Những yếu kém về cơ sở hạ tầng là một trong những trở ngại lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kém làm chậm giải ngân vốn đầu tư, gia tăng chi phí sản xuất linh doanh; giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân.
Trang 1Biến đổi cơ sở hạ tầng ở thành thị và những vấn đề cần giải quyết.
1 Những vấn đề ảnh hưởng đến thay đổi cơ sở hạ tầng ở thành thị 1.1 Sự biến đổi cơ cấu xã hội dân cư
Cơ cấu xã hội dân cư là cơ cấu xã hội phân theo các cộng đồng người với các dấu hiệu lãnh thổ, nơi sống, làm việc và cư trú,… (Cộng đồng người thành thị- nông thôn, đống bằng- miền núi, tỉnh này- tỉnh khác,…) Nghiên cứu cơ cấu xã hội dân cư có tầm quan trọng vị liên quan trực tiếp đến sự quản lí trực tiếp của nhà nước, sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung và ảnh hưởng đặc biệt đến sự biến đổi cơ sở hạ tầng thành thị
Sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường đã làm biến đổi các nhóm nghề nghiệp xã hội, tạo ra sự chuyên môn hóa các nghành nghề lao động Chính sự chuyên môn hóa đã tạo nên sự đa dạng trong nghề nghiệp đã tạo nên các làng nghề truyền thống, giải quyết vấn đề việc làm cho người dân, góp phần nâng cao đời sống kinh tế gia đình cũng như đất nước
Thành thị là khu vực có mật độ dân số cao, điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường
và giao thông công cộng Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng cao, Không khí và tiếng ồn, cùng với quá trình đô thị hóa, với sự phát triển của công nghiệp và giao thông vận tải đã làm tăng các loại khí gây độc hại trong thành phố Hơn thế nữa, dân số đông có nguy
cơ gây ra cho thành phố là tình trạng gây mất trật tự công cộng và gia tăng sức ép về quản lý cho các cấp chính quyền Vấn đề giao thông ở các khu đô thị lớn trong những năm trở lại đây đang trở thành vấn đề nhức nhối đối với người dân Tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra hàng ngày, đặc biệt trong những giờ cao điểm
Thành thị là vùng có lợi thế và điều kiện phát triển nhanh, đóng vai trò trung tâm trong kinh
tế, chính trị, văn hóa trong vùng và quốc tế cho nên có sự biến đổi nhanh chóng về cơ cấu xã hội dân cư hơn cả Hiện nay, dòng người di cư từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày càng mạnh mẽ, với tốc độ tăng nhanh, quy mô ngày một lớn, nó đã và đang tác động không nhỏ
Trang 2đến mỗi gia đình và từng quốc gia Đây cũng là vấn đề lớn mà chúng ta đang phải đối mặt, nhất là các đô thị lớn.Ở mức độ nhất định, di dân vào thành thị góp phần thúc đẩy sự phát trỉên đa dạng của các lĩnh vực và các ngành nghề, dịch vụ và có ý nghĩa đối với sự tăng trưởng kinh tế của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Chính những người di cư để tìm kiếm việc làm đã góp phần bổ sung nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là thúc đẩy phát triển ngành kinh tế dịch vụ, ngoài ra họ tham gia vào phát triển khu vực phi kết cấu góp phần thỏa mãn nhu cầu về các ngành nghề như: mộc, nề, rèn, …Cung cấp các mặt hàng lương thực và thực phẩm…Hơn nữa, họ cũng tham gia vào lĩnh vực hoạt động lao động phổ thông
mà nhà nước chưa bao quát được trong quá trình đô thị hóa như: xích lô, vận chuyển hàng hóa, chuyên chở hành khách và nhiều hình thức hoạt động lao động khác Bên cạnh những mặt tích cực, tình trạng di dân tự do tới thành thị tìm việc làm cũng đang đặt ra những vấn đề cấp bách trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Có thể đưa ra những vấn đề cấp bách nổi bật sau: thứ nhất, là vấn để gia tăng sức ép về việc làm khiến cho tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở Hà Nội thực tế đã tồn tại nay lại được bổ sung thêm do tình trạng di dân ngoại thành vào thành phố, điều đó làm cho số người có nhu cầu giải quyết việc làm mỗi năm tăng nhanh, gây nên sức ép về việc làm tại thành phố ngày càng tăng Đồng thời đây cũng là nguyên nhân dẫn tới những mặt tiêu cực khác phát sinh, tạo ra gánh nặng về mặt kinh tế xã hội cho thành phố Thứ hai, là gây quá tải về sử dụng các công trình hạ tầng cơ sở: Những năm trở lại đây, các thành phố tuy đã được Nhà nước chú ý đầu tư về cơ sở hạ tầng,
về điều kiện nhà ở nhưng vẫn thiếu và không đồng bộ Thực tế quỹ nhà ở, công trình công cộng mới xây dựng mặc dù tăng nhanh nhưng không đáp ứng được nhu cầu đô thị hóa (trường học, chăm sóc sức khỏe, cấp thoát nước, điện sinh hoạt và vệ sinh môi trường đô thị)
1.2 Sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội ở thành thị
Phân tầng xã hội: đó là sự phân chia nhỏ xã hội, là sự phân chia xã hội thành các tầng
xã hội khác nhau về địa vị kinh tế, nghề nghiệp, học vấn, phong cách sinh hoạt, thị hiếu nghệ thuật,…
Trang 3Chênh lệch giàu nghèo và phân tầng xã hội là một quá trình tự nhiên, tất yếu của xã hội loài người Bởi vì cứ có sự phân công lao động là có sự phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội Sự phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức: đơn giản nhất và dễ nhìn thấy nhất là những người giàu, nhà giàu sống trong trung tâm thành phố
và những người nghèo, nhà nghèo sống ở ngoại ô thành phố, thậm chí trong những khu nhà tạm bợ “ổ chuột” Dưới hình thức phức tạp, tinh vi là sự phân chia thành các giai cấp như giai cấp công nhân và nông dân; các giai tầng như tầng lớp trí thức, tầng lớp thương nhân, tầng lớp doanh nhân; các nhóm nghề nghiệp như bác sỹ, kỹ sư, giáo viên, thợ thủ công, những người làm công ăn lương trong cơ quan nhà nước, những người làm việc; và cả sự phân tầng
xã hội thành những giai tầng lãnh đạo, quản lý và những giai tầng bị lãnh đạo, quản lý
Bảng: Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu vực thành thị chia theo 5 nhóm
thu nhập của thời kỳ 2002 -2012
Năm
Nhóm TN
Thu nhập BQĐN 1 tháng (nghìn đồng)
So sánh 2012/2002 (lần)
Thành
thị
Nghèo 184,2 236,9 304 453,2 632,6 951,5 5,17
Cận nghèo 324,1 437,3 575,4 867,8 1153,5 1672,2 5,16
Trung bình 459,8 616,1 808,1 1229,9 1611,5 2332,9 5,07
Khá 663,6 876,7 1116,1 1722,2 2268,4 3198,3 4,82
Giàu 1479,2 1914,1 2488,3 3752,4 4983,4 6794,4 4,59 Chênh lệch
Nhìn vào bảng ta có thể thấy mức chênh lệch giàu nghèo ở thành thị hiện nay đang có
xu hưởng giảm xuống, do đó nó ảnh hưởng tới cấu trúc cơ sở hạ tầng Vì khi mức sống cao hơn con người sẽ hoàn thiện vấn đề “ở”, tự động xây dựng những tổ ấm vững chãi cho mình thay vì chỉ lo vấn đề “ăn” và “mặc”
Trang 4Nghèo khổ và phân hoá giàu nghèo tạo nên sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế trong đó tầng lớp trên chiếm tỉ trọng lớn tài sản và các ưu thế kinh tế và tầng lớp dưới chiếm một tỉ trọng nhỏ các tài sản và một phần nhỏ các ưu thế kinh tế, thậm chí tầng đáy hầu như không có tài sản và không có ưu thế gì về mặt kinh tế và vì vậy cần được sự hỗ trợ đặc biệt từ phía các giai tầng khác của xã hội
1.3 Sự chuyển đổi các định hướng giá trị ở thành thị
Khi nói tới giá trị, người ta thường hiểu là phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của
sự vật hay của con người, là cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cự hay tiêu cực của khách thể đối với con người, với giai cấp, nhóm, xã hội nói chung, được phản ánh vào các nguyên tắc chuẩn mực, lý tưởng, tâm thế hay mục đích Đó là những giá trị về vật chất và giá trị tinh thần
Định hướng giá trị: là sự sắp xếp, lựa chọn các giá trị có ý ngĩa đối với cá nhân ( hoặc nhóm) Được thể hiện ở thái độ ưa thích, ủng hộ và hành động để hiện thực hóa các giá trị đó
Nghiên cứu về định hướng giá trị ở thành thị thấy có những biến đổi trong định hướng giá trị Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước, cũng như quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, giữ vững phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển bền vững, đồng thời để khắc phục những vấn đề tồn tại trên, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo việc phải rà soát lại Định hướng Quy hoạch đã được duyệt năm 1998 và giao Bộ Xây dựng nghiên cứu “Điều chỉnh định hướng qui hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” “Điều chỉnh định hướng qui hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Về quan điểm:
Trang 5- Phát triển đô thị phải tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội; phải phù hợp với phân bố
và trình độ phát triển lực lượng sản xuất cả nước, phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH-HĐH và xu hươớng hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam
- Hệ thống đô thị phải đươc phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng Coi trọng mối liên kết Đô thị–Nông thôn Đảm bảo đô thị có chất lượng sống tốt phù hợp với từng giai đoạn phát triển chung của đất nước
- Phát triển đô thị phải đảm bảo ổn định, bền vững và trường tồn, trên cơ sở tổ chức hợp lý môi sinh, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng; bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái;
- Phát triển đô thị phải đi đôi với việc xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật (như giao thông đô thị, cấp nước, cấp điện, thoát nước bẩn VSMT, y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, dịch vụ thươơng mại và nhà ở) với trình độ thích hợp hoặc hiện đại tương ứng với quá trình phát triển của môĩ đô thị;
- Phát triển đô thị phải gắn với việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nươớc trong đổi mới chính sách, cơ chế quản lý phát triển đô thị; huy động sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực vào mục đích cải tạo và xây dựng đô thị, đảm bảo cho các đô thị phát triển theo quy hoạch và pháp luật;
- Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào mục đích cải tạo, xây dựng và hiện đại hóa đô thị phù hợp với điều kiện thực tiễn của nươớc ta; áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong xây dựng, vật liệu, trang thiết bị, năng lơượng sạch, công nghệ xử lí chất thải, bảo vệ môi trươờng;
- Phát triển đô thị phải kết hợp chặt chẽ với việc đảm bảo an ninh, quốc phòng và an toàn xã hội Các đô thị, nhất là các đô thị ven biển, hải đảo và các đô thị dọc hành lang biên giới gắn với hệ thống cửa khẩu quốc gia, quốc tế phải vừa là trung tâm kinh tế, văn hóa, trung tâm dân cươ, vừa là căn cứ vững chắc bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN
Trang 6Về mục tiêu tổng quát:
- Đô thị Việt Nam phát triển bền vững; đảm bảo chất lượng sống của người dân đô thị ngày một được nâng cao; có cơ sở hạ tầng kĩ thuật, xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường sống trong sạch, an toàn; có nền kiến trúc đô thị tiến tiến, giàu bản sắc; có mối quan
hệ và vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế, xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế; đồng thời, đến năm 2050 đô thị Việt Nam phát triển mạnh theo mạng lưới đô thị;
- Các đô thị lớn (loại đặc biệt, loại I), các đô thị trung bình và nhỏ (loại II loại III, loại IV đến loại V) có tính chất, chức năng phù hợp, là động lực, cực tăng trơưởng chủ đạo quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của từng địa phươơng, từng vùng lãnh thổ và trong phạm vi cả nước;
- Các vùng đô thị hóa phát triển năng động, thịnh vượng, sáng tạo, kinh tế vững mạnh, đảm bảo mối liên kết phát triển hài hoà giữa các vùng; giữa miền Bắc, miền Trung và niềm Nam, giữa phía Đông và phía Tây; giữa khu vực đô thị và nông thôn
2.1 Trên lĩnh vực y tế
Nhiều năm qua, chủ trương xã hội hóa đã phát huy vai trò thu hút đầu tư tư nhân trong các
lĩnh vực xã hội Có thể thấy, nhờ có sự tham gia của tư nhân, năng lực phục vụ của các cơ sở
y tế được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của người dân
Để điều chỉnh hoạt động đầu tư xã hội hóa, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp quy như Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 69/2008/NĐ-CP) Hai nghị định này đã xác định tương đối rõ nhiều mức ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư
Trang 7Với chính sách xã hội hóa, ngành y tế đã tập trung đầu tư nhiều trang thiết bị về chẩn đoán
hình ảnh, xét nghiệm phục vụ công tác chữa bệnh
Trong thời gian qua, kết quả xã hội hóa trong lĩnh vực y tế có thể xem là một ví dụ điển hình trong thu hút đầu tư tư nhân Hình thức đầu tư xã hội hóa đã có tác động tích cực giúp đầu tư được nhiều trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu chẩn đoán, điều trị; hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, giảm tải bệnh viện, tăng chất lượng khám chữa bệnh, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, nhất là các đối tượng có khả năng chi trả Người dân, trong đó có cả người nghèo, cận nghèo, trẻ em, đối tượng chính sách xã hội cũng được hưởng lợi vì được sử dụng các dịch vụ này, kể cả dịch vụ
kỹ thuật cao, chi phí lớn và được bảo hiểm y tế thanh toán vì ở nhiều bệnh viện, các trang thiết bị xã hội hóa được dùng chung cho toàn bộ bệnh viện
Với chính sách xã hội hóa, trong các bệnh viện công hiện nay, hình thức liên doanh, liên kết, đặt máy phân chia lợi nhuận hoặc đặt máy độc quyền cung cấp hóa chất đang khá phổ biến Qua tổng hợp báo cáo của 31 Sở Y tế và 16 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, đến hết năm 2014, ngành y tế đã triển khai khoảng 883 đề án liên doanh, liên kết với tổng số vốn là 2.796,8 tỷ đồng Trong đó, tập trung đầu tư các trang thiết bị về chẩn đoán hình ảnh, đầu tư trang thiết bị
về xét nghiệm, đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác chữa bệnh Nhờ chính sách xã hội hóa,
hệ thống y tế tư nhân cũng có điều kiện phát triển, đến nay cả nước có hơn 100 bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân cùng với hệ thống y tế công lập tham gia khám chữa bệnh Việc thu hút đầu tư tư nhân trong lĩnh vực y tế đã góp phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe người dân
Tuy vậy, chính sách xã hội hóa cũng bộc lộ một số tồn tại và đang được khắc phục từng bước Rõ ràng nhất là tình trạng lạm dụng chỉ định sử dụng thiết bị y tế trong bệnh viện Bên cạnh những mặt đạt được, cơ chế xã hội hóa đòi hòi cần được hoàn thiện hơn Vì vậy, ngày 15/12/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 93/NQ-CP về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế
2.1.1 Trang thiết bị y tế
Trang 8Trang thiết bị y tế là một loại hàng hóa đặc biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người; là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y
tế, hỗ trợ cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trị bệnh nhân được chính xác, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả
Trong những năm qua, ngành y tế đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó TTBYT tại các bệnh viện từ tuyến cơ sở đến trung ương đang ngày càng được cải thiện và nâng cao TTBYT tại các bệnh viện tuyến cơ sở được đầu tư tốt đã bảo đảm cho công tác khám chữa bệnh được nâng lên, góp phần giúp giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên
Tuy nhiên, một số cơ sở y tế hiện nay có hiện tượng chưa sử dụng hết hiệu quả các TTBYT hiện đại do cán bộ chưa đủ trình độ để vận hành thiết bị; công tác duy tu, bảo dưỡng chưa tốt, khiến tuổi thọ của trang thiết bị giảm xuống… làm hạn chế chất lượng khám chữa bệnh ngay tại các bệnh viện tuyến cơ sở Từ tình hình thực tế đó, việc tăng cường quản lý chất lượng cũng như bảo đảm việc khai thác sử dụng TTBYT và cơ sở hạ tầng hiệu quả, đồng thời, giúp các đơn vị chủ động trong đầu tư, bổ sung TTBYT mới phù hợp, hiện đại là yêu cầu hết sức cấp thiết
2.1.1 cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của ngành y tế
Xây dựng các hệ thống mạng thông tin, cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp công tác chỉ huy tác nghiệp điều hành, khám chữa bệnh cho nhân dân của ngành Y tế và phục cho công tác chỉ huy chỉ đạo và giúp cho Chính phủ và các ngành trong công tác quản lý hành chính nhà nước
Thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng mạng Công nghệ thông tin, nhầm thúc đẩy cải cách tổ chức bộ máy ứng dụng các phần mềm quản lý trao đổi thông tin nghiệp vụ, dữ liệu, các trang (web) và ứng dụng các đa dịch vụ trên nền cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin của Ngành và trong tương lai tham gia khám chữa bệnh cho nhân dân không cần phải đi đến các cơ sở chống sự phân tải cho ngành y tế ngành tích kiệm cho nhà nước vô cùng lớn và có ý nghĩa to lớn với cộng đồng, theo thông tin từ Cục CNTT, Bộ Y tế Thay đổi phương pháp tư
Trang 9duy lý luận một cách logic về tác phong làm việc cho cán bộ nhân viên trong toàn bộ ngành
Y tế từ cơ sở đến Trung ương Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của ngành Y
tế mục đích nâng cao trình độ và hiểu biết về Công nghệ thông tin
Trong những năm qua, lĩnh vực viễn thông, Công nghệ thông tin ngày càng chứng minh vai trò quan trọng làm thay đổi diện mạo của đời sống xã hội với những giải pháp, dịch vụ tiện ichs Trong lĩnh vực y tế, có thể thấy rằng, VT, CNTT cũng đã và đang tạo ra những thay đổi mới mẻ, không chỉ thúc đẩy cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, hoạt động của đơn vị y tế mà còn hỗ trợ hiệu quả công tác ứng dụng thành công kỹ thuật cao trong các hoạt động Khám chữa bệnh như: chụp cắt lớp, mổ nội soi, khám chữa bệnh từ xa, đào tạo E-Learning, Y tế điện tử, bệnh viện không giấy tờ Đặc biệt trong quá trình triển khai dự án bệnh viện vệ tinh
2.2 Trên lĩnh vực giáo dục
Trong lĩnh vực giáo dục việc thiếu thốn về cơ sở hạ tầng gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị phục vụ cho giáo bao gồm:
hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý các chất thải có ảnh hưởng gián tiếp , ko đáp ứng được nhu cầu về vật chất và tinh thần đến lĩnh vực giáo dục
giao thông chật chội gây ảnh hưởng đến việc đi học, hệ thống thông tin liên lạc và cung cấp điện nước không đảm bảo gây ảnh hưởng đến việc sinh hoạt cùng ảnh hưởng đến chương trình giảng dạy của giáo viên tới học sinh, sinh viên
Cơ sở giáo dục của chúng ta còn nhiều bất hợp lý nhiều nơi trường học được xây dựng đã cũ
có nhiều hỏng hóc ko đc sửa chữa, xây ở xa khu dân cư không thuận tiện cho việc đi lại của học sinh, sinh viên Có những nơi quy hoạch không hợp lý trường học được xây dựng cạnh
Trang 10những bãi xử lý rác thải hay nhà máy công nghiệp gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của học sinh, sinh viên
Công cụ giảng dạy của giáo viên gặp nhiều hạn chế ko được đổi mới hiện đại và tiên tiến như các nước khác
Ví dụ :
1/Tại thành phố Biên Hòa số học sinh tăng cơ học quá nhanh (bình quân 7 ngàn học sinh/năm), dẫn đến áp lực về sĩ số, trường lớp quá lớn, tập trung ở những phường, xã có đông công nhân Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều trường phải dồn lớp, học ca ba (61 lớp của 6 trường, nhiều nhất trong 3 năm qua), không thể xây dựng trường chuẩn quốc gia, thậm chí
“vỡ chuẩn” vì không đáp ứng được yêu cầu về cơ sở vật chất Việc thiếu trường lớp đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục của thành phố, tạo nên sự chênh lệch về hiệu quả giáo dục giữa các cơ sở
Phòng GD-ĐT TP.Biên Hòa đề xuất lãnh đạo Sở GD-ĐT tham mưu HĐND tỉnh và UBND tỉnh hỗ trợ TP.Biên Hòa thêm các điều kiện về cơ chế đền bù giải tỏa, kinh phí để đẩy nhanh tốc độ xây dựng trường lớp, đáp ứng chỗ học cho học sinh; có cơ chế đầu tư ngân sách cho ngành học mầm non để giúp thành phố xây dựng 2 trường mầm non công lập tại 2 phường chưa có trường mầm non công lập; đề xuất UBND tỉnh đề nghị Bộ Nội vụ tăng biên chế viên chức cho ngành giáo dục, đặc biệt là ở TP.Biên Hòa vì số học sinh tăng cơ học hàng năm quá nhanh
2/Những năm qua, giáo dục Nghệ An phát triển mạnh cả về tỷ lệ huy động và chất lượng giáo dục Nghệ An trở thành điểm sáng trong giáo dục cả nước, là địa phương có nhiều đổi mới trong công tác quản lý giáo dục, quan tâm chăm lo chất lượng học sinh giỏi và chất lượng giáo dục đại trà, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia… Nhiều vấn đề lớn của giáo dục cả nước đã được kiểm nghiệm, đúc kết từ thực tiễn phát triển của giáo dục và đào tạo Nghệ An Nghệ An là tỉnh nằm trong tốp đầu của cả nước về học sinh giỏi và số học sinh thi đậu đại học đạt điểm cao