1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam

95 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bồn trũng thềm lục địa Việt Nam đều được hình thành vào giai đoạn Đệ Tam dưới sự ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo ở khu vực Đông Nam Á xảy ra vào giai đoạn Đệ Tam.. Sự va mảng gi

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Địa chất Dầu Khí là một ngành học nghiên cứu về nguồn tài nguyên có giá trị

đặc biệt trong sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp nước ta – đó là Dầu

Khí Ngày nay trên toàn thế giới con người đang sử dụng một cách triệt để nguồn

tài nguyên tự nhiên này

Để đánh giá khả năng tiếp cận kiến thức sau 4 năm học thì bài báo cáo này

cũng được xem như là một hành trang kiến thức quý giá cho sinh viên sau khi ra

trường

Để có thể hoàn tất bài báo cáo này em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của

các thấy cô và cán bộ thuộc bộ môn Địa Chất và bộ môn Địa Chất Dầu Khí, đặc

biệt là Thạc Sĩ Nguyễn Ngọc Thủy, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình

cho em trong suốt thời gian vừa qua Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến

đóng góp của cô

Xin cảm ơn sự nhiệt tình và những tình cảm của tất cả các bạn trong lớp Dầu

Khí 03DCA đã đồng hành trong suốt khóa học

Do thời gian có hạn và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên bài báo cáo này

chắc chắn có nhiều thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của quy thầy cô và

các bạn

Người thực hiện

Phạm Hoàng Giang

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO ĐÔNG NAM Á:

I CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KIẾN TẠO: 8

1 Giai đoạn trước Eoacen giữa: 8

2.Giai đoạn từ Eocen giữa – Oligocen: 10

3.Giai đoạn từ Oligocen – Miocen sớm: 14

4.Giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa: 17

5.Giai đoạn từ Miocen giữa – Đệ tứ: 20

II.CÁC LOẠI BỒN TRŨNG Ở ĐÔNG NAM Á: 24

1 Các bồn trũng hình thành trên đới va chạm tạo núi: 25

2 Các bồn trũng hình thành trên đới hút chìm: 26

3 Các bồn trũng hình thành trên móng á đại dương: 28

4.Các bồn trũng hình thành trên móng lục địa tương đối bình ổn: 28

PHẦN II CÁC BỒN TRŨNG TIÊU BIỂU THỀM LỤC ĐỊA NAM VIỆT

NAM: CHƯƠNG I BỒN TRŨNG CỮU LONG: 36

I.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ: 36

II.CƠ CHẾ HÌNH THÀNH BỒN: 37

III KHẢO SÁT BỒN TRŨNG CỮU LONG: 41

1.Tầng sinh: 42

2.Tầng chứa: 44

3.Tầng chắn: 50

IV MỎ BẠCH HỔ: 55

V TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG CỮU LONG: 65

CHƯƠNG II BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN: 68

Trang 4

I.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ: 68

II.CƠ CHẾ HÌNH THÀNH BỒN: 69

III KHẢO SÁT BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN: 74

1.Tầng sinh: 74

2.Tầng chứa: 77

3.Tầng chắn: 82

IV MỎ ĐẠI HÙNG: 86

V TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN: 91

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay công nghiệp Dầu Khí là một trong những nền công nghiệp hàng

đầu của các quốc gia trên thế giới nói chung và nền công nghiệp được coi là còn

non trẻ của Việt Nam nói riêng Do được thừa hưởng một điều kiện địa lý thuận

lợi mà Việt Nam dần dần hội nhập được với nền công nghiệp Dầu Khí của khu

vực và từng bước hoàn thiện nó trong tương lai để nền công nghiệp này trở thành

một nền công nghiệp mũi nhọn của đất nước, với tốc độ tiềm kiếm thăm dò và

đưa vào khai thác như hiện nay thì nền công nghiệp Dầu Khí đã đóng góp cho

ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng mỗi năm và cho đến nay thềm lục địa

Việt Nam là một trong những thềm lục địa rất triển vọng và tiềm năng nhất khu

vực về Dầu Khí Cùng với việc phát hiện ra dầu khí khá đặc biệt trong đá móng

nứt nẽ đã đưa tới các nhà kỹ sư dầu khí hướng tiềm kiếm khác, một hướng tiềm

kiếm đầy hứa hen trong tương lai

Điều kiện kiến tạo là một trong những nhân tố quan trong làm cho đá nứt nẽ,

hình thành các bồn trũng Các bồn trũng trên thế giới nói chung và ở thềm lục

địa Việt Nam nói riêng đều được hình thành thông qua nhân tố kiến tạo Các

bồn trũng thềm lục địa Việt Nam đều được hình thành vào giai đoạn Đệ Tam

dưới sự ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo ở khu vực Đông Nam Á xảy ra

vào giai đoạn Đệ Tam

Cùng với quá trình kiến tạo hình thành bồn trũng thì nhân tố trầm tích cũng

giữ vai trò quan trọng trong việc tích tụ vật liệu để hình thành nên các tầng sinh,

chứa, chắn, cho các bồn Dầu Khí

Vì vậy một người địa chất Dầu Khí cần phải hiểu rõ mối quan hệ giữa nhân

tố kiến tạo và nhân tố trầm tích để có sự luận giải đúng đắng cho sự phát triển

một bồn Dầu Khí Đó là nội dung của đề tài:

Trang 6

“ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ SỰ PHÁT

TRIỂN CÁC BỒN DẦU KHÍ ĐỆ TAM TIÊU BIỂU THUỘC THỀM LỤC

ĐỊA NAM VIỆT NAM”

Bài báo cáo gồm hai phần:

Phần I: Đặc điểm kiến tạo Đông Nam Á

Mục đích: giới thiệu về các giai đoạn kiến tạo của khu vực Đông Nam Á,

các loại bồn trũng do quá trình kiến tạo gây ra

Phần II Các bồn trũng tiêu biểu thềm lục địaViệt Nam

Mục đích: khảo sát bồn cho thấy sự khác nhau về hệ thống dầu khí của bồn

trũng Cữu Long và Nam Côn Sơn Qua các giai đoạn hình thành bồn khác nhau

thì hệ thống Dầu Khí trong nội bộ bồn cung khác nhau

Trang 7

PHẦN I:

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

TRONG KỶ ĐỆ TAM

Trang 8

I CÁC GIAI ĐOẠN KIẾN TẠO ĐÔNG NAM Á

Đặc điểm kiến tạo Đông Nam Á trong giai đoạn Đệ Tam là kết quả chuyển

động của các mảng lớn, xảy ra theo những giai đoạn khác nhau

1.Giai đoạn trước Eocen giữa

Lục địa Âu - Á dịch chuyển về phía Đông của khối Borneo ngày nay và

cuốn hút vỏ Đại Dương của mảng Thái Bình Dương xuống bên dưới nó, tạo một

biển sâu của Cung Đảo, gọi là Biển Đông Cổ vào Paleocen Vào Eocen khối

Đông Nam Á bị đẩy về phía Đông Nam từ mảng Âu - Á dọc theo hệ thống đứt

gãy cổ và bị xoay theo chiều kim đồng hồ do sự va chạm của mảng Ấn Độ với

mảng Âu – Á

Sự va mảng giữa hai mảng Âu – Á và Ấn - Úc song song với sự hút chìm

mảng Đại Dương dưới lục địa Âu - Á, nhưng tốc độ hội tụ hay hút chìm dọc cung

Sunda chậm hơn so với tốc độ di chuyển của mảng lục địa Âu – Á tạo sự căng

giãn ở rìa lục địa để hình thành các bể trước và sau cung

Trang 9

hướng quay tách giãn trượt ngang hướng dịch chuyển đới hút chìm

Hình 1: Vị trí các mảng vào giai đoạn trước Eocen giữa

( Theo tác giả R.Hall )

Chú thích:

Trang 10

2.Giai đoạn từ Eocen giữa – Oligocen

Trong thời kỳ Oligocen, đới hút chìm phía Nam bể Biển Đông Cổ tiếp tục

hoạt động Ưùng suất căng giãn ở phía trước đới hút chìm làm đáy biển ở bể Biển

Đông cổ tách giãn theo hướng Bắc - Nam và tạo nên Biển Đông, trục tách giãn

đáy biển phát triển lấn dần về phía Tây Nam và thay đổi hướng từ Đông - Tây

sang Tây Nam – Đông Bắc Khối Đông Dương tiếp tục bị đẩy trôi xuống phía

Đông Nam và tiếp tục xoay theo chiều kim đồng hồ

Giai đoạn Eocen giữa – Oligocen là giai đoạn tạo rift Vào cuối Paleozoi

lãnh thổ Đông Dương được gắn kết với phần Nam Trung Quốc cấu thành rìa

Nam của lục địa bền vững Âu – Á Trong giai đoạn Eocen giữa - Oligocen với sự

ảnh hưỡng của những hoạt động kiến tạo của vùng đã làm cho các đứt gãy Sông

Hồng hoạt động tạo điều kiện cho khối Đông Dương xoay phải và trượt xuống

Đông Nam Sự trượt bằng của khối Đông Dương liên tục xuống Đông Nam, kết

hợp với sự giãn nở nhiệt dưới võ trái đất ở khu vực Biển Đông hiện tại đã làm

tách giãn khối Hoàng Sa- Trường Sa, một bộ phận cấu trúc trước Đệ Tam của vi

lục địa Đông Dương đã bắt đầu giãn đáy và hình thành Biển Đông có cấu trúc

võ Đại Dương như ngày nay

Địa khối Indosinia và phần Tây Đông Dương có vị trí xa về Đông Bắc so với

hiện tại và được xem là khu vực nâng cao Sự căng giãn của rìa khối Việt Trung

về Đông Nam từ sau Creta và mạnh nhất trong Eocen sớm đã tạo một loạt

graben hẹp, kéo dài hướng Tây Nam - Đông Bắc và được lắp đầy bởi các trầm

tích molas giữa núi, tạo thành các phức hệ tiền rift Vi mảng Biển Đông cổ có

cấu trúc võ Đại Dương tiếp tục di chuyển xuống phía Nam và hút chìm dưới

Borneo ở rìa Tây Bắc Giai đoạn này sự va mảng giữa mảng Ấn Độ và Âu - Á

đặc biệt ở thời kỳ cuối Eocen giữa khi có sự va mảng cứng đã thúc trồi các mảng

Việt Trung, Đông Dương trượt về Đông Nam dọc theo các đứt gãy sâu trượt

bằng , tái hoạt động lại như Sông Hồng Tam Kỳ - Phước Sơn, Maeping, Ba Chùa

Trang 11

tạo ra hàng loạt bể và trũng Ở vịnh Thái Lan và Malay theo mô hình kiến tạo

thúc trồi của Tapponnoer với su thế xoay phải và dịch chuyển xuống Đông Nam

toàn khối Đông Dương , thì chuyển động trượt dọc các đứt gãy Maepimg – Hậu

Giang và Ba Chùa đã nhiều lần thay đổi hướng theo thời gian Ở thềm lục địa

Nam Việt Nam, các bể Cữu Long và Nam Côn Sơn được hình thành từ cuối

Eocen do sự thúc trồi khối Komtum về Đông Nam đã tạo sự căng giãn theo

hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo các hố trũng sụt Khối Biển Đông cổ hình

thành trước đó giảm dần diện tích, tiếp tục di chuyển xuống phía Nam, bị hút

chìm và tiêu biến dưới rìa Tây Bắc khối Borneo

Ở rìa địa khối Indosinia, do sự trượt bằng theo hướng Bắc - Nam dọc theo hệ

thống đứt gãy hình thành một loạt trũng căng ngang hẹp kéo dài dọc sườn lục

địa Vào cuối Oligocen sự va mảng giữa các lục địa Châu Úc và cung đảo Sunda

đã tạo trường nén ép, gây nghịch đảo kiến tạo dưới dạng chuyển động phân dị

dọc các đứt gãy thuận, kết thúc pha tạo rift thực thụ, hình thành bất chỉnh hợp

khu vực Oligocen trong các bể nội lục rìa vi mảng Đông Dương

Sự tách giãn và Đại Dương hoá ở Biển Đông, đặc biệt ở phần Tây Nam đã

gây hiện tượng phun trào bazan và andesit tương đối phổ biến trong các bể tiếp

giáp với các bể rìa Tây và Tây Nam Biển Đông

Sụt lún trên phần phía Nam của tiền biển Hoa Nam tiếp tục nhưng quá trình

mở rộng trong bồn Celebes-Tây Philippin đã ngừng trước đó Tuy nhiên sự

chuyển dạng gắn liền đến vùng phía Đông, kết thúc khu vực sụt lún lại liên quan

đến trung tâm tách giãn mới thành lập của vùng biển Hoa Nam-phía Bắc dãy núi

ngầm Maccles Field Quá trình điều khiển các khối được điều khiển bởi sự lõm

vào của khối Châu Âu khi bị Ấn Độ va chạm (Tapponier-1982), tác động vào

khu vực gần hơn biển Hoa Nam, như Indochina bị đẩy về hướng Đông Nam theo

đứt gãy trượt trái Sông Hồng và đứt gãy trượt phải Three Pagodas và Wang

Chao Rift hóa dãy núi Palau-Kyushu bắc đầu, dẫn đến việc mở rộng bồn Parece

Trang 12

Vela tương ứng với sự hút chìm mảng Thái Bình Dương bên dưới rìa phía Đông

PSP

Trong vùng biển Hoa Nam, tăng vọt sóng núi dẫn đến sàn Đại Dương mở

rộng ra ở giữa 2 dãy núi ngầm Maccles Field và Reed, điều này làm kết thúc

việc mở rộng bồn được thành tạo sớm hơn ở phía Bắc Quá trình chuyển động

của Indochina được tiếp tục theo đứt gãy Sông Hồng, đồng thời cũng bị lôi kéo

bởi sự tách giãn bên trong thềm Sunda Chuyển động trượt phải được tiếp tục

theo các đứt gãy Three Pagodas và Wang Chao, chúng gần như bị lôi kéo từng

phần bên trong vịnh Thái Lan, bồn Malay và bồn Natuna

Chuyển động PSP thay đổi liên quan đến 2 sự va chạm quan trọng Trong

tầng đá Ophiolit tuổi Oligocen hầu như được định vị tại rìa tích cực của vi lục địa

Bird’s Head, và vi lục địa này được đặt trên phần phía Tây Arm’s Sulawesi

(Coffield-1993) Cung đảo trên phần phía Nam của PSP va chạm với rìa Autralia

trong New Guinea Những va chạm này làm vỏ Đại Dương Indian nằm giữa

Sulawesi và Halmahera, sau này trở thành một phần của PSP Sự hút chìm

ngừng lại vào giữa 25 và 20 triệu năm Ranh giới mảng trở thành đứt gãy trượt

bằng - hệ thống đứt gãy Sorong về sau di chuyển các tầng đá của cung PSP dọc

theo rìa của New Guinea

Bên trong PSP, bồn Parece Vela đang mở rộng đã từng gia tăng nhanh cả

phía Bắc và phía Nam tạo nên cung lồi ra của dãy núi Palau - Kyushu Mảng

Caroline được cho thấy lần đầu tiên tái cấu trúc vào khoảng 25 triệu năm, mặc

dù khi ấy dị thường từ chỉ ra rằng vào thời Oligocen đang mở ra vị trí thành tạo

và hệ thống kiến tạo là không chắc chắn Trong suốt Neogen đã có rất ít hoặc

không có sự hút chìm nào ở ranh giới mảng Caroline-PSP Sự cuốn hút của

mảng Thái Bình Dương bên dưới PSP đã được trợ sức bởi chuyển động trượt trái

nơi ranh giới Caroline-Pacific với khoảng dịch chuyển chuyển dạng căng và nén

trong dãy núi Caroline

Trang 13

hướng quay tách giãn trượt ngang hướng dịch chuyển đới hút chìm

Hình 2: Vị trí các mảng vào giai đoạn Eocen giữa – Oligocen sớm.

( Theo tác giả R.Hall )

Chú thích:

Trang 14

3.Giai đoạn Oligocen – Miocen sớm

Vào giai đoạn Oligocen – Miocen sớm hầu như chấm dứt giai đoạn tạo rift

trong hầu hết các bể trước và sau cung đảo Sumatra, đông Java, nam Borneo,

riêng các bể ở nội lục, gần ranh giới của các mảng như Đông Dương và Việt

Trung quá trình tạo rift vẫn tiếp tục nhưng cường độ yếu Sự trượt bằng trái dọc

hệ thống Sông Hồng chấm dứt ở khoảng thời gian 20 triêu năm, đồng thời cũng

kết thúc sự thúc trồi và trượt của vi mảng Đông Dương về Đông Nam

Chiều quay theo chiều kim đồng hồ của PSP đòi hỏi có sự thay đổi trong

ranh giới mảng khắp Đông Nam Á Những sự thay đổi này bao gồm việc tái định

hướng mở rộng trong vùng biển Hoa Nam và sự phát triển của vùng hút chìm

mới tại rìa Đông của Châu Âu Borneo bắt đầu xoay theo ngược chiều kim đồng

hồ làm sản sinh thành tạo Deep Regional Unconformity (Tan và Lamy-1990)

phía Bắc rìa Borneo, với chuyển động theo ngược chiều kim đồng hồ của

Sulawesi và cả hầu hết các vùng Sundaland kề cận Ngọai trừ phía bắc Malay

xoay theo chiều kim đồng hồ, vì vậy vẫn còn mối liên hệ với cả Indochina và

Nam Malaya Bởi vì trục xoay của Borneo gần với góc Tây Bắc Borneo nên

không có biến dạng phá hủy của thềm Sunda nhưng có sự lội ngược trong các

bồn như West Natunal (Ginger-1993) Họat động xoay của Borneo được trợ sức

trên phần phía Nam của biển Hoa Nam bởi sự hút chìm về phía Nam liên quan

đến ranh giới trượt bằng phía Bắc Borneo Nhưng ở phía Tây gần với trục xoay

của Borneo xuất hiện nhiều đới hút chìm nhỏ

Xa hơn về phía Đông, họat động hút chìm tăng nhanh làm cho biển Sulu mở

rộng như bồn sau cung vào khoảng 20 triệu năm ( Holloway-1982; Hinz-1991;

Silver và Rangim-1991), phần phía Nam dãy núi Cagayan và giữa 20-15 triệu

năm, dãy núi Cagayan di chuyển về phía Bắc ngang qua biển Hoa Nam

Trang 15

Đới hút chìm mới đã bắt đầu ở rìa phía Tây mảng biển Philippin bên dưới

Bắc Silawesi-cung Sangihe, chúng mở rộng từ Bắc đến Nam Luzon Quần đảo

Philippin được mang đi cùng với PSP một cách thụ động tiến về đới sụp lún này

như là quần đảo Halmahera trong suốt giai đọan trầm tích cacbonat rộng rãi

Phía Bắc Luzon, sự chuyển dịch trượt trái liên quan họat động hút chìm rìa Tây

Nam của PSP đến sự sụp lún rãnh sâu Ryukyu

Trang 16

hướng quay tách giãn trượt ngang hướng dịch chuyển đới hút chìm

Hình 3: Vị trí các mảnh vào giai đoạn Oligocen giữa – Oligocen muộn.

( Theo tác giả R.Hall )

Chú thích:

Trang 17

4.Giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa

Miocene giữa lún chìm khu vực và biển đã ảnh hưởng rộng lớn đến các vùng

Biển Đông Xảy ra sự tái cấu trúc quá mức bề rộng phần phía Tây biển Hoa

Nam bởi vì Borneo-phía Bắc Lupar Line được xem là mảnh vở đơn, vì vậy thật

khó để cho thấy trầm tích lấn ra biển về phía Bắc của rìa Borneo bởi sự tăng

lượng vật liệu trầm tích Hầu hết vật liệu trầm tích được lý giải đã được lấy từ

phía Bắc ngang qua thềm Sunda, có lẽ một phần lấy dọc theo rìa trượt bằng ở

phần xa hơn về phía Bắc ở Sundaland Khi Borneo xoay, biển Hoa Nam còn lại

không bị ảnh hưởng

Mô hình tiên đoán những thay đổi quan trọng trong lịch sử kiến tạo và lịch

sử hoạt động núi lửa bắt đầu vào khoảng 20 triệu năm trở lại đây ở Java và

Sumatra Vào 15 triệu năm trở lại đây, Bắc Sumatra đã xoay theo ngược chiều

kim đồng hồ với nam Malaya, và khi quá trình xoay tiến đến hướng của rìa

Sumatra, nó trở nên ít nghiêng về hướng chuyển động của mảng Ấn Độ Điều

này gây nên việc phân chia rìa hội tụ thành các đới hút chìm vuông góc nhau và

đới trượt bằng song song, dẫn đến thành tạo hệ thống trượt phải Sumatra và lực

căng trong vùng Andaman Mô hình này vì vậy cho thấy sự phát triển hệ thống

trượt bằng ở Sumatra trong suốt Mioxen sớm và giữa Điều này khớp với lịch sử

của các bồn gần đứt gãy Sumatra hiện tại, như bồn Ombilin Quá trình trầm tích

bắt đầu vào Paleogen nhưng không có bằng chứng rõ ràng về lực điều khiển

trượt bằng mãi đến thời Neogen (C.G.Howells và A.J.Mc Cathy-1996)

Sự va chạm của Luzon và dãy núi Cagayan với rìa lục địa Châu Âu ở

Miđoro và Bắc Palawan gây ra sự tăng vọt của đới hút chìm đến phần phía Nam

biển Sulu Sự sụp lún về phía Nam bên dưới cung Sulu tiếp tục mãi đến 10 triệu

năm trở lại đây Phần còn lại của mảng Philippin tiếp tục di chuyển với PSP, có

thể cùng với chuyển động trượt nội mảng và hút chìm gây ra hoạt động núi lửa

Trang 18

Phía Nam tận cùng PSP, những vùng mở rộng của đứt gãy Sorong phát triển

liên tục Vùng nội lục ổn định Tukang Besi được chia ra từ vi lục địa Bird’s

Head để va chạm với Sulawesi (Davidson-1991) Khóa lại các nơi mở rộng của

đứt gãy Sorong gây ra sự hút chìm phát sinh tại rìa phía đông của biển Molucca,

theo sau là họat động núi lửa ở Halmohera Đới hút chìm này sau đó tăng nhanh

về phía Bắc liên quan tới đới trượt bằng gắn liền Nam Midanao đến rãnh sâu

Sangihê Ở phần rìa phía Đông của PSP đang mở rộng bị ngừng lại trong bồn

Shikoku, và được định dạng khi PSP xoay dưới sự giúp sức của dao động

roll-back của rảnh sâu Izu-Bonin-Mariana

Trang 19

hướng quay tách giãn trượt ngang hướng dịch chuyển đới hút chìm

Hình 4: Vị trí các mảng vào giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa

( Theo tác giả R.Hall )

Chú thích:

Trang 20

5 Giai đoạn từ Miocen giữa – Đệ Tứ

Giai đoạn này đặc trưng bởi sự chấm dứt hoàn toàn hoạt động thúc trồi của

vi mảng Đông Dương về Đông Nam, sự đổi hướng dịch chuyển từ trượt bằng trái

sang trượt bằng phải dọc hệ thống Sông Hồng và three pagodas, chấm sứt sụt rift

dạng graden để chuyển sang chế độ sụp bồn trên hầu hết các bể Đệ Tam hình

thành trước đó

Sự va mảng giữa khối Bắc Palawan với Kalimantan chấm dứt sự giãn đáy

Đại Dương ở Biển Đông Quá trình nguội kéo dài của vỏ trái đất làm mảng Biển

Đông và lân cận tiếp tục bị lún chìm tách rift, mực nước Đại Dương tiếp tục

nâng cao và tạo ra biển tiến khu vực xen giữa giai đoạn này vào đầu Mioxen

muộn xuất hiện pha tăng nhiệt ngắn của vỏ trái đất khu vực Biển Đông và kế

cận, cùng với sự gia tăng tốc độ trượt dọc các đứt gãy chính Sông Hồng và Three

Pagodas đã gây ngịch đảo trong các bể trầm tích Đệ Tam ven Biển Đông và tạo

bất chỉnh hợp khu vực Miocen muộn

Ơû Việt Nam hiện tượng nghịch đảo kiến tạo Miocen muộn thể hiện rõ nhất ở

bể Sông Hồng , đặc biệt phần đất liền và Nam Côn Sơn Nghịch đảo kiến tạo

Miocen muộn là dạng cấu trúc đặc trưng ở Đông Nam Á vào giai đoạn Đệ Tam

vì thế nhiều tác giả còn cho rằng đây là giai đoạn uốn nép Sunda Uốn nếp

Sunda được xem là sự nghịch đảo kiến tạo của hệ đứt gãy căng giãn, qua đó

phần dày trầm tích trong các bể rift bị nghịch đảo và nâng lên tạo các nếp vồm

Vào Miocen giữa và đã chuyển sang giai đoạn sau rift, xảy ra hiện tượng lún

chìm của thềm lục địa và cao trào biển tiến khu vực ở các vùng sụt trước đó trên

rìa Nam khối lục địa Đông Dương ven Biển Đông Vào Miocen muộn đến đầu

Oligoxen xuất hiện pha tăng nhiệt ngắn của vỏ trái đất tạo phun trào bazan rộng

khắp ở khối Indonesia, ở đảo Hải Nam và dọc vùng biển Nam Trung Quốc, phun

trào bazan đạt đỉnh cao vào Pliocen

Trang 21

Sự xoay trái của khối Boneo kết thúc , xảy ra sự sắp sếp lại ở rìa các mảng

do sự va chạm giữa các khối Luzon, Cagayan với rìa lục địa Âu - Á và sự va

chạm giữa cung đảo Phillipin và mảng Thái Bình Dương, gây chuyển động trượt

và uốn nếp nén mạnh trong vi mảng Philipin Xảy ra sự trượt bằng phải dọc hệ

thống đứt gãy Semangko, giãn đáy và Đại Dương hoá ở biển Andaman

Hoạt động xoay của Borneo hoàn tất Điều này cộng với hoạt động va chạm

ở trung tâm Philippin, va chạm sớm hớn ở Mindoro và sự di chuyển tiếp tục về

hướng Bắc của Châu Úc tạo ra sự tái tổ chức lại ranh giới mảng và thành tạo nội

mảng ở Philippin Về phía Tây tận cùng của Sundaland, việc phân chia vùng hội

tụ ở Sumatra thành đới hút chìm thẳng góc và chuyển động trượt bằng một cách

tích cực đã thành lập mảng nhỏ trước cung phía Nam Sumatra Sự mở rộng có

kết quả nhất định dẫn đến sự phát triển của vỏ Đại Dương trong vùng biển

Andaman (Curray-1979)

Phía Đông tận cùng rãnh sâu Java, cấu trúc ngã 3 phân ly thành một trong

những vi mảng, mỗi phần như là kết quả của sự phát triển đới mở rộng của đứt

gãy Sorong Hoạt động núi lửa bên trong cung Banda tăng lên về Phía Đông

thành khu vực giữa Timor và vi lục địa Bird’s Head mà bản thân nó bao gồm vỏ

Đại Dương Indian được gom lại, hầu như có tuổi Mesozoi Vỏ Đại Dương này

bây giờ bị sụt lún và Seram bắt đầu di chuyển đến phía Đông khi cung đảo tăng

lên thành biển Bắc Banda, điều này đòi hỏi sự hút chìm và di chuyển trượt bằng

tại các rìa của vi mảng Xa hơn về phía Bắc, trong những đới đứt gãy Sorong,

Tukang Besi đã được bồi tích đến Sulawesi; khóa (kiềms) lại lực dịch chuyển

của đứt gãy và phát sinh chỗ mở rộng phía Nam nền ổn định

Vào Miocen sớm tốc độ đẩy trồi xuống Đông Nam cùng với tốc độ xoay

phải của khối Đông Dương chậm lại Quá trình tách giãn đáy biển tiếp tục chậm

lại Quá trình tách giãn đáy biển tiếp tục tạo nên lớp vỏ mới ở Biển Đông Trong

khi đó phần vỏ Biển Đông cổ ở phía Nam bị hút chìm dưới cung đảo kalimantan

Trang 22

Quá trình tách giãn đáy biển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đã nhanh chống

mở rộng xuống Tây Nam và chấm dứt vào cuối Miocen sớm do bể Biển Đông cổ

ngừng hoạt động

Miocene giữa lún chìm khu vực khu vực và biển đã ảnh hưởng rộng lớn đến

các vùng Biển Đông Miocen muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở

Biển Đông giai đoạn này được đặc trưng bởi sự chấm dứt hoàn toàn chuyển

động thúc trồi của vi mảng Đông Dương về Đông Nam, sự đổi hướng dich

chuyển dịch chuyển từ truợt bằng trái sang trược bằng phải dọc các đứt gãy Sông

Hồng , chấm dứt sụp rift Sự va mảng giữa khối Bắc Palawan với Kalimantan ở

thời gian 17 triệu năm trở lại đây chấm dứt sự giãn đáy Đại Dương ở Biển

Đông Quá trình nguội kéo dài của vỏ trái đất làm mảng Biển Đông và lân cận

lún chìm sụp rift, mực nước Đại Dương dâng cao và gây ra biển tiến khu vực

Vào Miocen giữa, khi chuyển sang giai đoạn sau rift, xảy ra hiện tượng nguội

nhiệt của vỏ trái đất ở vùng Biển Đông, gây lún chìm của thềm lục địa và tạo

cao trào biển tiến khu vực ở những vùng sụp lún trước đó trên rìa Nam khối

Đông Dương

Trang 23

hướng quay tách giãn trượt ngang hướng dịch chuyển đới hút chìm

Hình 5: Vị trí các mảng giai đoạn Miocen giữa – hiện tại

( Theo tác giả R Hall )

Chú thích:

Trang 24

II CÁC BỒN TRŨNG Ở ĐÔNG NAM Á

Đặc điểm quan trọng của kiến tạo giai đoạn Kainozoi là sự hình thành hàng

loạt các bồn trũng trẻ, kết quả của sự phá vỡ móng lục địa được gắng kết trước

đó hoặc ở nơi tiếp giáp do va mảng giữa các mảng lớn Âu - Á, Ấn – Úc và Thái

Bình Dương Các bồn trũng này là đối tượng tiềm kiếm dầu khí ở Đông Nam Á

nói riêng và Tây Thái Bình Dương nói chung

Các bồn trũng Đệ Tam ở Đông Nam Á gắn liền với các quần đảo và thềm

lục địa do đó từ lâu đã được phân thành các kiễu trũng trong cung đảo núi lửa,

kiễu trũng giữa các cung đảo và các trũng trước cung đảo Về vị trí kiến tạo các

trũng Đệ Tam còn được phân thành các dạng trũng trước núi, trũng giữa núi và

trũng giữa cung đảo Halbouty ( 1970 ) và Klemme ( 1970 ) phân chia các trũng

Đệ Tam so với vị trí lục địa như loạt nhóm hình thành trên lục địa ( dạng chậu

đơn giãn giữa núi riftơ) các châu thổ Đệ Tam muộn Murphy (1975) chia thành

các trũng thềm lục địa ( trên vỏ lục địa ), trũng rìa lục địa ( một cánh trên vỏ lục

địa, một cánh trên vỏ Đại Dương ) các trũng hệ quần đảo và các rìa Koeso -

Emadinata (1978) chia thành các dạng giữa núi, trước núi ( tương đương với

thềm Lục Địa của Murphy), giữa các cung đảo ( biển rìa), trũng châu thổ và các

trũng rìa lục địa

Ơû thềm lục địa Việt Nam và kế cận, về vị trí kiến tạo so với bình đồ lớp

móng trước Đệ Tam chúng ta có thể nhận thấy các kiểu bồn trũng sau:

- Bồn trũng hình thành trên đới va chạm tạo núi

- Bồn trũng hình thành trên đối hút chìm

- Bồn trũng hình thành trên móng á Đại Dương

- Bồn trũng hình thành trên móng lục địa tương đối ổn định

Trang 25

1.Các bồn trũng hình thành trên đới va chạm tạo nú:

Đó là loạt các trũng Đệ Tam, kiểu kiến trúc giữa núi, hình thành trên đới

trung tâm Malayxia – vùng va chạm giữa hai mảng lục địa Miến Điện – Thái

Lan và Komtum – Borneo Trước giai đoạn Đệ Tam, vùng này phát triển như

vùng biển rìa trên cơ sở của móng Đại Dương Paleozoi hạ với đầy đủ lát cắt

trầm tích, chủ yếu tướng biển từ Paleozoi đến Mezozoi sớm Sự va mảng bắt đầu

từ cuối Triat ( chuyển động Indosini ), nối tiếp sang Jura ( chuyển động Malaixia

) đã biến đới này thành kiến trúc tạo núi - uốn nếp Mezozoi Vào đầu Đệ Tam

do ảnh hưởng của sự va chạm giữa hai mảng lớn Ấn Độ và Âu Á đã tạo ra ở khu

vực ven rìa này loạt đứt gãy nén ép, đi kèm với sự phân dị thẳng đứng Từ đó

bắt đầu hình thành các trũng Đệ Tam giữa núi Thái Lan – Malaixia Đó là các

loạt trũng Champhon, trũng Tây, trũng Kra được ngăn cách bởi các trục nâng

Samui, Kokra, các trũng này được phủ dưới biển hiện tại ở vịnh Thái Lan

Địa tầng các trũng giữa núi được nghiên cứu trên các mặt cắt vùng Fang,

Maesoon, và Chiangmai gồm từ dưới lên có:

-Hệ tầng Nậm Pat

Cuội kết đáy cát kết màu đỏ, sét phiến loang lỗ Ở Chiangmai có hóa thạnh

Eoxen

-Hệ tầng Li

Gồm phiến sét hữu cơ chứa ít than, và đá dầu ở Maesoon Di tích thực vật

cho thấy có tuổi Oligocen

-Hệ tầng Maemoh

Sét vội, phiến sét, xen đá vôi mỏng chứa hóa thạnh, vỉa than mỏng chứa

xương và răng động vật có vú Mastodon xếp tuổi Miocen không được ghi nhận

Ở trũng Li vắng mặt trầm tích Miocen - Pliocen do sự nâng lên và bào mòn

Trang 26

-Hệ tầng Maesot

Gồm cát Ackoz, sét, phiến sét, vỉa than mỏng, cát kết, chứa dầu ở

Chaophakarn trong cát kết gặp Diapomea nước ngọt, cá và thực vật thân gỗ tuổi

Miocen -Pliocen

Nhóm Chaophraya Chia thành 2 hệ tầng:

MaeFang (Pleistoxen) và Chaophraya (hiện đại) gồm có cát kết Ackoz, Sỏi,

sạn, sét và bồi tích hiện tại, về phía Nam của vịnh Thái Lan đó là các trầm tích

châu thổ và biển Nhóm Chaophraya phủ bất chỉnh hợp trên các trầm tích Đệ

Tam lót dưới Chuyển động của Pliocen có liên quan đến các hoạt động uốn nếp

và magma ở đai Kiến Sơn trẻ Anđaman Nicobar

Các trũng này là đối tượng tìm kiếm than Đá dầu và dầu thô trong cát kết

Mioxen có giá trị không đáng kể, được khai thác để sử dụng cho công nghiệp địa

phương ở Maesot và Maefang

2.Các bồn trũng hình thành trên đới hút chìm

Đó là các trũng Đệ Tam, chủ yếu Oligocen – Miocen hình thành ở nơi tiếp

xúc giữa hai mảng lục địa và vỏ Đại Dương, dọc theo đới khấu chìm Mezozoi

muộn đầu Đệ Tam Móng của các trũng này được tạo thành bởi các vật liệu của

móng Đại Dương và biển sâu Crêta muộn và các trầm tích Flysh, vụng núi lửa

Paleocen – Eocen sớm Chúng bị uốn nếp, biến vị mạnh và xuyên cắt bởi các

thể Macma Về vị trí kiến tạo các trũng này được xem như dạng trước cung đảo

(Forearcbasin) Đặt trưng cho dạng trũng này là vùng trũng Sarawak, Brunây –

Sabah (Châu thổ Baram) và xa hơn nữa là trũng Tây Bắc Palawan

Vùng trũng Sarawak gồm hai phần đới Balingian và vùng cacbonat trung

tâm Luconia

Trang 27

Đới Balingian nằm ở phía nàm được tạo bởi các trầm tích cận bờ châu thổ,

có xen những thời kỳ gián đoạn trầm tích Đối tượng tìm kiếm là cát kết chứa

dầu Oligoxen – Mioxen Địa tầng ở đây được phát hiện từ Eocen muộn đến hiện

nay với các giai đoạn vào cuối Miocen hạ, giữa Miocen trung và cuối Miocen

thượng Quá trình trầm tích được chia thành các chu kỳ Chu kỳ I và II (Eocen

muộn và Miocen sớm) gồm chủ yếu là cát sông và vụn xen với sét than tướng

bãi tràn, chuyển sang sét biển và đá vôi ở phía Bắc vùng Luconia Chuyển động

nâng lên vào cuối Oligocen đầu, Miocen hạ làm phân dị mạnh địa hình trầm

đọng tạo ra các trục nâng dạng địa lũy xen với các lõm sụt hoặc rảnh sâu dạng

Graben Ở các chu kỳ sau trầm tích Miocen hạ, và trung có tướng Đồng bằng

ven biển, tướng sông và bãi ven bờ, chuyển sang tướng sông – biển ở đầu

Miocen thượng Vào cuối Miocen thượng diện tích trầm đọng dần dần bị thu hẹp

lại do chuyển động nâng lên đi kèm sự biến dạng lớp phủ Oligocen – Miocen

tạo ra những dãy cấu tạo có khả năng chứa cacbuahydro Các cấu tạo bị băm

nát bởi đứt gãy Trầm tích Pliocen -Pleistocen chủ yếu có tướng lục địa phủ

không chỉnh hợp lên trên các phức hợp trước đó và có thế nằm tương đối ổn

định Địa nhiệt cao khoảng 4,2oC/100m Các trầm tích chứa dầu là cát tướng

đồng bằng ven biển và bãi ven bờ tuổi Oligocen-Mioxen hạ.Ở vùng đá vôi trung

tâm Luconia đặc biệt có sự phát triển lớp phủ cacbonat Miocen trung Khí ở đây

liên quan tới các đá vôi ám tiêu Địa nhiệt dao động từ 3,720-5,440C/100m trung

bình là 4,360C/100m

So sánh với các trũng Brunây-Sabah và Tây Bắc Palawan(mỏ Mido) tầng

sản phẩm các trũng Đệ Tam này gồm có dầu tập trung chủ yếu trong cát kết đáy

ở Miocen thượng , nằm trực tiếp trên các vỉa dị thường áp suất

Trang 28

3 Các bồn trũng hình thành trên móng á đại dương

Đến nay, các trũng này chưa được nghiên cứu nhiều, vì chúng tập trung chủ

yếu ở vùng nước sâu thuộc sườn và rìa lục địa hoặc trên đáy đại dương

Địa tầng ở vùng Reed Bank (Qua giếng Sampaguita - 1) như sau:

- Cát kết chứa than lẫn cuội kết, bột kết, phiến sét tướng biển rìa… Tuổi xác

định Creta

- Trên là đá vôi Paleocen phủ bất chỉnh hợp, sau đó là đá lục nguyên biển

nông Paleocen

- Phiến sét biển sâu tuổi Eocen hạ - trung

- Sau chuyển động kiến tạo Eocen trung là các trầm tích cát, bột kết, pelit

tướng biển ven bờ phủ bất chỉnh hợp trên các đá lót dưới và có tuổi Eocen

thượng - Oligocen

- Đá vôi dày, xen với các thể ám tiêu tuổi Oligocen – Đệ Tứ, khí được phát

hiện trong cát kết Eocen

Ở rìa Tây của mảng Biển Đông, ven đứt gãy dịch ngang 109o K.Đ tồn tại

vùng trũng Quảng Đà Trầm tích ở đây có lẽ có tuổi Đệ Tam Số liệu địa vật lý

cho thấy chiều dày trầm tích khoảng 4-5 Km

4.Các bồn trũng hình thành trên móng lục địa tương đối ổn định

Đó là các bồn trũng Đệ Tam ở vịnh Thái Lan và thềm lục địa Việt Nam,

phát triển trên mảnh nhỏ lục địa Kontum – Borneo sau khi các giai đọan tạo núi

uốn nếp Mezozoi đã kết thúc Đặc trưng phát triển kiến tạo sau Triat là sự hình

thành lớp phủ Mezozoi – Kainozoi Giai đoạn thành tạo này chia thành 3 thời

kỳ:

™ Jura Creta – là thời kỳ tạo ra các sụt lõm bên trong địa khối, kết quả do sự

tác động va chạm tạo núi giữa các lục địa Miến – Thái và Kontum – Borneo Ơû

Trang 29

rìa Tây của đại khối KonTum hình thành vùng trũng Còrạt và vùng trũng Phú

Quốc

™ Eocen muộn – Oligocen sớm là thời kỳ tạo ra các trũng giữa núi, phát

triển dọc theo đứt gãy và nằm không chỉnh hợp ngay trên lớp phủ Jura – Creta,

hoặc các đá cổ hơn

™ Oligocen muộn – Đệ Tứ là sự mở rộng bồn trũng trên cơ sở của các trũng

giữa núi, kết quả do sự phát triển trực tiếp của Biển Đông, Trầm tích tướng Biển

lan rộng dần từ Đông sang Tây và Tây Bắc

Ở thềm lục địa Nam Việt Nam có các trũng Cửu Long Nam Côn Sơn, và rìa

Đông của trũng vịnh Thái Lan, trên cơ sở các số liệu địa chất – địa vật lý giếng

khoan, địa tầng chuẩn Đệ Tam đã được tập thể tác giả nghiên cứu, xác lập và

được liên kết với các đới sinh vật ở khu vực kế cận

Địa tầng Đệ Tam sớm nhất được khoan qua có tuổi bắt đầu từ Oligocen Các

trầm tích molas giữa núi Eocen có lẽ chỉ phổ biến ở trung tâm các rãnh sụt Lịch

sử phát triển Oligocen – Đệ Tứ được chia thành 3 chu kì lớn – chu kỳ biển lùi

Oligocen, chu kì biển lùi Miocen và chu kì biển tiến Miocen muội – Đệ Tứ

Trầm tích Oligocen ở chu kỳ đầu được xếp trong hệ tầng Trà Tân trên cơ sở

nghiên cứu giếng Trà Tân, gồm bên dưới là các trầm tích lục địa với thành phần

cát kết hạt thô, cuội kết thay thế bởi bột kết, sét kết loang lổ tướng đầm lấy ven

biển và châu thổ hoặc sét Tiền châu thổ ở bồn trũng Cửu Long và các trũng

vịnh Thái Lan, chuyển sang thành phần cát kết tướng biển nông ven bờ, hoặc

đập cát ven biển ở Trũng Nam Côn Sơn Nguồn cung cấp lục nguyên là phần

nhô cao trong đất liền hiện tại ở địa khối Kontum và đới Tây Campuchia

(Còrạt) Tiếp theo là thời kì trầm tích ổn định Điệu kiện biển nông phổ biến ở

trũng Nam Côn Sơn với thành phần chủ yếu là cacbonat, còn ở trũng Cửu Long

và vịnh Thái Lan phổ biến các trầm tích sét bột kết xen cát kết tướng đầm lầy

Trang 30

ven biển và châu thổ ngầm Kết thúc địa tầng Oligocen là các trầm tích hạt mịn

tướng lục địa và châu thổ Điều kiện đầm lầy ven biển chứa than phổ biến rộng

khắp ở trung tâm các bồn trũng thềm lục địa phía Nam sự xô nhau giữa các

mảng Thái Bình Dương Ấn – Úc với Nam lục địa Âu - Á vào cuối Oligocen đã

ảnh hưởng đến sự phát triển của địa khối Gây hiện tượng biển lùi và dân lên

tương đối ở khu vực lắng đọng Các chuyển động khối – gây đồng sinh cùng quá

trình trầm tích đã tạo ra những cấu tạo địa phương, băm nát chúng, một số cấu

tạo kết thúc phát triển vào cuối Oligocen Sự dâng lên làm cho đa số các cấu

tạo, nhất là những cấu tạo ven rìa bị bào mòn ở đỉnh, hoặc vát mỏng chiều dày,

đặc biệt là sự hình thành các thể địa chất đặc biệt xuyên cắt các trầm tích

Oligocen và thường xuyên qua phức hợp Miocen, Chúng liên quan đến các trầm

tích sét đáy tiền châu thổ phổ biến ở các

trung tâm trầm đọng các trầm tích cát bột đầu chu kỳ là đối tượng chứa dầu phổ

biến ở Đông Nam Á

Chu kì trầm tích tiếp theo – chu kì Miocen bắt đầu bằng đợt biển tiến ngắn

đầu Miocen hạ và kết thúc bằng sự nâng lên và gián đọan trầm tích giữa Miocen

trung Chu kỳ này được chia thành hai phân kỳ tách nhau bởi đợt biển lùi vào

cuối Miocen

hạ và biển tiến rộng khắp sau đó ở đầu Miocen trung Sở dĩ các tác giả không

tách thành hai chu kỳ riêng biệt vì tính kế thừa rõ nét trong bình đồ kiến tạo

Miocen về xu thế cũng như biên độ chuyển động Sự khác biệt chỉ thể hiện qua

tướng trầm tích Nói cách khác, nguyên nhân của hiện tượng biển lùi vào cuối

Miocen hạ và biển tiến sau đó vào đầu Miocen trung liên quan có lẽ chủ yếu

đến sự giao động của mực nước đại dương

Biển tiến ngắn vào đầu chu kỳ Miocen đã mở rộng diện tích các bồn trũng

Trầm tích Miocen hạ được tách ra ở trũng Cửu Long dưới tên hệ tầng Bạch Hổ,

Trang 31

còn ở trũng Nam Côn Sơn là hệ tầng Dừa Hệ tần Bạch Hổ bắt đầu bằng tầng

sét biển, châu thổ ngầm, ở trên có xen nhiều lớp cát biển và cuối cùng là các

trầm tích hạt mịn chứa than tướng đầm lầy ven biển và châu thổ Ở trũng Nam

Côn Sơn, hệ tầng Dừa cũng có thành phần thạch học tương tự như hệ tầng Bạch

Hổ, nhưng yếu tố biển và sông có ảnh hưởng biển phổ biến phong phú hơn, nhất

là ở phần giữa của địa tầng

Ở Vịnh Thái Lan từ trũng Malayxia ở phía Nam sang trũng Pattani ở phía

Bắc yếu tố biển giảm dần chuyển sang tướng lục địa, chủ yếu là châu thổ

Chuyển động Miocen hạ ít nhiều có tính kế thừa bình đồ kiến tạo Oligocen

Nhiều cấu tạo vẫn tiếp tục phát triển từ Oligocen sang Miocen hạ, đồng sinh

cùng quá trình trầm tích, nhưng biên độ giảm hơn, biến dạng đứt gãy cũng yếu

đi Phức

hợp cát bột nằm giữa hệ tầng là tầng chứa dầu khí chủ yếu trong các bồn trũng

Đệ Tam Đông Nam Á nói chung và thềm lục địa Nam Việt Nam nói riêng

Sau đợt thu hẹp vào cuối Miocen hạ, biển lại tràn khắp trên các bồn trũng

Đệ Tam ở thềm lục địa Nam Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung

Diện tích bồn trũng được mở rộng và phủ chồng lên rìa các khối nâng mà trước

đây là vùng bào mòn và cung cấp vật liệu hạt thô Sự dâng lên của mực nước

biển, và do đó của mực cơ sở bào mòn làm cho ngay cả bên trong lục địa, ở các

thung lũng sụt, các địa hình thấp, các lõm-đứt gãy có điều kiện để lắng đọng các

trầm tích dạng hồ, đầm lầy, sông tù với các thành phần hạt mịn, gồm sét loang

lổ, sét than, sét kaolin xen với bột kết và cát sỏi lòng sông

Trầm tích Mioxen trung được phân thành hệ tầng Côn Sơn ở trũng Cửu

Long Và hệ tầng Vũng Tàu ở trũng Nam Côn Sơn Hệ tầng Côn Sơn bắt đầu

bằng tầng sét biển phong phú Rotalia ổn định trong khắp vùng trũng Hiện tượng

này một lần nữa nói lên quá trình biển tiến được xảy ra trên một vùng địa hình

Trang 32

thấp châu thổ khi sự sụt lún được cân bằng chủ yếu bằng nguồn vật liệu sét

Chuyển tiếp dần lên là tầng cát biển và sau đó kết thúc bằng tầng lục nguyên

thô tướng lòng sông châu thổ xen với sét bột kết loang lổ tướng lục địa, hoặc

chứa than kiểu đồng bằng ven biển

Ở trũng Nam Côn Sơn, địa tầng Miocen trung cũng bắt đầu bằng tầng sét

biển, chuyển dần lên trên là các kết biển nông, thành phần hạt thô phổ biến ở

ven rìa phía Tây và Tây Bắc giáp với đới nâng Tây Campuchia và Côn Sơn, còn

ở phía Đông, trên đới nâng rìa 109o phổ biến trong những lớp cát kết mịn có xen

đá vôi, các kết chứa vôi và thạch cao

Ở các trũng Vịnh Thái Lan, phức hợp Miocen trung cũng bắt đầu bằng tập

sét bột kết chuyển dần lên trên là các kết biển nông và kết thúc bằng các trầm

tích lục

nguyên mịn chứa than Tướng lục địa châu thổ phát triển phong phú hơn ở khu

vực phía Bắc

Bình đồ Mioxen trung kế thừa từ Mioxen hạ, nhưng mức độ phân dị chuyển

động và biến dạng các trầm tích Miocen biểu hiện khác nhau tùy theo từng bồn

trũng, có mạnh hơn ở trũng Nam Côn Sơn Có lẽ do sự họat động của mảng Biển

Đông, nhất là ở ven cung đảo núi lửa rìa

Vào cuối chu kỳ, sự va chạm giữa mảng Âu Á và Thái Bình Dương, đồng

thời sự va chạm đầu tiên của mảng nhỏ Biển Đông với khối Borneo-Philippin

dọc đới khấu chìm Palawan, làm cho các trầm tích Đệ Tam bị biến dạng, rìa

Nam lục địa Âu Á được nâng lên, biển lùi xảy ra trên toàn vùng Chu kỳ Mioxen

kết thúc bằng bất chỉnh hợp khu vực, chấm dứt bình đồ kiến tạo Oligocen

-Miocen

Trang 33

Chu kỳ tiếp theo bắt đầu từ cuối Miocen trung sang Miocen thượng Pliocen

- Pleistocen và đặc trưng cho quá trình biển tiến tiếp diễn đến ngày nay Phức

hệ trầm tích được tách thành các hệ tầng: -hệ tầng Đồng Nai ở trũng Cửu Long

và hệ tầng Vũng Tàu ở trũng Nam Côn Sơn Đại diện cho phần cao nhất của

Miocen trung: cuối cùng là hệ tầng Cửu Long gồm các trầm tích tuổi Miocen

muộn - Pliocen – Pleistocen Vào đầu chu kỳ, biển đã tồn tại trên các bồn trũng

hình thành trước đó đồng thời mở rộng lên các địa hình thấp ở rìa các miền dâng

tạo ra vùng biển nông và châu thổ rộng lớn Chu kỳ bắt đầu bằng đợt biển tiến

cuối Miocen trung với thành phần lục nguyên hạt mịn, sét bột kết chứa vôi ở

trũng Nam Côn Sơn Ở trũng Cửu Long thành phần hạt thô hơn, phổ biến cát lẫn

sạn, bên trên là cát và sét biển Trầm tích biển cũng phổ biến rộng ở các trũng

Vịnh Thái Lan Yếu tố biển ở phía Nam được thay dần sang yếu tố châu thổ và

sông biển xen kẽ ở phía Bắc tại trũng Pattani Chiều dày trầm tích biến động với

xu thế tăng nhanh về hướng rìa Đông của trũng Nam Côn Sơn, nơi tiếp giáp với

mảng Biển Đông Ở đây, thành phần sét biển chiếm ưu thế, tạo ra tầng dị

thường, áp suất lỗ rỗng trong các trầm tích Miocen muộn trên đới nâng rìa Bình

đồ kiến tạo Oligocen – Miocen hoàn toàn bị san phẳng Chuyển động phân dị

trên các đới cấu tạo thứ cấp mất đi Chỉ còn lại xu thế nghiêng sâu dần về hướng

Biển Đông Trên đới nâng rìa 109o và phía Đông, Đông – Nam trũng Nam Côn

Sơn, các cấu tạo trong Miocen tiếp tục phát triển yếu sang đầu chu kỳ Pliocen –

Pleistocen làm cho các trầm tích cuối Mioxen bị uốn nhẹ và phá hủy bởi đứt gãy

biên độ nhỏ Trong các trũng ở phía Nam lục địa Âu - Á nói chung và thềm lục

địa Nam Việt Nam nói riêng, các kết biển tiến hoặc đầu biển lùi thuộc các chu

kỳ Oligocen Phân kỳ Miocen hạ, Miocen trung là đối tượng tìm kiếm dầu khí

Những lớp đá vôi độ rỗng cao ở đỉnh Miocen trung trong những điều kiện thuận

lợi của lớp chắn bên trên cũng chứa sản phẩm khí có giá trị công nghiệp

Trang 34

Građien địa nhiệt thường cao, từ 4,5oC đén 5.5oC/100m có khi đến

6.5oC/100m qui luật địa nhiệt biến đổi phụ thuộc vào mức độ chuyển động của

móng và sự phân bố tướng trầm tích với xu thế gia tăng ở những khu vực móng

nâng cao, họat động kiến tạo của móng mạnh hoặc trong điều kiện phổ biến

tướng trầm tích lục địa chứa than

Trang 35

PHẦN II:

CÁC BỒN DẦU KHÍ TIÊU BIỂU THỀM LỤC ĐỊA

VIỆT NAM:

Trang 36

I VỊ TRÝ ĐỊA LÝ:

Bể trầm tích Cữu Long nằm chủ yếu trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam

và một phần đất liền thuộc khu vực của sông Cữu Long Bể Cữu Long được coi

là bể khép kín điển hình của Việt Nam Bể Cữu Long tiếp giáp với đất liền về

phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây

Nam là khối nâng Khorat – Natuna và phía Đông Bắc là đới cắt trược Tuy Hoà

ngăn cách với bể Phú Khánh Bể có diện tích khoảng 36.000Km2, bao gồm các

lô: 9, 15, 16, 17 và một phần của các lô: 1, 2, 25, 31 bể được bồi lắp bởi trầm

tích lục nguyên Đệ Tam, chiều dày lớn nhất của chúng tại trung tâm rất lớn

Hình 6: Vị trí bồn trũng Cữu Long

Trang 37

II CƠ CHẾ HÌNH THÀNH BỒN TRŨNG CỮU LONG:

Bể Cữu Long nằm trong đới nâng Cữu Long – Nam Côn Sơn thuộc thềm lục

địa Nam Việt Nam Cùng với đới Đà Lạt, đới này tạo nên một móng có vỏ lục

địa tuổi tiền Cambri bị sụt võng mạnh mẽ vào Jura sớm – giữa, hoạt hóa magma

– kiến tạo kiểu rìa lục địa vào Jura muộn – Creta; tách giãn tạo rift theo phương

Tây Bắc – Đông Nam vào Paleocen – Neocen

1.Giai đoạn trước Eocen giữa

Bồn trũng Cữu Long cũng như các bồn trũng khác ở thềm lục địa Việt Nam

đều chịu ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á Vào giai đoạn

trước Đệ Tam xãy ra sự va mảng giữa hai mảng lớn là mảng Âu – Á và mảng

Ấn – Úc hình thành đới hút chìm dọc cung Sunda

Giai đoạn trước Eocen giữa là giai đoạn tạo núi, hình thành các cung magma

và lãnh thổ Đông Dương được gắn kết với Nam Trung Quốc cấu thành rìa Nam

của lục địa Âu – Á

Với sự tác động của các mảng làm cho phần đá móng bị nâng lên và với các

nhân tố phong hoá dẫn đến sự san bằng địa hình trước khi hình thành bể Cữu

Long Địa hình bề mặt bóc mòn của móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúc

này không hoàn toàn bằng phẵng, có sự đan xen giữa các thung lũng và đồi núi

thấp Chính địa hình gồ gề của mặt móng này đóng vai trò quang trọng trong

việc chứa dầu khí

2.Giai đoạn Eocen giữa – Oigocen

Sự tác động của các hoạt động kiến tạo ở khu vực Đông Nam Á vào giai

đoạn Eocen giữa – Oligocen cuối là kết quả hoạt động của các mảng lớn đã tạo

ra các hướng căng giãn khác nhau nhưng chủ yếu là theo hướng Tây Bắc –

Đông Nam và hàng loạt các đứt gãy hướng Đông Bắc – Tây Nam Đồng thời

cũng xãy ra sự hội tụ tây Tây Tạng giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu – Á làm vi

mảng Indosima bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng như :

Trang 38

Sông Hồng, Sông Hậu, Tree – Pagodas với su thế trượt trái ở phía Bắc và trượt

phải ở phía Nam Kết quả của các hoạt động trên đã hình thành các trũng trong

đó có bể Cữu Long.Vậy điều này cho thấy rằng bể Cữu Long bắt đầu hình thành

trong giai đoạn này Đây có lẽ là giai đoạn đầu tiên của giai đoạn tạo bể Cữu

Long, với các hoạt động đứt gãy này đã làm cho bồn Cữu Long sụp lún dần

3 Giai đoạn Oligocen – Miocen sớm

Hoạt động nén ép và đẩy trồi các mảng vào giai đoạn Oligocen cuối –

Miocen sớm đã làm cho các hoạt động đứt gãy trước đó tái hoạt động, với các

đứt gãy thuận ở dạng uốn chồm

Trong Giai đoạn cuối Oligocen do quá trình sụp lún – oằn võng và mở rộng

bể Vậy trong giai đoạn Oligocen muộn – Miocen sớm do ảnh hưởng của các đứt

gãy đã làm cho bể tiếp tục bị lún chìm Tuy nhiên các hoạt động đứt gãy đã xảy

ra trước đó các đứt gãy này có lẽ được khởi đầu vào cuối Eocen, đầu Oligocen

do tác động của các hoạt động kiến tạo ở vùng Đông Nam Á với hướng căng

giãn chính làTây Bắc – Đông Nam Hàng loạt đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam đã

được sinh thành do sụt lún mạnh và căng giãn các đứt gãy chính cắm về Đông

Nam

4.Giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa

Vào Miocen sớm quá trình giãn đáy Biển Đông theo phương Tây Bắc –

Đông Nam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào Miocen muộn, tiếp theo các

hoạt động đứt gãy là quá trình nguội lạnh vỏ, trong thời kì đầu Miocen sớm các

hoạt động đứt gãy vẫn còn xảy ra yếu và chấm dứt hoàn toàn từ Miocen giữa

đến hiện tại Tuy nhiên ở bể Cửu Long các quá trình này vẫn gây ra các hoạt

động tái căng giãn yếu và lún chìm từ trong Miocen sớm và hoạt động núi lửa ở

một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc của bể

Trang 39

Cuối Miocen sớm toàn bể phải trải qua quá trình nâng khu vực và bào mòn yếu,

bằng chứng là tầng sét Ratolit hình thành trước đó chỉ bị bào mòn từng phần và

vẫn duy trì tính phân bố khu vực của nó

Vào đầu Miocen giữa xảy ra quá trình biển tiến do quá trình sụp lún của bồn

và hoạt động nâng cao của nước biển đây có lẽ là do bồn đã sụp lún thấp hơn

mực nước biển hoặc một nguyên nhân nào đó làm cho mực nước biển dâng cao

Vào Miocen giữa lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởng rộng

lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông Cuối thời kỳ này có một pha nâng

lên dẫn tới sự tái thiết lập điều kiện môi trường chuyển từ môi trường biển nông

đến biển ven bờ hoặc đồng bằng tam giác châu ở phần Tây Nam của bể còn ở

phần Đông và Đông Bắc của bể điều kiện ven bờ vẫn tiếp tục được duy trì

5.Giai đoạn Miocen – Đệ Tứ

Miocen muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần

rìa của nó khởi đầu quá trình tạo thềm lục địa hiện đại Đông Việt Nam Núi lửa

hoạt động tích cực ở phần Đông Bắc bể Cửu Long và Nam Côn Sơn và phần đất

liền Nam Việt Nam Từ Miocen muộn bể Cửu Long đã hoàn toàn thông với bể

Nam Côn Sơn và từ đó hệ thống sông Cửu Long và sông Đồng Nai đã trở thành

nguồn cung cấp trầm tích cho cả hai bể Các trầm tích hạt thô được tích tụ trong

môi trường ven bờ ở phần Nam bể và môi trường biển nông ở phần Đông Bắc

bể Sang giai đoạn Pliocen là giai đoạn biển tiến rộng lớn trên toàn khu vực của

bể Giai đoạn này bể còn bị nâng lên đánh dấu cho sự kết thúc của giai đoạn

sụp

* Quá trình hình thành bể Cữu Long có hai giai đoạn căng giãn chính, giai

đoạn căng giãn vào Eocen – Oligocen sớm và có thể coi đây là giai đoạn ứng

với tuổi hình thành bể hay đây là giai đoạn đầu tiên hình thành bể, giai đoạn

Eocen – Oligocen tạo ra các trũng nhỏ hẹp và cục bộ có hướng Tây Bắc – Đông

Nam và Đông – Tây chủ yếu ở phần phía Tây bể Giai đoạn căng giãn thứ hai

Trang 40

vào Oligocen muộn – Miocen sớm chủ yếu hướng Đông Bắc – Tây Nam, đây là

giai đoạn căng giãn mở rộng tạo thành một bể trầm tích có ranh giới bốn phía, ít

chịu ảnh hưỡng của biển Về cấu trúc có các dải cấu trúc móng nâng và sụt xen

kẽ nhau, các tầng trầm tích có thể nằm kề áp và phủ chồng lên các cấu trúc

móng nâng cao Về phía Tây, các dải cấu trúc móng nâng có hướng Đông – Tây,

từ trung tâm bể về phía Đông các dải cấu trúc móng nâng có hướng Đông Bắc –

Tây Nam Nằm kề áp trên móng chủ yếu là trầm tích aluvi và đầm hồ, còn phủ

chồng lên các khối móng cao là trầm tích đầm hồ hay các trầm tích trẻ hơn Vào

cuối Oligocen, phần phía Bắc bể bị nén ép và gây nên nghịch đảo địa phương

cùng với một số cấu tạo lồi hình hoa Cũng ở phần phía Bắc bể, hoạt động núi

lửa xảy ra mạnh mẽ trong Miocen sớm và có phân bố rộng

Ngày đăng: 25/12/2015, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Ngô Thường San – Nguyễn Văn Đức – Nguyễn Văn Liệu. địa chất số 171. “ kiến tạo thềm lục địa Nam Việt Nam và kế cận.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thường San – Nguyễn Văn Đức – Nguyễn Văn Liệu. địa chất số 171. “ "kiến tạo thềm lục địa Nam Việt Nam và kế cận
3. Ngô Thường San - Cù Minh Hoàng - Lê Văn Trương. “ Tiến hóa kiến tạo kainozoi: sự hình thành các bể chứa hydrocacbon ở việt nam.” “ Tuyển tập báo cáo hội nghị KHCN 30 năm dầu khí Việt Nam cơ hội mới thách thức mới.”trang 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến hóa kiến tạo kainozoi: sự hình thành các bể chứa hydrocacbon ở việt nam".” “ "Tuyển tập báo cáo hội nghị KHCN 30 năm dầu khí Việt Nam cơ hội mới thách thức mới
4. Phan Trung Điền – Phan Quỳnh Anh. “ Tổng quan về hệ thống bể đệ tam rìa tây biển đông việt nam.” “ Tuyển tập báo cáo hội nghị KHCN 30 năm dầu khí việt nam cơ hội mới thách thức mới.” Trang 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống bể đệ tam rìa tây biển đông việt nam".” “ "Tuyển tập báo cáo hội nghị KHCN 30 năm dầu khí việt nam cơ hội mới thách thức mới
5.Nguyễn Ngọc Thũy. “ Bài giãng địa chất dầu khí khu vực.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giãng địa chất dầu khí khu vực
7. Nguyễn Hiệp - Nguyễn Văn Bắc – nnk , 2007. “ Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam nhà xuất bản Khoa Học và Kỷ Thuật.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam nhà xuất bản Khoa Học và Kỷ Thuật
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa Học và Kỷ Thuật."”
9.Võ Việt Văn. chuyên đề tiến sĩ II.2006. “ Khái quát về sự hình thành các bồn trũng chứa dầu khí thềm lục địa Việt Nam.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về sự hình thành các bồn trũng chứa dầu khí thềm lục địa Việt Nam
10. Nguyễn Anh Tuấn “ Biển Đông và các bồn trầm tích thềm lục địa Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông và các bồn trầm tích thềm lục địa Việt Nam
11. Hoàng Ngọc Đang - Lê Văn Cự, 2005. “ Hội nghị khoa học và công nghệ lần thứ 9” “ Các bể trầm tích Kainozoi Việt Nam: cơ chế hình thành và kiểu beồ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hội nghị khoa học và công nghệ lần thứ 9"” “ "Các bể trầm tích Kainozoi Việt Nam: cơ chế hình thành và kiểu beồ
6. Hoàng Đình Tiến – Nguyễn Việt Kỳ, 2003. địa hóa dầu – nhà xuất bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
8.Đổ Cảnh Dương, 2000. Giáo trình địa chất các mỏ than, dầu và khí đốt – nhà xuất bản Khoa Học và Kỷ Thuậ t- Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Vị trí các mảng vào giai đoạn trước Eocen giữa - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 1 Vị trí các mảng vào giai đoạn trước Eocen giữa (Trang 9)
Hình 2: Vị trí các mảng vào giai đoạn Eocen giữa – Oligocen sớm. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 2 Vị trí các mảng vào giai đoạn Eocen giữa – Oligocen sớm (Trang 13)
Hình 3: Vị trí các mảnh vào giai đoạn Oligocen giữa – Oligocen muộn. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 3 Vị trí các mảnh vào giai đoạn Oligocen giữa – Oligocen muộn (Trang 16)
Hình 4: Vị trí các mảng vào giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 4 Vị trí các mảng vào giai đoạn Miocen sớm – Miocen giữa (Trang 19)
Hình 5: Vị trí các mảng giai đoạn Miocen giữa – hiện tại. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 5 Vị trí các mảng giai đoạn Miocen giữa – hiện tại (Trang 23)
Hình 6: Vị trí bồn trũng Cữu Long - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 6 Vị trí bồn trũng Cữu Long (Trang 36)
Hình 7: Mặt cắt ngang qua bồn trũng Cữu Long. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 7 Mặt cắt ngang qua bồn trũng Cữu Long (Trang 41)
Hình 8: Đá móng nứt nẽ của bể Cữu Long. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 8 Đá móng nứt nẽ của bể Cữu Long (Trang 47)
Hình 10: Granit bị dập vỡ bởi nhiều hệ thống nứt nẽ. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 10 Granit bị dập vỡ bởi nhiều hệ thống nứt nẽ (Trang 49)
Hình 11: Sinh vật Rotalia. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 11 Sinh vật Rotalia (Trang 52)
Hình 13: Sơ đồ minh họa sự phát triển tầng chứa trong đá móng mỏ Bạch - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 13 Sơ đồ minh họa sự phát triển tầng chứa trong đá móng mỏ Bạch (Trang 62)
Hình 14: Mô hình móng mỏ Bạch Hổ. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 14 Mô hình móng mỏ Bạch Hổ (Trang 64)
Hình 15:  Vò trí boàn truõng Nam Coân Sôn. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 15 Vò trí boàn truõng Nam Coân Sôn (Trang 68)
Hình 16: Mặt cắt ngang qua bể Nam Côn Sơn. - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 16 Mặt cắt ngang qua bể Nam Côn Sơn (Trang 73)
Hình 18:  Mẫu lát mõng đá trầm tích cát kết hạt mịn Miocen sớm lô 05-2 - đặc điểm kiến tạo khu vực đông nam á và sự phát triển các bồn dầu khí đệ tam tiêu biểu thuộc thềm lục địa nam việt nam
Hình 18 Mẫu lát mõng đá trầm tích cát kết hạt mịn Miocen sớm lô 05-2 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w