Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú nhưng sự tác động khai thác của con người đang ảnh hưởng lớn đến suy giảm tính đa dạng sinh học, đa dạng các loài đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN THỊ TÂM
Tên đề tài:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Minh Cảnh Khoa Quản lí Tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015
Trang 29 WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.2.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học 2
1.2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tài nguyên sinh học tại Việt Nam 3
2.1.1 Một số khái niệm 3
2.1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học 3
2.1.1.2 Bảo tồn ĐDSH 3
2.1.1.3 Quản lý ĐDSH 5
2.2 Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế Giới và ở Việt Nam 6
2.2.1 Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới 6
2.2.2 Hiện trạng tài nguyên sinh học tại Việt Nam 8
2.3 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học 9
2.3.1 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học trên thế giới 9
2.3.2 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tại Việt Nam 10
2.3.2.1 Các chiến lược, chính sách quản lý và bảo tồn 10
2.3.2.2 Ảnh hưởng của người dân vùng đệm và vùng lõi đến tài nguyên sinh học 11 2.3.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên sinh học 12
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.2 Phạm vi nghiên cứu 14
3.3 Nội dung nghiên cứu 14
3.4 Phương pháp nghiên cứu 14
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
Trang 43.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: 14
3.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: 14
3.4.1.2 Phương pháp chuyên gia: 15
3.4.1.3 Phương pháp xử lý số liệu: 15
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Vườn quốc gia Bến En 16
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
4.1.1.1 Vị trí địa lý 16
4.1.1.2 Địa chất 16
4.1.1.3 Khí hậu 16
4.1.1.4 Thủy văn 17
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 17
4.1.2.1 Dân số 17
4.1.2.2 Thực trạng một số ngành sản xuất kinh tế 18
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 18
4.2 Hiện trạng nguồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En 19
4.2.1 Tài nguyên thực vật 19
4.2.1.1 Đa dạng các kiểu thảm thực vật 21
4.2.1.2 Đa dạng hệ sinh thái 23
4.2.1.3 Các loài thực vật có giá trị bảo tồn 27
4.2.1.4 Giá trị sử dụng của các loài thực vật 30
4.2.2 Tài nguyên động vật 32
4.3 Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại VQG Bến En 36
4.3.1 Ảnh hưởng của người dân vùng đệm và vùng lõi đến tài nguyên sinh học 36
4.2.2 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên sinh học 40
4.2.3 Ảnh hưởng của pháp luật đến công tác quản lý bảo vệ rừng 41
4.4 Thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại VQG Bến En 43
4.4.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức, nguồn lực và cơ sở hạ tầng 43
4.4.2 Công tác đào tạo phát triển du lịch sinh thái và giáo dục nhận thức 46
Trang 54.5 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia
Bến En 48
4.5.1 Các giải pháp hạn chế tối đa ảnh hưởng của người dân đến sự đe doạ tính đa dạng sinh học tại VQG 48
4.5.2 Các giải pháp phát huy và bảo tồn nguồn gen 50
4.5.3 Giải pháp đối với hệ thống chính sách,cơ chế quản lý 50
4.5.4 Giải pháp đối với hoạt động du lịch 51
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thực vật có số lượng loài còn nhiều trên Thế giới 7
Bảng 4.1: Hiện trạng rừng và đất Lâm nghiệp VQG Bến En 19
Bảng 4.2: Sự phân bố thành phần hệ thực vật VQG Bến En 25
Bảng 4.3: Thống kê số lượng họ, chi, loài trong ngành hạt kín VQG Bến En 26
Bảng 4.4 Mười họ thực vật phổ biến nhất ở VQG 26
Bảng 4.5 Thành phần loài thực vật của VQG Bến En với một số Vườn quốc gia và khu BTTN khu vực phía Bắc 27
Bảng 4.6: Một số loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong VQG 29
Bảng 4.7 Các nhóm công dụng của thực vật trong khu vực nghiên cứu 30
Bảng 4.8 Mười loài thú nguy cấp, quý hiếm tại VQG 32
Bảng 4.9 Một số loài chim quý hiếm tại VQG trong sách đỏ Việt Nam 33
Bảng 4.10 Danh sách các loài bò sát, ếch nhái quý hiếm tại VQG 35
Bảng 4.11 Các loại gỗ thường được người dân khai thác 37
Bảng 4.12: Tình trạng săn bắt và sử dụng động vật hoang dã của người dân 38
Bảng 4.13 Các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng thường xuyên 39
Bảng 4.14 Tổng hợp thực thi pháp luật ở VQG 42
Bảng 4.15 Tổng hợp nguồn lực cán bộ công nhân viên trong VQG 44
Bảng 4.16: Số lượng khách thăm quan qua các năm 47
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một quá trình hoàn thiện kiến thức, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn công việc, năng lực công tác thực tế của mỗi sinh viên sau khi ra trường nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nghiên cứu khoa học Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên em đã thực tập tốt nghiệp Vườn quốc gia Bến En huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa để hoàn thiện và nâng cao kiến thức của bản thân
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, với lòng biết ơn chân thành em xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ths.Nguyễn Minh Cảnh, giảng viên khoa
Khoa Học Môi Trường, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên người đã định hướng, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các cô, chú, anh chị cùng toàn thể các cán
bộ Vườn quốc gia Bến En đã tạo mọi điều kiện, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại phòng Quan hệ và hợp tác quốc tế của Vườn quốc gia Bến En, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo khoa Quản lý tài nguyên, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức, tạo mọi điều kiện học tập trong suốt thời gian thực tập cũng như trong suốt khóa học vừa qua
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên khuyến khích trong suốt quá trình học tập để em có thể hoàn thành tốt 4 năm học
Thái Nguyên, tháng 05, năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm
Trang 8PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình
tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Trong những năm gần đây, trước xu thế ngày càng giảm về số lượng của các loài động, thực vật quý hiếm Các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của trái đất
Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú nhưng sự tác động khai thác của con người đang ảnh hưởng lớn đến suy giảm tính
đa dạng sinh học, đa dạng các loài động, thực vật, nhất là các loài thú quý, hiếm đã
dần biến mất.Theo thống kê Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Với 7.500 loài chủng vi sinh vật; khoảng 20.000 loài thực vật bậc cao trên cạn và dưới nước Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho
đất nước khoảng 2 tỷ đô la
Vườn quốc gia Bến En là một trong những VQG có tính đa dạng sinh học cao và có nhiều loài động thực vật quý hiếm Đây là một vùng rừng núi, sông hồ rộng khoảng hơn 16.000 ha còn mang vẻ hoang dã với hệ động thực vật đa dạng và phong phú Có nhiều loại động thực vật quý hiếm như: voi, gấu, hổ, vọoc má trắng, lim, lát hoa, chò chỉ có cây Lim xanh đã tồn tại cả ngàn năm tuổi Bến En còn có
cả hơn 4.000 ha mặt hồ với 21 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên cảnh quan thiên nhiên vô cùng quyến rũ Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
khoa Quản Lý Tài Nguyên và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Minh
Cảnh tôi tiến hành nghiên để tài.“Hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại vườn
quốc gia Bến En huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2014”
Trang 91.2 Mục đích yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng nguồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En
- Tìm hiểu tác động của con người đến tài nguyên sinh học tại VQG
- Thực trạng công tác quản lý tài nguyên tại VQG
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra được điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội vườn quốc gia Bến En
- Điều tra được hiện trạng tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En -Đánh giá được nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại vườn quốc gia
- Điều tra được thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En
- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bến En
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
1.2.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về
kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu
- Là tài liệu phục vụ cho công tác quản lý môi trường ở cấp cơ sở
1.2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá vấn đề thực tế và vai trò của công tác quản lý đối với Vườn quốc gia
- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp
ứng nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
tại khu vực
Trang 10PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tài nguyên sinh học tại Việt Nam
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH là
sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’
ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST
Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần
xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau
Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ
hợp.(Đa dạng sinh học và bảo tồn,2004) [2]
ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm,
thực vật, động vật, các hệ sinh thái và môi trường chúng sinh sống (Đa dạng sinh học và bảo tồn,2004) [2]
2.1.1.2 Bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Có nhiều
Trang 11phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một số phương pháp và công
cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,….(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH,2005) [3] Có thể phân chia thành các nhóm như sau:
- Bảo tồn nội vi (in-situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo
đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản
lý phù hợp.(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH,2005)[3]
- Bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation):
Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên hoặc dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các
bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống….(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH,2005)[3]
- Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng:
Đây là một trong những biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học trên quan điểm
sinh thái nhân văn, mang tính chất kinh tế xã hội cao Áp dụng hình thức bảo tồn này
có thể đem lại hiệu quả về các mặt: Giải quyết được các mối quan hệ giữa con người
và thiên nhiên bao gồm cả đa dạng sinh học; quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; hạn chế mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn thiên nhiên; giảm thiểu các tác động tới đa dạng sinh học và môi trường sống tự nhiên; giảm thiểu mức đầu tư cho công tác bảo tồn thiên nhiên….(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH, 2005) [3]
Trang 122.1.1.3 Quản lý ĐDSH
a Khái niệm về quản lý ĐDSH
Quản lý ĐDSH là sự quan tâm, chăm sóc đối với TNTN, các HST, các loài
và nguồn tài nguyên di truyền ở một địa phương, một vùng, một lưu vực, những nơi
có giá trị cao về bảo tồn (Đa dạng sinh học và bảo tồn,2004) [2]
Quản lý ĐDSH là công việc cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành: Các nhà sinh vật học, kinh tế học, nhân chủng học, lâm nghiệp, nông nghiệp, các nhà khoa học về biển…và được nhiều tổ chức quần chúng, các cấp chính quyền
cùng tham gia thì thành công sẽ đạt được kết quả vững chắc (Đa dạng sinh học và
bảo tồn,2004) [2]
b Các công ước về quản lý và bảo tồn ĐDSH
- Công ước ĐDSH: là thành quả chính của Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường tại Rio de Janiero vào năm 1992 Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước vào ngày 16/11/1994 và phê duyệt Kế hoạch Hành động ĐDSH quốc gia vào tháng 12 năm 1995
- Công ước Ramsar về Đất ngập nước: ban đầu tập trung vào bảo tồn và sử dụng khôn ngoan các khu ĐNN là sinh cảnh của các loài chim nước quan trọng Trọng tâm này ngày càng được mở rộng và hiện nay ĐNN được xác định rõ ràng
là HST rất quan trọng cho bảo tồn ĐDSH nói chung và cho sự tồn tại của con người nói riêng Công ước Ramsar đã bắt đầu được thực thi từ năm 1975 và tính tới 04/04/2005, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vào Công ước và bảo vệ 1.150 khu ĐNN Công ước này được bổ sung bằng một Nghị định thư tại Paris năm 1982 Việt Nam đã tham gia vào Công ước này từ 20/9/1988 và đã thành lập
4 khu ĐNN, trong đó đáng chú ý là KBT Thiên nhiên Xuân Thủy đã được đưa vào danh sách các Khu ĐNN có tầm quan trọng quốc tế đối với chim di cư
- Công ước CITES: Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, Công ước này là một công cụ để hỗ trợ các nước ngăn chặn buôn bán quốc tế bất hợp pháp và không bền vững động thực vật hoang dã Công
ước CITES được hình thành vào ngày 03/03/1973 tại Washington với 13 thành viên
ban đầu và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1975 Hiện nay, có 164 quốc gia tham gia
Trang 13vào Công ước CITES Để đáp ứng yêu cầu quốc tế về tầm quan trọng của các loài hoang dã và vai trò của Việt Nam trong hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã tại Đông Dương, Việt Nam đã tham gia vào Công ước CITES và trở thành thành viên chính thức (Số 121) vào ngày 20 tháng 01 năm 1994 Khi nhận thức được là
“mỗi nhà nước chính là người bảo vệ tốt nhất động thực vật hoang dã của chính nước mình”, Công ước CITES sẽ giúp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khuôn khổ luật pháp quốc tế Việt Nam tham gia đầy đủ vào các Hội nghị các nước thành viên
được tổ chức hai năm một lần để quyết định những vấn đề chính về thực hiện Công ước và duy trì liên lạc thường xuyên với Ban Thư ký Công ước CITES và với nhiều
nước thành viên khác Năm 2004, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát, buôn bán động vật, thực vật hoang dã đến năm 2010, tiếp đó là nhiều văn bản pháp luật có liên quan
c Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên
Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một thỏa thuận đối tác bởi hai hay
nhiều bên, các bên tham gia có vai trò ngang nhau trong thương thảo, cam kết và đi
đến một chương trình thực thi hành động, chia sẻ quyền lực và lợi ích, đồng thời có
trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên Người sử dụng tài nguyên và các chính quyền địa phương cùng nhau đàm phán thỏa thuận đối tượng nào? để làm gì? ở đâu? khi nào? bằng cách nào? và mất bao nhiêu? trên một diện tích tài nguyên
cụ thể được thực hiện và giám sát bởi chính những người sử dụng tài nguyên
Đồng quản lý là một biện pháp hiệu quả để duy trì và tăng cường chức năng
của rừng và đồng thời cung cấp sinh kế cho các cộng đồng địa phương Để đồng quản
lý TNTN hiệu quả , điều chủ yếu là có sự hỗ trợ toàn diện của chính quyền tất cả các cấp (tỉnh, huyện, xã), có sự tuân thủ quy tắc có “sự tham gia” và sự thỏa thuận của tất
cả các bên liên quan và ban quản trị nhiều thành phần
2.2 Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế Giới và ở Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới
Đa dạng sinh học là sự phong phú và đa dạng của sự sống, có vai trò sống
còn đối với Trái đất Đa dạng sinh học có nhiều giá trị to lớn, tập trung vào 3 nhóm: giá trị kinh tế, giá trị nhân văn và giá trị sinh thái Giá trị kinh tế là cung cấp nguồn
Trang 14lương thực, thực phẩm duy nhất cho con người Theo tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, hàng năm ĐDSH cung cấp cho con người một lượng sản phẩm trị giá khoảng 33.000 tỷ USD Giá trị nhân văn của ĐDSH là tính phong phú, vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên, cung cấp giá trị thẩm mỹ Giá trị sinh thái là vai trò duy trì cân bằng sinh học, bảo vệ các nguồn tài nguyên, điều hoà khí hậu và phát triển bền vững
Khí hậu thay đổi dẫn tới môi trường sống thay đổi và các loài động thực vật cũng phải thay đổi chu kì sinh trưởng và các đặc điểm cơ thể hoặc thay đổi đường
di cư để thích nghi với môi trường mới, làm mất ĐDSH Theo một nghiên cứu mới
đây về ĐDSH quốc tế, các nhà khoa học cảnh báo, hơn một phần ba loài động vật
trên thế giới có nguy cơ tuyệt chủng và các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000 loài
Bảng 2.1: Thực vật có số lượng loài còn nhiều trên Thế giới
(Nguồn:Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia-Chuyên đề ĐDSH)
Thế giới đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của tình trạng tuyệt chủng và suy giảm về loài Theo số liệu thống kê mới nhất của IUCN, có 17.291 trong tổng số 47.677 loài trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng Trong đó gồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xương sống
và 70% loài thực vật Các nhà khoa học cảnh báo, thế giới không những lo ngại số loài vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà còn bị đe dọa phá vỡ hoàn toàn hệ sinh thái
Trang 15Trước sự suy giảm nhanh của đa dạng sinh học các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra các phương thức bảo tồn đa dạng sinh Trong số những phương thức bảo tồn đó có hai phương thức được sử dung chủ yếu là: bảo tồn tại chỗ (In-situ) và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ).Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng như xây dựng các vườn thú, bể nuôi,vườn thực vật và vườn ươm
Hai phương thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau Những cá thể từ các quần thể dược bảo tồn Ex-situ có thể được đưa vào thiên nhiên nơi có phân bố
tự nhiên của chúng để tăng cường cho các quần thể đang được bảo tồn In-situ và việc nghiên cứu các quần thể được bảo tồn Ex-situ có thể cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về các đặc tính sinh học của loài và từ đó hỗ trợ cho việc hình thành các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể được bảo tồn In-situ
Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiện môi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảo tồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn tạo ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai của loài Vì vậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn gen
động cho thực vật Điều cốt lỏi của khái niệm này là khuyến khích tính thích nghi
của loài bằng cách đặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và rồi trong quá trình tiến hóa theo các hướng khác biệt để đa dạng hóa nguồn gien của loài, chuẩn bị cho việc thích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi trường khác nhau Theo cách thức bảo tồn này, nguồn gen của các loài thực vật sẽ
được bảo tồn trong một quá trình động thay vì chỉ được duy trì như đúng tình trạng
di truyền mà chúng vốn có
2.2.2 Hiện trạng tài nguyên sinh học tại Việt Nam
Việt Nam với sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng cận xích đạo đến giáp cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, địa mạo đã tạo ra sự phong phú về cảnh quan và tính đa dạng sinh học cao Với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối tạo nên
Trang 16môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới Việt Nam đã được quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) có hơn 3 trong số 200 vùng sinh thái toàn cầu, tổ chức bảo tồn chim quốc tế công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới, tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật… Tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng những loài sinh vật được xếp ở mức độ bị đe dọa tuyệt chủng và các mức nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam và Danh sách Đỏ của IUCN đang là một trong những vấn đề rất đáng quan tâm.(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề
ĐDSH, 2010) [4]
2.3 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học
2.3.1 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học trên thế giới
Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu
về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giải pháp bảo tồn
ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng
lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai Điều
đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT được tổ chức,
bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ước Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động được thông qua (Hội nghị Durban
được thỏa thuận lịch sử về khí hậu toàn cầu, 2011) [16]
Nhằm đảm bảo phát triển bền vững, nhiều ngành, nhiều tổ chức liên quan
đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương
thức tiếp cận mới về quản lý, (Pirot,J - Y., Meynell P J and Elder D ,2000; Posingham, H P and Wilson, K A., 2005) đó là: (1) Quản lý hệ sinh thái, (2) Quản
lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững Các phương thức
Trang 17tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm một số giải pháp tối ưu
để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn TNTN
Tuy nhiên, những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được ứng dụng Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững
Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền vững
Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào những năm 1980, mạng lưới các VQG ở
nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng
2.3.2 Hiện trạng quản lý và bảo tồn tại Việt Nam
2.3.2.1 Các chiến lược, chính sách quản lý và bảo tồn
Nhận thức được tầm quan trọng của sự suy thoái tài nguyên ĐDSH, Việt Nam đã sớm có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn ĐDSH Theo thống kê từ năm 1958 đến nay, có tới vài trăm văn bản pháp luật do Nhà nước và các ban ngành liên quan ban hành về vấn đề bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành
Từ năm 1962, cục kiểm lâm được hình thành và rừng cấm đầu tiên tại Việt Nam là rừng Cúc Phương Đến năm 1985, chiến lược bảo tồn quốc gia của Việt Nam được ban hành Đây là một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước
đang phát triển Và từ đó các các chính sách và luật về ĐDSH dần được hoàn thiện
và ra đời như: Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật bảo
vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, luật Đa dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn tháng 11 năm 2008; Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được xuất bản năm 1992 (tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 và 2007)
Trang 18trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH, 2010) [4]
Bên cạnh đó các cấp, các ngành vẫn đang tổ chức thực hiện các kế hoạch, chiến lược về ĐDSH đã được phê duyệt trước năm 2010 như: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020”, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai
đoạn 2011 – 2020
Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ
ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập Việt
Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó, Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: (1)Bảo tồn đa dạng sinh học; (2) Sử dụng bền vững tài nguyên; (3) Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen (Đa dạng sinh học và bảo tồn, 2004) [2]
2.3.2.2 Ảnh hưởng của người dân vùng đệm và vùng lõi đến tài nguyên sinh học
Phần lớn các VQG và KBT đã và đang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức ép hết sức nặng nề Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó, cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN Tuy nhiên, công cuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết của họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn thiên nhiên mà cộng đồng đã đúc rút từ nhiều đời nay
Trang 19Mỗi khi xây dựng một khu bảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợi riêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc gia và các thế hệ mai sau (Báo cáo triển vọng ĐDSH toàn cầu lần thứ 3,2010) [7]
2.3.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên sinh học
a Các tác động tích cực
Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào
việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn và Vườn Quốc gia
Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng
kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước,
đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương
trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc
Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay,
đường sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc sẽ được chú
trọng hơn để đảm bảo môi trường và thu hút khách du lịch Qua đó, cơ sở hạ tầng tại địa điểm du lịch sinh thái dần được cải thiện
Tăng cường hiểu biết về môi trường: Qua việc du lịch sinh thái du khách
cũng như người dân địa phương sẽ có điều kiện để trao đổi và học tập kiến thức với nhau, qua hoạt động du lịch sinh thái kết hợp tuyên truyền nâng cao kiến thức về môi trường cho người dân bản địa và khách tham quan
b Các tác động tiêu cực đến môi trường sinh học
Các yếu tố gây ô nhiễm như rác thải, nước thải do tập trung nhiều tại một điểm tỷ
lệ theo sự gia tăng lượng khách du lịch và không được xử lý đúng quy cách sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái dưới nước
Trong các khu bảo tồn tự nhiên, rác thải không được thu gom kịp thời gây khó khăn cho công tác bảo tồn vì ngoài việc gây ô nhiễm đến các thành phần môi trường khác, các chất phế thải sẽ thu hút các loài động vật như linh cẩu, kền kền, cò, khỉ đầu chó… Thêm nữa, rác thải là nguy cơ làm lây lan bệnh dịch, ảnh hưởng xấu
Trang 20đất không hợp lý cho phát triển du lịch, đặc biệt là trong các khu bảo tồn có thể ảnh
hưởng xấu đến môi trường sống của nhiều loài động vật và thực vật do nhiều loài rất nhạy cảm với các biến động môi trường khi bị xâm lấn hoặc trạng thái ồn ào, ô nhiễm môi trường thành phần , vì vậy các loài động vật sẽ thay đổi tập tính trong quá trình sinh trưởng, và nhiều loài động vật nhỏ có nguy cơ bị đè, giẫm
Những hoạt động của khách du lịch như giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, chặt cây lấy củi đốt lửa trại, leo núi ồ ạt làm cho nhiều thực vật bị mất dần
Trang 21PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại VQG Bến En
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Vườn quốc gia Bến En huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: 20/1-5/4/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội vườn quốc gia Bến En
- Hiện trạng tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En
- Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại vườn quốc gia
- Thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En
- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bến En
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập tài liệu về nguồn tài nguyên sinh học tại VQG, hệ thống quản lý và các biện pháp bảo tồn tại VQG Tham khảo những số liệu ĐDSH, về dân tộc, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, tình hình đói nghèo, hiện trạng sử dụng tài nguyên và những khó khăn, thuận lợi trong phát triển kinh tế và công tác bảo tồn tại các xã trong khu vực nghiên cứu từ phòng Tài nguyên và môi trường huyện Như Thanh, Ban quản lý VQG Bến En, phòng Kế hoạch và đầu tư, các xã nằm trong khu vực nghiên cứu
3.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Quan sát, chụp ảnh: Quan sát hiện trạng tài nguyên trong khu vực để mô tả cấu trúc rừng, thu thập mẫu lá, hoa,… Đối với động vật, thu thập số liệu và mẫu vật thực địa bằng cách quan sát trực tiếp vào ban ngày (dùng máy ảnh, nghe tiếng kêu, tiếng hót, quan sát bằng mắt thường); hoặc dựa theo kinh nghiệm của chuyên gia và người dân địa phương thông thạo địa hình, tập tính của các đối tượng nghiên cứu
Trang 22Trao đổi mở với các cán bộ lãnh đạo của UBND các cấp ở địa phương, cán
bộ phụ trách các vấn đề kinh tế xã hội, dân cư, phát triển nông lâm nghiệp, cán bộ kiểm lâm, ban quản lý VQG, để biết thêm về tác động của hoạt động du lịch sinh thái cũng như hoạt động của người dân tại vùng đệm và vùng lõi đến hệ sinh thái và tài nguyên sinh học
Tìm hiểu cơ cấu bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực: Cán bộ trong khu bảo tồn, hạt kiểm lâm, tìm hiểu những bất cập trong công tác quản lý… Từ đó đề xuất giải pháp, quan tâm đúng mức đến nguyện vọng chính đáng của cộng đồng trong vấn đề phát triển KTXH kết hợp với công tác bảo tồn ĐDSH
Thu thập thông tin qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra phiếu trong đó 10phiếu điều tra ở 9 thôn vùng lõi mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 2 hộ
điều tra 1 phiếu Tiến hành phỏng vấn và điều tra về các loài cây gỗ, các loài động
vật, lâm sản ngoài gỗ thường bị khai thác và săn bắt Trao đổi, phỏng vấn với các hộ gia đình về tình hình kinh tế xã hội, dân cư cũng như tình hình sử dụng tài nguyên
và lâm sản ngoài gỗ
Chọn ra 5 xã vùng đệm (Xuân Khang, Xuân Thái, TT Bến Sung, Hải Long, Hải Vân) đại diện cho 12 xã vùng đệm để tiến hành trao đổi, phỏng vấn với các hộ gia đình về tình hình kinh tế xã hội, dân cư cũng như tình hình sử dụng tài nguyên
và lâm sản ngoài gỗ Đây là các xã có đặc điểm tương đồng với các xã khác về điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân cư và vấn đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, mỗi
xã điều tra ngẫu nhiên 6 phiếu Với các cấp chính quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức
và cá nhân có liên quan phỏng vấn với nội dung đã định để có cơ sở đánh giá thực trạng và tiềm năng của công tác quản lý bảo tồn một cách chính xác
3.4.1.2 Phương pháp chuyên gia:
Gặp gỡ trao đổi với cán bộ quản lý tại VQG, cán bộ phòng khoa học và hợp tác quốc tế và cán bộ tại phòng Tài nguyên và môi trường huyện Như Thanh để hiểu
rõ hơn về những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên tại VQG Bến En
3.4.1.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đưa ra những kết quả giúp thuận lợi hơn trong việc đưa ra những nhận xét tốt nhất
Trang 23PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Vườn quốc gia Bến En
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Bến En có tổng diện tích tự nhiên 14.734,67 ha, gồm 18 tiểu khu: 603, 610, 611, 612, 614, 615, 616, 617, 619, 620, 622, 625, 626, 628 633, 634A, 634B và 636, nằm trên địa giới hành chính 02 huyện Như Thanh và Như Xuân, cách thành phố Thanh Hóa 45 km về phía Tây – Nam
Địa hình của Vườn là sự kết hợp của đồi, núi, sông và hồ Khu vực giữa là hồ
Sông Mực với các đảo nổi được bao phủ bởi rừng và nhiều sông suối Rừng núi đá vôi nằm ở phía Tây Nam chiếm một tỷ lệ nhỏ trong VQG, những khu rừng núi đá còn lại chủ yếu nằm ở vùng đệm, vị trí cao nhất trong khu vực đạt 497m, độ dốc trung bình 20 - 25o
4.1.1.2 Địa chất
Khu vực Vườn Quốc gia Bến En có 4 loại đất chính: Đất phù sa sông suối (đất vàng, nâu) có diện tích khoảng 310 ha Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên nhóm đá sét có diện tích khoảng 11.438 ha Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên nhóm đá cát có diện tích khoảng 1.240 ha Đất phong hóa trên núi đá vôi có diện tích khoảng 1.077 ha
Nhìn chung, đất khu vực Bến En có độ phì tương đối cao, tầng đất từ trung bình đến dày, đây là điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển, tạo nên tính đa dạng về thực vật cho khu vực [4]
4.1.1.3 Khí hậu
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Như Thanh cho thấy: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3 0C; Tổng lượng mưa cả năm 1.790 mm; Độ ẩm trung bình hàng năm 85%; Tổng nhiệt cả năm 8.500 0C
Khu vực Vườn Quốc gia Bến En có gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10 Đôi khi có các đợt gió Lào khô nóng vào tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm
Trang 24Lượng mưa trong vùng khá cao và phân làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11 chiếm 90 % tổng lượng mưa trong năm thường gây nên những trận lũ lớn Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 10% tổng lượng mưa hàng năm nhưng thường có mưa phùn và bốc hơi từ hồ Bến En nên giữ được
độ ẩm cho cây cối trong vùng
4.1.1.4 Thủy văn
Khu vực Vườn Quốc gia Bến En có hệ thống sông chính là Sông Mực với thủy vực gồm 4 suối lớn:
- Suối Hận, dài khoảng 16 km, bắt nguồn từ núi Bao Cù và Bao Trè;
- Suối Thổ dài 20 km, bắt nguồn từ Núi Cọ chảy qua Làng Quảng;
- Suối Cốc dài khoảng 11 km, bắt nguồn từ núi Voi qua Làng Cốc;
- Suối Tây Toọn dài 15 km, bắt nguồn từ dãy núi Tèo Heo, Roọc Khoan chảy qua Bình Lương, Làng Yên
- Hồ Bến En có dung tích biến động từ 250-400 triệu m3 nước, là thủy vực của
4 suối chính ở trên, diện tích hồ ở mức nước trung bình là 2.333 ha đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho nông nghiệp 4 huyện Như Thanh, Như Xuân, Nông Cống và Tỉnh Gia, cũng như việc phát triển nuôi trồng thủy sản
Nước ngầm: Là kho dự trữ nước điều tiết cho các dòng chảy về mùa khô, phụ thuộc vào độ dày phong hóa và lượng mưa hàng năm Qua khảo sát cho thấy một số khu vực chỉ cần khoan 1-2 m đã có nước, khu vực sâu nhất 7-8m, mức độ chênh lệch mực nước ngầm trong năm lớn 1-2m
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Dân số
Vườn Quốc gia Bến En nằm trên 2 huyện Như Thanh và Như Xuân bao gồm
13 xã và 2 thị trấn (cả vùng lõi và vùng đệm) Theo số liệu từ niên giám thống kê 2 huyện năm 2011, kết hợp số liệu thu thập tại các xã, dân số trong toàn vùng hiện nay là 12.369 hộ, 56.143 nhân khẩu Hiện tại vùng lõi VQG Bến En vẫn còn người dân thuộc 9 thôn sinh sống thuộc 3 xã: Tân Bình; Xuân Quỳ; Hóa Quỳ với mật độ dân số khá cao, có 440 hộ với 1.813 nhân khẩu
Trang 254.1.2.2 Thực trạng một số ngành sản xuất kinh tế
Sản xuất nông nghiệp:
Cây lương thực: Cây trồng chủ yếu như: lúa nước, ngô, khoai, sắn, quá
trình canh tác còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, chưa áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, do vậy năng suất còn thấp, không đảm bảo được an ninh lương thực cho người dân trong vùng
Cây công nghiệp ngắn ngày: Cây công nghiệp ngắn ngày được trồng tại khu
vực VQG Bến En chủ yếu là cây mía; cao su, diện tích chủ yếu tại khu vực vùng
đệm, và một phần đất vùng lõi VQG, năng suất mía bình quân đạt khoảng 41,2
tấn/ha Trong những năm vừa qua diện tích trồng mía được mở rộng phục vụ nhu cầu nguyên liệu nhà máy đường Lam Sơn, điều này dẫn đến không ít diện tích đất rừng của Vườn bị xâm lấn phục vụ trồng cây công nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp:
Công tác trồng rừng trên địa bàn được thực hiện nhiều năm nay Những năm gần đây được sự đầu tư của các Dự án 327, dự án 661, Dự án trồng rừng sản xuất , diện tích rừng trồng được nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn vùng đã có 1.254 ha rừng trồng, gồm các loài cây Keo, Mỡ, Luồng ngoài ra, trong khu vực vùng đệm VQG Bến En trên địa bàn các xã còn một số diện tích trồng cao su đến nay bắt đầu cho thu hoạch mủ
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Cơ bản các tuyến đường liên xã, liên thôn trong vùng đã được
quan tâm đầu tư xây dựng, giao thông đi lại giữa các thôn, xã tương đối thuận lợi Trên toàn vùng hầu hết các tuyến đường tỉnh lộ và liên huyện đã được rải nhựa, ngoài ra còn có một số tuyến đường liên xã và liên thôn đã được bê tông hóa
- Thuỷ lợi: Ở một số thôn (bản) đã được đầu tư xây dựng kiên cố đập chứa
nước, kênh mương dẫn nước phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp Với 27 hồ đập lớn nhỏ cùng với 71,86 km kênh mương chiều dài đã đáp ứng năng lực tưới cho 492,5
ha đất nông nghiệp
- Điện: Trong những năm gần đây được sự hỗ trợ của nhiều chương trình, dự
án, mạng điện lưới trong vùng được mở rộng đáng kể Hiện nay trong vùng có 25
Trang 26Bảng 4.1: Hiện trạng rừng và đất Lâm nghiệp VQG Bến En
Tổng diện tích đất lâm nghiệp 12.033,0
Từ bảng trên ta thấy: trong tổng số 12.033 ha đất lâm nghiệp thì diện tích
đất có rừng là 11.738,14 ha chiếm 97,5% diện tích đất lâm nghiệp, cụ thể từng loại
rừng như sau:
Trang 27- Rừng giàu: Diện tích rừng giàu là 162,42 ha, chiếm 1,38% tổng diện tích
đất có rừng của Vườn, phần diện tích này tập trung chủ yếu tại khu vực Sông Chàng
và Điện Ngọc Thực vật chủ yếu là các loài lim xanh, săng lẻ, gội nếp, lim xẹt, vàng anh,v.v , chiều cao trung bình của rừng đạt 18 -25 m; đường kính bình quân của cây rừng từ 25-30 cm; trữ lượng bình quân của rừng khoảng 210-230 m3/ha, cấu trúc rừng ổn định Đây là loại rừng có trữ lượng lớn, còn nhiều nguồn gen đặc hữu, quý hiếm, cần được bảo vệ tốt để phát huy các giá trị đa dạng sinh học, phòng hộ
đầu nguồn và du lịch sinh thái
- Rừng trung bình: Diện tích rừng trung bình là 2.079,82 ha, chiếm 17,7%
diện tích đất có rừng, phân bố trên tất cả các phân khu chức năng của Vườn, với loài ưu thế như: lim xanh, trường mật, trường sâng, ngát, giẻ, , độ tàn che từ 0,6-0,8; chiều cao trung bình của rừng đạt 16-18m; đường kính trung bình của cây rừng
từ 20-25 cm; trữ lượng bình quân của rừng từ 110-130 m3/ha
- Rừng nghèo: Diện tích 3.514,01 ha, chiếm 30% diện tích đất có rừng của
Vườn chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại rừng của Vườn, phân bố ở các phân khu, trong đó tập trung nhiều nhất tại phân khu phục hồi sinh thái Độ tàn che từ 0,3-0,4;
đường kính trung bình của cây rừng từ 20-24 cm; trữ lượng bình quân của rừng <
100 m3/ha, các loài cây ưu thế trâm trắng, bời lời, thị rừng, đa, thôi ba, kháo vàng, ba soi,v.v
- Rừng phục hồi: Diện tích 1.855,44 ha, chiếm 15,8% diện tích đất có rừng
trong cả Vườn, tập trung chủ yếu tại phân khu phục hồi sinh thái Đây là kết quả của quá trình tái sinh sau canh tác nương rẫy và khai thác kiệt, trong thời gian tới cần có biện pháp tác động để nhanh quá trình phục hồi của rừng Thực vật chủ yếu là các loài cây ưa sáng mọc nhanh như: võ mãn, bời lời, thẩu tấu, hoắc quang, chẹo tía,…, trữ lượng rừng thấp từ 10-50 m3//ha
- Rừng hỗn giao: Diện tích 2.094,35 ha, chiếm 17,8% diện tích đất có rừng
của Vườn và đứng thứ 2 trong các trạng thái rừng Rừng hỗn giao phân bố ở tất cả các phân khu, chủ yếu hỗn giao gỗ và vầu, sặt, giang, nứa; rừng có 2-3 tầng, độ tàn che từ 0,7- 0,8 Tổ thành gồm nhiều loài cây thân gỗ như: giẻ, gội, thị rừng, máu
Trang 28chó, ngát, lim xanh, tầng dưới có cây họ tre nứa mật độ tương đối cao từ 2.500 cây/ha
2.000 Rừng tre nứa: Diện tích 1.755,80 ha, chiếm 15% tổng diện tích đất có rừng
của Vườn, phân bố ở tất cả các phân khu, loài cây chủ yếu là vầu, giang, sặt,… Phần lớn diện tích rừng tre nứa là rừng nghèo, cây có đường kính nhỏ trong rừng có nhiều dây leo bụi rậm, mật độ cây < 2000 cây/ha
- Rừng trồng: Diện tích 276,3 ha, chiếm 2,4% diện tích rừng của Vườn, cây
trồng chủ yếu là các loài cây bản địa như: lim, lát hoa,…
4.2.1.1 Đa dạng các kiểu thảm thực vật
Hiện trạng các kiểu thảm thực vật ở VQG rất phong phú và đa dạng như:
- Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi ít bị tác động
Kiểu rừng này phân bố ở những nơi nguy hiểm, con người khó tiếp cận, hoặc rất khó vận chuyển sau khai thác Có thể gặp ở khu vực Thung Sen, Núi Đàm khu vực Sông Chàng, Cổng trời Đức Lương
Cấu trúc thảm thực vật chia làm 4 tầng rõ rệt: Tầng tán chính, thường cao hơn 15m Tầng dưới tán, thấp hơn 15m, tầng cây bụi với một số ít loài và tầng thảm tươi
- Kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi bị tác động mạnh
Phân bố: Kiểu rừng này thường phân bố ở những nơi người dân dễ tiếp cận, hoặc dễ dàng vận chuyển sau khi khai thác, tại VQG Bến En có thể gặp ở khu vực Núi Thủ Lợn - sông Chàng; Ba Bái
Cấu trúc: Cấu trúc rừng với 3 tầng: Tầng tán, tầng dưới tán và tầng cây bụi Trong đó tầng tán và tầng dưới tán thường khó phân biệt rõ, hai tầng này có các loài
ưu thế như: Tu hú lá to (Callicarpa macrophylla), Tu hú (Callicarpa dichotoma),
Ô rô lá bé (Acanthus ilicifolius), Thị rừng (Diospyros montana), Bằng lăng (Lagerstromia calyculata)… Các lâm phần thuộc kiểu rừng này đều đã bị khai thác
quá mức trong thời gian dài, tuy nhiên với nhiều nỗ lực bảo vệ tài nguyên rừng trong các lâm phần này đã dần đi vào ổn định
- Trảng cây bụi trên núi đá vôi
Phân bố: Khu vực Núi Đầu lớn - Xuân Thái, núi Thủ Lợn - sông Chàng
Trang 29Cấu trúc: Ở đây có một số loài chiếm ưu thế như: Huyết giác (Dracaena
cambodiana), Huyết giác (Dracaena cochinchinensis), Mua đồi (Melastoma sp),
Mãi táp (Randia pycnantha)… Các lâm phần kiểu rừng này nằm ở hầu hết các khu
vực núi đá của Bến En thực vật còn lại chủ yếu là cây bụi, tuy nhiên có giá trị về mặt dược liệu
- Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất ít bị tác động
Phân bố: Kiểu rừng này còn lại rất ít tại VQG Bến En do qua trình khai thác trong quá khứ, tuy nhiên có thể gặp kiểu rừng này tại khu vực Thung Sen, Núi Đàm
mòi núi (Antidesma motanum)… Ba bét (Mallotus decipiens), Thị lông (Diospyros
hirsuta)…Gừng (Zingiberaceae), Họ cỏ (Poaceae) Đây là kiểu rừng chứa đựng
nhiều giá trị về mặt bảo tồn và đa dạng sinh học,cùng với đó trữ lượng gỗ và giá trị
gỗ của các loài cây rất cao, do vậy cần có biện pháp bảo vệ khỏi những nguy cơ xâm hại của con người
- Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất bị tác động mạnh
Phân bố: Kiểu rừng này phân bố ở hầu hết các lâm phần trên VQG, đây là hậu quả của quá trình khai thác quá mức, tuy nhiên sau nhiều năm bảo vệ và phát triển các trạng thái rừng của kiểu rừng này đã phát triển tốt và đi vào ổn định
Cấu trúc: Cấu trúc rừng gồm 3 tầng bao gồm : tầng tán; tầng cây bụi và tầng
thảm tươi, trong đó với các loài ưu thế: Trâm trắng (Syzygium wightianum), Bời lời (Litsea balansae), Thị rừng (Diospyros hirsuta), Đa (Ficus hispida), Thôi ba
(Alangium chinense), Kháo vàng (Machilus bonii), Ba soi (Mallotus paniculatus),
Mò trung hoa (Cryptocarya chiensis, họ Gừng (Zingiberaceae), họ Lúa (Poaceae),
họ Na (Anonaceae), Dương xỉ… Đây là kiểu rừng phổ biến tại Bến En, một số trạng
thái của kiểu rừng này đã phục hồi và ổn định, tuy nhiên hiện tại còn rất nhiều các
Trang 30lâm phần kiểu rừng này là rừng nghèo, do vậy trong thời gian tới cần có biện pháp tác động để nâng cao chất lượng các lâm phần thuộc kiểu rừng này
- Kiểu trảng cỏ cây bụi trên núi đất
Phân bố: Khu vực Xuân Thái, Đức Lương, Xuân Bình, Đồng Thổ, Xuân Lý
Cấu trúc: Thực vật còn lại chỉ là nhóm loài cây bụi như: Bồ cu vẽ (Breynia
fleuryi), Mua bà (Melastoma cadidum), Thẩu tấu (Aporosa microcalyx), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Cọc rào (Cleistanthus petelotii) Trạng thái này chúng ta
còn gặp ở ven Hồ Sông Mực với ưu thế là loài Mai dương (Mimosa pigra) Các lâm
phần của kiểu rừng này phân bố rải rác trên Vườn, diện tích nhỏ, đặc biệt các vùng bán ngập tại hồ sông Mực
- Kiểu rừng tre nứa xen với cây lá rộng
Kiểu rừng này phân bố rải rác khắp Vườn Ở kiểu rừng này Nứa chiếm ưu thế so với cây lá rộng, nhưng có nơi chỉ một vài cây bụi nứa xen lẫn với cây gỗ Tre
nứa ở Bến En chủ yếu là: Nứa (Schizotachyum funghomii), đôi khi xen lẫn một số Hóp gai (Bambusa Flexuos)…
4.2.1.2 Đa dạng hệ sinh thái
VQG Bến En có 3 hệ sinh thái chính như sau:
Hệ sinh thái rừng núi đất nhiệt đới đai thấp: Hệ sinh thái rừng núi đất ở đây
chủ yếu là rừng thứ sinh, cây gỗ có đường kính nhỏ Tuy nhiên, đây là trung tâm phân bổ của giống Lim xanh, đặc hữu nổi tiếng ở Việt Nam, có cây tuổi thọ đến vài trăm năm với đường kính gần 3m Ngoài ra còn có các loài cây gỗ quý hiếm như Chò chỉ, Vù hương, Sến mật, Vàng tâm, Lim xanh, Lát hoa, Trai lý, và những nhóm cây thân mềm như song, mây, giang, tre, Đặc biệt phong phú là có trên 300 loài cây dược liệu Đây là hệ sinh thái tập trung chủ yếu tài nguyên rừng của VQG trải khắp cả 3 phân khu chức năng của Vườn
Hệ sinh thái ngập nước: Vườn Quốc gia Bến En có hồ sông Mực rộng trên
2000 ha, là thủy vực của bốn con suối lớn trong vùng Sau khi xây dựng đập Mẩy năm 1979, hồ bị chia cắt thành hồ Thượng và hồ Hạ Trên hồ có 21 hòn đảo lớn, kết hợp với hệ thống hang động là nơi có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và khu vực Bắc Trung bộ Hồ sông Mực
Trang 31có khu hệ cá khá đa dạng với sản lượng cá cao Trong các năm từ 1983 đến 1987, sản lượng cá đánh bắt tăng lên từ 14 đến 30 tấn nhưng năm 1989 giảm xuống còn 7 tấn Năm 1993, đơn vị thuỷ sản ngừng hoạt động Người dân địa phương tiếp tục
đánh cá ở trên hồ và các hệ thuỷ liên quan đến hồ, mặc dù các hoạt động này đã vi
phạm tới các quy chế quản lý của Vườn Quốc gia Bến En.VQG Bến En là khu vực
cư trú của nhiều loài chim nước và số lượng cá thể rất lớn, đa dạng vệ thành phần loài Với hợp phần ngập nước như vây thì xứng đáng đề xuất Vườn Quốc gia Bến
En trở thành khu Ramsar của thế giới, khu thắng cảnh quốc gia
Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi : VQG Bến En chiếm tỷ lệ nhỏ, hầu hết các
trạng thái rừng thuộc hệ sinh thái này phần lớn bị tác động mạnh, hiện trạng còn lại chủ yếu cây gỗ trung bình và nhỏ, cây bụi, dây leo Tuy nhiên, đây là nơi được ghi nhận về mức độ đa dạng cao về số loài thực vật trên núi đá vôi, điển hình như ngành Mộc lan chiếm tỉ lệ lớn với nhiều loài cây có giá trị dược liệu
Ngoài 3 hệ sinh thái chính ở trên, VQG Bến En còn có hệ sinh thái bán ngập
và hệ sinh thái đất nông nghiệp:
Hệ sinh thái đất bán ngập: Do điều kiện địa hình đồi núi thấp, sau khi xây
dựng đập Mẫy năm 1979, một phần đồi thấp của Vườn bị ngập nước theo mùa hình thành nên hệ sinh thái đất bán ngập nước Thực vật chủ yếu của hệ sinh thái này là
cây Mai Dương (Mimosa pigra) và các dạng cây bụi khác, loài cây này đang ngày
càng xâm lấn rộng ra các khu vực khác của Vườn làm ảnh hưởng xâm hại tới tái sinh, sinh trưởng, phát triển của các loài cây bản địa, đây đang là một vấn đề cần phải quan tâm giải quyết trong thời gian tới
Hệ sinh thái đất nông nghiệp: hình thành chủ yếu do người dân địa phương
vén rừng làm nương rẫy trái phép và sống trong vùng lõi của Vườn, cây trồng chủ yếu là Mía, Sắn, Lúa được canh tác hàng năm Tuy nhiên, diện tích này chiếm tỉ lệ nhỏ Xây dựng nhà cửa, hạ tầng, thiếu quy hoạch
Danh lục thực vật VQG Bến En bao gồm 1.389 loài, 902 chi, 196 họ Có 4 loài thực vật mới của Việt nam được phát hiện ở Bến En là: Xâm cánh Bến En
(Glyptoetalum sclerocarpum (Kurz) M.A Lawson), Đậu khấu Bến En (Myristica
Trang 32yunanensis Y.H Li), Găng Bến En (Timonius arborea Elmer) và Cây họ gừng
(Distichochlamys benenica) phát hiện năm 2011 và được công nhận năm 2012
Kết quả nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật Bến En được thể hiện như trong bảng sau:
Số chi
Tỷ lệ (%)
Số loài
Tỷ
lệ (%)
Theo bảng trên cho thấy có 6 ngành thực vật được ghi nhận tại VQG, trong
đó ngành Hạt kín chiến ưu thế với 165 họ (84,2%), Dương xỉ 23 họ (11,7%)…
Kết quả thống kê ở bảng dưới đây cho thấy rõ hơn tính đa dạng của ngành thực vật hạt kín của VQG Bến En