TẠO HỨNG THÚ HỌC TÂP CHO HỌC SINH BẰNG VIỆC KẾT HỢP GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG TRONG HÓA HỌC VÀO BÀI GIẢNG “truyền thụ kiến thức một chiều”.. Như đã nĩi ở trên, mục tiêu của dạy hĩa học t
Trang 1TẠO HỨNG THÚ HỌC TÂP CHO HỌC SINH
BẰNG VIỆC KẾT HỢP GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG TRONG HÓA HỌC VÀO BÀI GIẢNG
“truyền thụ kiến thức một chiều” Đồng thời với việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giákết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực, tránh nặng nề trongkiểm tra, đánh giá nặng về trí nhớ, kiến thức hàn lâm
Đối với mục tiêu giảng dạy mơn hĩa học trong nhà trường phổ thơng là họcsinh tiếp thu kiến thức, tri thức khoa học cơ bản về các đối tượng hĩa học quan trọngtrong tự nhiên, hiểu các khái niệm cơ bản của hĩa học, chất, sự biến đổi chất, cơngnghệ hĩa học, mơi trường và con người…và các ứng dụng của chúng Từ đĩ giúp chohọc sinh cĩ nhận thức khoa học, gĩp phần phát triển năng lực nhận thức, năng lựchành động, rèn luyện nhân cách, yêu thương cuộc sống, yêu thương thiên nhiên vàcon người, phấn đấu rèn luyện vươn lên thành người cĩ ích cho xã hội
Để đạt được mục tiêu giảng dạy mơn hĩa học trong nhà trường phổ thơng thìvai trị của người giáo viên là hết sức quan trọng Do đĩ, ngồi những kiến thức sâurộng về hố học, người giáo viên dạy hố học cịn phải đổi mới phương pháp giảngdạy (sử dụng cơng nghệ thơng tin, sử dụng các phương tiện trực quan, làm thêm cácthí nghiệm biểu diễn…) nhằm thu hút và gây hứng thú cho học sinh khi lĩnh hội kiếnthức hố học Như đã nĩi ở trên, mục tiêu của dạy hĩa học trong trường phổ thơng làhọc sinh phải hiểu được các kiến thức cơ bản về hĩa học, vận dụng được các kiếnthức đĩ vào giải thích các vấn đề trong đời sống, trong tự nhiên Để đĩng gĩp vào
mục tiêu đĩ, cũng như gĩp phần đổi mới phương pháp giáo dục thì “Tạo hứng thú
học tập cho học sinh bằng việc kết hợp giải thích các hiện tượng hĩa học trong bài giảng” là đề tài mà tơi quan tâm và muốn chia sẻ với quí đồng nghiệp
Trang 2II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
II.1 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN HÓA HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Môn Hóa học ở nhà trường phổ thông hiện nay là môn học khó Kiến thứcxuyên suốt từ lớp dưới cho đến lớp trên, nếu mất kiến thức căn bản thì học sinh sẽ khótiếp thu kiến thức mới Kiến thức khô khan, lý thuyết dài dòng, khá mơ hồ làm chohọc sinh khó hiểu bài Đã có một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học mônhóa học Đồng thời theo xu thế hiện nay của kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia thì đã córất nhiều học sinh từ bỏ môn hóa học vì cho rất khó đạt điểm cao cho việc xét tuyểnvào các trường đại học (đa số học sinh chọn : Toán, Văn, Anh, Lý cho tiện…)
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức tới việc đổi mới phương pháp, chưacập nhật việc liên hệ thực tế để làm sinh động bài giảng Nhiều thầy cô còn hạn chếtrong việc sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ cho bài giảng thêm hấp dẫn Hiện
tượng dùng đồng loạt một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều đối tượng học sinh là không
hề ít Thiết bị thực hành ở các phòng thí nghiệm các trường phổ thông hầu hết đềuthiếu, không đồng bộ, thậm chí một bộ phận không ít thầy cô lười làm thí nghiệm chonên học sinh ít được làm thực hành thí nghiệm thường xuyên, làm cho học sinh khôngtin tưởng lắm vào kiến thức mà giáo viên cung cấp Do phương pháp giảng dạy truyềnthống không đổi mới nên giáo viên chỉ truyền thụ kiến thức có một chiều mang nặngtính lý thuyết khô khan, làm cho học sinh cảm thấy nặng nề khó tiếp thu
II.2 CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT THỰC TRẠNG TRÊN
Trước thực trạng của việc dạy và học môn hóa học ở trường phổ thông hiệnnay, cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học Giáo viên phải làngười hướng dẫn học sinh nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức, đừng biến các emthành “cái bình đựng kiến thức” cần phải đổ đầy và xa rời thực tiễn Một trong nhữngyếu tố để giờ dạy đạt hiệu quả là phải phát huy tính tích cực của học sinh thông qualồng ghép kiến thức vào thực tế, giáo dục về môi trường… Phát huy những cái cũ còn
có giá trị, tìm tòi và cập nhật những cái mới đảm bảo tính khoa học và hiện đại Cónhững kiến thức hoá học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tựnhiên, tránh mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trongnhững câu Ca dao - Tục ngữ của cha ông để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đờisống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán,
xa lạ sẽ có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làmcho hoá học không khô khan, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thích thú
Trang 3
Để góp phần giải quyết thực trạng trên, trong thời gian qua, việc giảng dạy bộmôn hóa học của các thầy cô ở trường THPT Thanh Bình đã có những đổi mới rất tiến
bộ Ngoài việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, các tiết thực hành đượcthực hiện đầy đủ, chất lượng, tổ bộ môn còn tổ chức các buổi ngoại khóa, hội thảochuyên đề, giúp các em tìm hiểu thêm về kiến thức trong thực tiễn Cá nhân tôi đã cốgắng làm thêm những thí nghiệm biểu diễn hấp dẫn để kích thích học sinh Nhưngđiều đó vẫn còn chưa đủ để tạo hứng thú cho việc học tập môn hóa học cho học sinh
Để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy hơn nữa, tôi đã mạnh dạn đưa ra
sáng kiến kinh nghiệm: “Tạo hứng thú học tập cho học sinh bằng việc kết hợp giải
thích các hiện tượng hóa học trong bài giảng” Có những vấn đề hóa học có thể
giúp học sinh giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh được mê tín dị đoan,hoặc là giải thích được các câu ca dao tục ngữ mà dân gian để lại trên phương diệnkhoa học Từ đó học sinh cảm thấy không nhàm chán mà kiến thức môn hóa học rấtgần gũi và như là đâu đó ở xung quanh mình, góp phần làm cho hóa học bớt đi khôkhan, nhàm chán và những đặc thù phức tạp của bộ môn
Trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ cố gắng nêu một số kinh nghiệm và một
số kiến thức về hiện tượng hóa học trong tự nhiên có liên quan đến nội dung bài học
mà trong quá trình giải dạy tôi đã góp nhặt được với mong muốn là góp phần cải tiếnphương pháp giảng dạy để nâng cao hiệu quả của bài dạy, giúp học sinh hứng thú, chủđộng hơn khi học môn hóa học, làm cho môn hóa học trở nên hấp dẫn, lôi cuốn
Trang 4III TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm với nhiều đối tượng học sinh, tôi nhận thấyviệc vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong thực tiễn sẽ tạohứng thú, khơi dậy niềm đam mê trong học sinh với khoa học Để làm được việc nàyngười giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài giảng, nắm được vấn đề trọng tâm, vấn đề thựctiễn có liên quan phù hợp với mỗi bài giảng, với từng đối tượng học sinh Đôi lúc cầnquan tâm đến tính cách và sở thích của các đối tượng học sinh Từ đó hình thành nêngiáo án theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nhưng phải bảođảm tính hài hòa, đôi lúc cần có sự khôi hài nhưng vẫn giữ được nội dung trọng tâm
III.1 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Để “Tạo hứng thú học tập cho học sinh bằng việc kết hợp giải thích các hiện
tượng hóa học trong bài giảng” thì giáo viên có thể nêu vấn đề như sau:
1) Nêu các vấn đề liên quan đến thực tế hằng ngày ngay khi giới thiệu bài mới (vàobài) Cách nêu vấn đề này tạo tính bất ngờ cho học sinh, tạo ra sự chú ý, quan tâm vàhấp dẫn học sinh khi tiếp thu bài học mới
2) Kết hợp giải thích các hiện tượng thực tiễn hằng ngày ngay khi giáo viên đang dạycho học sinh một phương trình phản ứng hóa học có trong bài học Cách nêu vấn đềnày có tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu ngay và thấy được ý nghĩa thực tiễn củabài học, học sinh học phương trình một cách hào hứng, chủ động
3) Đưa ra các hiện tượng thực tiễn vào cuối bài học Cách nêu vấn đề như thế này cóthể tạo cho học sinh vận dụng kiến thức đã học tìm cách giải thích các hiện tượng ởnhà hay những lúc bắt gặp các hiện tượng đó Học sinh sẽ chủ động tư duy, vận dụngcác kiến thức đã được học để giải thích các vấn đề một cách thích thú
4) Kết hợp các vấn đề trong thực tiễn hằng ngày thông qua các câu chuyện ngắn cótính khôi hài có thể xen vào bất cứ lúc nào trong suốt buổi học Cách nêu vấn đề nàytạo tâm lý thoải mái, tạo hứng thú học tập cho học sinh
5) Giải thích các hiện tượng thực tế hằng ngày thông qua các thí nghiệm biểu diễn.Cách nêu vấn đề này giúp học sinh vận dụng kiến thức để quan sát và giải thích cáchiện tượng thí nghiệm, phát huy khả năng ứng dụng hóa học vào thực tiễn đời sống.6) Kết hợp các vấn đề thực tiễn hằng ngày thông qua các bài tập tính toán, như tínhnồng độ chất gây ô nhiễm… làm cho bài tập tính toán trở nên sinh động, hấp dẫn
+ Sưu tầm nhiều vấn đề minh họa, nhiều hiện tượng trong thực tiễn đời sống
+ Cho học sinh nêu câu hỏi và thảo luận về các hiện tượng tự nhiên gặp phải
Trang 5III.3 MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG, VẤN ĐỀ HÓA HỌC TRONG TỰ NHIÊN, ĐỜI SỐNG CÓ THỂ KẾT HỢP VÀO BÀI GIẢNG:
VẤN ĐỀ 1: Tại sao người ta dùng muối rải trên đường ở những thành phố có tuyết rơi (đây cũng là lý do tại sao người ta dùng muối khi làm cà rem)? Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào nước một ít muối ăn (NaCl) ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Nhiệt độ đông đặc của dung dịch NaCl thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ đông
hơn, thời gian luộc rau mau hơn nên ít mất vitamin làm cho rau giữ được màu xanh
+ Phạm vi ứng dụng:
- Đây là vấn đề giúp học sinh biết được nhiệt độ sôi của dung dịch cao hơn củadung môi, và nhiệt độ đông đặc của dung dịch lại thấp hơn của dung môi Học sinhcảm thấy hứng thú hơn khi áp dụng vào những công việc thường ngày trong đời sống
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài giảng về Muối Clorua ở lớp 10
VẤN ĐỀ 2: Tại sao sau những cơn mưa giông có sấm chớp thì ta lại cảm thấy không khí trong lành hơn, mát mẻ hơn?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Khi nói về vai trò quan trọng của Ozon như: Khử trùng nước sinh hoạt, chữa sâurăng, tẩy trắng…, tầng ozon là áo giáp bảo vệ con người và sinh vật trên trái đất.Trong không khí có một lượng nhỏ ozon có khả năng sát khuẩn làm không khí trong
lành hơn Giáo viên có thể hỏi học sinh vì sao sau những cơn mưa giông có sấm chớp
thì ta lại cảm thấy không khí trong lành hơn? Học sinh có thể vận dụng sự hình thành
ozon trong tự nhiên khi có tia sét để giải thích
3O2 → 2O3
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này giáo viên nên đề cập trong bài giảng về Ozon ở lớp 10 Bên cạnh đó,giáo viên cũng cần nói đến sự suy giảm tầng Ozon (nguyên nhân, hậu quả ), giúp họcsinh có thái độ đúng đắn, hình thành ý thức bảo vệ môi trường sống
Trang 6VẤN ĐỀ 3: Làm thế nào để khắc chữ, vẽ hình trên thủy tinh ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Như học sinh đã biết, dung dịch axit flohiđric (HF) ăn mòn được thủy tinh theo
- Muốn khắc chữ lên thủy tinh, người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, sau đólấy ra để nguội Dùng vật nhọn tạo hình, chữ cần khắc nhờ cạo đi lớp sáp Nhỏ dungdịch HF vào các chỗ đó Sau một thời gian lớp thủy tinh sẽ bị ăn mòn tạo ra hình hoặcchữ như ý muốn
- Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong bài FLO- BROM- IOT ở lớp 10
VẤN ĐỀ 4: Tại sao nước máy dùng trong các thành phố lại có mùi khó chịu ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Đó là mùi khí clo (Cl2)
Cl2 + H2O HCl + HClO(Hợp chất HClO có tính oxi hóa mạnh chính vì thế mà có thể diệt được các vi khuẩntrong nước) Còn lại phần lớn khí clo vẫn tồn tại dưới dạng phân tử nên nước máy có
một thời gian, hạn chế dùng trực tiếp nước máy từ vòi nước chính Hạn chế tưới cây
+ Phạm vi ứng dụng:
- Học sinh hiểu được quy trình khử trùng nước ở các nhà máy nước cung cấp cho
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài giảng Clo ở lớp 10
VẤN ĐỀ 5 : Muối iôt là gì ? Tại sao phải ăn muối iôt ?
+ Cơ sở lý thuyết:
Thông thường 1 tấn muối ăn NaCl được trộn thêm 25 kg muối KI
- Trong cơ thể con người trưởng thành có chứa 20 – 50 mg iôt chủ yếu tập trung ởtuyến giáp Nếu thiếu iôt ở tuyến này thì có thể gây ra một số bệnh như: Bướu cổ, đầnđộn Phụ nữ thiếu iôt có thể dẫn đến tai biến sau khi sinh, hoặc bệnh vô sinh Do đóphải thường xuyên bổ sung iôt (đảm bảo mỗi ngày khoảng 150 mg iôt)
+ Phạm vi ứng dụng:
- Học sinh biết được vai trò của iôt đối với sức khỏe
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về IOT ở lớp 10
Trang 7VẤN ĐỀ 6 : Hiện tượng « Ma trơi » là gì ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong xương người (và động vật) có chứa photpho (P), khi xác người và động
các khối cầu lửa bay trong không khí :
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về PHOT PHO ở lớp 11
VẤN ĐỀ 7 : Tại sao khi quẹt diêm thì que diêm bốc cháy ?
+ Cơ sở lý thuyết:
người ta trộn bột thủy tinh nghiền mịn vào cả hai thứ thuốc trên Khi quẹt que diêm,những hạt nhỏ P tác dụng với các chất oxi hóa, phản ứng tỏa nhiều nhiệt làm cháythuốc ở đầu que diêm, rồi sau đó que diêm bốc cháy theo
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh thấy tầm quan trọng của hóa học với đời sống con người
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài Photpho ở lớp 11
VẤN ĐỀ 8 : Thuốc chuột là gì ?
+ Cơ sở lý thuyết:
bột không mùi, không vị nên khi trộn với thức ăn thì con chuột không phát hiện được
Trang 8VẤN ĐỀ 9 : Xăng pha chì là gì ? Tại sao bây giờ không dùng xăng pha chì nữa?
+ Cơ sở lý thuyết:
xăng, làm cho xăng được đốt cháy hoàn hảo trong buồng đốt của động cơ mà khônggây nổ, làm hỏng động cơ Nhưng khí thải ra ngoài gây ô nhiễm nghiêm trọng môitrường không khí Vì vậy hiện nay ở nước ta không còn sử dụng xăng pha chì nữa
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường, không vì cái lợi trước mắt màgây ra các tác hại lớn cho sức khỏe của cộng đồng
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về DẦU MỎ ở lớp 11
VẤN ĐỀ 10 : Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
+ Cơ sở lý thuyết:
Le Chatelie ( 1850-1936, nhà hóa học Pháp) thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phíaphải Kết quả là sau một thời gian nước đã làm cho đá bị bào mòn dần
+ Phạm vi ứng dụng:
- Hiện tượng này gặp phổ biến trong tự nhiên, chứng tỏ dân gian ta rất tài tìnhtrong việc quan sát hiện tượng, góp phần làm cho học sinh cảm thấy hứng thú khi học
bộ môn hóa học Các công trình xây dựng bằng đá cũng nên chú ý hiện tượng này
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về CÂN BẰNG HÓA
VẤN ĐỀ 11 : “ Đá tổ ong” hay các hang động đá vôi được hình thành như thế nào Thạch nhủ trong các hang động, cặn trong ấm khi đun nước tạo thành ra sao?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Sự tạo thành các hang động (sơn đoòng), hay sự hình thành “đá tổ ong”
CaCO3 + CO2 + H2O Ca(HCO3)2
- Sự tạo thành thạch nhủ trong các hang động, cặn trong ấm khi đun nước.
- Nước mưa có chứa muối Ca(HCO3)2 do chảy qua vùng núi đá vôi ngấm vào các
tạo thành các thanh thạch nhũ qua thời gian hàng trăm năm Điều này giải thích tương
tự cho sự tạo cặn khi đun nước lấy từ sông, hồ
Ca(HCO3)2 CaCO3↓ + CO2 + H2O
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này giúp cho học sinh hiểu được thêm một số hiện tượng tự nhiên, sựhình thành các kì quan hang động núi đá vôi (ở Việt Nam có hệ thống hang động
Trang 9Phong Nha – Kẻ Bàng) Giáo viên có thể áp dụng vào bài giảng ở mục HỢP CHẤTQUAN TRỌNG CỦA CANXI và NƯỚC CỨNG.
VẤN ĐỀ 12: Ca dao Việt Nam có câu:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ.
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”
Hóa học có thể giải thích như thế nào?
+ Cơ sở lý thuyết:
N2 + O2 2NO
hấp thụ dễ dàng)
- Lúa chiêm đang trong thời kì tăng trưởng, rất cần hàm lượng đạm, khi hấp thụ
- Nhờ hiện tượng này mà hàng năm làm tăng khoảng 6 – 7 kg nitơ cho 1 ha đất, tạo
nguồn nguyên liệu không khí để chủ động nguồn đạm bón cho cây trồng
+ Phạm vi ứng dụng:
- Đây là câu ca dao rất hay, mang tính thực tiễn trong đời sống nông dân Ông bà
ta đã rất tài tình đúc kết qua thời gian, và bây giờ lại được giải thích dưới ánh sángcủa khoa học Giúp học sinh hứng thú, thấy hóa học rất gần gũi cuộc sống
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong các bài giảng về NITƠ, PHÂN BÓNHÓA HỌC ở chương trình lớp 11
- Trong quá trình hô hấp của con người, khí CO sẽ thâm nhập từ từ, làm cho ta bị
“lịm” dần, gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời
- Trong mùa lạnh, nhất là phụ nữ mới sinh người ta thường hay đốt lò than trongnhà kín cửa để giữ ấm Đây là việc làm rất nguy hiểm vì sẽ bị ngộ độc khí CO Nhàbếp cũng nên rộng thoáng, có thông hơi để tránh ngộ độc khí CO cho con người
+ Phạm vi ứng dụng:
Trang 10- Giúp học sinh hiểu và tránh bị ngộ độc khí CO cho bản thân và những ngườixung quanh, đặc biệt là không nên dùng lò than để giữ ấm trong nhà kín.
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này khi giảng bài CACBON ở lớp 11
VẤN ĐỀ 14 : Ngộ độc khí CH 4 như thế nào?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trong thực tế có xảy ra hiện tượng khi người ta leo xuống các giếng sâu, hoặcvào trong các bồn chứa nước xây thành bằng xi-măng thì bị chết do ngộ độc khí
ngày Cho nên khí metan còn được gọi là “khí bùn ao” Trong các giếng sâu hoặc hồchứa nước có xây bằng gạch đá, xi-măng lâu ngày có rong rêu bao phủ Chính sự phát
có thể gây tử vong nhanh cho người nếu không cấp cứu kịp thời
+ Phạm vi ứng dụng:
- Giúp học sinh biết được một mối nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống đểphòng tránh, cũng như giải thích cho mọi người thân xung quanh hiểu
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này khi giảng về bài ANKAN ở lớp 11
VẤN ĐỀ 15 : Người ta phát hiện ra dấu vân tay của tội phạm để lại trên hiện trường như thế nào?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Lấy tờ giấy sạch, ấn ngón tay vào một mặt rồi sau đem mẫu giấy đó đặt trênmiệng ống nghiệm có đựng cồn iôt Dùng đèn cồn đun ống nghiệm cồn iốt đó Đợi
tờ giấy (màu nâu) Do đầu ngón tay có mồ hôi (trong đó có dầu khoáng, chất béo ) sẽ
màu nâu rất rõ Ngày nay kĩ thuật lấy dấu vân tay có nhiều tiến bộ hơn
+ Phạm vi ứng dụng:
- Đây chỉ là một câu chuyện về ứng dụng của hóa học gây thích thú cho học sinh
- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về CHẤT BÉO ở lớp 12
VẤN ĐỀ 16 : Làm thế nào để có thể khử mùi tanh của cá (đặc biệt là cá mè) ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Trên lớp vảy cá (đặc biệt là cá mè) có chứa nhiều các amin như metylamin,
chịu, gây nên mùi tanh của cá
chà sát lên thân mình cá, sẽ khử hết mùi tanh
- Amin là những chất có tính bazơ, giấm ăn là axit sẽ trung hòa các amin tạo ramuối amoni tan nhiều trong nước, sau đó bị nước rửa trôi:
+ Phạm vi ứng dụng:
- Vấn đề này gần gũi với cuộc sống, gây hứng thú cho học sinh
Trang 11- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về AMIN ở lớp 12.
VẤN ĐỀ 17 : Vì sao “bánh bao” thường rất xốp và có mùi khai ?
+ Cơ sở lý thuyết:
Tinh bột (C 6 H 10 O 5 ) n α-amilaza+H O2 Đextrin (C 6 H 10 O 5 ) x β-amilaza+H O2 Mantozơ +H O 2
- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này khi giảng về bài TINH BỘT ở lớp 12
VẤN ĐỀ 19 : “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
+ Cơ sở lý thuyết:
- Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có
khí nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axitsunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
- Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới
- Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O