất hướng nội và hướng ngoại với mức độ stress của học sinh THPT Hà Huy Tập 71

3.1.2 Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 72

3.1.3 Mối liên hệ giữa khí chất với stress theo mức độ stress của các khối của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 74

3.1.4 Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress theo giới tính của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 76

3.2 Mối liên hệ giữa khí chất và nguyên nhân gây ra stress của học sinh THPT Hà Huy Tập 78

Trang 6

3.3 Mối liên hệ giữa khi chất và biểu hiện của stress của hóc sinh

trường THPT Hà Huy Tập 79

3.3.1 Mối liên hệ giữa khí chất và biểu hiện của stress về cơ thể học sinh trường THPT Hà Huy Tập 79

3.3.2 Mối liên hệ giữa khí chất và biểu hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 81

3.4 Mối quan hệ giữa khí chất và cách ứng phó với stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 83

3.5 Mối liên hệ giữa khí chất và chia sẻ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 85

3.6 Tác động của gia đình đối với các kiểu khí chất khi học sinh bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 88

3.7 Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối với bố mẹ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập 90

3.8 Nghiên cứu trường hợp điển hình bị stress 92

Kết luận chương 3 95

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

1.1 Về lý luận 96

1.2 Về thực tiễn 97

2 Khuyến nghị 98

2.1 Về phía nhà trường 98

2.2 Về phía học sinh 99

2.3 Về phía gia đình 100

2.4 Đối với xã hội 101

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

11 Bc Biểu hiện stress về mặt cơ thể

12 Bt Biểu hiện stress về mặt thể chất

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2 Bảng 3.1 Mối quan hệ giữa khí chất và cách ứng phó với

stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

74

3 Bảng 3.2 Mối liên hệ giữa khí chất và chia sẻ khi bị

stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

76

4 Bảng 3.3 Đối tượng học sinh ở các kiểu khí chất chia sẻ

khi gặp khó khăn của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

77

5 Bảng 3.4 Tác động của gia đình đến học sinh khi học sinh

bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

79

6 Bảng 3.5 Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất

đối với bố mẹ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà

Huy Tập

81

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Mối liên hệ giữa các kiểu khí chất hướng nội và

hướng ngoại với mức độ stress của học sinh THPT Hà Huy

Tập

62

2 Biểu đồ 3.2 Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của

học sinh trường THPT Hà Huy Tập

64

3 Biểu đồ 3.3 Mối liên hệ giữa khí chất với mức độ stress theo

khối của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

65

4 Biểu đồ 3.4 Mối liên hệ giữa khí chất với mức độ stress theo

giới tính của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

67

5 Biểu đồ 3.5 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa khí chất và

nguyên nhân gây stress của học sinh THPT Hà Huy Tập

69

6 Biểu đồ 3.6 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và biểu

hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy

Tập

71

7 Biểu đồ 3.7 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và biểu

hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy

Tập

72

8 Biểu đồ 3.8 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và việc

chia sẻ vấn đề của mình với người khác nhằm giải tỏa stress

của học sinh THPT Hà Huy Tập

76

9 Biểu đồ 3.9 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa kiểu khí chất và

đối tượng chia sẻ của học sinh trường THPT Hà Huy Tập

77

10 Biểu đồ 3.10 Biểu đồ thể hiện tác động của gia đình đối với

các kiểu khí chất khi học sinh bị stress của học sinh trường

THPT Hà Huy Tập

80

11 Biểu đồ 3.11 Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối

với bố mẹ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy

Tập

82

Trang 10

âu ám sợ; phản ứng với stress trầm trọng và các rối loạn sự thích ứng

Stress nói chung là trạng thái căng thẳng về tâm lý Stress xuất hiện ở con người nói chung và trong cuộc sống, trong hoạt động học tập của học sinh nói riêng, có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đến hiệu quả hoạt động học tập của họ

Theo một nghiên cứu gần đây “Stress trong học tập của học sinh THPT” của Phạm Thanh Bình, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội phần lớn số học sinh được điều tra đang ở mức độ báo động có tới 143/150 học sinh, chiếm 95,23% học sinh trong tổng số học sinh được điều tra (tức là từ 60 đến 90 điểm) theo phân loại của Soly – Bensabal

Như vậy, stress của học sinh hiện nay là vấn đề báo động, nếu như chúng

ta không có những biện pháp và hướng giải quyết khoa học thì để lại những hậu quả khôn lường không chỉ đối với chính những học sinh đó mà cả gia đình và xã hội

Đã có nhiều nghiên cứu về stress và cũng như mối liên hệ giữa stress với các yếu tố khác như stress với ung thư, stress với nhận thức hay stress với nghề nghiệp, Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về

Trang 11

mối liên hệ giữa khí chất và stress, nhất là mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT

Với tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh” Đề tài

không những cho chúng ta biết được thực trạng các kiểu khí chất và stress, mối liên hệ giữa khí chất và stress mà cả xu hướng stress của các kiểu khí chất, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp giúp học sinh phòng chống stress phù hợp với kiểu khí chất của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT

- Đề ra một số giải pháp giúp các em phòng chống stress phù hợp với kiểu khí chất của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về khí chất, stress và mối liên hệ giữa chúng

3.2 Nghiên cứu thực trạng kiểu khí chất và stress ở học sinh, xác định những yếu tố gây ra stress học sinh, từ đó khảo sát mối liên hệ giữa khí chất

và stress

3.3 Đề ra phương hướng giải toả và cách thức ngăn ngừa stress theo kiểu khí chất ở lứa tuổi học sinh

4 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT Hà Huy Tập, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

- Khách thể nghiên cứu: học sinh THPT

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Trường THPT Hà Huy Tập, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

+ Thời gian nghiên cứu: học kỳ II năm học 2009 - 2010

+ Khách thể khảo sát: 187 học sinh trường THPT Hà Huy Tập, Cẩm Xuyên,

Hà Tĩnh

Trang 12

5 Giả thuyết khoa học

Khí chất có mối liên hệ nhất định với stress và có sự khác nhau giữa các

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn

6.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

6.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về khí chất

Từ lâu các nhà tâm lý học đã chú ý đến những sự khác nhau có tính cá biệt trong hành vi của con người Ngay từ thời cổ đại, những người có kinh nghiệm đã ghi nhận rằng có những “hình ảnh hành vi” tiêu biểu cho một cá nhân Trong một tình huống nào đó, một người có những đặc tính hành vi nhất định sẽ hành động chỉ như thế này mà không như thế khác

Ở Phương Đông, những người Ấn Độ cổ đại theo chủ nghĩa khổ hạnh từ

chối hoạt động thể lực, tính lực đã nêu nên một số quy luật trong sự khác nhau cá biệt của những người tách khỏi sự vận động Họ cố gắng “tới gần thượng đế” bằng cách nằm hoặc đứng bất động hàng ngày trong bãi lầy đồng thời ngẫm nghĩ về “cái tôi” của mình Họ cho rằng những người trong cuộc sống hàng ngày luôn nóng nảy, dễ xúc cảm thì hoàn toàn không thể chịu được

sự cố tình từ bỏ cảm xúc trong lúc im lặng không vận động (tức cái gọi là

“chủ nghĩa khổ hạnh bên trong”) Còn những người rơi vào trạng thái xúc cảm (ý bệnh hysterin) là những người giữ được thăng bằng để chịu đựng hơn

“chủ nghĩa khổ hạnh bên trong” như vậy

Trong Chu dịch (hay còn gọi là Kinh dịch) cũng bàn đến vấn đề khí chất

Sự phân loại khí chất mà Chu dịch là phương pháp phân loại sớm nhất, là nguồn gốc phân loại khí chất của Nội kinh, là mẫu mực hợp nhất của tâm chất

và thể chất, cũng là điểm phạm của âm dương và ngũ hành kết hợp với nhau Bát quái Chu dịch tượng trưng 8 loại thuộc tính vật chất, tức quẻ Càn ☰ là trời, tính mạng; quẻ Khôn ☷ là đất, tính nhu; quẻ Chấn ☳ là sấm, tính cứng; quẻ Tốn ☴ là gió, tính thuận; quẻ Khảm ☵ là nước, tính nhu; quẻ Ly ☲ là

Trang 14

lửa, tính nóng; quẻ Cấn ☶ là núi, sâu đậm; quẻ Đoài ☱ là đầm, tính thuận, tuy là Bát quái thực ra là 5 thuộc tính ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Trong đó, quẻ Ly thuộc tính hoả, vì Ly là mặt trời, vì Khảm Đoài đều là thuỷ, tính nhu; Chấn là sấm, Tốn là gió đều thuộc mộc; Khôn là đất, Cấn là núi đều thuộc thổ; quẻ Càn là trời, thuộc kim Vì vậy người Bát quái có thể tổng quát

là năm loại người, cụ thể như sau:

Một là, người quẻ Ly là mặt trời, khí hoả Người thuộc quẻ Ly hướng ngoại cao độ Người mặt đỏ, nhiệt tình, kích động, hăng hái, đi như bay, việc làm mang tính bạo phát, tư duy nhanh như chớp, có tố chất của nhà phát minh, ánh mắt sắc bén… nhưng người này dễ tự cao huênh hoang, kiêu ngạo, hiếu chiến, dã tâm…

Hai là, người quẻ Khảm là thuỷ, nắm giữ khí thuỷ của trời, tính rất ấm nhu Người thuộc quẻ Khảm hướng nội cao độ, trầm tĩnh, giỏi mưu chước, tâm kế, có tố chất của nhà tham mưu Người thuộc loại này tính cách thuỷ khí tương đối nặng tính nước (thuỷ) ẩn kín, vì vậy chất người quẻ Khảm âm nhiều

mà không biểu lộ, bề ngoài tĩnh lặng như hồ nước Dạng người này cũng có thể có những tính cách xấu như: suy sút (ý chí), hậm hực, lạnh nhạt, tê liệt về tình cảm, âm hiểm Người vô cùng giữ chữ tín, kiên trì và giàu cương nghị ở bên trong Tóm lại người quẻ Khảm cho dù không thuận lợi, nhưng trăm nghìn trắc trở cũng không sờn lòng kiên trì mãi cuối cùng sẽ thành công

Ba là, người quẻ Khôn tượng trưng địa, tính âm mà chất thuận Về cơ bản người quẻ Khôn thiên về hướng nội, khoan dung độ lượng, cần mẫn chăm chỉ, ung dung khiêm tốn, có tố chất của người thực nghiệp, có ý chí mạnh mẽ, không ngừng vươn lên Hạn chế của người quẻ Khôn là phản ứng chậm, lời nói việc làm chậm chạp, ít nhạy cảm với sự việc mới, dễ có hiện tượng an nhiên tự tại, không tranh giành

Bốn là, người quẻ Càn tượng trưng cho trời, thuộc khí Kim, cho nên tính mạnh mẽ, cứng rắn Phần lớn thông minh, tính tình rộng rãi, nhìn xa trông rộng, biết tự kiềm chế, biết tổ chức, có tố chất của người lãnh đạo Hạn chế

Trang 15

của loại người này là thường giả dối háo danh, lòng tự ái quá mạnh, thậm chí

có tư tưởng chỉ mình là nhất

Năm là, người quẻ Tốn tượng trưng cho gió, nắm giữ khí phong của trời Tính phong thuộc dương chủ động nên loại người này hiếu động, tính gấp, nhanh nhẹn được việc, tư duy minh mẫn, giỏi về ngoại vụ, có tố chất của nhà ngoại giao Người quẻ Tốn đến đi vội vàng giống như cơn gió, nhưng tính phong nhiều biến đổi, vì vậy người quẻ Tốn phần đông không ổn định, khi thì giống như cuồng phong, khi thì giống như gió thoảng, lúc thì nhu thuận, lúc thì mạnh mẽ Người quẻ Tốn cứng mạnh ở bên trong rất ý chí Ngoài ra, người quẻ Tốn đa nghi, đố kỵ, lòng dạ hẹp hòi

Khí chất Bát quái tuy khác nhau, nhưng đều có thể hoà hiệp cùng tồn tại Dịch Thuyết quái viết: “Núi đầm cùng thông hơi với nhau, sấm gió cùng xô xát nhau, nước lửa chẳng cùng diệt nhau”

Biểu thị bất luận giới tự nhiên hoặc xã hội con người tuy tính khác nhau, nhưng hoàn toàn có thể hài hoà cùng ở với nhau, cho dù vật chất hoặc người

có tính chất trái ngược nhau, cũng có thể hợp thành một thể thống nhất

Ở phương Tây, ngay ở Hi Lạp cổ đại, để chỉ những đặc điểm cá biệt của cá nhân, người ta đưa ra thuật ngữ “khí chất” (temperament) Lịch sử còn ghi nhận lại tên tuổi Hypocrat (377 – 460 TCN) – một bác sỹ, đồng thời là một nhà triết học – người đã phát hiện ra các loại khí chất Những công trình

nghiên cứu chứng minh rằng Hypocrat đã chỉ có một tư tưởng là có bốn chất lỏng (máu, chất nhầy, mật vàng và nước mật đen) trong cơ thể người ta và tỉ

lệ khác nhau của các chất đó quyết định hành vi của con người

Một bác sỹ La Mã là Galen (130 – 250 TCN) đã hoàn thành kỹ thuật của Hypocrat và phân loại thành bốn loại tương ứng với bốn khí chất Các bác sỹ

Hy Lạp – La Mã cổ đại đều cho rằng mỗi một kiểu khí chất đều phụ thuộc vào

tỷ lệ giữa máu, chất nhầy và mật trong cơ thể người ta Họ đều nêu lên các đặc tính sau đây của khí chất cơ bản

Trang 16

Kiểu linh hoạt là kiểu có số lượng máu trong cơ thể nhiều Kiểu người này

dễ thay đổi sự quyến luyến, thói quen Tâm trạng của người kiểu này dễ di chuyển sang các trạng thái có tính chất khác nhau Người kiểu khí chất linh hoạt là gười yêu đời, nhanh nhẹn, nhanh trí, nhưng ít kiên nhẫn

Kiểu sôi nổi là kiểu có số lượng mật vàng tiết ra nhiều Vì vậy, cảm xúc của người kiểu này biểu hiện rõ ràng, nhất là các cảm xúc xấu Người kiểu khí chất này sôi nổi, thường hay nóng nảy mặc dù sự nóng nảy qua đi rất nhanh Người kiểu này rất nhanh nhẹn, rất có nghị lực và rất kiên quyết Khi vui sướng hay đau khổ họ đều có sự rung động sâu sắc

Kiểu điềm tĩnh là kiểu người có nhiều nước nhớt trong cơ thể Đặc điểm của kiểu người này là kém nhanh nhẹn, hưng phấn, cảm xúc yếu Tuy vậy, thái

độ bình tĩnh, kiên định đối với hiện thực thường là điều tốt Người điềm tĩnh thường khó mất bản lĩnh Thói quen và kỹ xảo của người kiểu này rất cố định

và khó thay đổi

Kiểu ưu tư là kiểu có số lượng mật đen nhiều Cảm xúc của người kiểu người này mang tính chất mềm yếu Bất kỳ một thât bại nào cũng gây ức chế Người kiểu này hầu như u sầu Tất cả mọi rung động ở người kiểu này dễ bị tổn thương Trong đại đa số trường hợp những người kiểu này đều tỏ ra thụ động và tò mò

Đến nay tuy khoa học đã có những bước tiến vượt bậc nhưng những nét tiêu biểu của các kiểu khí chất được các nhà tư tưởng Hy Lạp – La Mã cổ đại

mô tả là khá chính xác, đúng đắn về mặt tâm lý và ngày nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa của mình

Năm 1863, nhà sinh học và tâm lý học Nga I M Xechênốp đã viết công trình "Những phản xạ của não" Trong công trình này, Xechênốp đã đưa ra tư tưởng về tính phản xạ tâm lý và sự điều chỉnh tâm lý của hoạt động

Tư tưởng này của ông được nhà sinh lý học vĩ đại người Nga I P Pavlov phát triển trong xây dựng học thuyết về hoạt động thần kinh cấp cao Trong

Trang 17

học thuyết của mình, Pavlov đã đưa ra những giải thích khoa học về bản chất của khí chất

Bằng phương pháp phản xạ có điều kiện I P Pavlov đã khám phá ra những quy luật của hoạt động thần kinh cấp cao (gồm hai quá trình căn bản đó là hưng phấn và ức chế và những thuộc tính của hai quá trình thần kinh gồm có

3 thuộc tính cơ bản đó là: cường độ, cân bằng và linh hoạt

Theo I P Pavlov đặc điểm của các hoạt động thần kinh với 3 thuộc tính bao giờ cũng có hai trạng thái đối lập nhau đó là: Mạnh – yếu, cân bằng – không cân bằng, linh hoạt – không linh hoạt

Ba thuộc tính: cường độ, cân bằng, linh hoạt kết hợp độc đáo với nhau tạo nên 4 kiểu thần kinh cơ bản, đó cũng là cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý: khí chất – mỗi kiểu hình thần kinh tương ứng với một kiểu khí chất và có những đặc điểm tâm lý khác nhau từ đó biểu hiện ra cách ứng xử khác nhau Trên cơ sở các dạng thần kinh này có bốn loại khí chất tương ứng: sôi nổi, linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh

1.1.2 Tổng quan về nghiên cứu về stress

Stress không chỉ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học của tâm lý học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như sinh lý học, xã hội học, y học, tâm thần học… Các nghiên cứu được nghiên cứu ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có nước

ta

1.1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài

Thuật ngữ stress lúc đầu được sử dụng trong vật lý học, để chỉ một sức nén

mà một loại vật liệu nào đó phải chịu đựng

Trong y học, từ lâu người ta đã chú ý đến vấn đề là tại sao những bệnh nhân khác nhau lại mắc những triệu chứng giống nhau Nhiều tác giả đã mô tả các triệu chứng loét dạ dày và ruột ở những bệnh nhân bị bỏng da như Svon (1823), Kerling 1842) – người Anh hoặc ở những bệnh nhân sau một phẫu thuật lớn bị nhiễm trùng như Billrot – người Đức Viện Paster Rom và viện

Trang 18

Yersen đã mô tả tuyến thượng thận của chuột lang bị tăng trưởng và xuất huyết khi chúng bị nhiễm bệnh bạch hầu

Chìa khóa để hiểu được khía cạnh tiêu cực của stress là khái niệm về môi trường nội tại của cơ thể (nội môi – milieu interiur), được đề xuất đầu tiên bởi một bác sĩ nổi tiếng người Pháp Claude Bernard Trong khái niệm này, ông ta miêu tả về nguyên lý của sự cân bằng động Trong cân bằng động, tính hằng định - một trạng thái bền vững của môi trường trong cơ thể – là yếu tố cơ bản của sự sống còn Do đó, những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội tại này khiến cơ thể phải phản ứng lại và bù trừ nhằm tồn tại

Sau đó năm 1914, Walter Cannon đã sử dụng thuật ngữ này trong sinh lý học, để chỉ các stress cảm xúc Năm 1935, ông đã đi sâu vào nghiên cứu về sự cân bằng nội môi ở động vật có vú khi chúng lâm vào tình huống khó khăn, nhất là khi thay đổi nhiệt độ Ông cũng mô tả những nhân tố cảm xúc trong quá trình phát sinh, phát triển một số bệnh và xác định vai trò của hệ thần kinh khi cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp

Hans Hugo Bruno Selye, một y sĩ người Canada, gốc Áo đã mở rộng thêm những quan sát của Cannon Chính Hans Selye, nhà nghiên cứu người Canada, đã phát triển khái niệm stress hiện đại Năm 1936, ông đã chiết từ dịch tiết của buồng trứng động vật có sừng một loại hormon và đem tiêm nó cho chuột Sau khi tiêm một thời gian, chuột có những biểu hiện như:

- Vỏ tuyến thượng thận tăng trưởng mạnh và chứa một lượng không lớn các hạt lipit bài tiết

- Tuyến ức, các hạch limpho và các cấu trúc chứa limpho bị teo nhỏ lại (involution)

- Thành tá tràng , dạ dày và ruột bị loét và chảy máu

Những thí nghiệm khác đã cho thấy các chất chiết từ tuyến thượng thận, tuyến tụy và một số chất độc cũng gây nên những biến đổi tương tự

Trang 19

Lúc đầu những biến đổi này được gọi là “triệu chứng được gây ra bởi các tác nhân khác nhau” Về sau chúng được đổi thành “triệu chứng thích ứng chung” hay còn gọi là “triệu chứng stress sinh học” Và ba biến đổi trên đã trở thành ba chỉ số quan trọng của stress và là cơ sở để phát triển một khái niệm đầy đủ về stress

Ông cũng là người đã phổ biến từ stress trong quần chúng khi ông phát hành cuốn “The Stress of Life” vào năm 1956

Năm 1984 nhóm các nhà khoa học tại Đại học Tổng hợp Los Angeles bang Caliphonia đã khám phá ra vai trò của các peptids dạng opi trong sự thiếu hụt miễn dịch liên quan đến stress, nhất là đối với các tế bào tiêu diệt tự nhiên Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng, cung cấp những lập luận vững chắc về mối tương tác giữa stress và phản ứng miễn dịch

Plaut và Friedman (1981) đã chứng minh stress làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các bệnh nhiễm trùng, các phản ứng dị ứng ở người Irwin và Livnat (1987) cho thấy có vô số tác nhân stress đã làm giảm sự tuần hoàn của tế bào

T Họ cũng đồng thời chứng minh các yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch với stress, nhưng cơ chế đích thực thì chưa rõ ràng

Tiếp đó, Sklar và Anisman (1987) cho rằng những thay đổi đột ngột trong việc tiếp xúc với bầy đàn đã làm tăng sự phát triển của khối u trong thực nghiệm chuột nhắt, các quan sát phản ứng với stress ở người nói chung cũng xác nhận những kết quả tương tự

Ở nước ngoài hiện nay có thể nói rằng tình hình nghiên cứu về stress rất được quan tâm chú ý với nhiều đề tài nghiên cứu phong phú Trước hết, các phản ứng hoặc tình trạng stress có những biểu hiện rõ nhất trên bình diện sinh

lý học, y học và gần đây người ta bắt đầu nghiên cứu stress trên bình diện tâm

Trang 20

1.1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, có lẽ không thừa nếu các nhà chuyên môn biết vận dụng kinh nghiệm của người xưa trong việc hóa giải stress ở người bệnh Không phải đợi đến ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đồng thời với nhịp sống căng thẳng ngày càng tăng trên toàn thế giới, người ta mới quan tâm đến stress, đến yếu tố tâm lý – cảm xúc ảnh hưởng đến sức khỏe Y học cổ truyền phương Đông đã lưu ý vấn đề này từ lâu

Ở nước ta, danh y Tuệ Tĩnh, vào thế kỷ 14, trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu” đã xác định: "thất tình (vui sướng, giận dữ, ưu phiền, sầu thảm, tư

lự, sợ hãi, khiếp đảm) là nguyên nhân bên trong của mọi bệnh" Còn danh y Hải Thượng Lãn Ông, vào thế kỷ thứ 17, đã viết trong “Vệ sinh yếu quyết” đề cập đến việc phòng bệnh có những câu sau đây:

“… Nội thương bệnh chứng phát sinh, Thường do xúc động thất tình gây nên

Lợi dục đầu mối thất tình, Chặn lòng ham muốn thì mình được an

Cần nên tiết dục thanh tâm, Giữ lòng liêm khiết chẳng tham tiền tài…”

Dưới góc độ sinh lý học và y học là nhà khoa học Tô Như Khuê, với công trình nghiên cứu “phòng chống trạng thái căng thẳng (stress) trong đời sống

và trong lao động” (5/1976) Những công trình của ông và cộng sự trong thời chiến tranh (1967-1975) chủ yếu phục vụ cho việc tuyển dụng, huấn luyện và nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội ở các binh chủng đặc biệt

Tiếp nối các nghiên cứu trên, sau Tô Như Khuê, nhiều tác giả có uy tín trong nước đã tiếp nối các nghiên cứu trên bắt tay vào nghiên cứu lý thuyết về stress Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện - nhà sáng lập trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em N-T, đã có công biên soạn và dịch thuật giới thiệu nhiều tài liệu khoa

Trang 21

học bổ ích về tâm lý trẻ em Trong đó dưới góc độ nghiên cứu về stress, đáng chú ý là cuốn “Tâm bệnh học trẻ em” do nhà xuất bản Y học và trung tâm N-

T phối hợp ấn hành

Ngoài ra, phải kể đến GS BS Đặng Phương Kiệt, bác sỹ nhi khoa chuyên nghiên cứu và tư vấn về tâm lý lâm sàng với nhiều tác phẩm như: “Stress và đời sống”, “Stress và sức khỏe”, “Chung sống với stress”

Hai tác giả Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “Stress trong thời đại văn minh” nxb Đà Nẵng, 1986 đã cảnh báo với tất cả những người đang sống trong xã hội văn minh về nguy cơ stress và hậu quả của stress Nguyễn Công Khanh, tiến sĩ tâm lý lâm sàng đã nghiên cứu về các liệu pháp trị liệu tâm lý, các công trình nghiên cứu của các tác giả này mang một giá trị khoa học cao, gắn liền với các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp của

họ

Hiện nay, ngoài những nghiên cứu chính thức tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, tác phẩm, bài viết hoặc bài dịch từ tiếng nước ngoài đăng trên các báo và tạp chí trong nước, hoặc phổ biến trên các website giúp ích cho người dân hiểu biết và phòng chống stress Luận văn thạc sỹ tâm lý của tác giả Lại Thế Luyện năm 2007 đã tìm hiểu về “Biểu hiện stress trong sinh viên trường Đại học sư phạm Kỹ Thuật TPHCM” Trong công trình này tác giả Lại Thế Luyện đã đưa ra kết quả: Trong 500 khách thể nghiên cứu có 10,8% SV rất căng thẳng, 49,8% SV căng thẳng, 33,8% SV ít căng thẳng, 5,6% SV không có biểu hiện căng thẳng

Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Nhân ĐH Quy Nhơn “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hiện tượng stress của sinh viên ĐH Quy Nhơn” cũng

đã đưa ra kết quả nghiên cứu trên 300 SV, trong đó 56,7% sinh viên có biểu hiện stress ở các mức độ khác nhau

Một số nghiên cứu ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 cho thấy có 21% học sinh bị trầm cảm, 3% có hành vi cố ý gây thương tích, 8% đã từng bỏ nhà đi Một nghiên cứu khác của Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ (ĐHQGHN) năm 2008 khảo sát trên 200 học sinh THPT

đã chỉ ra rằng 47% học sinh bị stress từ mức độ nhẹ, vừa và nặng

Trang 22

Theo Tâm lý học: “Khí chất là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ nhịp độ của các hoạt động tâm lý thể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ cách nói năng của cá nhân”

- Cường độ: (mạnh – yếu) là chỉ số khả năng làm việc của tế bào thàn kinh

và hệ thần kinh nói chung

- Tốc độ: (nhanh – chậm) là chỉ số khả năng làm việc của tế bào thần kinh, chỉ quá trình hưng phấn và ức chế chiếm ưu thế

- Nhịp độ: (đồng đều hay thất thường) nói lên chỉ số làm việc của tế bào thần kinh

Định nghĩa trên cho thấy hành vi của con người không chỉ phụ thuộc vào điều kiện xã hội mà con phụ thuộc vào sự tổ chức thần kinh đặc biệt của cá nhân

Để hiểu rõ hơn về khái niệm khí chất, cần chú ý một số điểm sau:

Một là, khí chất gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh của con người, là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài về cường độ, tốc độ và nhịp độ các hoạt động tâm lý của con người

Hai là, khí chất là động lực hành vi cá nhân, nhưng nó chỉ quyết định về cường độ, nhịp độ và tốc độ hành vi chứ không quyết định nội dung của hành

vi (như xu hướng, tình cảm, ý chí, thế giới quan…)

Ba là, nói đến khí chất là nói đến động lực của toàn bộ hành vi cá nhân, nghĩa là không chỉ nói đến động lực của từng quá trình trâm lý riêng lẻ, từng

Trang 23

hoạt động cụ thể trong một phạm vi nhất định nào đó, mà nói lên đến đặc trưng chung nhất về cường độ, nhịp độ của toàn bộ hành vi của cá nhân, là động lực tương đối bền vững trong cả cuộc đời cá nhân

1.2.2.1 Những thuộc tính cơ bản của khí chất

- Tính nhạy cảm: một lực tác động bên ngoài nhỏ nhất đủ gây một phản ứng tâm lý nào đó

- Tính phản ứng, tính dễ xúc cảm: chức năng của tính chất này được xác định bởi sức mạnh phản ứng cảm xúc của con người đối với các tác nhân kính thích bên ngoài và bên trong

- Tính đề kháng: là sự chống lại các điều kiện không thuận lợi làm ức chế hoạt động

- Tính cứng rắn và tính dễ uốn: tính cứng rắn thể hiện ở sự không dễ dàng thích nghi với các điều kiện bên ngoài, còn tính dễ uốn nắn thì ngược lại

- Tính chuyển hướng ngoài và chuyển hướng trong Ở đây người ta chú ý đến việc phản ứng và hoạt động của con người phụ thuộc vào cái gì nhiều hơn

- Tính kích thích của sự chú ý: khi mức độ mới mẻ càng ít mà vẫn thu hút sự chú ý thì sự chú ý của người đó có tính kích thích càng cao

Khí chất được xác định không phải bởi mỗi một tính chất riêng lẻ ,mà là bởi sự tương quan tính quy luật giữa mọi tính chất Nếu không tính đến các tính chất đối lập nhau (ví dụ tính cứng rắn với tính dễ uốn) thì bất kỳ người nào, mỗi tính chất đều thể hiện ở một mức độ nhất định và chỉ mối tương quan nhất định giữa các tính chất đó mới thể hiện khí chất của người đó

1.2.2 Cơ sở hình thành của khí chất

1.2.2.1 Cơ sở sinh lý của khí chất

Thuyết thần kinh do nhà sinh lý học vĩ đại người Nga I P Pavlov đề ra đã giải thích một cách thực sự khoa học về các khí chất Theo ông, cơ sở sinh lý của các kiểu khí chất là kiểu hoạt động thần kinh cấp cao quy định Trong các công trình nghiên cứu của mình I P Pavlov đã chú ý nhiều đến bốn kiểu hoạt

Trang 24

động cấp cao mà biểu hiện thần kinh của chúng là bốn loại khí chất cổ điển Các kiểu ấy tiêu biểu bởi một tổng hợp nhất định các chỉ số về tính chất cơ bản của quá trình hưng phấn và ức chế - sức mạnh tính linh hoạt và tính cân bằng Trước hết, căn cứ vào sức bền so với kích thích tác động mạnh và kéo dài mà hệ thần kinh có thể mạnh hay yếu Một hệ thần kinh yếu, nhạy cảm dễ

ức chế sẽ xá định hành vi của chủ thể ở những nét đặc trưng của kiểu khi chất

ưu tư Vì vậy, I P Pavlov đã gắn kiểu hoạt động thần kinh cao yếu với khí chất ưu tư

Ông đã xây dựng lý luận về phản xạ có điều kiện của hoạt động thần kinh cấp cao mới đẻ soi sáng vấn đề cơ sở sinh lý của khí chất

- Hoạt động thần kinh cấp cao ở người gồm có hai quá trình cơ bản: hưng phấn và ức chế Đặc điểm của các kiểu hoạt động thần kinh bao giờ cũng có hai trạng thái đối lập nhau: mạnh – yếu; cân bằng – không cân bằng; linh hoạt – không linh hoạt

Mỗi người chúng ta tùy theo đặc điểm thần kinh mà ở cực A hay cực B,

có người rời vào trạng thái trung gian

Trạng thái trung gian

A B

+ Kiểu mạnh - cân bằng - linh hoạt (quá trình hưng phấn cân bằng với quá trình ức chế) - kiểu hoạt

+ Kiểu mạnh - không cân bằng, có đặc điểm là quá trình hưng phấn mạnh

và quá trình ức chế yếu - kiểu nóng

+ Kiểu mạnh - cân bằng - không linh hoạt (bề ngoài thì điềm đạm hơn, bền bỉ hơn) - kiểu trầm

+ Kiểu yếu có đặc điểm là quá trình hưng phấn cũng như hưng phấn đều yếu - kiểu ưu

Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng bốn kiểu thần kinh trên đã bao hàm tất cả những thức của hoạt động thần kinh cấp cao của cá nhân Những kiểu trên là những kiểu điển hình, thường hay gặp và nỗi bật nhất mà thực tế đã thể hiện

Trang 25

một cách rõ ràng Ngoài ra còn có những kiểu chuyển tiếp và kiểu trung, chuyển tiếp là những kiểu thần kinh được tồn tại nhiều nhất trong hiện thực I

P Pavlov cho rằng, tự nhiên hiện thực là vô số những chuyển tiếp, những mức

độ chuyển tiếp

B M Teplov - nhà tâm lý học người Nga còn cho rằng, cùng với những thuốc tính kiểu loại chung đặc trưng cho hệ thần kinh nói chung còn có những thuộc tính kiểu loại bộ phận đặc trưng cho từng công việc từng vùng của vỏ não (ví dụ vùng thính giác, thị giác, vận động) Nếu những thuộc tính kiểu loại chung quy định khí chất của con người thì những thuộc tính riêng lẻ

có nhiều ý nghĩa trong khi nghiên cứu năng lực chuyên môn Những kiểu chuyển tiếp những hình thức qua độ và cuối cùng là những kiểu hoạt động thần kinh cấp cao bộ phận có thể là kết quả của những tư chất nhất định hoặc chúng có thể được hình thành từ những kiểu cơ bản của quá trình hoạt động sống của cá thể, do ảnh hưởng của những ấn tượng sống

Theo các nghiên cứu tâm lý học, người ta cũng đã phát hiện ra một loạt các tính chất phối hợp một cách khác nhau sẽ có thể xác định các kiểu thần kinh

Sức mạnh của hệ thần kinh nói lên sức mạnh của quá trình hưng phán và

ức chế là do năng lực hoạt động và sức bền của nó xác định, nghĩa là do khả năng của tế bào thần kinh duy trì duy trì sự hưng phấn lâu dài hoặc rất mạnh

mà không chuyển sang trạng thái ức chế quá mức Khoa học đã chứng minh rừng: một hệ thần kinh càng yếu thì càng nhạy cảm Vì vậy, tính nhạy cảm thị giác hay thính giác của một số cá thể có thể là chỉ số về sức mạnh hệ thần kinh của người đó Điều này, càng khẳng định không có tính chất “xấu”, “tốt” của hệ thần kinh Chẳng hạn, nếu một hệ thần kinh yếu sẽ có độ bền bỉ kém hơn hệ thần kinh mạnh nhưng nó lại nhạy cảm tốt hơn hệ thần kinh mạnh Mặc dù, trong nhiều hình thức hoạt động của con người như thể thao, sức bền thần kinh là rất quan trọng nhưng trong trường hợp khác thì tính nhạy cảm cao của hệ thần kinh lại rất cần thiết Hơn thế nữa, nếu như hoạt đọng thần

Trang 26

kinh cấp cao “yếu” là “không” có giá trị thì nó đã không còn tồn tai từ lâu do chọn lọc tự nhiên

I P Pavlov đã xác định sức mạnh của hệ thần kinh cả theo tốc độ hình thành các định hình động lực Sau B M Teplov và V D Nebulinxki đã đề nghị gọi tính chất đó là tính năng động của hoạt động thần kinh cấp cao Tính năng động đó quyết định các đặc điểm cá biệt của con người trong sự định hình động lực Sự hình thành định hình động lực càng tốt thì các kỷ xảo chuyên môn của con người được tạo nên càng nhanh

1.2.2.2 Bản chất xã hội của khí chất

Kiểu hoạt động thần kinh không phải cố định Điều đó có nghĩa là khí chất của con người óc thể thay đổi được dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống – giáo dục và hoạt động của cá nhân Không phải chỉ những thuộc thì bẩm sinh của hệ thần kinh quyết định tính độc đáo của khí chất Tính độc đáo của khí chất phụ thuộc vào những tác động ảnh hưởng liên tục đến trong suốt quá trình sống Những dấu vết xã hội, đặc biệt là những tiêu chuẩn đạo đức, những yêu cầu xã hội đã ghi lại rõ nét các hình thức hành vi của mỗi người

Vì vậy, khí chất của một con người cụ thể thường chỉ rõ những đặc điểm của dân tộc, địa phương

Mặt khác, con người là một thành viên của xã hội, chịu sự tác động của xã hội nên những biến cố trong đời sống không chỉ ảnh hưởng đến đời sống sống tinh thần và tình cảm của con người mà còn làm thay đổi khí chất của họ Điều này muốn nói cá nhân có thể thay đổi toàn bộ hoặc một số đặc điểm nào

đó của khí chất trong quá trình sống và hoạt động Ví dụ, một người vốn hồn nhiên, lạc quan yêu đời không may bị lừa gạt hay bị cô lập, thất bại trong việc

gì đó, hay bị đối xử không công bằng dễ chuyển sang khí chất điềm tĩnh, ưu tư…

Khí chất là thuộc tính tâm lý được hình thành, biểu hiện trong suốt quá trình sống và giáo dục trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định Vì vậy, khí chất hình thành, biểu hiện, thay đổi theo lứa tuổi

Trang 27

Con người là một chủ thể có ý thức trong quá trình sống, hoạt động và giao tiếp con người luôn tự làm chủ bản thân trong các mối quan hệ xã hội đăc biệt trong hoạt động nghề nghiệp để thích ứng và phát triển phù hợp với hoạt động nghề nghiệp mà con người lựa chọn Con người có thể “thay đổi”,

“chuyển đổi”, khí chất là do đặc tính của hệ thần kinh là do tính linh hoạt cao

Vì vậy, không nên quy định nghề nghiệp cho một loại khí chất nào đó Loại khí chất nào cũng co ưu và nhược điểm riêng của nó không nên ưu ái loại khí chất này mà xem nhẹ loại khí chất kia Ví dụ, trong số các nhà văn lớn của Nga: Ghecxen có khí chất linh hoạt, Gogon có khí chất ưu tư, Puskin thì sôi nổi… Ngoài ra con người là một chủ thể tích cực, có ý chí, nghị lực vượt lên những khó khăn của cuộc sống, làm chủ cảm xúc, làm chủ bản thân nên một người thường có loại khí chất “tổng hợp” Tùy từng tình huống, hoàn cảnh

mà có loại khí chất tương ứng hoặc “tổng hợp các khí chất” để giải quyết một nhiệm vụ nào đó

1.2.3 Đặc điểm của các kiểu khí chất

Dựa vào kiểu thần kinh, người ta chia kiểu khí chất con người thành một

số kiểu cơ bản sau:

1.2.3.1 Kiểu khí chất Xăngghanh: linh hoạt (hay còn gọi là kiểu chất hoạt

bát, hoặc kiểu khí chất hăng hái): Kiểu thần kinh: mạnh - cân bằng - linh hoạt

Những người thuộc khí chất này có tinh lực dồi dào, các hoạt động tâm lý của họ biểu hiện mạnh mẽ Trong công tác họ tỏ ra quả quyết, nổ lực khắc phục khó khăn trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ với tất cả sinh lực của mình

Họ có khả năng tiếp thu cái mới nhanh chóng do định hình thần kinh, có tư duy linh hoạt, hài hước, lạc quan, yêu đời trong cuộc sống Đây là người có khả năng làm việc tốt, có hiệu quả cao khi công việc hấp dẫn và thích thú đối với họ Người linh hoạt nhanh chóng hoà nhập với mọi người, dễ dàng chuyển

từ hoạt động này sang hoạt động khác Vẻ bề của họ tỏ ra nhanh nhẹn, tháo vát, nhiệt tình, linh hoạt

Trang 28

Tuy nhiên, loại khí chất này có hạn chế: Tác phong bề ngoài bộp chộp, thiếu kiên trì sâu sắc Trong quan hệ với mọi người có tính quản giáo nhưng tình cảm không sâu sắc

1.2.3.2 Kiểu khí chất nóng nảy - kiểu Côlêric (hay còn gọi là kiểu khí chất

sôi nổi): Kiểu thần kinh: mạnh - không cân bằng

Những người thuộc khí chất này dễ dàng nhanh chóng thích nghi với môi trường luôn thay đổi Họ có khả năng hiến thân cho sự nghiệp Những người thuộc khí chất này có sức mạnh, có năng lực, có khả năng làm việc cao và hoạt động trên phạm vi lớn, kiên nghị nhưng bộc lộ từng đợt

Người có khí chất này là người rất hăng hái, đầy nhiệt tình, nhanh chóng tiếp thu cái mới Loại người này say mê công việc, có nghị lực, có thể dùng nhiệt tình của mình để lôi cuốn người khác Họ làm việc hiệu quả thể hiện trong công việc có tính chất sinh động nhiều màu, nhiều vẻ, có tính sáng tạo Người thuộc kiểu khí chất này còn biểu hiện rất rõ ở sự nhanh nhẹn hoạt bát trong hành vi, trong hoạt động

Tuy nhiên, kiểu khí chất này có nhược điểm: Vì tính linh hoạt quá cao của quá trình thần kinh, những người thuộc loại khí chất này thường biểu hiện ra bên ngoài: hấp tấp, vội vàng, nóng nảy, thiếu thận trọng Nếu công việc không gây cho họ sự thích thú thì họ dễ rơi vào trạng thái buồn ngủ Phản ứng cảm xúc mạnh đôi khi không làm chủ được bản thân: “dễ bốc mà cũng dễ xẹp” không có lợi cho mọi người

1.2.3.3 Kiểu khí chất bình thản - Phlecmatic (hay còn gọi là kiểu khí chất

điềm tĩnh)

Đặc điểm của kiểu khí chất này là hệ thần kinh mạnh, quá trình hưng phấn

và ức chế bằng nhau, giống như người linh hoạt Điểm khác của người bình thản với người linh hoạt là hai quá trình thần kinh trên ít năng động, tức là có sức ỳ lớn Người có kiểu khí chất bình thản là người lao động trầm tĩnh, bao giờ cũng điềm đạm, kiên nhẫn và ngoan cường

Trang 29

Khi tham gia vào công việc nào đó thì cần phải có thời gian chuẩn bị, chứ không thể bắt tay làm việc được ngay Họ thường là người chung thuỷ với bạn

bè, rất ít thay đổi các thói quen của mình

Họ sống không sôi động và không phản ứng mạnh trước những sự kiện của cuộc sống Trong ứng xử họ điềm đạm, thận trọng không bị xao nhãng bởi những chuyện nhỏ nhặt Người điềm tĩnh khó thay đổi từ loại công việc này sang loại công việc khác và được gọi là "Những người lao động suốt đời" Không ít người có tính khí loại này là những người thụ động

1.2.3.4 Khí chất ưu tư - Mêlăngcôlic

Đặc điểm thần kinh của kiểu khí chất này là cả 3 thuộc tính thần kinh: cường độ, cân bằng, linh hoạt và quá trình hưng phấn đều yếu Quá trình ức chế mạnh hơn hưng phấn

Ở những người thuộc kiểu khí chất này hệ thần kinh yếu, rất khó quen và khó thích nghi với những biến đổi của môi trường, sức chịu đựng yếu, dễ bị dao động Đối với người có tính khí ưu tư thì mỗi hiện tượng của cuộc sống đều là một tác nhân ức chế, có khi người đó không tin vào cái gì cả, không hy vọng vào điều gì, người đó chỉ nhìn thấy những điều nguy hiểm hoặc ít tốt lành trong công việc

Người ưu tư thường nhút nhát, mất bình tĩnh, e ngại, sợ sệt trong hoàn cảnh mới, trong những cuộc gặp gỡ mới với người xa lạ Họ ít chủ động, cởi

mở, làm quen với những người xung quanh, sống thiên về những cảm xúc nội tâm kéo dài Họ cũng là người lao động cần mẫn và cực kỳ cẩn thận

Những người thuộc kiểu khí chất này, có đặc điểm cảm xúc cao, nhưng cũng chính điều đó dễ làm cho họ bị tổn thương trong tình cảm Đôi khi nảy sinh ở họ nỗi bực tức tầm thường không đáng có

I P Pavlov nhận xét loại khí chất này: Kiểu thần kinh yếu rõ ràng là kiểu

ức chế của hệ thần kinh Đối với người thuộc loại khí chất này thì hiển nhiên

là mỗi hiện tượng của cuộc sống đều trở thành nhân tố ức chế ở họ Chính vì thế họ không tin tưởng gì hết; nhìn vào đâu họ cũng nhìn thấy cái xấu và nguy

Trang 30

hiểm, nhu nhược, dễ bị ám thị, không quả quyết, đa sầu đa cảm và dễ bị chấn thương tinh thần

Ưu điểm của kiểu khí chất này là sự suy nghĩ sâu sắc và tưởng tượng phong phú đã làm cho họ nhìn thấy được những khó khăn trở ngại, lường trước được hậu quả xảy ra Thái độ hiền dịu, thông cảm với mọi người xung quanh Họ là người nhạy cảm hợp với người nghệ sỹ

Tuy tình cảm thiếu cởi mở nhưng chân thành, sâu sắc và bền vững

Trong điều kiện bình thường có sự động viên, tin tưởng họ cũng hoàn thành tốt công việc được giao

Sự phân chia các kiểu khí chất trên chỉ mang tính chất tương đối Thực tế cho thấy, phần lớn chúng ta ít ai chỉ có đặc điểm của một loại khí chất nhất định mà thông thường mỗi người chúng ta đều có đặc điểm của hai, ba, thậm chí là có đặc điểm của cả bốn kiểu khí chất nói trên Tùy từng người có đặc điểm nổi bật của khí chất nào đó Không có kiểu khí chất nào, cũng không có kiểu khí chất xấu, mọi khí chất đều có mặt mạnh mặt yếu; tuy nhiên, mọi khí chất đều có ích cho xã hội

Bản thân của loại hình khí chất không thể quyết định cao thấp của thành tựu xã hội của một người, mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều có thể tìm ra đại diện của loại hình khí chức không giống nhau của các loại, người mà có loại hình khí chức đồng nhất cũng có thể đưa ra cống hiến nổi bật trong một ngành nghề không giống nhau

Khí chất vừa là một yếu tố bẩm sinh di truyền vừa là một yếu tố xã hội, khí chất cũng không bất biến, mà nó có tính dẻo dai nhất định, khí chất của một người có thể phát triển và thay đổi trong các điều kiện giáo dục, cuộc sống xã hội và hoạt động Do đó, nắm bắt và khống chế khí chất trong thực tiễn sản xuất xã hội, hạn chế mặt tiêu cực khác, phát huy mặt tích cực, quan trọng là tự bồi dưỡng bản thân Nhưng chúng ta cần phải nhìn thấy được, tính dẻo dai của khí chất là có hạn chế, không thể xem nhẹ loại hình khí chất mà mang lại sự

Trang 31

khác biệt to lớn Khí chất không những ảnh hưởng đến tính chất của hoạt động mà còn ảnh hưởng đến hiệu suất của hoạt động

Các khái niệm đơn bình diện gồm có các khái niệm sau:

Một là, khái niệm stress - Một đáp ứng sinh học: Walter Cannon (1927) - người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress Ông quan sát một loạt phản ứng bản năng trong giới tự nhiên,gọi là phản ứng “Chống hoặc chạy” Mỗi khi các loài vật đối mặt với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy chốn Trong cả hai tình huống này, nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn để đạt được hiểu qua tốt hơn Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi cá nhân có thể ứng phó với những tác nhân gây

đe dọa từ môi trường bên ngoài

Trang 32

Theo Hans Selye: “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng”

Theo J Delay: “Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe doạ”

Hai là khái niệm stress - Một hiện tượng thuộc về nhận thức - hành vi:

“Căng thẳng xuất hiện khi cá nhân nhận thấy rằng họ không thể ứng phó hay đáp ứng được với những yêu cầu đối với họ hoặc đe dọa sự tồn tại khỏe mạnh của họ (R S Lazarus,1966)

Stress là kết quả của sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực (R S Lazarus and S Folkman,Stress, Appraisal and Coping New York: Springer, 1984)

Một định nghĩa đơn giản về stress có thể được sử dụng là: stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của bạn để ứng phó (S Palmer, 1999)

Ba là, khái niệm stress - Một sự kiện từ môi trường: Quan niệm về stress như một sự kiện từ môi trường được xuất phát từ các quan sát lập đi lập lại của tình trạng suy sụp về sinh lý và hành vi ở những người tiếp xúc với các điều kiện sống khắc nghiệt, như tham chiến trong quân đội (Grinker và Spiegal, 1945) và bị những mất mát (Lindemann, 1944) Nếu như môi trường khắc nghiệt dẫn đến những hậu quả tiêu cực, thì sự tích lũy dần những sự kiện

ít khắc nghiệt hơn cũng có thể có những hậu quả tai hại Từ cách nhìn này, stress được định nghĩa như một sự kiện từ môi trường đòi hỏi một cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không bình thường (Holroyd, 1979) Stress trú ngụ trong những “đòi hỏi” của sự kiện hơn là bên trong cá nhân người ấy

Cách nhìn về stress theo quan điểm sinh học và môi trường cơ bản là những mô hình kích thích - đáp ứng (Stimulus - Response model) Chúng không cung cấp một cái nhìn thấu đáo vào những thông số và những quá trình trung gian điều hòa mối liên quan giữa các sự kiện có hại và các đáp ứng sinh

Trang 33

học Nếu những sự kiện gây stress dẫn đến hậu quả tiêu cực cho sức khỏe, thì điều đó xảy ra như thế nào?

Các khái niệm đa bình diện gồm có 3 khuynh hướng như sau:

- Stress - một quan điểm có hệ thống: Stress là một khái niệm mang tính tổ chức, liên hệ đến nhiều thông số và quá trình, xảy ra trên nhiều bình diện của

sự phân tích: sinh lý, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi trường Vì thế, stress là một đáp ứng tích hợp sinh học - tâm lý - xã hội với những sự kiện được xem là có hại và đòi hỏi những kỹ năng ứng phó của đương sự Chúng

ta sẽ khảo sát từng bình diện một cách chi tiết và mô tả những ảnh hưởng qua lại của chúng

- Stress như là một quá trình: Từ một cách nhìn hệ thống, stress là một đáp ứng tích hợp, đa bình diện (multilevel) của đương sự đối với các kích thích bên trong và bên ngoài Các bình diện đáp ứng khác nhau có tính phụ thuộc lẫn nhau

Có một khuynh hướng suy nghĩ về stress theo một cách thức “thẳng tắp”: kích thích - cơ thể sống- đáp ứng: Một sự kiện nào đó xảy ra, đương sự nhận thấy sự kiện có tính đe dọa, và kế đó sinh đáp ứng về cảm xúc, hành vi và sinh lý Mối tương giao khi ấy được hoàn tất Tuy nhiên, đây không phải là sự thể hiện đúng đắn về một mối tương giao gây stress khi nó xảy ra trong môi trường tự nhiên (Lazarus, Folkman, 1984) Stress được khái niệm hóa tốt hơn như là một quá trình tiếp diễn, hai chiều và lập đi lập lại (Leventhal, Nerenz, 1983) Khi đối đầu với tác nhân gây stress, các đáp ứng sinh lý và sự ứng phó đầu tiên của chúng ta sẽ làm biến đổi sự kiện Kế đó, chúng ta nhận định lại

sự kiện đã bị biến đổi ấy, rồi điều chỉnh lại các đáp ứng sinh lý và ứng phó của chúng ta sao cho phù hợp; rồi đáp ứng này lại làm biến đổi sự kiện, cứ thế tiếp diễn Việc ứng phó theo kiểu định hướng vấn đề sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến kích thích gốc Ứng phó kiểu định hướng cảm xúc ảnh hưởng gián tiếp đến “đầu vào” bằng cách thay đổi sự nhận định hoặc phản ứng cảm xúc của đương sự đối với sự kiện Vì thế, stress và đáp ứng là một quá trình xoay

Trang 34

vòng trong đó những cố gắng ứng phó làm biến đổi sự kiện theo một vòng cung phản hồi Để thêm tính phức tạp, chúng ta lại thường ứng phó với nhiều tác nhân gây stress chồng chéo lên nhau bằng những cách thức phức tạp Tóm lại, stress có thể được xem là một đáp ứng đa bình diện của một con người đối với các kích thích được nhận định là đe dọa hoặc có hại Đáp ứng này có thể ít nhiều cải thiện được kích thích gây stress

- Stress là hệ quả thích nghi: Quan niệm về stress như một quá trình liên tục, lòng vòng, dẫn đến việc xem xét về những hệ quả thích nghi, hoặc những tác dụng lũy tiến theo thời gian của những cố gắng ứng phó của chúng ta với tác nhân gây stress Những hệ quả thích nghi có thể được xem như trạng thái sinh học - tâm lý của một người ở một thời điểm nào đó Hoạt động được ghi trong khuôn hình đó có thể được hiểu dựa trên những gì xảy ra trong một số khuôn hình trước đó (hệ quả thích nghi ngắn hạn) hoặc nhiều khuôn hình trước đó (hệ quả thích nghi dài hạn) Chúng ta có thể lượng giá những hệ quả thích nghi trên các bình diện sinh lý, nhận thức, cảm xúc, hành vi và xã hội Nói cách khác, sức khỏe thể chất, cảm xúc, sự thỏa mãn, thái độ, năng lực hành vi và các mối quan hệ xã hội của con người là một phần trong kết quả chung của khả năng tương giao giữa họ với môi trường sống (nguồn http://www.tamlytrilieu.com)

Theo “Từ Điển Tâm Lý” của Nguyễn Khắc Viện: “Stress có hai nghĩa Thứ nhất, stress là một mối kích động đánh mạnh vào con người Và nghĩa thứ hai là, phản ứng tâm lý và sinh lý của người ấy” Theo Nguyễn Khắc Viện thuật ngữ stress có nghĩa là: “kích - ứng” Một kích động có thể làm tác nhân vật lý, hóa chất, một vi khuẩn, hoặc một tác nhân tâm lý xã hội, nói chung là một tình huống căng thẳng đột xuất đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng Stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay trong cuộc sống của mỗi người

Trong bản dịch “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trong trị liệu" của Giáo sư Nguyễn Việt khái niệm stress của Giáo sư Ferreri được hiểu

Trang 35

là mối liên quan giữa con người và môi trường xung quanh Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó Do đó, stress

là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể

Như vậy, khái niệm chung về stress bao gồm 2 khía cạnh:

+ Tình huống stress chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra

(stressor): đó là những tác nhân vật lý, hoá học, tâm lý, xã hội

+ Đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress, bao gồm phản ứng sinh lý và tâm lý không đặc hiệu và định hình

Từ các khái niệm trên tôi đưa ra khái niệm sau: stress là trạng thái phản ứng tâm - sinh lý của chủ thể trước những tác nhân gây stress nhằm ứng phó với các tác động mà chủ thể cảm thấy có hại đối với mình

1.3.1.2 Cơ chế gây bệnh của stress

Hàng ngày, hàng giờ chúng ta - mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress như: điều kiện sống khó khăn, làm việc căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, bất hòa với đồng nghiệp, với hàng xóm Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp Có hai yếu tố quan trọng là tính chất gây bệnh của stress và sức chống đỡ của mỗi cá thể

- Tính chất gây bệnh của stress: Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề ) Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh Những stress gây bệnh thường mang nhiều ý nghĩa là thông tin chứ không phải là cường độ (được hiểu như khi một đám cháy xảy ra điều đáng nói đến là giá trị tài sản bị thiêu hủy và hậu quả cụ thể chứ không phải là cường độ ngọn lửa) Những stress gây xung đột nội tâm làm cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (ví dụ một cặp vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể

ly dị được vì còn nhiều lo nghĩ về những đứa con) Stress tác động vào cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress tác động vào cộng đồng

Trang 36

Mô hình giải thích cơ chế hình thành stress của Hans Sylye

TÌNH HUỐNG STRESS

CẤP: Không lường trước KÉO DÀI: không mong đợi

XẢY RA MỘT LẦN LẶP LẠI Mãnh liệt Trung bình

Thích nghi Thích nghi Không thích nghi Không thích nghi

STRESS CẤP STRESS KÉO DÀI

- Sức chống đỡ của mỗi các thể: Nếu đối tượng nhận thức được tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống stress là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lý Những người hay có trạng thái cảm xúc không ổn định, hay lo âu, căng thẳng,

né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương Cùng một loại stress, tùy theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hóa, tăng huyết áp Những người có nét nhân cách dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, hay bi đát hóa các tình huống stress; đánh giá cao khó khăn và đánh giá thấp bản thân thường rất

dễ bị tác động của stress Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ cao đối với stress: sớm làm chủ được tình huống, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo Bên cạnh đó, một cơ thể khỏe

CHỦ THỂ

Trang 37

mạnh, một môi trường thuận lợi có tác động hỗ trợ rất lớn cho nhân cách chống lại stress

Sơ đồ sự hình thành stress của Lazarus

1.3.2 Cách phân loại stress

Có rất nhiều loại stress được chữa trị và chẩn đoán ngày nay, nhưng có thể chia các loại stress đó thành bốn loại chính: Stress tích cực (Eustress), Stress tiêu cực (Distress), Hyperstress, Hypostress

1.3.2.1 Stress tích cực (Eustress)

Đây là một trong những loại stress hữu ích Nó xuất hiện ngay sau khi bạn

có nhu cầu cần sử dụng đến sức lực thể chất của mình Eustress chuẩn bị cơ bắp, tăng nhịp đập tim và sự tập trung tâm trí vào bất cứ tình huống mà bạn cần phải sử dụng sức mạnh cơ bắp

Eustress cũng có thể sử dụng trong những nỗ lực sáng tạo Khi một người cần có thêm những năng lượng để sáng tạo, Eustress giúp cho họ có được những sự kích thích hoặc hưng phấn cần thiết Một vận động viên sẽ trải

Tình huống gây stress

Tình huống không đe dọa

Stress cấp tính Stress kéo dài Hình thành kinh nghiệm mới

Trang 38

nghiệm một sức mạnh đến từ eustress ngay sau khi họ chơi một cuộc đấu lớn hoặc một trận đấu lớn Do eustress, họ có thể có được ngay lập tức sức mạnh

mà họ cần để thi đấu

1.3.2.2 Stress tiêu cực (Distress)

Nỗi buồn khổ là một trong những loại stress tiêu cực Nó là một trong những loại stress mà tâm trí và cơ thể phải chịu đựng khi những thói quen thông thường phải thay đổi và điều chỉnh Tâm trí chưa thích nghi và thoải mái với sự thay đổi này, nó vẫn có xu hướng quay lại thói quen cũ Có hai loại distress là cấp diễn và trường diễn

- Stress cấp tính (Acute Stress): là một loại stress xuất hiện ngay sau khi

có sự thay đổi về thói quen Nó là một loại stress mạnh mẽ, nhưng nó diễn ra rất nhanh Stress cấp tính tạo ra những cảm giác không thoải mái và bất định Triệu chứng của stress loại stress này thường là: đau đầu, đau lưng, đau bụng, tim đập nhanh, đau cơ hoặch đau mình

- Stress trường diễn (Chronic Stress) Stress trường diễn xuất hiện khi có một sự thay đổi kéo dài trong khi cơ thể chưa thích ứng được Kiểu stress này thường xuất hiện khi chúng ta đi du lịch quá dài (trên 6 tháng qua nhiều nơi) hoặc ai đó liên tục thay đổi công việc hoặc chuyển nhà

Triệu chứng của stress này gồm có: đau đầu hoặc căng thẳng kéo dài, huyết áp cao, đau nửa đầu, đau ngực và đau tim

1.3.2.3 Hyperstress

Hyperstress là loại stress tiêu cực xuất hiện khi một người chịu áp lực quá lớn so với khả năng đảm nhận hay chịu đựng của họ Những người làm kinh doanh trên thị trường tài chính; những ngành, tập thể trong đó có sự cạnh tranh cao hay một công việc quá nặng nhọc; lao động quá giờ liên tục sẽ gây

ra cho người làm gặp phải loại stress này

Một người trải nghiệm hyperstress sẽ thường phản ứng với một sự kiện không căng thẳng lắm với một cảm xúc thái quá Đây là loại stress rất cần nhận biết vì nó có thể gây ra những hậu quả nghiệm trọng về cảm xúc cũng như thể chất

Trang 39

1.3.2.4 Hypostress

Hypostress là loại stress đối ngược với với hyperstress Hypostress xuất

hiện khi cá nhân cảm thấy rất chán nản và nhàm chán hoặc không có thử thách gì trong cuộc sống Nếu bạn cùng một việc hàng ngày, tại cùng một nơi, luôn gặp những người cũ, làm mãi một công việc không thay đổi, những

nhiệm vụ được lặp đi lặp lại, bạn sẽ gặp phải loại stress này Ảnh hưởng của loại này là cảm giác nhàm chán và đơn điệu cũng như thiếu động lực làm việc

Ngoài cách phân loại trên, dựa trên nguyên nhân gây stress người ta còn phân loại stress gồm có 3 loại:

- Stress sinh lý: ứng với hiện tượng thần kinh thể dịch và cơ quan nội tạng

- Stress tâm lý: Sự đánh giá chủ quan về một hoàn cảnh trong một thời điểm nhất định, ứng với đặc tính cảm xúc vốn có của cá thể đó

- Stress xã hội: tương ứng với sự tan vỡ, khủng khoảng trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hoặc một tổ chức, hoặc một thể chế xã hội,

sự thay đổi trong cuộc sống của mỗi cá nhân (chuyển chỗ ở, mất tiền của, bệnh tật, thiên tai ), những mâu thuẫn và áp lực của cuộc sống

1.3.3 Các giai đoạn của trạng thái stress

Theo Selye, phản ứng Stress hay hội chứng thích ứng chung, được chia thành 3 giai đoạn và có các biểu hiện sau:

+ Giai đoạn báo động là phản ứng báo động, đặc điểm chính là có biến đổi sinh lý chuẩn bị cho cơ thể đối phó với hoàn cảnh mới làm cho cơ thể lâm vào tình trạng tăng cảnh giới, gây lo lắng Ví dụ như các quá trình tập trung, ghi nhớ, phán đoán trong cơ thễ triển khai những phán đoán đến trước đối vối một tác động có thể xảy ra thể hiện bầng tăng huyết áp, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, tăng lực cơ bắp

+ Giai đoạn chống đỡ: đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng khác nhau trong khuôn khổ chiến lược đã được đề ra và có khả năng thích nghi mềm dẻo theo quá trình triển khai các đáp ứng thích hợp nhằm giúp cơ thể làm chủ

Trang 40

được tình huống stress và có được một cân bầng mới đối với chính bản thân người đó cũng như đối với môi trường xung quanh

+ Giai đoạn kiệt sức: (lúc này gọi là Stress bệnh lý) do stress quá mức hoặc kéo dài làm cho cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy sụp, khả năng thích nghi bị rối loạn, xuất hiện các rối loạn tâm lý (đa số là lo âu trầm cảm)

Stress bình thường cơ thể phản ứng lại bằng giai đoạn báo động và giai đoạn chống đỡ

1.3.4 Nguyên nhân gây ra stress

1.3.4.1 Những yếu tố sinh học và sức khỏe

- Các yếu tố di truyền bẩm sinh, hóa thần kinh và các hormon:

Nghiên cứu những cặp sinh đôi chỉ ra rằng 30% nguy cơ mắc trầm cảm, lo

âu và stress ở giai đoạn trưởng thành là do yếu tố di truyền

Ngoài yếu tố gen, những công trình nghiên cứu suốt 20 năm qua đã mang lại cho chúng ta nhiều thông tin về một đáp ứng stress cho dù cơ chế đầy đủ vẫn chưa được biết hết Có hai hệ thống liên quan chính đó là trục hạ đồi - tuyến yên - thượng thận (HPA) và hệ thần kinh giao cảm (sẽ được đề cập bên dưới) Hệ thần kinh giao cảm tiết ra nor-epinephrine dưới sự kích thích chủ yếu của một vùng ở thân não gọi là nhân lục

+ Vai trò của trục hạ đồi - tuyến yên - thượng thận (HPA) trong stress

Trục HPA là một nhóm các đáp ứng với stress từ não, tuyến yên và tuyến thượng thận Đầu tiên, vùng hạ đồi (nằm ở trung tâm não) phóng thích một hợp chất mang tên “yếu tố phóng thích hướng corticoid - CRF” vốn được phát hiện vào năm 1981 CRF sau đó được chuyển xuống tuyến yên, kích thích sự phóng thích của hormon ACTH Hormon này đi tiếp vào máu và làm vỏ thượng thận tiết ra các hormôn stress đặc biệt là cortisol, một loại corticosteroid Cortisol huy động nguồn cung cấp năng lượng (đường, mỡ và chuyển hóa glucose) cần cho đáp ứng với stress Tuy nhiên, nếu nồng độ cortisol vẫn tăng trong thời gian dài sẽ dẫn tới teo cơ, giảm đáp ứng viêm và

ức chế hệ thống miễn dịch

Ngày đăng: 25/12/2015, 15:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1. Mẫu khách thể khảo  55 - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
1 Bảng 2.1. Mẫu khách thể khảo 55 (Trang 8)
Bảng 3.1. Mối quan hệ giữa khí chất và cách ứng phó với stress của học - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
Bảng 3.1. Mối quan hệ giữa khí chất và cách ứng phó với stress của học (Trang 83)
Bảng 3.2.  Mối liên hệ giữa khí chất và chia sẻ khi bị stress của học sinh - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
Bảng 3.2. Mối liên hệ giữa khí chất và chia sẻ khi bị stress của học sinh (Trang 85)
Bảng 3.3. Đối tượng học sinh ở các kiểu khí chất chia sẻ khi gặp khó khăn - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
Bảng 3.3. Đối tượng học sinh ở các kiểu khí chất chia sẻ khi gặp khó khăn (Trang 86)
Bảng 3.4. Tác động của gia đình đến học sinh khi học sinh bị stress của học - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
Bảng 3.4. Tác động của gia đình đến học sinh khi học sinh bị stress của học (Trang 88)
Bảng 3.5.  Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối với bố mẹ khi - Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh
Bảng 3.5. Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối với bố mẹ khi (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm