1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy định về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự

73 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 444,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A.MỞĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài : 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4 4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5 6. Cơ cấu của khóa luận : 5 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN 6 1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân : 6 1.2 Vị trí vai trò của hội thẩm nhân dân : 7 1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân : 9 1.3.1 Quyền nghiên cứu hồ sơ : 10 1.3.2 Tham gia xét xử : 11 1.3.3 Tiến hành các hoạt động tố tụng : 12 1.3.4 Trách nhiệm : 13 1.4 Nguyên tắc hoạt động của hội thẩm nhân dân 15 1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 15 1.4.2 Nguyên tắc xét xử của tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia 16 1.4.3 Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 18 CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM . THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 21 2.1 Các quy định về hội thẩm nhân dân trước khi bộ luật tố tụng hình sự 2003 ra đời 21 2.1.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959 21 2.1.2. Giai đoạn từ 1959 đến 1980 23 2.1.3. Giai đoạn từ 1980 đến trước khi ban hành bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 26 2.2 Đánh giá các quy định pháp luật về hội thẩm nhân dân trong bộ luật tố tụng hình sự 2003 28 2.3 . Thực tiễn hoạt động của hội thẩm nhân dân tại tỉnh quảng trị 35 2.3.1 Số lượng, chất lượng hội thẩm nhân dân tại tỉnh Quảng trị 35 2.3.2. Thực tiễn tham gia tố tụng hình sự của Hội thẩm nhân dân 41 2.3.3 Số vụ án hình sự Hội thẩm nhân dân tỉnh Quảng Trị đã tham gia xét xử từ năm 2012 đến năm 2014 42 2.4 Các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội thẩm nhân dân quy định trong luật tố tụng hình sự 44 2.4.1 Giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc hoạt động của hội thẩm nhân dân 44 2.4.2 Các giải pháp khác 52 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sựcủa cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths

Nguyễn Ngọc Kiện.

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong khóa luậnnày trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xinchịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Sinh Viên

Lê Doãn Toàn

Trang 2

TH NG KÊ TR CH D NỐNG KÊ TRÍCH DẪN ÍCH DẪN ẪN

STT Tác giả tài liệu trích dẫn

Trang khóa luận

Tần suất trích dẫn

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung

ương (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của

Bộ Chính trị, Hà Nội

2 Đề tài khoa học cấp Bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm

trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác

giả Nguyễn văn Sản làm Chủ nhiệm, được nghiệm thu

năm 1999

3 Bài viết “Đổi mới chế định hội thẩm nâng cao hiệu

quả hoạt động của Toà án” của PGS – TS Nguyễn Tất

Viễn đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số 1/1999

4 Bài viết “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía

cạnh hoạt động và tiêu chuẩn của Hội thẩm” của tác

giả Chu Hải Thanh đăng trên Thông tin khoa học pháp

lý Số 1/1999

5 Bài viết “Sự hình thành và phát triển của chế định hội

thẩm ở Việt Nam” của tác giả Lê Thu Hương đăng

trên Thông tin khoa học pháp lý Số 1/1999

6 Bài viết “Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao hiệu quả

hoạt động của hội thẩm” của tác giả Hoàng Hùng Hải

đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân Số 6/2005

7 Bài viết “Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ

Hội thẩm nhân dân” của tác giả Phạm Văn Chung đăng

trên Tạp chí Pháp lý Số 7/2006

8 Bài viết “Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho

Hội thẩm Toà án - thực trạng và giải pháp” của tác

giả Nguyễn Quang Lộc đăng trên Tạp chí Toà án nhân

Trang 3

10 Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam , nhà xuất

bản Công an nhân dân Hà Nội năm 2011 , Trang 109

11 Từ điển luật học nhà xuất bản tư pháp , nhà xuất bản

từ điển bách khoa thuộc viện khoa học pháp lý của Bộ

tư pháp trang 238

12 Bài viết một số nhận thức về hội thẩm nhân dân Tác

giả : Bùi Thị Hoa - TK Nhà nước pháp luật trang 38

17 Nghị quyết số 10 /NQ-HĐND nghị quyết về việc xác

nhận kết quả bầu cử hội thẩm nhân dân - toà án nhân

19 Theo thông tư của thủ tướng chính phủ Số:

41/2012/QĐ-TTG quyết định về chế độ bồi dưỡng đối

với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết

việc dân sự

20 Báo cáo công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm

vụ năm 2013 (tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa VI)

21 Báo cáo công tác năm 2013và phương hướng nhiệm

vụ năm 2014 (tại kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh khóa VI)

22 Báo cáo công tác năm 2014và phương hướng nhiệm

vụ năm 2015 (tại kỳ họp thứ 14 HĐND tỉnh khóa VI)

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT Stt Từ viết tắt Nghĩa từ

Trang 6

A.MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”[1] thì nhiệm vụ của ngành Toà án là rất quan trọng Có

thể nói, đây là công tác có vai trò quyết định của hoạt động cải cách tư pháp.Tuy nhiên, khâu quan trọng nhất trong hoạt động tố tụng nói chung và côngtác xét xử nói riêng vẫn là con người, mà cụ thể trong công tác xét xử là độingũ Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký

Lịch sử phát triển của nền tư pháp nước ta từ năm 1945 đến nay chothấy Hội thẩm giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Toà án.Đội ngũ Hội thẩm qua nhiều thế hệ đã cùng với các Thẩm phán luôn luônđứng trên tuyến đầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý Sự hiện diện của Hộithẩm trong xét xử, kết quả hoạt động của họ đã khẳng định rằng nhân dân cóthể và cần phải có tiếng nói của mình trong hoạt động tư pháp Sự tham giatích cực và có hiệu quả của Hội thẩm đã tôn vinh thêm vị trí, vai trò và uy tíncủa Toà án trong chế độ ta

Mặc dù Thẩm phán và Hội thẩm đều là những người có vị trí rất quantrọng trong Toà án nhưng việc nghiên cứu lại mới chỉ tập trung vào pháp luật

về Thẩm phán mà chưa tập trung vào pháp luật về Hội thẩm

Hơn 60 năm qua, pháp luật về Hội thẩm nhân dân trong những điềukiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã phát huy được yếu tố tích cực, làmcho nhân dân thực sự có tiếng nói trong hoạt động tư pháp Tuy nhiên, trướctình hình mới, pháp luật về Hội thẩm nhân dân đã bộc lộ những hạn chế và

Trang 7

nhược điểm cần sớm được khắc phục như: chưa được hoàn thiện, thiếu đồng

bộ, còn mang tính chất chắp vá, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Cácnhà khoa học, các cán bộ thực tiễn và các cơ quan chức năng đã nhiều lần đềcập đến những hạn chế, nhược điểm đó nhưng chưa thật sâu sắc và toàn diện,chưa có những kiến nghị, đề xuất mang tính chất lâu dài để pháp luật về Hộithẩm nhân dân phát huy thực sự tác dụng của mình

Với những lý do trên, em đã chọn đề tài “các quy định về hội thẩm nhân dân theo tố tụng hình sự việt nam và thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật tại Tỉnh Quảng Trị” để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp ngành Luật học nhằm

góp phần thực hiện nâng cao chất lượng xét xử của Toà án trong giai đoạn hiệnnay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài :

Liên quan đến đề tài khóa luận này đã có một số công trình nghiên cứusau

- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách

tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn văn Sản làm Chủ nhiệm,

được nghiệm thu năm 1999 Đề tài đưa ra những kiến nghị về cơ chế tổ chức,hoạt động và những kiến nghị về hoàn thiện pháp luật nhằm củng cố, kiện

toàn tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.[2]

- Một số bài tham luận, bài viết trong các Hội thảo và bài viết đăng trêncác tạp chí chuyên ngành luật học:

+ Bài viết “Đổi mới chế định hội thẩm nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án” của PGS – TS Nguyễn Tất Viễn đăng trên Thông tin khoa

học pháp lý Số 1/1999 bàn về vấn đề Hội thẩm tham gia xét xử - một chếđịnh pháp luật thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc trong hoạt động tư pháp,đưa ra những biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng hoạt động của Hội

thẩm.[3]

Trang 8

+ Bài viết “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía cạnh hoạt động

và tiêu chuẩn của Hội thẩm” của tác giả Chu Hải Thanh đăng trên Thông tin

khoa học pháp lý Số 1/1999, bàn về vấn đề hiệu quả mà Hội thẩm đóng gópcho hoạt động xét xử của Toà án, tiêu chuẩn của Hội thẩm và đưa ra số giải

pháp để Hội thẩm phát huy được tác dụng, xét xử có hiệu quả.[4]

+ Bài viết “Sự hình thành và phát triển của chế định hội thẩm ở Việt Nam” của tác giả Lê Thu Hương đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số

1/1999 đã khái lược lịch sử hình thành và phát triển của chế định Hội thẩm ở

Việt Nam.[5]

+ Bài viết “Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hội thẩm” của tác giả Hoàng Hùng Hải đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân Số

6/2005, đưa ra một số ý kiến về việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động

của Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân.[6]

+ Bài viết “Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân” của tác giả Phạm Văn Chung đăng trên Tạp chí Pháp lý Số 7/2006, đưa

ra các kiến nghị để nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân.[7]

+ Bài viết “Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm Toà

án - thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Lộc đăng trên Tạp

chí Toà án nhân dân tháng 8/2006 - Số 15, kiến nghị một số giải pháp nâng

cao công tác quản lý bồi dưỡng Hội thẩm.[8]

Nhìn chung, kết quả đề tài và các bài viết trên rất đáng trân trọng, đã lýgiải một số vấn đề khá sâu sắc về chế định Hội thẩm nhân dân, và đề ra một

số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân Nhưngtrong điều kiện mới và tư duy mới hiện nay đã phát sinh nhiều vấn đề cần tiếptục nghiên cứu, đồng thời những vấn đề về thực tiễn cũng cần được tổng kếtsâu sắc hơn, do vậy khóa luận này của em nghiên cứu là không trùng lặp, và

Trang 9

thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lựccủa hoạt động xét xử.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực hiện trong địa bàn tỉnhQuảng Trị trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong tốtụng hình sự

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi của luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu những quy định của

pháp luật về Hội thẩm nhân dân (không đề cập Hội thẩm quân nhân) Việc

nghiên cứu đề tài căn cứ vào thực tiễn thực hiện pháp luật về Hội thẩm nhândân tại tỉnh Quảng Trị

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và hoàn thiện về nguyên tắchoạt động của Hội thẩm nhân dân; khái niệm, đặc điểm và nội dung của phápluật về Hội thẩm nhân dân, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật vềHội thẩm nhân dân trong bộ luật tố tụng hình sự

- Đánh giá thực trạng pháp luật về Hội thẩm nhân dân và thực tiễn tổchức thực hiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân tại tỉnh quảng trị; làm rõnhững mặt được, những mặt còn hạn chế, vướng mắc bất cập trong pháp luật

Trang 10

về Hội thẩm nhân dân và tổ chức thực hiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân,nêu các nguyên nhân và bài học kinh nghiệm;

- Phân tích các các quy định của pháp luật về hội thẩm nhân dân trong

bộ luật tố tụng hình sự 2003 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềHội thẩm nhân dân ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sở vận dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụngcác phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phương pháp phân tích , phươngpháp tổng hợp,phương pháp lịch sử,phương pháp thống kê,phương pháp sosánh, tổng kết thực tiễn

6 Cơ cấu của khóa luận :

Chương 1 : những vấn đề chung về hội thẩm nhân dân

Chương 2 : các quy định về hội thẩm nhân dân theo luật tố tụng hình sựviệt nam và thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật tại tỉnh quảng trị và đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân :

Như chúng ta đều biết một trong những biểu hiện dân chủ của nền tưpháp kiểu mới là có đại diện nhân dân tham gia vào việc xét xử của tòa án

Lênin đã từng khẳng định rằng “ sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền Chúng ta phải tự mình xét xử , toàn thể công dân không trừa một ai đều phải tham gia xét xử và quản lý đất nước ”[9] Ở nước ta , nguyên tắc “

việc xét xử tòa án có hội thẩm có hội thẩm nhân dân tham gia ” và “ khi xét

xử , thấm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ” đãđược ghi nhận qua các bản hiến pháp năm 1946 , 1959 , 1980 , 1992 và tiếptục được khẳng định tại khoản 1 , khoản 2 điều 103 hiến pháp năm 2013

Có nhiều khái niệm về Hội thẩm nhân dân ,Tác giả phân tích một sốkhái niệm về hội thẩm nhân dân như sau:

Khái niệm thứ nhất cho rằng:

“hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật

để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án”[10,tr 109]

Khái niệm đã nói lên được việc hình thành lên hội thẩm nhân dân làqua bầu hoặc cử và đã khoanh vùng được phạm vi hoạt động của hội thẩmnhân dân trong thẩm quyền của tòa án Tuy nhiên điểm hạn chế là

Khái niệm đã không nói rõ được đối tượng để được bầu và cử làm hộithẩm nhân dân là ai và khái niệm cũng không nói rõ cơ chế bầu và cử hộithẩm nhân dân như thế nào

Khái niệm thứ hai theo qua điểm từ điển

Từ điển việt nam thì “hội thẩm là người do hội đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ

án xảy ra ở địa phương”[11,tr 238]

Trang 12

Khái niệm đã nói lên được cơ chế hình thành lên hội thẩm là do hộiđồng nhân dân bầu ra và cũng có nói lên được phạm vi hoạt động của hộithẩm nhân dân là xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương

Tuy nhiên khái niệm vẫn chưa đưa ra được đối tượng hội thẩm nhândân được bầu hoặc cử là ai

Khái niệm thứ ba cho rằng:

“Hội thẩm nhân dân là người có uy tín, được nhân dân tín nhiệm bầu

ra trong các tầng lớp nhân dân tham gia vào công tác xét xử”[12,tr 38]

Khái niệm là đã đưa ra được đối tượng để bầu và cử làm hội thẩm đó làngười có uy tính Tuy nhiên

Khái niệm đã có quá nhiều thiếu sót đó là về cơ chế để bầu và cử hộithẩm nhân dân khái niệm cũng chưa đề cập rõ ràng về bản chất và phạm vihoạt động của hội thẩm nhân dân

Như vậy hội thẩm nhân dân có các đặc điểm sau :

“Hội thẩm nhân dân là công dân Việt Nam , có phẩm chất đạo đức tốt ,

có uy tính trong cộng đồng dân cư ,có kiến thức pháp luật có hiểu biết xã hội

và được Ủy ban mặt trận tổ quốc việt nam giới thiệu cho hội đồng nhân dân cùng cấp có thẩm quyền theo luật định bầu hoặc cử để thực hiện nhiệm vụ xét

xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân ”

1.2 Vị trí vai trò của hội thẩm nhân dân :

Các vị Hội thẩm Toà án nhân dân có vai trò rất quan trọng, đã tích cựctham gia công tác xét xử của Toà án đã thể hiện được vị trí của mình là đại

Trang 13

diện của nhân dân để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của các cơquan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và của công dân, đã thểhiện được trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trong việc bảo vệ sự công bằng

xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong hoạt động xét xử đã đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người,đúng tội, đúng pháp luật góp phần giữ gìn kỷ cương xã hội, không để cácquyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức xã hội và Nhà nước bị xâmphạm Hội thẩm Toà án nhân dân với tư cách là đại diện của nhân dân thamgia vào các công tác xét xử, các vị Hội thẩm nhân dân là đại biểu của cácđoàn thể, các giới, các ngành, các tổ chức xã hội được UBMT Tổ quốc lựachọn giới thiệu và được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra đã bổ sung thêmnhững kinh nghiệm thực tế, tri thức nghề nghiệp trong công tác xét xử củaToà án Khi xét xử các vị Hội thẩm nhân dân đã đóng góp nhiều ý kiến xácđáng và quan trọng thông qua việc hiểu rõ tình hình thực tế các hiểu biết vềphong tục tập quán, tâm tư nguyện vọng và dư luận quần chúng có liên quanđến vụ án góp phần quan trọng cho việc vận dụng đường lối xét phù hợp vớitừng vụ án cụ thể Ngoài việc trực tiếp tham gia vào công tác xét xử, các vịHội thẩm nhân dân đã tích cực chú trọng đến công tác tuyên truyền pháp luậtnhằm góp phần đảm bảo an ninh trật tự, xã hội, đồng thời góp 1 phần vào việcnâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, tăng cường ý thức sống và làmviệc theo hiến pháp và pháp luật Từ đó góp phần hạn chế những vi phạmpháp luật Các vị Hội thẩm nhân dân bằng hoạt động tích cực của mình đãcùng Toà án Góp phần giáo dục công dân trung thành với tổ quốc, chấp hànhnghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thứcđấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác Do vừatham gia vào các công vịêc đoàn thể, công việc chuyên môn nghề nghiệp củamình có vốn sống thực tế phong phú, nên khi tham gia xét xử các Hội thẩm

Trang 14

nắm được tâm tư nguyện vọng, dư luận của nhân dân; từ đó có quan điểm,chính kiến phù hợp thực tế khách quan sát với cuộc sống xã hội, đóng gópvào phán quyết của Hội đồng xét xử thấu tình đạt lý Là những người đại biểucủa dân, các vị Hội thẩm có quan hệ mật thiếtt với quần chúng nhân dân ở cơ

sở như cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể xã hội, làng xóm, khu phố, trường học Đồng thời với tư cách là người tham gia hoạt động xét xử các vị Hội thẩmnhân dân có điều kiện tiếp cận trực tiếp đối với người thật, việc thật nên hiểuđược tính chất và các tình tiết cụ thể của từng vụ án do vậy khi tham gia xét

xử phán quyết của Hội đồng xét xử đảm bảo được tính khách quan, toàn diệnđúng với các quy định của pháp luật

Các vị Hội thẩm bằng sự gương mẫu của bản thân, gương mẫu trongsinh hoạt, trong việc tuân thủ pháp luật và trong ý thức tự bồi dưỡng nhữngkiến thức pháp luật cho bản thân đã góp phần nâng cao uy tín của Hội thẩmToà án góp phần nâng cao uy tín của cơ quan xét xử

1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân :

Hội thẩm nhân dân là những người kiêm nhiệm giữ nhiệm vụ xét xửkhông chuyên, chịu sự quản lý của Chánh án Tòa án nhân dân địa phươngtheo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Cũng nhưThẩm phán

“Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Tòa án nơi mình được bầu làm Hội thẩm” (Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002)[13] Hội thẩm nhân dân được thực hiện tất cả

các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định kể từ khi nhận được quyết địnhphân công xét xử của Tòa án Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 tại điều 40 có quy định “1 Hội thẩm được phân công xét xử vụ án hình

sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà;

b) Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm;

Trang 15

c) Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

2 Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.”

1.3.1 Quyền nghiên cứu hồ sơ :

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án tạo điều kiện cho Hội thẩm hiểu rõ nộidung vụ án, nắm bắt được cụ thể các vấn đề đang đòi hỏi được giải quyết giúpcho Hội Thẩm có quan điểm độc lập, khách quan, vô tư và chuẩn bị tốt chocông tác xét xử theo quy định tại khoản 1 điều 176 bộ luật tố tụng hình sự có

quy định “Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa” như vậy quy định này đã nói lên nhiệm vụ của thẩm phán

được phân công chủ tọa phiên tòa là phải nghiên cứu hồ sơ và giải quyết cáccông việc khác ở quy định này không hề nhắc đến hội thẩm nhân dân Nhưng như chúng ta đã biết theo điểm a khoản 1 điều 40 cũng có quy địnhnhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ cho hội thẩm nhân dân vì vậy để kết hợp điều 40

và điều 176 thì hội thẩm nhân dân sẽ được nghiên cứu hồ sơ khi nhân được hồ

sơ vụ án Để ra quyết định phù hợp với pháp luật Nếu Hội thẩm nhận thấychứng cứ không có giá trị chứng minh hoặc thiếu tính chính xác thì nên chủđộng đề nghị Thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thu thập thêm chứngcứ

- Hội thẩm có quyền từ chối tham gia Hội đồng xét xử nếu thấy sựtham gia của mình là không khách quan trong khi giải quyết vụ án

- Hội thẩm có quyền đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra cácquyết định cần thiết thuộc thẩm quyền

- Trong khi nghị án Hội thẩm có quyền thảo luận, tranh luận, thamgia đưa ra ý kiến quyết định của Hội đồng xét xử Những ý kiến khác nhau

Trang 16

của các thành viên trong Hội đồng xét xử được ghi lại một cách trung thực,khách quan trong biên bản nghị án, nếu có ý kiến cần bảo lưu thì được ghinhận bằng văn bản riêng và được lưu vào trong hồ sơ vụ án.

Hội thẩm phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, phải giữ bí mật theo quyđịnh của pháp luật, phải tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.Hội thẩm có nhiệm vụ vận động giải thích cho nhân dân thực hiện pháp luật,đồng thời đóng vai trò hòa giải viên nhân dân trong việc giữ gìn trật tự xã hội,văn hóa tại địa phương Hội thẩm còn phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật,thường xuyên rèn luyện, nâng cao kiến thức, phấn đấu để luôn bảo đảmnhững tiêu chuẩn khi được bầu Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân

có người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm Tòa án nhân dân có trách nhiệm tạođiều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụtheo sự phân công của Chánh án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhândân có Hội thẩm đó không được điều động, phân công Hội thẩm làm việckhác, trừ trường hợp đặc biệt (Điều 40 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩmTòa án nhân dân2002)

1.3.2 Tham gia xét xử :

Theo điểm b khoản 1 điều 40 bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định

“hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm , phúc thẩm

” việc tham gia của Hội thẩm nhân dân giúp cho Tòa án xét xử không chỉđúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Hội thẩmnhân dân có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên họhiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhândân Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏihoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình Với vốn hiểu biết thực

tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địaphương, Hội thẩm nhân dân sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xãhội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng phápluật, được xã hội đồng tình ủng hộ

Trang 17

1.3.3 Tiến hành các hoạt động tố tụng :

Theo điểm c khoản 1 điều 40 của bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định

“Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của hội đồng xét xử” Vậy tiến hành các hoạt động tố tụng ở đây như là hoạt

động xét hỏi và nghe ý kiến như điều 184 bộ luật tố tụng hình sự cũng có quyđịnh

“1 Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Bản

án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

2 Việc xét xử phải tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ.”

Áp dụng các biện pháp được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xemxét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, nhằmxác định sự thật của vụ án, đồng thời loại bỏ những tình tiết không liên quanđến vụ án

Xét hỏi là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là giaiđoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có thể những câu hỏi vànhững câu trả lời tại phiên toà không khác với những câu hỏi và câu trả lời ởgiai đoạn điều tra, nhưng nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở chỗ: Việchỏi và trả lời được diễn ra công khai, nó là hình thức kiểm nghiệm kết quảđiều tra của Cơ quan điều tra Ngoài việc xét hỏi, Hội đồng xét xử còn xemxét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án và những nơi khác, công bốcác tại liệu Cũng chính vì vậy mà Hội đồng xét xử còn có những hoạt độngkhác ngoài việc xét hỏi nên nhiều ý kiến cho rằng chương XX Bộ luật tố tụng

hình sự nên có tiêu đề là: “Thủ tục điều tra xét hỏi tại phiên toà” ý kiến này

Trang 18

theo chúng tôi là hợp lý và nó phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộluật tố tụng hình sự về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:

“Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”

Như vậy, xét hỏi tại phiên toà là một hoạt động tố tụng rất quan trọng,nếu bỏ qua giai đoạn này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Từ khi có

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ

trọng tâm của công tác tư pháp thì vấn đề xét hỏi tại phiên toà hình sự lại càngđược quan tâm hơn, đặc biệt đối với vai trò của Kiểm sát viên tham gia phiêntoà Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 08-NQ/TWngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư

pháp là: “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà”.

Như vậy, vấn đề tranh tụng tại phiên toà hình sự vừa là một trongnhững nội dung rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, vừa là mộtvấn đề có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay

Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh tụng, mà chỉ làngười tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên toà giữa những người cóquyền và lợi ích đối lập nhau

1.3.4 Trách nhiệm :

Được quy định tại khoản 2 điều 40 bộ luật tố tụng hình sự 2003 “ hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình” Cũng như các cán bộ, công chức khác, Hội thẩm vẫn phải chịu

trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ-quyền hạn của mình,

kể cả trách nhiệm hình sự Điều 295 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung

2009 đã quy định những chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với Hội thẩm vi

phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp: “Hội thẩm nào ra bản án mà mình

Trang 19

biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm;Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm; Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm; Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định

từ một năm đến năm năm” Mặt khác, theo Điều 8 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002 thì: “Thẩm phán, Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán, Hội thẩm đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường

và Thẩm phán, Hội thẩm đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật” Quy định này nhằm nhắc nhở các Hội thẩm

phải có tinh thần trách nhiệm, phải thận trọng và cân nhắc để phán quyết sự

việc vì lẽ công bằng chứ không vì vị nể hay vụ lợi “Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết công tác xét xử của Tòa án Kinh phí bồi dưỡng về nghiệp vụ cho Hội thẩm được dự toán trong kinh phí hoạt động của Tòa án nhân dân, có sự hỗ trợ của ngân sách địa phương”

(Khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002).Trình độ nghiệp vụ của Hội thẩm được nâng cao là điều kiện tiên quyết đểHội thẩm thực hiện quyền Hiến định Đồng thời để tạo điều kiện cho Hộithẩm khi làm nhiệm vụ, Điều 34 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án

nhân dân 2002 quy định: “Hội thẩm được cấp trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử…, Khi làm nhiệm vụ xét xử Hội thẩm được hưởng phụ cấp theo quy định của pháp luật” Hội thẩm sẽ được hưởng phụ

cấp cho từng phiên tòa, riêng đối với trang phục thì sẽ được cấp phát vào đầu

và giữa nhiệm kỳ để sử dụng theo niên hạn Mặt khác, nếu “Hội thẩm là cán

bộ, công chức, quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng thì thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc ở cơ quan, đơn vị”

(Khoản 2 Điều 33 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002)

Trang 20

1.4 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN 1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc này được hiến pháp năm 2013 quy định tại điều 8 với nộidung nguyên tắc

Điều 8

1 Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2 Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.

Mặt khác nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự lànhững quy định cơ bản chung nhất được ghi nhận trong bộ luật tố tụng hình

sự và mang ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự theo đócác cơ quan tiến hành tố tụng , những người tiến hành tố tụng và những ngườitham gia tố tụng trong khi thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng phải triệt đểtuân theo những quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

được quy định tại Điều 3 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Mọi hoạt động

tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”

Như vậy với tính chất là nguyên tắc hiến định và của pháp luật , phápchế xã hội chủ nghĩa luôn luôn giữ vai trò chỉ đạo định hướng cho toàn bộ cơchế điều chỉnh pháp luật , có ảnh hưởng rất lớn tời ý thức pháp luật , trật tựpháp luật và văn hóa pháp lý trong xã hội Ngoài ra nguyên tắc pháp chế cònảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng và hiệu quả của pháp luật

Trang 21

Đây là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả cáchoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động xét xử củaToà án nhân dân nói riêng Trong hoạt động xét xử, để bảo đảm cho nguyêntắc này không bị vi phạm, đòi hỏi Hội thẩm nhân dân (HTND) phải tuân thủnghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của mình, từ các quy định của pháp luật tố tụng đến các quy định củapháp luật về nội dung.

1.4.2 Nguyên tắc xét xử của tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định tại

“Điều 15 Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia

Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của Bộ luật này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.” , việc tham gia của hội thẩm

nhân dân là một trong những yêu cầu bắt buộc trong quá trình xét xử sơ thẩmcác vụ án Từ quy định như vậy, có thể thấy vai trò của hội thẩm nhân dân làhết sức quan trọng trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án ở nước ta

Và để đi tìm lời giải cho câu hỏi là: Vì sao phải sử dụng tới 2 hội thẩmnhân dân mà chỉ cần 1 thẩm phán trong phiên toà sơ thẩm, em đã tìm hiểu và

so sánh quy định này trong hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau vàthấy rằng việc đưa hội thẩm nhân dân (có nơi tổ chức theo mô hình bồi thẩmđoàn) vào Hội đồng xét xử sơ thẩm chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hộivào trong quá trình xét xử Họ lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuônmẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xãhội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên phápluật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chungcho mọi trường hợp

Trang 22

Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị ápdụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thaythế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày Do đó, cần có nhữngtiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyếtđịnh đối với một quan hệ xã hội nào đó.

Ở nước ta, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về sự ra đời của chế địnhhội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử Có ý kiến cho rằng, với sự giao thoa

và tiếp nhận văn hoá pháp lý Trung Quốc thì các tư tưởng về pháp luật của nhogiáo Trung Quốc ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa pháp lý Việt Nam Do đó, cácchế định pháp luật của nước ta cũng mang đậm dấu ấn của tư tưởng nho giáo đó

là tính trọng tình: “Trăm cái lý không bằng tí cái tình”[14] … Cho nên, pháp

luật chưa phải là quy tắc cao nhất để phán xét đối với hành vi của xã hội Vì vậy,cần phải có tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội thì mới coi đó là các phán

xét “thấu tình, đạt lý”[15] và những người góp phần mang lại tiếng nói đó chính

là các hội thẩm nhân dân được đề cử

Hay cũng có cách lý giải rằng, trong một Nhà nước pháp quyền củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì việc quy định về số lượng của hộithẩm nhân dân trong thành phần Hội đồng xét xử cũng là thể hiện tính nhândân của Nhà nước pháp quyền đó…

Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh Nhà nước pháp quyền thì các cách lý giảitrên đều có vẻ là chưa thoả đáng Bởi lẽ, vấn đề mấu chốt của Nhà nước phápquyền là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật Pháp luật chỉ được thượng tônkhi mà mọi quy định của pháp luật phải được nghiêm chỉnh tuân thủ một cáchtriệt để, việc này đồng nghĩa với việc Nhà nước pháp quyền không có đất cho

“tí cái tình” (tí cái tình có thể làm thay đổi bản chất vụ án) trong các phán xétcủa toà án, hay việc đảm bảo tuân thủ triệt để pháp luật cũng không còn chỗcho những phán xét nhiều tính “nhân dân” nhưng thiếu tính pháp lý trong đó

Trang 23

Bên cạnh đó, từ thực tiễn chúng ta thấy, nguồn của các hội thẩm nhândân ở nước ta hiện nay thường là các cán bộ, công, viên chức của các cơ quannhà nước hoặc đương chức hoặc đã về hưu, do Mặt trận Tổ quốc giới thiệunên có lẽ tính nhân dân trong đó cũng không quá nhiều.

Vậy vấn đề đặt ra đối với các hội thẩm nhân dân là họ giữ vai trò nhưthế nào trong Hội đồng xét xử ở nước ta hiện nay mới được coi là đúng? Theo

em nếu việc xét xử chỉ thuần tuý là việc áp dụng một cách cơ học các quyphạm pháp luật vào vụ án thì có lẽ chúng ta nên sử dụng một Hội đồng xét xửgồm 3 thẩm phán chứ không nên sử dụng Hội đồng xét xử gồm 2 hội thẩmnhân dân và 1 thẩm phán Vì rõ ràng những Thẩm phán được đào tạo về kiếnthức pháp luật một cách thành thạo hơn và chuyên nghiệp hơn sẽ là nhữngngười áp dụng pháp luật tốt hơn

Xét ở khía cạnh xã hội và khía cạnh lập pháp trong Nhà nước phápquyền, chúng ta cần lưu ý đến hai khía cạnh khá quan trọng trong các lýthuyết cũng như thực tiễn pháp lý Đó là, tính “trễ” của các quy phạm phápluật so với thực tiễn Nghĩa là, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựngtrên cơ sở các vấn đề đã có trên thực tiễn một hoặc nhiều lần hay bằng cách

dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn

Thứ hai, ngoài các quy phạm pháp luật thực định pháp luật còn chứa đựngtrong đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật Tinh thần pháp luật có thểhiểu một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến Từ cáckhía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định về hội thẩm nhân dân trong Hộiđồng xét xử là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhànước pháp quyền

1.4.3 Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực củaNhà nước, phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà

Trang 24

nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, côngtác xét xử phải khách quan, toàn diện, tuân thủ pháp luật, đúng người, đúngtội, không để lọt tội phạm nhưng cũng không xử oan người vô tội Muốn vậy,khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo phápluật Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong bốn bản Hiến pháp

và trong Bộ luật tố tụng hình sự

Nguyên tắc này cũng được bộ luật tố tụng hình sự quy định tại Điều 16:

“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”

- Thứ nhất, các cơ quan nhà nước khác không được can thiệp vào việcxét xử của Tòa án, vì chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất được Nhà nước giaocho thực hiện chức năng xét xử;

- Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án không lệ thuộc vào ý kiến của

cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Nếu qua phiên tòa xét xử, Tòa án xét thấycần thiết xử lý khác với ý kiến của các cơ quan đó thì Tòa án sẽ căn cứ vàocác quy định của pháp luật để đưa ra quyết định xử lý

- Thứ ba, trong nội bộ ngành Tòa án, Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa áncấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng Tòa án cấptrên không quyết định trước về chủ trương xét xử cụ thể một vụ án buộc Tòa áncấp dưới phải tuân theo Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm không chỉ độc lập vớicác cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn độc lập với chính các thành viên củaHội đồng xét xử với nhau Cá nhân mỗi thẩm phán, hội thẩm phải độc lập trongsuy nghĩ, phán xét Hội đồng làm việc theo nguyên tắc xét xử tập thế và quyếtđịnh theo đa số

- Khi xét xử Thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập không có nghĩa

là xét xử tùy tiện mà phải độc lập trong khuôn khổ pháp luật, phải tuân theopháp luật

Trang 25

Như vậy việc quy định cho thẩm phán và hội thẩm được độc lập và chỉtuân theo pháp luật trong xét xử là để nâng cao trách nhiệm của hội đồng xét

xử, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, nghiêm chỉnh tuân thủ phápluật , ra quyết định phù hợp với bất cứ ai không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan tổchức hay cá nhân nào Song không có nghĩa là mọi quyết định của hội đồngxét xử lại không có sự giám sát nào Pháp luật là cơ sở để kiểm tra tính hợppháp của các quyết định ấy và loại bỏ mọi hành vi tuỳ tiện có thể xảy ra.Thẩm phán và hội thẩm tham gia giải quyết vụ án có thể bị thay đổi nếu viphạm quy định của điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự về những trường hợp phảithay đổi người tiến hành tố tụng

Trang 26

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN THEO LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 Các quy định về hội thẩm nhân dân trước khi bộ luật tố tụng hình sự 2003 ra đời

2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959

Đầu năm 1946, Văn bản pháp luật đầu tiên quy định việc tổ chức các

cơ quan tư pháp là Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức các Toà án và ngạch Thẩmphán (ban hành ngày 24-1-1946) Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy địnhtương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Phụ thẩm (Hội thẩm) cũng như việctuyển cử, tham gia của Phụ thẩm vào việc xét xử của Toà án nhân dân

Theo Sắc lệnh 13/SL ngày 24-1-1946 , các Toà án xử việc hình, ngoàicác Thẩm phán còn có 2 vị Phụ thẩm nhân dân

Toà sơ cấp khi xét xử gồm có Thẩm phán, một Lục sự và một haynhiều Thư ký giúp việc mà không có Phụ thẩm

Toà án đệ nhị cấp: Khi xét xử các việc tiểu hình (những việc có thể bịphạt tù từ 6 ngày đến 5 năm) hay phạt bạc trên 9 đồng (tiền lúc đó) thì ngoàiChánh án (chủ toạ) còn có hai vị Phụ thẩm Chánh án chỉ hỏi Phụ thẩm về tộitrạng và hình phạt, rồi tự mình quyết định (vấn đề thủ tục tạm tha hay liênquan đến dân sự, thương sự thì Chánh án không phải hỏi Phụ thẩm) Khi xét

xử việc đại hình thì Hội đồng xét xử gồm có Chánh án, hai Thẩm phán làmPhụ thẩm chuyên môn và hai Phụ thẩm nhân dân Khi nghị án có Chánh án, 2Thẩm phán và 2 Phụ thẩm nhân dân cùng nghị xử

Toà thượng thẩm khi xét xử phúc thẩm các việc tiểu hình và đại hình,ngoài ông Chánh án, 2 Hội thẩm (chuyên môn) còn có 2 Phụ thẩm nhân dân

Trang 27

cùng nghị án (trừ các vấn đề liên quan đến thủ tục, tạm tha, đòi bồi thường vềdân sự, thương sự do Chánh án tự quyết định).

Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta (ngày 9/11/1946) đã chínhthức ghi nhận: “Trong khi xử việc hình phải có phụ thẩm nhân dân để thamgia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu làviệc đại hình”

Bước vào những năm 50, Sắc lệnh số 85 đã sửa đổi một cách cơ bảnSắc lệnh số 13 nói trên Sau đó Sắc lệnh số 151 ngày 17/11/1950 (Đặt thể lệchỉ định các Hội thẩm nhân dân và định thành phần Toà án nhân dân liên khutrong trường hợp đặc biệt); Sắc lệnh số 156 ngày 22/11/1950 (tổ chức Toà ánnhân dân liên khu), Sắc lệnh số 12 ngày 30/3/1957 (sửa đổi bộ phận chế địnhHội thẩm nhân dân) đã sửa đổi bổ sung, chi tiết hơn về chế định Hội thẩmnhân dân tham gia xét xử

Theo các Sắc lệnh nói trên, Phụ thẩm nhân dân được đổi là Hội thẩmnhân dân, số lượng Hội thẩm nhân dân được tăng lên, quyền hạn và nghĩa vụđược mở rộng, đặc biệt là Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử cả việc hình sự

và dân sự, được tham gia quyết định về mọi vấn đề trong xét xử vụ án (xem

hồ sơ, biểu quyết về tội trạng và hình phạt ) Khi xử án, Toà án nhân dânhuyện và Toà án nhân dân tỉnh gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân.Toà án nhân dân phúc thẩm khu hoặc Thành phố gồm 2 Thẩm phán và 3 Hộithẩm nhân dân

Hội thẩm và Thẩm phán phải cộng tác chặt chẽ với nhau, cùng chịutrách nhiệm trước Chính phủ và nhân dân về hoạt động của Toà án Mặc dùmỗi người có trách nhiệm riêng phụ thuộc nhiệm vụ và kỷ luật riêng tuỳ theotính chất của họ là cán bộ dân cử (Hội thẩm) hay công chức Nhà nước (Thẩmphán)

Trang 28

Nhiệm vụ quan trọng của Hội thẩm nhân dân là xét xử và tuyên truyềngiáo dục pháp luật, thể hiện nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân Bởi thế

họ phải là sợi dây liên lạc giữa Toà án và nhân dân Pháp luật quy định rõnhững việc Hội thẩm phải làm (xử án, hoà giải, điều tra, giáo dục trong nhândân; những việc nên làm (giáo dục phạm nhân, kiểm tra huấn luyện) và nhữngviệc không nên làm (những việc thuộc về hành chính, kỹ thuật chuyên môn)

Nguyên tắc độc lập xét xử của Toà án và nguyên tắc quyết định theo đa

số được thể hiện ngay từ Sắc lệnh 13/SL, thời kỳ này tiếp tục được cụ thể hoá

Tóm lại, trong giai đoạn đầu tiên (1945-1959) Nhà nước dân chủ nhândân đã cố gắng từng bước củng cố chế độ nhân dân tham gia xét xử thông quachế định Hội thẩm nhân dân Trong hoàn cảnh Nhà nước vừa được xây dựng,vừa tiến hành kháng chiến, đứng trước rất nhiều khó khăn, nhưng chúng tavẫn cố gắng thực hiện những quy định của Hiến pháp và pháp luật về Hộithẩm Mặc dù còn sơ khai, nhưng Nhà nước ta đã đề ra được những nguyêntắc cơ bản làm cơ sở cho sự hình thành và hoàn thiện chế định Hội thẩm nhândân Điều này không chỉ đáp ứng đòi hỏi của công tác xét xử lúc đó, mà còn

là nền móng và những kinh nghiệm tốt cho các giai đoạn tiếp sau này

2.1.2 Giai đoạn từ 1959 đến 1980

- Về thành phần của Hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử: Theo Luật

tổ chức Toà án nhân dân (14/7/1960) thì: Khi sơ thẩm, Toà án nhân dân gồm

có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ ánnhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xử không cóHội thẩm nhân dân Khi phúc thẩm những bản án, những quyết định bị chống

án hoặc đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện có sai lầm thì Toà án nhândân địa phương phải có ba Thẩm phán Trong trường hợp đặc biệt, phải cóthêm Hội thẩm nhân dân (Điều 11,12)

Trang 29

Việc xét xử sơ thẩm với 1 Thẩm phán mà không có Hội thẩm nhân dântham gia chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt (việc hình sự nhỏ, giảnđơn), phải do Uỷ ban Thẩm phán toà án tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương hoặc Chánh án Toà án huyện quyết định.

Tại Thông tư 2421-TC ngày 29/12/1961 của Toà án tối cao “hướng dẫnthực hiện chế độ Hội thẩm nhân dân”, thực tế việc xử sơ thẩm không cóHTND tham gia thường áp dụng trong việc giải quyết các vụ thuận tình lyhôn, do 1 Thẩm phán tiến hành Thông tư 1071 - TC của Toà án tối cao ngày7/9/1965 Đã phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên toà do 1Thẩm phán xử, không có Hội thẩm nhân dân tham gia Đó là những vụ án xử

sơ thẩm, đồng thời chung thẩm

Trường hợp xử phúc thẩm có Hội thẩm nhân dân tham gia cũng chỉ hạnchế trong những trường hợp xét xử vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn (tôngiáo, dân tộc) và phải do Uỷ ban Thẩm phán quyết định (Toà án Tối caokhông có Hội thẩm nhân dân tham gia xử phúc thẩm)

- Về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân: Tại Thông tư số

2421 nói trên, Toà án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn cụ thể việc thực hiệnchế độ HTND, nêu rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân Nhấnmạnh việc tham gia xét xử là nhiệm vụ chủ yếu của Hội thẩm nhân dân, ngoài

ra Hội thẩm nhân dân còn tham gia tuyên truyền, hoà giải ở cơ sở Nhiệm vụcủa Hội thẩm nhân dân ngày càng tập trung vào công tác xét xử tại Toà ánnhư: nghiên cứu hồ sơ (hoặc nghe Thẩm phán trình bày lại, trao đổi trước vớiThẩm phán để chuẩn bị xét xử), tham gia thẩm vấn (không bắt buộc) theo sựphân công của Thẩm phán; nghị án Còn việc tiến hành điều tra, hoà giảitrước khi mở phiên toà là trách nhiệm của Thẩm phán, nói chung không cóHội thẩm nhân dân tham gia

Trang 30

Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng (4.1975), Hội đồng chính phủCách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã ra Sắc lệnh 01/SL/76ngày 15-3-1976 quy định Tổ chức Toà án nhân dân, trong đó cũng khẳng địnhviệc xét xử của Toà án phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm nhândân do các đoàn thể nhân dân cử ra, khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngangquyền với Thẩm phán Khi xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chungthẩm Hội đồng xét xử gồm có một Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân.Riêng đối với TAND đặc biệt (Theo Quyết định số 29 QĐ ngày 27-5-76 củaHội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam) thìkhi xét xử tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự xã hội, TAND đặc biệtgồm Chánh án, 1 Thẩm phán và 1 Hội thẩm nhân dân do Uỷ ban Trung ươngmặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam cử ra.

- Về tiêu chuẩn và việc tuyển chọn Hội thẩm nhân dân

Năm 1959 tiến hành bầu Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ mới, người ứng

cử có thể là đại biểu HĐND hoặc ngoài HĐND thì phải đủ 23 tuổi trở lên và

đủ tiêu chuẩn như những người ứng cử HĐND Danh sách ứng cử Hội thẩmnhân dân bao gồm những thành phần rất rộng rãi, đặc biệt lựa chọn nhữngngười có điều kiện thực tế làm tốt nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân (không nhấtthiết chọn cán bộ lãnh đạo cơ quan đoàn thể) Tuỳ theo vùng nông thôn haythành thị, thành phần được cân nhắc cho phù hợp Chủ yếu phải là ngườigương mẫu trong lao động, đại diện đoàn thể, giới, giáo

Sau khi bầu Hội thẩm nhân dân, còn có thủ tục công nhận chính thức(của Bộ Tư pháp đối với Hội thẩm nhân dân tỉnh và khu tự trị) của Uỷ banhành chính các cấp đối với Hội thẩm nhân dân huyện, châu, xã) thì Hội thẩmnhân dân mới được nhận chức

Số lượng Hội thẩm nhân dân trúng cử nhiệm kỳ này rất đông, nhất là Hội thẩm nhân dân huyện nằm ở xã Cả nước có gần 20.000 Hội thẩm nhân dân (>4000 nữ).[16]

Trang 31

2.1.3 Giai đoạn từ 1980 đến trước khi ban hành bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 và Nghị định 143/HĐBT ngày22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân

Luật đặt rõ trách nhiệm của các cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể nơi Hộithẩm nhân dân làm việc, sinh hoạt phải tạo điều kiện cho Hội thẩm nhân dânlàm việc tại Toà án (Điều 44)

Các Hội thẩm nhân dân được bồi dưỡng về nghiệp vụ và được hưởngphụ cấp khi tham gia công tác xét xử (Điều 44)

Trong giai đoạn này đã đánh dấu mốc quan trọng trong hoạt động tốtụng hình sự của Việt Nam đó là sự ra đời của bộ luật tố tụng hình sự đã đượcquốc hội khóa VIII thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988

Theo Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 thì trong quyết định đưa

vụ án ra xét xử phải ghi rõ họ tên Hội thẩm nhân dân và sau khi có quyết địnhđưa vụ án ra xét xử, toà án phải mở phiên toà trong thời hạn 15 ngày (Điều

151 BLTTHS) như vậy pháp luật đã tạo điều kiện về thời gian cần thiết choHội thẩm nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia xét xử một cách thiếtthực

Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm gồm mộtThẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân

Điều 2 BLTTHS 1988 cũng đã nêu rõ việc “ mọi hoạt động tố tụnghình sự phải được tiến hành theo quy định của bộ luật này “ đây là nguyên tắcpháp chế mà các hội thẩm nhân dân phải làm theo

Điều 16 BLTTHS cũng đã nêu rõ lên tầm quan trọng của hội thẩm nhân

dân trong việc xét xử “ việc xét xử ở tòa án có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của bộ luật này khi xét xử hội thẩm nhân dân ngang quyền với

Trang 32

thẩm phán ” như vậy việc xét xử của hội thẩm nhân dân đã được quy định rõ

ràng về vị trí và thẩm quyền

Vị Trí : Hội thẩm nhân dân phải có mặt trong việc xét xử theo quy định

của luật tố tụng hình sự 1988 ví dụ như theo điều 277 thì ở những vụ án mà

bị cáo là người chưa thành niên thì “ thành phần hội đồng xét xử phải có một hội thầm nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh” và tất nhiên có một số vụ xét xử hội thẩm nhân dân sẽ không tham

gia như quy định tại điều 216 “ hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 3 thẩm phán

và trong trường hợp cần thiết có thêm 2 hội thẩm nhân dân “ theo quy địnhnày thì chúng ta sẽ hiểu rằng nếu trong trường hợp không cần thiết thì việctham gia xét xử của hội thẩm nhân dân là không cần thiết Trong thành phầnhội đồng giám đốc thẩm cũng không có hội thẩm nhân dân được quy định tạiđiều 250 bộ luật Tố tụng hình sự 1988

Thẩm quyền và trách nhiệm: Theo điều 17 bộ luật tố tụng hình sự

1988 thì “ khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ”

vậy độc lập ở đây phải được hiểu là:

Thứ nhất: Là sự độc lập giữa hội thẩm và thẩm phán trong hội đồng

xét xử các ý kiến biểu quyết phải không bị phụ thuộc lẫn nhau và tự do đưa

ý kiến và quan điểm của mình

Thứ hai: Là sự độc lập giữa hội đồng xét xử với các cơ quan , tổ chức ,

cá nhân khác Sẽ không có bất kỳ một cơ quan tổ chức hay cá nhân nào cóthể áp đặt hay thay đổi các quyết định xét xử của hội đồng xét xử

Khi nhận được bản án hội thẩm nhân dân cũng phải có trách nhiệmnghiên cứu hồ sơ vụ án theo điều 151 có quy định vì vậy để việc xét xử đượcdiễn ra thuận lợi và tránh oan sai thì hội thẩm nhân dân phải có trách nhiệmnghiên cứu vụ án thật kỹ trước khi xét xử tại phiên tòa

Trang 33

Tại phiên tòa thì hội đồng xét xử phải hỏi phải trực tiếp xác định nhữngtình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liênquan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, xem xétvật chứng vànghe lời bào chữa Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xemxét tại phiên toà và việc xét xử phải tiến hành liên tục trừ thời gian nghỉ( điều 159 bộ luật tố tụng hình sự 1988) vì thế để việc xét hỏi xảy ra thuận lợi

và tránh được tình trạng hội thẩm nhân dân hỏi lang mang ko đi vào trọng tâmchính của vụ án thì đòi hỏi hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu vụ án thật kỹ ởmọi phương diện

Theo thứ tự thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ là người hỏi trước rồiđến các hội thẩm nhân dân điều này cũng hợp lý vì thẩm phán làm người amhiểu pháp luật nên sẽ giúp cho hội thẩm nhân dân tránh được những câu hỏingoài trọng tâm vụ án ( điều 181 bộ luật tố tụng hình sự 1988)

Những quy định chủ yếu của chế định Hội thẩm nhân dân đã được thểhiện khá cụ thể trong Luật tổ chức TAND ban hành 3-7-1981 (một văn bảnpháp luật có hiệu lực pháp lý cao so với trước đây Cụ thể như sau:

- Về tiêu chuẩn được bầu làm Hội thẩm nhân dân :

Cũng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải là công dân Việt Nam trungthành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, nhưng với Thẩm phán thì phải “có kiếnthức pháp lý”, còn với Hội thẩm “phải có quan hệ tốt với nhân dân” (Điều 40)

- Trách nhiệm giới thiệu nhân sự: Mặt trận Tổ quốc có vai trò quantrọng trong việc giới thiệu nhân sự bầu HTND các cấp

2.2 Đánh giá các quy định pháp luật về hội thẩm nhân dân trong bộ luật tố tụng hình sự 2003

Với sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì đã có nhiều quy địnhchặt chẽ hơn Có quy định tại Điều 15 rằng : “Việc xét xử của Toà án nhândân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham

Trang 34

gia theo quy định của Bộ luật này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền vớiThẩm phán.” Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước củadân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Bản thân chế địnhHội thẩm là sự thể hiện tư tưởng " Lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắcthực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án Tòa án

là cơ quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiệnquyền lực tư pháp của mình Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dụccông dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng vàchống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân Hội thẩm bằng sự tham gia củamình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó đểnhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nóichung, hoạt động của Tòa án nói riêng Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền vớiThẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩmquyền của Toà án mà có Hội thẩm tham gia, thì Hội thẩm và Thẩm phán cóquyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, khôngphân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung

Ở Bộ luật tố tụng hình sự 2003 tại khoản 2 điều 46 có quy định “Trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà” quy định này khá là mới mẻ sở dĩ có quy

định này là để điều chỉnh việc xét xử nhưng phải thay đổi hội thẩm nhân dântại phiên tòa việc hoãn phiên tòa là với mục đích cho hội thẩm nhân dân mới (Người thay thế hội thẩm nhân dân bị thay thế ) có thời gian để nghiên cứu hồ

sơ vụ án để tránh trường hợp khi xét hỏi hội thẩm nhân dân không nắm rõđược nội dung vụ án dẫn tới việc hỏi của hội thẩm nhân dân không chính xácvới nội dung vụ án

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã nêu rất rõ nhiệm vụ và quyền hạn vàtrách nhiệm của hội thẩm nhân dân như sau :

Trang 35

“Điều 40 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm

“1 Hội thẩm được phân công xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ

và quyền hạn sau đây:

a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà;

b) Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm; c) Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

2 Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.”

Sở dĩ có quy định này là để cho hội thẩm nhân dân biết vị trí , vai trò , tráchnhiệm của mình trong tòa án nói chung và trong hội đồng xét xử nói riêng trướckhi bắt đầu và kết thúc một vụ án ngoài ra để những người tham gia tố tụng hiểu

rõ hơn về hội thẩm nhân dân việc quy định nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệmcủa hội thẩm nhân dân đã nói lên trình độ lập pháp có sự phát triển và hoàn thiệnhơn rất nhiều , đồng thời buộc hội thẩm nhân dân phải có trách nhiệm với côngviệc hơn như là phải nghiên cứu trước hồ sơ khi xét xử và phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật nếu hành vi và quyết định của mình trái pháp luật dẫn đến oan saicho người vô tội

Giai đoạn chuẩn bị xét xử

Tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định như sau:

“Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc

mở phiên tòa”

Như vậy theo quy định thì Hội thẩm nhân dân không được nhắc đến ởđây ta nên nhắc đến hoặc quy định thêm quyền và nghĩa vụ của hội thẩm nhândân để hội thẩm phải có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ ngay khi nhân được hồ

Trang 36

sơ vụ án đồng thời giảm bớt áp lực cho thẩm phán tất nhiên trong phầnchuẩn bị xét hỏi thì hội thẩm nhân dân vẫn phải có trách nhiệm nghiên cứu hồ

sơ nhưng vì luật không quy định nên ta cũng không thể xác định rõ hộ thẩmnhân dân sẽ nghiên cứu hồ sơ khi nào ? khiến một số người sẽ có thói quenlên tòa mới nghiên cứu hay sẽ dẫn đến việc lưới biếng khi nghiên cứu hồ sơ

Tại khoản 5 điều 178 có quy định : “Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư

ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, nếu có” phần

quy định này cũng đã nói lên được tính công khai của tòa án về việc chuẩn bịxét xử nhưng vẫn còn bất cập chỗ bất cập ở đây là việc hội thẩm dự khuyết

“nếu có” tại vì sao không chắc chắn việc có hội thẩm dự khuyết mà việc hộithẩm dự khuyết là không thường xuyên nếu như vậy thì sẽ rất bất cập trongchuyện thay đổi hội thẩm nhân dân tại phiên tòa dẫn đến phiên tòa bị hoãn mặt khác nếu chuyện hội thẩm dự khuyết mà thường xuyên thì việc hội thẩm

dự khuyết cũng sẽ được nghiên cứu hồ sơ vụ án thường xuyên để đảm bảothay thế hội thẩm nhân dân tại phiên tòa Hạn chế được tỷ lệ xảy ra oan sai

Giai đoạn xét xử :

Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định về trình tự xét hỏi

tại phiên tòa ở khoản 1 có quy định “Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý.” Pháp luật vẫn chưa quy định hay giải thích rõ việc xét hỏi theo thứ tự xét

hỏi hợp lý là như thế nào Hay là hội đồng xét hỏi phải tùy cơ ứng biến ? vìvậy điểm bất cập ở đây là quy định pháp luật vẫn chưa được rõ ràng

Theo khoản 2 điều 207 thì “Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm” vậy việc quy định chủ tọa phiên tòa hỏi

trước nhưng vẫn ko quy định phạm vi , hay các phần mà chủ tọa phiên tòađược hỏi vì thế thử đặt ra một câu hỏi rằng có khi nào thẩm phán chủ tọaphiên tòa đã hỏi hết những phần trọng tâm của vụ án vậy thì hội thẩm nhân

Ngày đăng: 25/12/2015, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đề tài khoa học cấp Bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn văn Sản làm Chủ nhiệm, được nghiệm thu năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”
3. Bài viết “Đổi mới chế định hội thẩm nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án” của PGS – TS Nguyễn Tất Viễn đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số 1/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chế định hội thẩm nâng cao hiệu quả hoạt động của Toàán”
4. Bài viết “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía cạnh hoạt động và tiêu chuẩn của Hội thẩm” của tác giả Chu Hải Thanh đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số 1/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía cạnh hoạt động và tiêu chuẩn của Hội thẩm”
12. Bài viết một số nhận thức về hội thẩm nhân dân Tác giả : Bùi Thị Hoa - TK Nhà nước pháp luật trang 3813. http://moj.gov.vn/ Link
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị, Hà Nội Khác
10. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam , nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội năm 2011 , Trang 109 Khác
11. Từ điển luật học nhà xuất bản tư pháp , nhà xuất bản từ điển bách khoa thuộc viện khoa học pháp lý của Bộ tư pháp . trang 238 Khác
18. Nghị quyết số 10 /NQ-HĐND nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử hội thẩm nhân dân - toà án nhân dân tỉnh Khác
19. Tạp chí tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị Kỳ 1 tháng 05 -2014 (Số 9) trang 27 Khác
20. Theo thông tư của thủ tướng chính phủ Số: 41/2012/QĐ-TTG quyết định về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự Khác
21. Báo cáo công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 (tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa VI) Khác
22. Báo cáo công tác năm 2013và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 (tại kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh khóa VI) Khác
23. Báo cáo công tác năm 2014và phương hướng nhiệm vụ năm 2015 (tại kỳ họp thứ 14 HĐND tỉnh khóa VI) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG VIẾT TẮT - quy định về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
BẢNG VIẾT TẮT (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w