NGUYỄN THỊ THÙY NGÂN Tên đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN XÃ QUYẾT THẮNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠ
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY NGÂN
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN XÃ QUYẾT THẮNG,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN NĂM 2010 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THÙY NGÂN
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN XÃ QUYẾT THẮNG,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN NĂM 2010 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thế Đặng
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn
tới thầy giáo - GS.TS Nguyễn Thế Đặng đã trực tiếp hướng dẫn trong suốt thời
gian tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản lí Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Quyết Thắng, văn phòng TN & MT xã Quyết Thắng, và các hộ nông dân trên địa bàn xã Quyết Thắng TP Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện Luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Ngân
Trang 4MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở pháp lý 4
2.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.2 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam 6
2.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 6
2.2.2 Đô thị hóa ở một số nước trên Thế giới 7
2.2.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 12
2.3 Những nghiên cứu về đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam 13
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.2 Nội dung nghiên cứu 16
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất
xã Quyết Thắng 16
3.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới quản lý, biến động
sử dụng đất trên địa bàn xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên 17
3.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới đời sống của
người dân trên địa bàn xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên 17
Trang 5dụng đất nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân trước sự phát triển của đô thị 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu số liệu 17
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 18
3.3.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 18
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất
xã Quyết Thắng 19
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng TP Thái Nguyên 19
4.1.2 Tài nguyên: 20
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 20
4.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên
và cảnh quan môi trường 25
4.1.4 Tình hình sử dụng đất tại xã Quyết Thắng – Thành Phố Thái Nguyên 25
4.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới quản lý đất
tại xã Quyêt Thắng 29
4.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới quản lý đất
tại xã Quyết Thắng 29
4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới biến động sử dụng đất
và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 30
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới đời sống của người dân
trên địa bàn xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên 36
4.3.1 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến thu nhập và việc làm của người dân 36
4.3.2 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến đời sống xã hội của người dân 44
4.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân trước sự phát triển
của đô thị 49
4.4.1 Thuận lợi 49
Trang 64.4.2 Khó khăn 51
4.4.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của
Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa xã Quyết Thắng 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Một số kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hoá ĐTH : Đô thị hoá GPMB : Giải phóng mặt bằng HĐH : Hiện đại hoá
KD-DV : Kinh doanh - dịch vụ
KT – XH : Kinh tế - xã hội SXKD : Sản xuất kinh doanh SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TP : Thành phố TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Uỷ ban nhân dân
XDCB : Xây dựng cơ bản XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất xã Quyết Thắng năm 2014 26
Bảng 4.2: Tình hình biến động đất đai của xã Quyết Thắng từ năm 2010 đến năm 2014 32
Bảng 4.3 Kết quả giao đất ở xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên 34
giai đoạn 2010 – 2014 34
Bảng 4.4 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp đến năm 2014 35
Bảng 4.5 Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 37
Bảng 4.6 Thu nhập bình quân của hộ từ 2010 – 2014 38
Bảng 4.7 Ý kiến của các hộ điều tra về xu hướng thay đổi thu nhập do tác động của đô thị hóa 40
Bảng 4.8 Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau đô thị hóa 41
Bảng 4.9 Kết quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm 42
Bảng 4.10: Các loại tài sản trong gia đình người nông dân bị thu hồi đất 43
Bảng 4.11 Nguồn lực của hộ trước và sau đô thị hóa 44
Bảng 4.12 Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ 45
Bảng 4.13 Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hóa 47
Bảng 4.14 Tác động của đô thị hóa đến xã hội và môi trường 48
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Cơ cấu sử dụng tiền bồi thường đất đai của hộ 45
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là
tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác
Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình phát triển
đô thị đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng
Thái Nguyên là thành phố lớn của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nước
ta, đang trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng Quá trình quá trình phát triển đô thị diễn ra trên bình diện rộng, đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội và kiến trúc của cả thành phố, xã Quyết Thắng cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó
Hoà theo xu thế, tốc độ phát triển đô thị đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và xã Quyết Thắng nói riêng Quá trình phát triển đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp tại
xã có những thay đổi đáng kể: diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được tiền tệ hóa theo quy luật của kinh tế thị trường Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp mà nhiều khi đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước - đó là tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật đô thị, ô nhiễm môi trường, thiếu vốn đầu tư,… Đặc biệt, đô thị phát triển không đúng định hướng, mục tiêu của Nhà nước do công tác xây dựng và quản lý quy hoạch chưa tốt Giá cả đất đô thị trên thị trường bất động sản có những biến động rất phức tạp, gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội Do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình phát triển đô thị, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn…
Trang 12Do ảnh hưởng của phát triển đô thị, đất đai ở thành phố Thái Nguyên cũng như tại xã Quyết Thắng biến động mạnh cả về mục đích và đối tượng sử dụng Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được tiền tệ hóa theo quy luật của kinh tế thị trường Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, đó
là tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật đô thị, ô nhiễm môi trường, thiếu vốn đầu tư,… Đặc biệt đô thị phát triển không đúng theo mục tiêu, định hướng của Nhà nước do công tác xây dựng và quản
lý quy hoạch còn yếu kém (trong đó có cả quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất) Giá cả đất đô thị trên thị trường bất động sản có những biến động rất phức tạp, gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội Do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị - xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn năm 2010 - 2014”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến đời sống người dân trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Trang 13- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân trước sự phát triển đô thị trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần đóng góp xây dựng cơ sở khoa học về đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển các KCN đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và đời sống, việc làm của người dân
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất chính sách tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống người dân cho xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư
- Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ
về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị
- Thông tư số 10/2008/TT-BXD ngày 22 tháng 04 năm 2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình
tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
2.1.1.2 Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên
- Quyết định số 930/2009/QĐ-UBND ngày 14 tháng 04 năm 2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Quyết định số 628/2010/QĐ-UBND ngày 08 tháng 04 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định một số chính sách cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 152.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1.2.1 Đô thị
Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 05 tháng 10 năm
2001 của chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau
Thứ nhất: là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000
người trở lên
Thứ ba: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên
trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển
Thứ tư: có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt
70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị
Thứ năm: có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất
và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/Km2 trở lên
2.1.2.2 Đô thị hóa
Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa (ĐTH) và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này
“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào cáo đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang
thành thị”
“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần làm tăng GDP nhưng
điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” (Nguyễn
Hồng Lân, 2004)
Trang 16ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh
tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật
ĐTH là hiện tượng kinh tế xã hội liên quan đến các dịch chuyển về mặt kinh t
ế xã hội, văn hoá, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ khoa học kĩ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động chuyển đổi nghề nghiệp hình thành các nghề nghiệp mới thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sống xã hội và văn hóa năng cao mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội
Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở
hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật
2.2 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới
ĐTH trên thế giới là một quá trình lịch sử xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị đó là :
Cuộc cách mạng đô thị lần thứ nhất diễn ra từ 8.000 năm trước Công
Nguyên, vào thời kỳ đồ đá mới, khi lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một khu định cư kiểu đô thị Là thành phố Jenricho, nằm ở phía bắc biển Chết, với dân số khoảng 600 người, hết sức nghèo nàn so với tiêu chuẩn hiện nay
Cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII ở châu Âu
và sau đó lan sang Bắc Mỹ là hệ quả tất yếu của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa,
từ thời điểm này quá trình ĐTH đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong lịch sử phát triển của nhân loại
Hiện nay các nhà khoa học còn nói đến cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba,
đang diễn ra trong các nước thuộc thế giới thứ 3 Cuộc cách mạng đô thị lần thứ 3 là
sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song nó có những nét độc đáo của những điều kiện không gian và thời gian mới
Trang 17Vậy theo thời gian những hiện tượng của quá trình ĐTH là: dòng di cư mạnh
mẽ từ nông thôn vào thành thị khiến cho tỷ lệ dân đô thị tăng nhanh, các đô thị lớn lên, phình to ra, đời sống xã hội dần mang tính đô thị hơn là nông thôn
Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về ĐTH thì trong tiến trình ĐTH từ nửa sau thế kỷ XX có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển
Hiện tại tỷ lệ ĐTH ở châu Á là 35%, châu Âu 75%, châu Phi 45%, Bắc Mỹ 90% và 80% ở Mỹ La Tinh.Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề bức xúc đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven
đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng… Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn
- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng có cơ sở xã hội thoả đáng…
2.2.2 Đô thị hóa ở một số nước trên Thế giới
*Malayxia
Khi mới giành được độc lập, nền kinh tế Malaysia ở trong tình trạng thấp kém Cơ cấu kinh tế rất mất cân đối, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, năm 1960 nông nghiệp chiếm 34,6% GDP trong thời kì 1961-1970 Malaysia thực hiện các kế hoạch 5 năm (1961-1965) và (1966-1970) Mục tiêu CNH giai đoạn này là tăng nhanh sản lượng lương thực và đa dạng hoá các mặt hàng nông sản xuất khẩu, vì vậy nhà nước đã giành 50% ngân sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp, đồng thời đầu tư cho một số dự án phát triển công nghiệp, chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn và xây dựng các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh để
Trang 18sơ chế nông phẩm Và đã có nhiều thành công lớn Đến năm 1970, Malaysia đã tự túc được 81% nhu cầu lương thực trong nước
Ở giai đoạn 1971- 1985 trong 3 kế hoạch 5 năm Malaysia chủ trương xây dựng công nghiệp đa dạng với công nghiệp chế tạo được ưu tiên phát triển Nhà nước còn chú trọng xây dựng các ngành công nghiệp nặng như chế biến dầu mỏ, luyện kim và mở rộng các cơ sở chế biến xuất khẩu Đồng thời Malaysia cũng đẩy mạnh đầu tư vào ngành khai thác và chế biến dầu mỏ nên thu nhập nhờ xuất khẩu dầu mỏ rất đáng kể năm 1970 đạt 164 triệu ringit, năm 1980 con số này là 6,7 tỷ
Bước sang giai đoạn phát triển mới, Chính phủ Malaysia đã soạn thảo kế hoạch phát triển công nghiệp 10 năm (1986-1995) Trong ngành công nghiệp, ở đây Chính phủ đề ra kế hoạch phát với các mục tiêu:
Phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân của công nghiệp chế tạo khoảng 9%/năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 6%/năm Tăng cường phát triển công nghệ thông tin, các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nguyên liệu trong nước được ưu tiên phát triển
Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ khâu nghiên cứu đến khâu áp dụng
Khuyến khích giáo dục đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ khoa học kỹ thuật để phát huy tối đa những lợi thế của đất nước
Từ năm 1995- nay, Malaysia đã lựa chọn mô hình phát triển công nghiệp theo hướng phân tán với quy mô vừa và nhỏ ở đô thị và nông thôn để đẩy nhanh tốc độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của lãnh thổ, thông qua huy động nguồn lực tại chỗ (vốn, lao động, tài nguyên) Do đó đã thúc đẩy sự hình thành các liên hợp nông- công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp Do sự phát triển công nghiệp xen kẽ, nên không còn ranh giới rõ rệt giữa thành thị và nông thôn, thu hút được lực lượng dư thừa ở nông thôn, làm cho nhiều
hộ nông dân từ thuần nông trở thành hộ kiêm ngành nghề Cơ cấu kinh tế nông thôn Malaysia có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, với 91% số hộ nông dân tham gia hoạt động công nghiệp, dịch vụ và thu nhập từ các hoạt động này chiếm 70% tổng thu nhập của các hộ nông dân Có thể hình dung các bước đi của CNH Malaysia theo một quy trình khép kín như sau: nông nghiệp - công nghiệp - công
Trang 19nghiệp - nông thôn - nông nghiệp Quy trình đó luôn gắn với mục tiêu giải phóng lao động nông nghiệp chuyển sang công nghiệp, tăng số lượng và chất lượng sản phẩm xã hội, tăng thu nhập cho nông dân, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa thành thị với nông thôn, khắc phục được xu hướng di cư từ nông thôn ra thành thị Đó là bài học đáng giá về sự lựa chọn bước
đi của quá trình CNH Malaysia (Ngô Đăng Thành, 2009)
*Pháp
Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa, tuy thể chế chính trị khác nhau nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai của Cộng Hòa Pháp còn khá rõ đối với nước ta Việc quản lý đất đai của Cộng Hòa Pháp có một số đặc trưng:
Về chế độ sở hữu trong quan hệ đất đai: Luật pháp quy định quyền sở hữu tài
sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu Nhà nước Tài sản công cộng có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Về công tác quy hoạch đô thị: Do đa số đất đai thuộc sở hữu tư nhân, vì vậy
để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm từ rất sớm và được thực hiện rất nghiêm ngặt Vào năm 1992, ở Pháp đã có quy định về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân và sự can thiệp ngày càng sâu sắc của Nhà nước, các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị
Về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai: Việc Quản lý Nhà nước về đất
đai của Pháp thực hiện rất chặt chẽ Được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ
sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất khoa học, mang tính thời sự
để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, thông tin về từng thửa đất được
mô tả đầy đủ về vị trí, kích thước Nó cung cấp đầy đủ thông tin về hiện trạng sử dụng đất, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, đảm
Trang 20bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng
* Hà lan
Hà Lan là một quốc gia phát triển Ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Amsterdam đã bắt đầu tiến trình ĐTH và nhanh chóng trở thành một thành phố có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị của Hà Lan Tuy mật độ dân số hiện nay ở thành phố có những nơi đạt trên 20.000 người/Km2 nhưng xung quanh thành phố vẫn tồn tại khoảng 600 khu vườn Diện tích vườn của Amsterdam chiếm đến 300 ha
trong tổng số diện tích 21.907 ha của thành phố
Những người nông dân ở thành phố Amsterdam đã thành lập tổ chức gọi là
“hội những người nông dân đô thị” và “hiệp hội những người làm vườn ở Amsterdam” Các hiệp hội đại diện cho tầng lớp nông dân thương lượng với Chính phủ trong việc duy trì sự tồn tại của các khu vườn trong quá trình ĐTH Hiệp hội những người làm vườn đã đưa ra lý luận về sự đa chức ngành của các khu vườn Các khu vườn được sử dụng để sản xuất lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu của toàn thành phố, đồng thời còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau để bình đẳng hoá các nhóm lợi ích như: cung cấp cho thị dân một không gian mới, giáo dục cho trẻ em về thiên nhiên và môi trường; làm gia tăng số lượng loài động vật, côn trùng và cây cỏ; duy trì “không gian xanh” cho thành phố, làm trong sạch khí hậu thành phố Vào năm 1995, khoảng 170 nông dân đã tổ chức “Diễn đàn đối thoại của nông dân vùng đất xám” Họ đã đưa ra những phân tích của mình về triển vọng kinh
tế dài hạn của vùng đất này nếu tiếp tục sản xuất nông nghiệp và thay đổi phương pháp sử dụng đất Họ đã đối thoại trực tiếp với Chính phủ và các tổ chức môi trường nhằm giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp
* Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dân khoảng 54 triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005, dân số đô thị nước này đã đạt tới
800 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỷ lệ bằng 37% Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75% Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu
người sống ở nông thôn vào sống ở đô thị
Trang 21Như vậy là một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vòng nông thôn lạc hậu và hiệu quả kém sang thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn, năng suất cao hơn, hiệu quả cao hơn Không những bản thân người lao động có mức sống khá hơn
mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sản xuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thành mâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc Nhiều hậu quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng đang thách đố các giải pháp và khả năng quản lý của nhà nước như thiếu nhà ở cho ngườ nghèo, sự phân hoá xã hội, việc sinh đẻ không thể kiểm soát, trật tự trị an kém, môi trường ô nhiễm kết cấu hạ tầng thiếu thốn,…
Mặt khác, trước đây Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệp hương trấn phân bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn một cách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm mất đi đặc điểm, ưu thế của nông thôn
Để đối phó với tình hình trên, nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếp tục giữ cững nguyên tắc phát triển hài hoà, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào ạt các đô thị lớn, làn sóng nhân công lưu động tràn vào thành phố quá lớn, làm xáo trộn hoạt động kinh tế Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc nay là: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loại vừa, phát triển có lựa
chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn
Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xây dựng
xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ phân tán trong phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện khẩu hiệu “ly điền bất ly hương”, “ly hương bất ly điền”, dần dần tiến tới phân công lao động theo chiều sâu Nhà nước cũng chủ trương phải có chính sách giảm bớt bạn đồng hành của việc phát triển các đô thị nhỏ, đó là sự tụt hậu về văn hoá giáo dục, trình độ quản lý, ô nhiễm môi trường, lấn chiếm nhiều đất canh tác
Tóm lại, kinh nghiệm ở một số nước cho thấy ĐTH không được bó hẹp trong phạm vi đô thị mà phải bao gồm cả địa bàn nông thôn Chúng ta còn phải phát triển mạng lưới đô thị hợp lý, xây dựng các đô thị có quy mô vừa phải, gắn kết với hệ thống
đô thị vệ tinh Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gắn ĐTH với quá trình CNH - HĐH đất nước Khi làm quy hoạch phát triển một thành phố cụ thể cần có kế hoạch xây dựng đồng bộ về nhà ở, kết cấu hạ tầng, hệ thống dịch vụ, hệ thống xử lý nước thải…
Trang 222.2.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
* Thời kỳ từ năm 1975 đến trước đổi mới
Trong giai đoạn này, quá trình ĐTH hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ
* Thời kỳ từ sau đổi mới
- Ở Việt Nam, quá trình CNH được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH, ĐTH diễn ra càng nhanh Đến nay số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm 2007
cả nước đã có 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3 ngàn ha Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình CNH và có tác động rõ đến phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh,
có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu
- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm
- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương
- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo an ninh xã hội khó kiểm soát
- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn…
Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng quá trình ĐTH vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có những ảnh
Trang 23hưởng tiêu cực Tích cực là vì nó tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp Tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng, mất đất nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ Lợi thế của nông nghiệp đô thị so với những vùng nông nghiệp khác không chỉ là điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu mà
là khoảng cách với thị trường Khai thác lợi thế này, nông nghiệp Hà Nội đang hướng đến việc sản xuất các sản phẩm tươi sống và có khối lượng lớn Nông nghiệp
đô thị Hà Nội đang phát triển hình thành các vành đai nông nghiệp khác nhau, được phân biệt bởi các mức độ đa dạng, khả năng thâm canh, khả năng thích ứng với những điều kiện mới của quá trình ĐTH ở mỗi vùng
2.3 Những nghiên cứu về đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình ĐTH trên thế giới và khu vực
Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành phố Barcelone, đặt ra thuật ngữ “urbanisacion” (sau này đã có trong tiếng Pháp:
“urbanization” – đô thị hoá) Ông tin rằng ĐTH là một kế hoạch và tồn tại nhiều nguyên lý cơ bản chi phối sự kiến thiết một đô thị Ông cũng ý thức về tầm quan trọng của việc quản lý thành phố một cách toàn diện với sự huy động kế hoạch về
nhiều lĩnh vực của quản lý đô thị Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu
khoa học đã có những quyết định khác nhau về các mô hình đô thị năm 1925, nhà
xã hội học Ernest Burgess (Mỹ) đã đem ra “mô hình làn sóng điện” Theo mô hình này thì thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng tâm Đặc điểm chung của
mô hình đô thị này là tất cả các lĩnh vực đều có xu hướng mở rộng “Mô hình thành phố đa cực” được hai nhà địa lý Marris và Ullman đưa ra vào năm 1945 Mô hình chủ yếu tính đổi các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của phương tiện giao
thông Vào năm 1939, “mô hình phát triển theo khu vực” do chuyên gia địa chính
Hamer Hoyt đưa ra chủ yếu tính đến các dạng đô thị phát triển với sự hiện đại hoá các quá trình giao thông và nhiều thành phần phát triển theo kiểu khu phố Có thể nói đây
là hệ thống hoàn chỉnh nhất vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn
Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị Francois Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là “thuyết về các cực tăng trưởng” Ông cho rằng chỉ ở trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các ngành công nghiệp, có sức bành chướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng Đây chính là quan
Trang 24điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm Tuy nhiên, theo nghiên cứu của David C Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm Ông cho rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng
cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ”
Trong nững năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có những công trình nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu về “tác động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình đô thị hoá đối với các vùng nông thôn xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “tri thức, thái độ hành vi ứng xử của
cộng đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị…”
Trong 20 năm qua, thực tế đã có khá nhiều nhà nghiên cứu thuộc các cơ quan, tổ chức phi chính phủ, các trường đại học trong và ngoài nước đến tiến hành nghiên cứu các thành phố Việt Nam Một số chủ đề nghiên cứu đã được giới thiệu như: vai trò của
xã hội công dân trong quản lý môi trường đô thị, các thành phần tham gia vào quá độ đô thị, vấn đề nghèo đói, di dân, tái định cư và quá trình hội nhập cuộc sống mới ở đô thị
Nhìn chung, những nghiên cứu chủ yếu tập trung tại hai thành phố lớn Hà Nội
và TP.HCM Một số nghiên cứu đã phân tích so sánh giữa hai thành phố hoặc với các nước láng giềng Thế nhưng, cách tiếp cận và cấp độ quan sát của nhiều ngành khiến cho các dữ liệu được nghiên cứu và phổ biến ở Việt Nam bị phân tán
Phát triển để trở thành nước công nghiệp, các đô thị Việt Nam đang gợi ra nhiều hướng nghiên cứu đòi hỏi các cấp độ quan sát và tiếp cận phân tích khác nhau Trong
công trình “Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ” đã gợi mở nhiều chủ đề rất đáng quan
tâm: cần nghiên cứu có hệ thống về quá độ đô thị để làm nổi bật những nét độc đáo của mỗi thành phố như Hà Nội, TP.HCM và các thành phố loại hai như Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các chủ đề nảy sinh trong khuôn khổ các chính sách đô thị, các lĩnh vực quy hoạch, thu hồi đất đai, đền bù và tái định cư; các chính sách trong lĩnh vực nhà ở đô thị cho mục đích xã hội vẫn là những lĩnh vực cần được nghiên cứu sâu hơn, nhất là đối với những tác động của quá độ kinh tế, của tự do hóa thị trường nhà ở và triển vọng về nhu cầu nhà ở của xã hội trong thời kỳ đô thị hóa Môi trường đô thị, di dân và nghèo đói là những chủ đề rất thú vị khi so sánh các vấn đề môi trường với tình trạng di cư và nghèo đói; giao thông đô thị và sự an toàn: phương tiện đi lại, các tệ nạn luôn là vấn đề lớn của người nghèo, người thu nhập thấp và cũng là gánh nặng cho hệ thống y tế
Trang 25Những đề tài nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói trên và cuộc sống, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội nói chung Tháng 11/2004, bộ xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, đây là một chiến lược quan trọng mà Việt Nam
đang tích cực triển khai thực hiện
Trang 26Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biến động đất nông nghiệp của xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
- Đời sống kinh tế của hộ dân tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian : Các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 2010 - 2014
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 15 tháng 8 năm 2014 đến ngày 30 tháng 11 năm 2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất xã Quyết Thắng
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên
-Vị trí địa lí
- Địa hình, địa mạo
- Khí hậu
- Thủy văn
- Tài nguyên thiên nhiên
3.2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
- Cơ cấu kinh tế
- Phát triển dân số và cơ cấu lao động
Trang 273.2.1.3 Tình hình sử dụng đất tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
- Tình hình sử dụng đất tại xã Quyết Thắng
3.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới quản lý, biến động sử dụng đất trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới quản lí đất tại xã Quyết Thắng
- Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới biến động sử dụng đất và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
-Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới cơ cấu đất nông nghiệp
3.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới đời sống của người dân trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
3.2.3.1 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến thu nhập và việc làm của người dân
i) Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến thu nhập của người dân
ii) Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến việc làm của người dân
3.2.3.2 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến đời sống xã hội của người dân
i) Ảnh hưởng đến đời sống hộ gia đình
ii) Ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội khác
3.2.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân trước sự phát triển của đô thị
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu số liệu
Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm:
Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, về đất đai
Thu thập tài liệu, số liệu về môi trường, lao động, việc làm
Thu thâp tại ủy ban nhân dân xã, các ban thông kê ,Tài Nguyên môi trương, nông nghiêp
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp:
Trang 28Quy mô đất nông nghiệp của hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất
Thu nhập, đời sống, việc làm của hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất
Ý kiến của người dân về vấn đề sử dụng đất, đời sống, việc làm, môi trường trước sự phát triển của đô thị
Số lượng phiếu điều tra nông hộ để điều tra tổng thể đời sống, thu nhập người dân khoảng 50 phiếu
Số hộ điều tra được chia thành 3 nhóm sau:
Nhóm hộ I (Không bị thu hồi đất)
Nhóm hộ II (Bị thu hồi <30% diện tích đất đang sử dụng)
Nhóm hộ III (Bị thu hồi 30- 70% diện tích đất đang sử dụng)
Nhóm hộ IV (Bị thu hồi 70-100% diện tích đất đang sử dụng)
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp thống kê so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này cho phép ta phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định đồng thời giúp ta phân tích được các động thái phát triển của chúng
Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi sử dụng các phương pháp có được một kết luận hoàn thiện, đầy
đủ, vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận thức tổng hợp
3.3.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Để nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp, đời sống, thu nhập của các
hộ nông dân, căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên (đất đai, vị trí địa lý, ) và các điều kiện kinh tế, xã hội (dân số, mật độ dân số, cơ cấu kinh tế )
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất xã Quyết Thắng
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng TP Thái Nguyên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
- Phía Bắc: Giáp xã Phúc Hà, phường Quán Triều;
- Phía Nam: giáp xã Thịnh Đức;
- Phía Đông: giáp phường Thịnh Đán;
- Phía Tây: giáp xã Phúc Xuân
- Xã Quyết Thắng có vị trí thuận lợi về giao thông Ngoài đường tránh Quốc
lộ 3, xã còn có đường tỉnh lộ 270 và tỉnh lộ 267 nằm một trong những tuyến giao thông huyết mạch dẫn vào điểm du lịch hồ Núi Cốc
4.1.1.2 Diện tích tự nhiên
Quyết Thắng có tổng diện tích tự nhiên là 1.155,52 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp 793,31 ha, chiếm 68,65%, nhóm đất phi nông nghiệp 347,47 ha, chiếm 30,06%, đất chưa sử dụng là 14,74 ha, chiếm 1,28% Đất đai của xã Quyết Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ
4.1.1.3 Đặc điểm địa hình, khí hậu
- Địa hình: So với mặt bằng chung các xã thuộc thành phố Thái Nguyên, xã Quyết Thắng có địa hình tương đối bằng phẳng, dạng đồi bát úp, xen kẽ là các điểm dân cư và đồng ruộng, địa hình có xu hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Độ cao trung bình từ 5 - 6 m Nhìn chung địa hình của xã khá thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại hình sản xuất nông nghiệp
- Khí hậu: Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho thấy xã Quyết Thắng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 304.1.2 Tài nguyên
4.1.2.1 Tài nguyên đất
- Quyết Thắng có tổng diện tích tự nhiên là 1.155,52 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp 793,31 ha, chiếm 68,65%, nhóm đất phi nông nghiệp 347,47 ha, chiếm 30,06%, đất chưa sử dụng là 14,74 ha, chiếm 1,28% Đất đai của xã Quyết Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ
4.1.2.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp là kênh đào Núi Cốc và một số con suối, hệ thống mương tưới, tiêu và ao, hồ với trữ lượng khá trải đều trên địa bàn xã
- Nguồn nước ngầm: Đã được đưa vào sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong xã Mực nước ngầm xuất hiện sâu từ 23 - 25 m, được nhân dân trong
xã khai thác và sử dụng
4.1.2.3 Các nguồn tài nguyên khác
- Tài nguyên nhân văn: Là một xã có 7 dân tộc sinh sống gồm; Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hmông, Sán Dìu, Hoa, trong đó có 83 hộ theo đạo Thiên chúa giáo, tuy nhiên tập trung chủ yếu là người kinh, từ nhiều miền quê hội tụ, do vậy phong tục tập quán rất đa dạng Trình độ dân trí so với các xã của thành phố ở mức cao, giàu truyền thống cách mạng, người dân cần cù chịu khó, có đội ngũ cán bộ có trình độ, năng động nhiệt tình, lãnh đạo các mặt Chính trị, Kinh tế - xã hội, xây dựng xã Quyết Thắng trở thành một xã giàu mạnh
- Tuy nhiên xã vẫn chưa có các lợi thế nổi bật về tài nguyên nhân văn như: truyền thống khoa bảng, lễ hội nổi tiếng
4.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
- Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây kinh tế của Quyết Thắng phát triển mạnh, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch đúng hướng, chính sách kinh tế cụ thể của xã đã thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình
Trang 31Quyết Thắng là một xã có nền sản xuất chính là nông nghiệp bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Trong những năm gần đây, ngành nghề kinh doanh dịch vụ trên địa bàn xã khá phát triển, đã giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động mang lại thu nhập cho người dân
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiện tại cơ cấu kinh tế của xã vẫn nặng về nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn diễn ra chậm, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, thương mại và dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu giao thương, mua bán của nhân dân trong xã Trong những năm tới xã phấn đấu đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần quan trọng trong việc đưa nền kinh
tế của xã phát triển, nâng cao đời sống nhân dân và giữ vững chính trị quốc phòng
an ninh
- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
- Khu vực kinh tế nông nghiệp
* Sản xuất nông nghiệp
a Trồng trọt:
Ngành trồng trọt chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu kinh tế kể từ khi có Luật Đất đai năm 1993 ra đời Việc giao đất cho người dân sử dụng ổn định lâu dài được thực hiện, đã tạo cơ sở lòng tin cho người dân yên tâm sản xuất Người dân đầu tư khai thác tiềm năng đất đai một cách đúng mức, hợp lý và mang lại hiệu quả kinh tế Trong những năm gần đây dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã sản xuất nông nghiệp của Quyết Thắng đã phát triển một cách nhanh chóng
- Về cây lúa: Diện tích lúa chiêm xuân có 168,40 ha, năng suất đạt 42,42 tạ/ha, lúa mùa 279,3 ha, năng suất đạt 42,38 tạ/ha Tổng diện tích lúa cả năm 447,70
ha, năng suất bình quân đạt 42,40 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực cả năm là 1.906,42 tấn
- Về diện tích ngô là 35,00 ha, năng suất 40 tạ/ha, diện tích trồng tre bát bộ 1,25 ha, diện tích chè 110,90 ha, diện tích trồng cỏ 3,50 ha
b Chăn nuôi
Toàn xã có tổng đàn trâu 579 con, đàn bò sinh sản và bò thịt 172 con, đàn lợn thịt 9.500 con, lợn nái 500 con Trong những năm gần đây số lượng và chất lượng đàn gia súc tăng mạnh theo từng năm, điều đó cho thấy được sự phát triển
Trang 32của ngành chăn nuôi trên địa bàn xã, đối với đàn gia cầm, cũng như tình trạng chung của cả nước do ảnh hưởng của dịch cúm gà nên phát triển chậm, trong năm
2005 xã đã tổ chức tiêm phòng dịch cúm gà 2 đợt với số lượng 34.141 con
* Các ngành nghề dịch vụ khác
Tiểu thủ công nghiệp đã và đang có sự phát triển đa ngành nghề ở từng quy
mô khác nhau, một số ngành nghề có tốc độ tăng trưởng khá như: chế biến chè khô,
cơ khí, gò hàn, mộc, xây dựng, sửa chữa xe máy, xay xát, … giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ của xã
Dịch vụ thương mại cũng đang từng bước phát triển tốt, nhân dân tập trung và chủ động mở nhiều cửa hàng vừa và nhỏ, tổng mức luân chuyển hàng hoá trên địa bàn và tổng mức bán lẻ hàng năm đều tăng, hàng hoá phong phú,
đa chủng loại, giá cả ổn định góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân Các dịch vụ vật tư nông nghiệp, dịch vụ bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ ăn uống…, đã góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, giải quyết việc làm
- Dân số - lao động và việc làm
* Dân số
Dân số năm 2005 của xã là 10.474 khẩu với 1.994 hộ (trong đó có 84 hộ theo đạo Thiên chúa giáo), bao gồm nhiều dân tộc anh em chung sống: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hmông, Sán Dìu, Hoa…Trong đó chủ yếu là dân tộc kinh, với 9.782 khẩu
* Lao động, việc làm và thu nhập
Quyết Thắng có một lực lượng lao động khá dồi dào, nền kinh tế của xã phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, theo tính chất chung của ngành nông nghiệp là mang tính thời vụ nên tình trạng lao động thiếu việc làm khi mùa vụ xong, một số
bộ phận đi làm ăn nơi khác, còn lại một lượng lớn lao động dư thừa không có việc làm Phần lớn lao động của xã chưa được đào tạo cơ bản, do đó dù số lượng lao động dồi dào, nhưng số lượng lao động đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công việc có ứng dụng trang thiết bị hiện đại lại thấp Việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động trong những năm tới cần phải có kế hoạch đào tạo tại chỗ để đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành Mặt khác, trong những năm gần đây chủ trương của
xã luôn khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho lao động tại
Trang 33xã, góp phần tăng thu nhập nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân trong xã
- Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Do tính chất của địa hình, dân cư phân bố không tập trung, nằm trải khắp trên toàn diện tích đất đai của xã, xen kẽ với đồng ruộng và những quả đồi Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa các xóm Dân cư được hình thành và phát triển những năm trước đây theo tính tự phát, do vậy nhu về cầu diện tích đất ở trong các khu dân
cư lớn phát triển theo hình thức tự phát, điều đó tạo nên nhiều điểm dân cư phân tán nhỏ lẻ, chia cắt diện tích đất canh tác, gây khó khăn cũng như hạn chế đến hiệu quả
sử dụng đất trong sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Tổng diện tích đất giao thông theo kiểm kê 2005 có 159,04 ha, trên địa bàn xã
có khoảng 4 km trục đường Hồ Núi Cốc (Tỉnh lộ 260) được rải nhựa, đây là một lợi thế
về giao thông, giao lưu hàng hoá của nhân dân với các vùng lân cận Bên cạnh đó, xã còn có hệ thống đường liên thôn, liên xã đã cơ bản được rải cấp phối, bê tông hoá trong khu dân cư thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
* Thuỷ lợi
Diện tích đất thuỷ lợi của xã hiện tại là 31,89 ha, với hệ thống dày đặc kênh mương phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, trong những năm qua nhiều tuyến đã được cứng hoá, đặc biệt là tuyến N7A, tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn cho sản xuất, trong thời gian tới xã sẽ tiếp tục nâng cấp mở rộng, mở mới, nạo vét kết hợp với cứng hoá những tuyến mương chính để phục vụ cho sản xuất được thuận lợi hơn
* Y tế
Xã có trạm y tế nằm trong khuân viên của UBND xã, với đội ngũ cán bộ nhiệt tình Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn được duy trì thường xuyên, liên tục và chất lượng ngày càng được nâng cao, đã được đầu tư trang thiết bị phục vụ nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân Trạm luôn làm tốt chế độ thường trực, khám và điều trị bệnh nhân tại trạm và tại gia
Trang 34đình bệnh nhân Thực hiện tốt tiêm chủng mở rộng, quản lý các bệnh xã hội, phòng ngừa không để dịch bệnh phát sinh và lây lan
* Giáo dục - Đào tạo
Diện tích đất giáo dục của xã hiện tại là 56,87 ha Trên địa bàn xã có trường Đại học Thái Nguyên Trong những năm qua, do nhận thức được tầm quan trọng của ngành giáo dục, chính quyền xã đã đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục, xây dựng trường lớp khang trang, trang thiết bị đồ dùng giảng dạy từng bước đáp ứng được nhu cầu dạy và học
Trường mầm non duy trì 3 lớp học, với 81 cháu, trường tiểu học có 462 học sinh, trường trung học cơ sở có 387 học sinh Các phong trào của nhà trường đều hoạt động tốt, phát động các phong trào thi đua nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn đạt kết quả cao, huy động 100% trẻ em đến đến trường đúng độ tuổi
* Văn hoá - thể dục thể thao
Năm 2005 xã Quyết Thắng được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng LLVTND thời kỳ kháng chiến chống mỹ cứu nước" Phong trào hoạt động văn
hoá - văn nghệ, TDTT luôn được giữ vững và phát triển, các câu lạc bộ văn thể hoạt
động đều, hình thức hoạt động đa dạng, phong phú Phong trào "Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" được toàn dân hưởng ứng Thực hiện các
đề án phát triển văn hoá, trọng tâm là xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, lành mạnh hoá việc hiếu hỷ, lễ hội, bài trừ mê tín dị đoan, số hộ được công nhận gia đình văn hoá năm 2005 là 1.121 hộ Xây dựng quy ước hoạt động của xóm văn hóa, được thành phố công nhân 10/10 xóm văn hóa
Công tác văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, thông tin truyền thanh ngày càng đổi mới, phát triển mở rộng phong trào văn nghệ quần chúng, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, xã đã tổ chức thành công đại hội thể dục, thể thao lần thứ 2, các môn thể thao được duy trì phát triển mạnh là bóng đá, bóng chuyền, cầu lông
* Năng lượng - Bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông: Xã đã xây dựng điểm bưu điện văn hoá, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc, số hộ có điện thoại nhà riêng tăng lên, cung cấp sách, báo phục vụ thông tin cho nhân dân ngày một tốt hơn
Năng lượng điện: Xã đã có nhiều cố gắng phối hợp với ngành điện trong công tác quản lý điện, điều tiết nguồn điện từ các trạm biến áp đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân
Trang 35- An ninh quốc phòng
Thực hiện pháp lệnh về dân quân tự vệ - dự bị động viên và công an nhân dân, lực lượng quốc phòng an ninh của xã thường xuyên được củng cố đủ về số lượng, chất lượng Hàng năm tổ chức huấn luyện, tập huấn chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ Đây là lực lượng nòng cốt trong giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội Thực hiện chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý, tăng cường công tác tuyên truyền, tổ chức liên kết: Công an + Cựu chiến binh + Thanh niên; Công an + Thanh niên + Nhà trường để phòng chống tội phạm ma tuý Xã đã tiến hành quản lý tốt công tác hành chính, nhân khẩu giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn, phát động quần chúng tham gia phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội, phong trào an toàn giao thông, kế hoạch phòng chữa cháy, chống bão lụt…
Xóm : Gồm Xóm 10, Nước 2, Sơn Tiến, Nam Thành, Trung Thành, Bắc Thành, Cây Xanh, Thái Sơn 1, Thái Sơn 2, Gò Móc
4.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường
4.1.4.1 Những thuận lợi
- Là một xã vệ tinh nằm gần trung tâm thành phố, có đường Hồ Núi Cốc
(tỉnh lộ 260) chạy qua đã tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế,
văn hoá xã hội với các, xã khác trong thành phố, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hoá
- Địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, điều kiện khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ và bố trí cơ cấu cây trồng, là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng tập trung thành các vùng chuyên canh lớn, sản xuất lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày và rau màu, hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao
- Hệ thống giao thông nông thôn tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và đi lại của nhân dân
Được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã, nhân dân xã Quyết Thắng cần cù, chịu khó, ham học hỏi, sáng tạo và đoàn kết, có đội ngũ cán bộ quản