Nội dung nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu của khoá luận tôi đã nghiên cứu về cơ sở khoa học và thực tiễn của công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kin
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
đại học khoa học tự nhiên
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
đại học khoa học tự nhiên
Trang 3Qua thời gian 4 năm học tập với tấm lòng biết ơn vô hạn Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Địa lý, Trường đại học Khoa học Tự nhiên -
ĐHQGHN, các thầy cô giáo đã giảng dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường, cảm ơn các bạn sinh viên lớp K45 Địa chính đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua
Trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành làm khoá luận tốt nghiệp, với những sự cố gắng nổ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ của cán bộ Phòng Địa chính xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Đặc biệt là sự giúp đỡ vô tư, có tình cảm của các thầy cô Khoa Địa lý, Bộ môn Địa chính để tốt tiến hành khoá luận tốt nghiệp này - với tình cảm sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu và có hiệu quả đó
Xin cảm ơn Phòng Dự án Việt Nam - Canada đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khoá luận
Để được hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy GS TSKH Nguyễn Quang Mỹ
và thầy TS Trần Văn Tuấn
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu còn có hạn, không thể tránh khỏi được những thiếu sót, mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến để khoa luận tốt nghiệp này được hoàn thành tốt hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ởn
ĐHKHTN - ĐHQGHN Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2004
Bun - SovannRothana K45 - Địa chính
Trang 4Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất
1.1 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và
1.3 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã 9
1.4 Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trong sự nghiệp công nghiệp
Chương 2
điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội
xã minh khai 2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 14
Trang 53.2 Khái quát tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về
3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2003 22
3.4 Thực trạng sử dụng đất theo các thành phần kinh tế năm 2003 233.5 Nhận xét chung về xu hướng biến động sử dụng đất
Chương 4
Những định hướng quy hoạch sử dụng đất
xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
thời kỳ 2004 - 2014
4.2 Phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
Trang 64.3 Các quan điểm khai thác sử dụng đất 294.4 Những định h ướng quy hoạch sử dụng đất xã Minh Khai 30
4.5 Chu chuyển các loại đất trong thời kỳ quy hoạch 38
4.6 Hiệu quả kinh tế - xã hội của phương án đề xuất 39
Trang 7Mở đầu
1 Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt của con người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên hữư hạn về số lượng, cố định về vị trí và không gian, không thể di dời được theo ý muốn chủ quan của con người
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, kéo theo đó sử dụng
đất ngày càng gia tăng, làm cho đất đai ngày càng “chật chội” lại càng chật chội hơn nữa Vấn đề đạt ra phải sử dụng đất cho hợp lý, tránh lãng phí để đạt được mục đích
sử dụng và có hiệu quả nhất là vấn đề luôn luôn được đặt ra trong xã hội từ xưa tới này Do đó quy hoạch sử dụng đất là biện pháp hữu hiệu để Nhà nước thực hiện mục tiêu đó
Điều 18 chương II Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1992 nêu rõ “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
và pháp luật bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”
Trong điều 1 Luật đất đai 1993 đã khẳng định “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý ” Một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Điều 13 chương II Luật đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998 đã quy định: quy hoạch
và kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất
đai
Xã Minh Khai, huyện Từ Liêm là một xã ngoại thành Hà Nội nên việc sử dụng đất cần thiết phải có quy hoạch, kế hoạch hoá sử dụng đất để đáp ứng và phù hợp với chiến lược lâu dài và phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị trong những năm tới
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất đai xã Minh Khai đưa ra những định hướng quy hoạch sử dụng quỹ đất của xã giai đoạn 2004 -
2014
- Góp phần vào việc quản lý và việc sử dụng đất có hiệu quả hơn
Trang 8- Rút ra các đặc điểm đặc trưng của công tác lập quy hoạch sử dụng đất
3 Phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Minh Khai
- Đánh giá khái quát tình hình quản lý đất đai
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất
- Dự báo nhu cầu sử dụng đất các ngành giai đoạn 2004 - 2014 và đưa ra những định hướng quy hoạch sử dụng đất xã Minh Khai
4 Phương pháp nghiên cứu
- Ph ương pháp điều tra, thu thập số liệu, thông tin: Dùng để điều tra thu thập
các số liệu thông tin cần thiết để phục vụ cho mục đích quy hoạch sử dụng đất
đồ có tỷ lệ thích hợp
- Ph ương pháp thống kê: Dùng để phân nhóm các đối tượng điều tra và các
số liệu về diện tích đất đai
- Ph ương pháp tổng hợp: Dùng để đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội
hiện trạng sử dụng đất và biến dộng đất đai
5 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của khoá luận tôi đã nghiên cứu về cơ sở khoa học và thực tiễn của công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương qua đó đánh giá tiềm năng của đất đai đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng những định hướng quy hoạch sử dụng đất xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong thời kỳ 2004 -
2014
6 ý nghĩa thực tiễn
Đề tài khoá luận tốt nghiệp này mong rằng góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở xã , đẩy mạnh các ngành nghề có hiệu quả cao, xúc tiến việc thay đổi cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, mở rộng ngành nghề nâng cao thu nhập về đời sống của nhân dân xã Minh Khai Để hoàn thành đề tài này tôi đã tiến hành khảo sát thực địa từ tháng 3, 4-2004, nhằm thu thập tài liệu, số liệu có liên quan, tìm hiểu tiếp cận và nghiên cứu công tác lập quy hoạch sử dụng đất xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 9Để hoàn thành công trình đầu tay của mình, tôi chân thành cảm ơn vì giúp
đỡ có hiệu quả của các thầy cô giáo Khoa Địa lý - Địa chính, đặc biệt các thầy cô giáo Bộ môn Địa chính lời cảm ơn chân thành nhất
7 Cấu trúc của khoá luận
Không kể phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm có 37 trang đánh máy vi tính, được cấu trúc thành 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất
Chương 2: Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội xã Minh Khai
Chương 3: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất xã Minh Khai năm 2003
Chương 4: Những định hướng chủ yếu trong quy hoạch sử dụng đất xã
Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội thời kỳ 2004 - 2014
Trang 10Chương 1
Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất
1.1 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển
kinh tế - xã hội
1.1.1 Đất đai là “ T ư liệu sản xuất đặc biệt’’
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt
động của con người, vừa là đối tượng lao động cho môi trường để tác động như xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc làm đất, vừa là phương tiện lao động Vì vậy, đất
đai là “t ư liệu sản xuất” Tuy nhiên, cần lưu ý đến các tính chất “đặc biệt” của loại
tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản xuất khác như sau :
a Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao
động sản xuất trong khi đó các tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người do con người tạo ra
b Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất (số
lượng) bị giới hạn ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu lưu ý rằng giới hạn về không gian không có nghĩa giới hạn về tính chất sản xuất của đất Các tư liệu sản xuất khác
có thể tăng về số lượng chế tạo tuy theo nhu cầu của xã hội
c Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá (quyết định bởi yếu tố hình thành đất cung như chế độ sử dụng đất khác nhau) Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn(mang tính tương đối do quy trình công nghệ quyết
định)
d Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được Các tư liệu sản xuất khác, tuy thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn
e Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác) Các tư liệu sản xuất được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách nhau tuỳ theo sự cần thiết
Trang 11f Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không lệ thuộc vào tác
động phá hoại của thời gian) Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất của
đất tuy thuộc vào phương thức sử dụng là tính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào có được Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất của xã hội
Về mặt thuật ngữ khoa học “Đất đai” được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại
Như vậy, “Đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng
đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang - trên bề mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn
đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau:
Sản xuất; môi trường sự sống; cần bằng sinh thái; tàng trữ và cung cấp nguồn nước; dữ trữ và cung cấp tài nguyên khoáng sản; không gian sự sống; Bảo tồn- bảo tàng sự sống
Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định đất đai:
- Là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá
- Là tư liệu sản xuất đặc biệt
- Là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống
- Là điạ bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
- Dùng đất đai làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động
Trang 12- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần
Điều này có nghĩa là đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội thì vấn đề sử dụng
đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ
người-đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện quyết định phương hướng chung và mục tiêu
sử dụng hợp lý nhất là tài nguyên đất, phát huy tối đa công cụ của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm vi hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống căn cứ vào các thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung
sử dụng đất đai được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian
Nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất:
a Nhân tố điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất đai cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất
- Điều kiện khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Các yếu tố nhiệt độ, tổng tích ôn nhiều hay ít , nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ theo thời gian và
Trang 13không gian, sự khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, thời gian không có sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát dục của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh cường độ của ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng ức chế đối với sinh trưởng, phát dục
và tác dụng quang hợp của cây trồng vận chuyển dinh dưỡng, vừa là chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít bóc hơi mạnh hay yếu, có
ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất, cũng như khả năng
đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, cây rừng, gia súc và thuỷ sản
biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mực độ xói mòn thường dẫn tới
sự khác nhau về đất đai và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông - lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địa giới theo chiều thẳng đứng đổi với nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá Đối với
đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công
b Nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yếu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo với việc sử dụng đất Thực vậy, phương thức sử dụng đất được quyết định bởi nhu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội,
kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Các nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội tạo ra nhiều tổ hợp
ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Tuy nhiên mỗi nhân tố giữ một vị trí có tác động khác nhau Còn phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế trong tài nguyên của đất
Trang 14đai, để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất được bền vững
đất
Như vậy trong quá trình thành lập quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã, nhân tố không gian ảnh hưởng đến mọi loại hình sử dụng đất Tuy nhiên sự ảnh hưởng đó là không lớn đối với ngành nông nghiệp và lâm nghiệp mà chủ yếu là ngành phi nông nghiệp như xây dựng công trình đất ở Nhân tố này quyết định giá trị sử dụng đất
do đó loại đất nào có giá trị thì càng bị chi phối bởi nhân tố không gian
1.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch để giải quyết các nhiệm
vụ cụ thể về việc sử dụng đất đai như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức nhiệm
vụ cụ thể về sử dụng đất như tư liệu sản xuất từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Đối với nước Việt Nam, Luật đất đai năm 1993 (điều 16, 17, 18) quy định: quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành theo lãnh thổ và theo ngành
Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ bao gồm các dạng như sau:
- Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước
- Quy hoạch sử dụng đất đai các vùng
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuy thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính quy hoạch sử dụng đất
đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ các chung đến cái
Trang 15riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính bao gồm: đáp ứng nhu cầu đất đai cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân
Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành bao gồm các dạng như sau:
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
- Quy hoạch sử dụng đất các khu dân cư nông thôn
- Quy hoạch sử dụng đất đô thị
- Quy hoạch sử dụng đất chuyên dùng
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành Quy hoạch sử dụng
đất các ngành có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của lực lượng sản xuất, với kế hoạch sử dụng đất và phân vùng của cả nước Khi tiến hành cần phải có sự phối hợp chung của nhiều ngành
Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và theo ngành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành Nói khác đi, quy hoạch sử dụng
đất đai theo ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ
1.3 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã
* Cơ sở pháp lý của việc lập quy hoạch sử dụng đất
Hiện nay đối với sự phát triển của nền công nghiệp hoá và hiện đại hoá của
đất nước Trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - dịch vụ nông nghiệp đã gây áp lực càng ngày càng lớn đối với việc sử dụng quỹ đất đúng mục đích và hợp lý Để tránh lãng phí sử quỹ đất cần thiết phải có quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất để đạt theo mục đích đặt ra của Nhà nước
Điều 18 chương II hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý
đất đai theo quy định của pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Trong điều 1 Luật đất đai năm 1993 cũng nêu rõ “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý ” Điều 13 xác định một trong những nội dung
Trang 16quản lý Nhà nước về đất đai là quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất, đồng thời tại
điều 19 cũng đã quy định “ căn cứ để Nhà nước giao đất, cho thuê đất là quy hoạch
sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ”
Điều 17 Luật đất đai năm 1993 quy định nội dung tổng quát của quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai
Như vậy quy hoạch sử dụng đất là một trong những biện pháp quản lý của Nhà nước về đất đai là căn cứ để Nhà nước giao đất, cho thuê đất, là phương tiện để Nhà nước điều tiết và quản lý các vấn đề kinh tế - xã hội Để làm tốt điều đó, nhất thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã, chính là cấp tạo nền tảng cho cấp trên cũng như nền tảng cho việc quản lý Nhà nước về đất đai
* Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất
Điều 16 Luật đất đai năm 1993 đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2001 quy định rõ trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính, theo ngành cũng như trách nhiệm của ngành Địa chính về công tác này:
a. Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước trình Quốc hội quyết định
b. UBND các cấp lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình trình Hội đồng nhân dân cung cấp thông qua trước khi trình cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt
c. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn của mình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai do Bộ mình phụ trách để trình Chính phủ xét duyệt
d. Cơ quan quản lý đất đai Trung ương và địa phương phối hợp với các cơ quan hưu quan giúp Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai
* Khái niệm:
Quy hoạch sử dụng đất là việc khoanh định phân bố đất đai vào mực đích sử dụng (nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng và đất ở) cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của từng địa phương (xã, huyện, tỉnh) nói riêng
Trang 17Nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm như sau:
a Điều 17 của Luật đất đai năm 1993 đã quy định như sau:
- Khoanh định các loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng của từng địa phương và cả nước
- Điều chỉnh việc khoanh định nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước
b Điều 23 của Luật đất đai năm 2003 đã quy định chi tiết hơn:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
và hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai
- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong thời kỳ quy hoạch
- Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án
- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường
- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
* Mục đích:
- Tạo ra cơ cấu sử dụng đất đai hợp lý nhất, tạo điều kiện sử dụng các loại đất
và các loại tài nguyên thiên nhiên của xã đầy đủ, hợp lý và đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Là cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm
* Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Phải xây dựng được một phương án sử dụng đất đai của xã phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm của địa phương trong thời kỳ quy hoạch
* Yêu cầu:
- Đảm bảo sự thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai
- Bảo vệ được tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Xác định và đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các chủ sử dụng một cách phù hợp trong khuôn khổ quỹ đất của xã
- Tính toán cơ cấu các loại đất cho tương lai theo hướng có lợi nhất Trên cơ
sở điều tra phân tích tình hình sử dụng đất lập ra phương án chu chuyển đất tối ưu
Trang 18nhằm huy động tới mức cao nhất các loại đất đai và tài nguyên sẵn có vào sản xuất, vào các mục đích kinh tế, văn hoá phúc lợi để đảm bảo được vấn đề an toàn lương thực của địa phương
* Nguyên tắc của công tác lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã:
trong quá trình lập và xét duyệt Đồ án quy hoạch phải được các cấp duyệt theo
đúng quy định của pháp luật ( Điều 18 Luật đất đai hiện hành)
- Đảm bảo tính khoa học: Quy hoạch là môn khoa học tổng hợp nên khi tính toán xây dựng phương án phải bằng phương pháp khoa học và dựa vào căn cứ khoa học về quy hoạch biến động đất đai, dân số và quy luật phát triển kinh tế - xã hội
- Đảm bảo tính kế thừa: Khai thác, kế thừa và phát huy những mặt tích cực các tài liệu quy hoạch trước để xây dựng phương án quy hoạch tốt nhất
tham gia góp ý xây dựng, tôn trọng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” để
đồ án quy hoạch không chỉ đạt được những mục tiêu ở tầm vĩ mô mà còn phục vụ thiết thực trong việc sử dụng đất của từng chủ thể sao cho có hiệu quả nhất
- Đảm bảo tính kinh tế: Bảo toàn những công trình hiện trạng xét thấy còn tận dụng được trên cơ sở đó đầu tư có trọng điểm nâng cấp, cải tạo, đổi mới cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội
- Đảm bảo tính bao trùm và thống nhất: Đồ án quy hoạch sử dụng đất phải thể hiện được yêu cầu tối đa khả năng đáp ứng của quỹ đất của xã cho các ngành, các lĩnh vực sử dụng đất nhưng không gây “xung đột”, triệt tiêu nhau
* Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Theo điều 18 Luật đất đai năm 1993 quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử đất đai:
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước
2 Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai vào mục đích quốc phòng, an ninh
3 Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp
Trang 19Như vậy Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp xã
1.4 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã trong sự nghiệp công nghiệp hoá - nông nghiệp, nông thôn
Do đặc thù của nền kinh tế nước ta hiện này, vấn đề công nghiệp hoá - nông nghiệp và nông thôn có vị trí hết sức quan trọng quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá - nông thôn là quá trình phát triển kinh
tế - xã hội mà nội dung chủ yếu là chuyên dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn gắn liền với đổi mới công nghệ theo hướng công nghiệp hoá và dịch vụ và công nghiệp hoá - nông thôn là quá trình áp dụng phương tiện vật chất - kỹ thuật, phương pháp sản xuất công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ở nông thôn
Về mặt hình thức, công nghiệp hoá nông thôn được biểu hiện trên các mặt như sau:
- Phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, cung cấp năng lượng, điện, bưu chính viễn thông, giáo dục, đào tạo, y tế ) cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
- áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn gồm các ngành gắn với đầu vào cũng như đầu ra của nông nghiệp, các ngành tận dụng lao động, vốn tay nghề ở nông thôn để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu
Quy hoạch sử dụng đất đai nói chung, đặc biệt là cấp huyện, xã với nội dung: phân bổ đất đai phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn Trong nông nghiệp, tăng cường đầu tư vào thuỷ lợi hoá, điện khí hoá và ứng dụng công nghệ sinh học, cải thiện môi trường sinh thái, hướng vào thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở những nơi
có điều kiện Để đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực Quốc gia, cần xác định diện tích lúa nước phải duy trì, bảo vệ, tập trung đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
Trang 20Chương 2
điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội
xã minh khai 2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Xã Minh Khai là một xã ngoại thành nằm ở phía Tây Bắc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Phía Bắc giáp : xã Liên Mạc, Thụy Phương
Phía Nam giáp : xã Xuân Phương và Phú Diễn
Phía Tây giáp : xã Tây Tựu
Phía Đông giáp : xã Cổ Nhuế
Với hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi, đây là một trong những thế mạnh của xã về phát triển kinh tế theo hướng nông nghiệp - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp
2.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Địa hình: Nhìn chung địa hình của xã Minh Khai khá bằng phẳng, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có nhiều hồ ao lớn xen kẽ các khu dân cư
Thổ nhưỡng: Đất đai xã Minh Khai là do sự bồi đắp của sông Hồng cho nên
thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nhẹ và trung bình, khá màu mỡ thuận lợi cho việc sản xuất lúa và các loại cây như cây ăn quả đặc sản, hoa màu, đạt năng suất cao
2.1.3 Khí hậu - Thuỷ văn
luôn mang tính nhiệt đới, gió mùa một năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa
- Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 có đặc điểm nóng ẩm và mưa nhiều
- Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm, có rét đậm vào các tháng 12, 02, 03 gây ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp
- Nhiệt độ trung bình năm : 230 9C
- Lượng mưa trung bình năm : 1649,2 mm
Trang 21- Độ ẩm không khí trung bình năm : 83%
chảy từ đầm Tây Tựu qua phía Đông Nam xã, qua địa bàn xã Phú Diễn dài 2.000m
có mương trung thủy nông (N5) được bơm nước từ trạm bơm Thụy Phương qua cấp cho việc sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là hệ thống tiêu nước tốt trong mùa mưa lũ
Hệ thống hồ ao có 9,52 ha, chủ yếu là các ao hồ lớn và nhỏ nằm xen kẽ khu dân cư, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
2.2 Những nét chủ yếu về kinh tế - xã hội
2.2.1 Nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp toàn xã có 349,42 ha, trong đó: Diện tích đất lúa, lúa màu : 268,72 ha, sản lượng lương thực bình quân 1.789,76 tấn/năm
- Diện tích đất màu, hoa, rau sạch 45 ha, giá trị sản lượng đạt 3.600 triệu
đồng/ năm, đây là mô hình sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao cần được đầu tư phát triển
- Diện tích đất trồng cây ăn quả là 71,18 ha với cây trồng chủ yếu là cây bưởi, cam, nhãn, chuối, tổng giá trị đạt khoảng 7.187 triệu đồng/ năm và sẽ tăng cao vào những năm tới
- Nuôi trồng thủy sản có diện tích: 9,52 ha, giá trị sản xuất thủy sản đạt 300 triệu đồng/ năm
- Tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp: 18.276 triệu đồng/năm 1998
2.2.2 Dịch vụ
Toàn xã có 117 hộ hoạt động thương mại dịch vụ, trong đó dịch vụ vận tải có
15 xe ôtô tải trọng 3,5 tấn, 102 hộ kinh doanh, dịch vụ các mặt hàng tạp hoá, dịch
vụ mua bán sản phẩm ngành nông nghiệp Tổng giá trị ngành dịch vụ là 1.110 triệu
đồng
Ngành dịch vụ là một ngành mới ở xã chưa được phát triển mạnh nhưng đang ngày càng có xu hướng phát triển, góp phần không nhỏ vào nền kinh tế của xã và giải quyết được số lao động còn dư thừa trong xã và tận dụng lao động trong lúc nông nhàn
Trang 222.2.3 Dân số - Lao động - Việc làm
trong đó có 5.223 nam và 5.168 nữ, 2.183 hộ gia đình:
- Nhân khẩu nông nghiệp 7.905 người
- Nhân khẩu phi nông nghiệp 548 người
Toàn thể xã Minh Khai khu dân cư phân bố trong 4 thôn:
- Lao động nông nghiệp: 4.850 lao động
- Lao động phi nông nghiệp: 1.588 lao động
Phân bố lao động trong xã như sau:
- Phi nông nghiệp : 118 lao động
+ Ngoạ Long : 365 lao động
- Nông nghiệp : 290 lao động
- Phi nông nghiệp : 75 lao động
+ Phúc Lý : 2.044 lao động
- Nông nghiệp : 2.036 lao động
Trang 23- Phi nông nghiệp : 8 lao động
+ Khối cơ quan: 1.260 lao động
- Phi nông nghiệp : 1.260 lao động
Nguồn: Phòng Địa chính xã Minh Khai
Lao động phi nông nghiệp chủ yếu là hộ kinh doanh dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và khối cơ quan nằm tập trung ở thôn Nguyên Xá (286 hộ gia đình)
Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn 46,67 % dân số toàn xã, nhưng do đặc
điểm của ngành nên số lao động này bị dư thừa khi hết mùa vụ Đây là vấn đề đặt ra phải giải quyết bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong toàn xã theo hướng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đa dạng
2.2.4 Hiện trạng phát triển của các khu dân cư
Dân cư của xã phân bố ở 4 thôn : Nguyên Xá, Phúc Lý, Ngoạ Long, Văn Trì nằm tập trung trong 2 cụm dân cư gồm 2.009 nóc nhà, số nhà có diện tích đất ở + vườn > 400 m2 là 635 nhà
Các khu vực dân cư mang đậm sắc thái của vùng nông thôn Khuôn viên của các gia đình thường có nhà ở và vườn cây, bình quân đất ở/ hộ - 286 m2 /hộ So với khu vực đồng bằng Bắc bộ thì bình quân đất ở là lớn Đây là yếu tố cần xem xét, khi tách hộ và cấp đất giãn dân Dự kiến trong những năm tới để đáp ứng nhu cầu đất ở của nhân dân sẽ đựơc bố trí vào các cơ sở hạ tầng và tiện cho sinh hoạt của nhân dân
Trong khu dân cư của xã, hệ thống giao thông và thoát nước còn hẹp, công trình xuống cấp, việc tu sửa và nạo vét khơi thông chưa có tổ chức, nên hiện nay không đáp ứng cho yêu cầu thực tế, nhất là trong mùa mưa, vì vậy cần phải có kế hoạch xây dựng giao thông và hệ thống thoát nước thôn xóm cơ bản lâu dài và bền vững
2.2.5 Hiện trạng phân bố cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Hệ thống giao thông chính của xã có 3 tuyến đường huyết mạch lớn quốc lộ
32 chạy qua xã dài 1,4 km, đường 70 và đường 69 là tuyến đường chính trong việc
đi lại, giao lưu giữa dân trong xã với các xã trong khu vực
Trang 24Mạng lưới đường giao thông liên thôn, liên xóm khá dày và chật hẹp, xuống cấp, hầu như đường gạch cũ và đường đất rộng từ 1,5 - 3m rất khó khăn trong việc đi lại Hệ thống giao thông nội đồng hầu hết là hẹp, chưa đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, vận chuyển nông sản, hàng hoá khác
Vì vậy xã có kế hoạch mở rộng, nâng cấp cải tạo và cứng hoá bề mặt đảm bảo giao thông thuận tiện
b Thủy lợi
Xã Minh Khai có sông Pheo, mương trung thủy nông (N5) và có 13.600m kênh tưới cấp II, III; 6.000m kênh tiêu rộng trung bình 4,5m, có thể đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho 349,42 ha đất sản xuất nông nghiệp và khu dân cư
c Năng lượng điện
Hiện nay xã có bốn trạm biến áp (1 trạm treo):
Thôn Nguyên Xá : 180kvA Thôn văn Trì :180kvA Thôn Ngoạ Long : 180kvA Thôn Phúc Lý :180 KvA Với công suất các trạm hiện nay trung bình 1 hộ là 330kw/hộ/năm tương ứng với 69 kw/khẩu/năm với mức hiện nay thì đủ phục vụ cho mức tiêu dùng của người dân
Hệ thống lưới điện gồm 6.000m chất lượng dây hạ thế đảm bảo
d Văn hoá phúc lợi công cộng
Trụ sở Uỷ ban nhân dân (UBND) xã Minh Khai được bố trí ở thôn Ngọa Long, ven đường liên thôn đã được xây dựng 2 tầng kiên cố nhưng là công trình sử dụng của trụ sở hợp tác xã (HTX) nên các Phòng ban còn chưa đầy đủ diện tích Diện tích hiện có là 742 m2 trên diện tích đất 1.846 m2
Trạm y tế của xã nằm ở thôn Ngọa Long với diện tích 724 m2 diện tích này không lớn nhưng đủ rộng để bố trí công trình, có vị trí thuận tiện Hiện nay là nhà cấp 4 xuống cấp, cần phải xây dựng lại để đáp ứng cho nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân Khu nội trú của bệnh nhân còn chật hẹp và trang thiết bị còn nghèo nàn
Trang 25* Hệ thống tr ường học:
- Trường trung học cơ sở liền khu Trường tiểu học và UBND tại thôn Ngoạ Long Xây dựng kiên cố hiện có 1 nhà 3 tầng, 1 nhà 2 tầng, tổng số 14 phòng trên diện tích đất 3.777 m2 với diện tích này trung bình 6 m2 /học sinh cấp II
- Trường tiểu học có hai khu:
+ Khu I thôn Ngọa Long liền kề với trường học cơ sở gồm 1 nhà 2 tầng, 2 nhà 2 tầng tổng số 14 phòng, diện tích 3.778 m2
+ Khu II thôn Phúc Lý có 2 cấp 4 đang xuống cấp, tổng số 7 phòng, xây dựng trên diện tích 1.735 m2
Với diện tích công trình hiện nay không còn tình trạng học ca 3 song vẫn còn chật hẹp, trung bình 6,2 m2/học sinh
- Trường mầm non: Bố trí ở trung tâm 3 thôn: Phúc Lý 2 nhà cấp 4 diện tích
828 m2, Văn Trì 3 nhà cấp 4 diện tích 600 m2, Nguyên Xá 2 nhà cấp 4 diện tích 738
m2 Diện tích trung bình 3 m2/cháu
Các Trường đều không đạt tỷ lệ m2/học sinh theo quy định của Thành phố, diện tích đang sử dụng nằm trong cụm dân cư, việc mở rộng là khó khăn, có khu không thể thực hiện được Do vậy phải di chuyển Trường mầm non, Trường trung học cơ sở đến địa điểm mới
Các công trình văn hoá công cộng, hiện xã và thôn chưa có nên để đáp ứng nhu cầu thể dục thể thao và văn hoá xã hội của dân, thôn và xã cần phải xây dựng các khu giải trí vui chơi thể thao và văn hoá
2.2.6 Mức sống và những áp lực trong sử dung đất
Qua kết quả điều tra cơ bản kinh tế - xã hội của xã Minh Khai về dân số, lao
động và sự phát triển của ngành trồng trọt đã rút ra một số nhận xét như sau:
- Xã Minh Khai là một xã sản xuất nông nghiệp thuần tuý, nguồn thu chủ yếu của bà con xã viên là trồng trọt
- Xã có tiềm năng về đất đai, song việc tổ chức sử dụng và khai thác đất đai chưa được hợp lý, dân tự ý chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm nhà ở chiếm 5%
Trong những năm gần đây Đảng uỷ, UBND xã đã chỉ đạo và quan tâm đúng
đắn tới công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ hơn
Trang 26- Về dân số: Trong việc thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình của xã có
các biện pháp tuyên truyền sâu rộng trong các tổ chức đoàn thể, kể cả biện pháp chính quyền để hạ tỷ lệ phát triển theo định hướng kế hoạch và nghị quyết của Hội
đồng nhân dân năm 1997 là 1,9% đến năm 2000 là 2,15%
nỗ lực trong việc xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng, song do nhu cầu xã hội ngày càng cao do đó trong những năm tới, xã cần đầu tư một số công trình như sau:
- Xây dựng khu vui chơi, thể thao ở các thôn và sân vận động xã
- Mở rộng và củng cố hệ thống đường liên xã, liên thôn trong xã
- Mở rộng và nâng cấp các trạm điện
- Xây dựng các bãi tập kết rác, vật liệu xây dựng để giữ gìn vệ sinh môi trường, cảnh quan sinh thái
- Mở rộng nghĩa địa ở các thôn
Trang 27Chương 3
đánh giá hiện trạng sử dụng đất xã Minh khai
năm 2003 3.1 Công tác quản lý đất đai trước năm 1993
3.1.3 Về tình hình giao đất cho thuê đất
- Tình hình giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất của xã đã diễn ra phức tạp, tình trạng cấp đất bừa bãi, tuỳ tiện dẫn đến hậu quả tranh chấp, lấn chiếm giữa thôn này với thôn khác và hộ gia đình với nhau, các vấn đề này dẫn đến mâu thuẫn, gây rối an ninh của địa phương
3.2 Khái quát tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai sau
năm 1993
Địa giới hành chính của xã Minh Khai được xác định theo hồ sơ địa giới hành chính 364/CP, hiện nay mốc giới và ranh giới với các xã đã được xác định rõ ràng
Hệ thống bản đồ đã có bản đồ địa chính năm 1994 tỷ lệ 1/1.000 toàn xã, hệ thống bản đồ này đã phục vụ tốt cho công tác quản lý đất đai cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai
Thực hiện nghị định 64/CP, chỉ thị 295/CP, 364 Tổng cục Địa chính, xã đang tích cực triển khai công tác đất ở và vườn liền kề, tổ chức giao đất và cấp giấy chứng
Trang 28nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp Những vấn đề tranh chấp, khiếu kiện về đất
đai đã và đang được quan tâm giải quyết theo pháp luật hiện hành
Tình hình giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp xã Minh Khai:
- Căn cứ vào Nghị định 64/CP ngày 27/ 09/ 1993 của Chính phủ về việc giao
đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
- Căn cứ vào quyết định 4117/QB - UBND thành phố Hà Nội triển khai giao
đợt II trên địa bàn Hà Nội
- Theo hướng dẫn của Sở địa chính - Nhà đất và sự chỉ đạo của huyện Uỷ - UBND huyện Từ Liêm : Xã Minh Khai đã tiến hành giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Qua 3 đợt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đến cuối năm
2001 số hộ được cấp giấy chứng nhận là 1.775 hộ, bằng 95% kế hoạch cần cấp
3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2003
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Minh Khai là 482,68 ha.Tình hình quản lý
sử dụng đất theo các thành phần kinh tế đựơc phân bố như sau ( Bảng 1):
- Đất hộ gia đình cá nhân : 81,05 ha
- Đất các tổ chức kinh tế : 338,78 ha
- Đất UBND xã quản lý : 46,76 ha
- Đất của các đối tượng khác : 3,12 ha
- Đất chưa sử dụng : 12,95 ha
a Đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp là 349,42 ha, chiếm tỷ lệ 72,39 % diện tích tự nhiên trong đó:
Diện tích đất lúa : 268,72 ha Chiếm : 55,67 %
Diện tích đất rau màu : 45 ha Chiếm : 9,32 %
Diện tích đất cây ăn quả : 71,18 ha Chiếm : 17,74 %
Diện tích đất NTTS : 9,52 ha Chiếm : 1,97 %
Trang 29Qua thực tế sản xuất nông nghiệp cho thấy ngành sản xuất nông nghiệp đang
được phát triển mạnh mẽ Nhưng mấy năm gần đây, xã đã có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang rau màu và cây ăn quả có giá trị cao
Đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng chiếm diện tích hơn 20,64 ha, chiếm
tỷ lệ 4,28 % đất tự nhiên: chủ yếu là các đầm, hồ, ao và hệ thống mương máng tưới tiêu, hiện nay đang hoạt động tốt
c Đất ở
Diện tích đất ở là 62,47 ha, chiếm 12,94 % diện tích đất tự nhiên, bình quân
đất ở/hộ là 286 m2 Hầu hết các gia đình thường có vườn cây chủ yếu làm vườn tạp
Để phát huy thế mạnh của vùng ngoại thành tận dụng, sử dụng triệt để có hiệu quả kinh tế xã Minh Khai có kế hoạch khuyến khích và hỗ trợ nguồn vốn để các hộ dân cải tạo diện tích vườn tạp sang cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
d Đất chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng còn rất ít là 12,95 ha, chiếm 2,69 % tổng diện tích đất tự nhiên Chủ yếu là đất lưu không ven hệ thống sông, mương và một số đất trũng không bằng phẳng khó khăn trong việc sử dụng vào sản xuất Đất chưa sử dụng khác còn 3,55 ha, diện tích này sẽ được chuyển sang đất chuyên dùng
3.4 Thực trạng sử dụng đất theo các thành phần kinh tế năm 2003
- Tổng diện tích đất tự nhiên trong các địa gới hành chính là 428,67 ha trong
đó đã giao cho hộ gia đình sử dụng là 81,085 ha và giao cho các tổ chức kinh tế sử dụng là 338,78 ha Riêng Uỷ ban nhân dân xã trực tiếp quản lý là 46,77 ha các đối tượng khác là 3,12 ha và đất chưa sử dụng 12,9 ha
- Đất nông nghiệp có tổng diện tích là 349,425 ha đã giao cho hộ gia đình sử dụng là 20,05 ha sử dụng để trồng lúa hai vụ và trồng cây hàng năm, giao cho các tổ chức kinh tế là 329,37 ha trong đó trồng cây hàng năm và trồng lúa hai vụ là 248,67
ha, trồng cây lâu năm là 71,18 ha, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 9,52 ha
Trang 30- Đất chuyên dùng có tổng diện tích là 57,83 ha, trong đó đất xây dựng với diện tích là 12,47 ha đã giao cho các tổ chức kinh tế là 7,94 ha và Uỷ ban nhân dân xã quản lý là 4,53 ha Đất giao thông với tổng diện tích 17,83 ha toàn bộ do Uỷ ban nhân dân xã Minh Khai quản lý Đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng có tổng diện tích 60,64 ha cũng do Uỷ ban nhân dân xã trực tiếp quản lý Đất di tích lịch sử văn hoá có tổng diện tích 2,12 ha và đất an ninh quốc phòng có tổng diện tích 1,01 ha
đều thuộc các đối tượng khác quản lý Đất nghĩa trang, nghiã địa có tổng diện tích 3,4 ha và đất chuyên dùng khác có diện tích là 0,35 ha đều thuộc Uỷ ban nhân dân xã Minh Khai trực tiếp quản lý
Biến động dân số cho thấy năm 1999 dân số của xã là 9.554 người, năm 2003
là 10.391 người, trung bình mỗi năm tăng 209 người, tỷ lệ phát triển dân số năm
1999 là 1,9 % đến năm 2003 là 2,15 % với tỷ lệ này là khá cao song phần chính là tăng cơ học Năm 1999 là 0,6 % dến năm 2003 là 0,8 %
b Biến động đất nông nghiệp
Thông qua số liệu biến động các loại đất trong xã cho thấy tình hình sử dụng
đất nông nghiệp của xã Minh Khai biến động lớn nhất do chuyên canh, được cải tạo Diện tích đất nông nghiệp tăng 15,525 ha do số liệu thống kê trước đây của các hộ dân tự chuyển mục đích sử dụng từ đất 5 % sang đất ở, nay chuyển lại và được thống
kê vào diện tích đất nông nghiệp
* Nhận xét chung:
Xã Minh Khai có lực lượng lao động khá dồi dào (6.438 lao động), riêng lao
động nông nghiệp có 4.850 người Với một vị trí thuận lợi là một xã ngoại thành Hà Nội, do đó nguồn lao động này nếu có điều kiện sẽ tạo ra một bước phát triển kinh
tế, xã hội vững chắc, theo hướng nông nghiệp, dịch vụ, kinh doanh và sản xuất thủ công nghiệp
- Về biến động đất đai (bảng 2) cho thấy đất đai của xã Minh Khai biến động
từ năm 1999 đến năm 2003 là rất ít mà chỉ lưu ý việc chuyển cơ cấu cây trồng từ đất
2 lúa sang cây ăn quả mỗi năm đất cây ăn quả tăng 12 ha
Trang 31Đất ở biến động do kiểm kê 2000 và kê khai đất ở vườn liền kề 2003 có giảm
đi 15,52 ha chuyển lại đất nông nghiệp
Xã Minh Khai có đường quốc lộ 32 chạy qua với chiều dài 1,4 km là đường trục lộ chính và là cửa mở kinh tế về giao lưu hàng hoá trong khu vực đặc biệt là thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tây
Thực trạng bình quân đất nông nghiệp của Minh Khai đạt 430 m2/khẩu nông nghiệp, căn cứ vào mức bình quan này và tình hình phát triển dân số hiện nay là 2,15 % thì bình quân đất nông nghiệp những năm tới sẽ giảm xuống thấp
Dưới sức ép của phát triển dân số và kinh tế xã hội rất mạnh mẽ cho nên việc
sử dụng đất phải dựa trên quan điểm tiết kiệm triệt để, sử dụng đất có hiệu quả, tránh lãng phí đất Đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp cần có các biện pháp chuyển
đổi cơ cấu cây trồng thích hợp, nâng cao hiệu quả kinh tế và hệ số sử dụng đất để
đảm bảo được nhu cầu phát triển đời sống của nhân dân