1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp

107 707 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết quả nghiên cứu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luâ ̣n nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên p

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THỦY

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC PHỤC VỤ

PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THỦY

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC PHỤC VỤ

PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên

Mã số: 60 44 02 17

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn có tên: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp” được hoàn thành tại khoa

Địa lý, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm

túc, sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Tác giả xin bày tỏ lòng kính

trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Hồng - người đã thường xuyên dạy

dỗ, khuyến khích, động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự chỉ đạo, động viên, đóng góp ý kiến của các thầy cô, các nhà khoa học trong khoa Địa lý - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến cán bộ của Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, Cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, phòng Tài nguyên môi trường huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ trong thời gian tác giả tiến hành nghiên cứu và thực địa tại địa phương

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, lãnh đạo khoa Địa lý, phòng sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4

5 Cơ sở dữ liệu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC 9

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu cảnh quan trên Thế giới 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 13

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho phát triển nông - lâm nghiệp 14

1.2.1 Quan niệm về cảnh quan 14

1.2.2 Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan 16

1.2.3 Lý luận chung về đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) 23

1.2.4 Các hệ thống phân loại phổ biến trong nghiên cứu CQ 28

Trang 6

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu cảnh quan phục vụ phát triển bền

vững nông, lâm nghiệp 31

1.3.1 Định hướng sử dụng CQ cho phát triển nông - lâm nghiệp 31

1.3.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu cảnh quan của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 32

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC 34

2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 34

2.1.1 Vị trí địa lý 34

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.3 Những hoạt động dân sinh 48

2.1.4 Đánh giá chung về nguồn lực 52

2.2.2 Đặc điểm chức năng cảnh quan huyện Lập Thạch 63

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN HUYỆN LẬP THẠCH VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP 67

3.1 Phân hạng mức độ thích nghi sinh thái 67

3.1.1 Nguyên tắc và phương pháp đánh giá 67

3.1.2 Chỉ tiêu đánh giá cảnh quan 68

3.2 Đánh giá cảnh quan cho các ngành sản xuất nông - lâm nghiệp 70

3.2.1 Ngành sản xuất nông nghiệp 71

3.2.2 Ngành sản xuất lâm nghiệp 76

3.3 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp 81

3.4 Định hướng sử dụng không gian lãnh thổ huyện Lập Thạch cho phát triển nông - lâm nghiệp 83

3.4.1 Quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp 84

3.5.2 Định hướng sử dụng không gian lãnh thổ huyện Lập Thạch cho phát triển nông - lâm nghiệp 85

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐCQ Bản đồ cảnh quan BVMT Bảo vệ môi trường

CQ Cảnh quan ĐGCQ Đánh giá cảnh quan ĐKTN Điều kiện tự nhiên

DT Doanh thu

KT - XH Kinh tế - Xã hội NCCQ Nghiên cứu cảnh quan NLKH Nông lâm kết hợp NLN Nông lâm nghiệp

SX Sản xuất

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

TT Thị trấn UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh các điều kiện địa lý, cấu trúc CQ và hoạt động SXNLN 19

Bảng 2.1: So sánh một số chỉ tiêu đất nông nghiệp 44

Bảng 2.2: Biến động sử dụng đất đai giai đoạn 2000 - 2010 45

Bảng 2.3: Các phụ lớp CQ và độ cao địa hình 56

Bảng 3.1: Tổng hợp đánh giá riêng các chỉ tiêu của CQ đối với sản xuất nông nghiệp 73

Bảng 3.2: Kết quả đánh giá cho nông nghiệp 74

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả đánh giá chung của các loại cảnh quan cho ngành nông nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 75

Bảng 3.4: Tổng hợp đánh giá riêng các chỉ tiêu của CQ đối với sản xuất lâm nghiệp 78

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá tổng hợp cho phát triển lâm nghiệp 79

Bảng 3.6: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá ngành sản xuất nông, lâm nghiệp 80

Bảng 3.7: Kết quả đánh giá tổng hợp các loại CQ cho phát triển nông, lâm nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 82

Bảng 3.8: Kết cấu một số mô hình nông - lâm kết hợp 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình đánh giá cảnh quan 27

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Lập Thạch 35

Hình 2.2 Bản đồ địa hình huyện Lập Thạch 37

Hình 2.3 Biểu diễn nhiệt độ trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 39

Hình 2.4 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 40

Hình 2.5 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Lập Thạch 42

Hình 2.6 Bản đồ thảm thực vật huyện Lập Thạch 47

Hình 2.7 Bản đồ cảnh quan huyện Lập Thạch 58

Hình 3.1 Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển nông nghiệp huyện Lập Thạch 76

Hình 3.2 Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển lâm nghiệp huyện Lập Thạch 81

Hình 3.3 Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển tổng hợp nông lâm nghiệp huyện Lập Thạch 83

Hình 3.4 Sơ đồ: Vòng xoáy đói nghèo của người dân miền núi 86

Hình 3.5 Sơ đồ Lợi ích KT - XH và môi trường của mô hình NLKH 86

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập kinh tế thế giới ngoài việc tạo ra cho Việt Nam vô vàn cơ hội hợp tác, phát triển với các nước trong khu vực ASEAN và mở rộng thị trường sang các nước khác trên thế giới còn đem đến những khó khăn, thách thức đòi hỏi sự tỉnh táo, quyết đoán thông minh, ứng phó khôn khéo ở các nhà quản lý nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng việc giảm tỉ trọng ở nhóm ngành nông nghiệp tăng tỉ trọng các nhóm ngành công nghiệp

và dịch vụ rõ ràng đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, giúp chúng ta khẳng định được vị thế của mình trên đấu trường quốc tế trong đó có những mặt hàng đã có chỗ đứng, thương hiệu riêng biệt của Việt Nam mà phải kể đến ở đây là các mặt hàng nông sản như cà phê, tiêu, hay các mặt hàng thủy hải sản,

Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, hiện nay ngành nông - lâm nghiệp của tỉnh không

chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP toàn tỉnh (chỉ chiếm 10,69 % năm 2013 - nguồn

Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc (IPA Vinh Phuc)) Tuy nhiên nắm bắt

được sự cần thiết của nhóm ngành nông - lâm nghiệp nên tỉnh Vĩnh Phúc mặc dù vẫn hướng tới mục đích phát triển kinh tế theo con đường công nghiệp song bên cạnh đó

đã rất chú trọng tới việc nghiên cứu làm sao để sản lượng, chất lượng nông - lâm nghiệp trong toàn tỉnh luôn ổn định tạo công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn ở vùng trung du và miền núi

Để phát triển nông - lâm nghiệp ngoài kinh nghiệm, trình độ của con người thì các nhân tố tự nhiên đóng một vai trò hết sức quan trọng

Là huyện miền núi phía Tây Bắc, nghèo nhất nhì của tỉnh Vĩnh Phúc, Lập Thạch có diện tích đất đồi, rừng tương đối lớn, nét đặc trưng này cũng là những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế của huyện Dù điều kiện khó khăn như vậy, người dân ở đây đã chinh phục được thiên nhiên, biến những khu đất đồi rộng lớn, sỏi

đá, bạc màu thành những khu kinh tế mang giá trị kinh tế cao Với tiềm năng đất đai, khí hậu, tài nguyên phong phú, Lập Thạch hội tụ tất cả các điều kiện để phát triển toàn diện các ngành kinh tế cả nông, lâm nghiệp và du lịch Đặc biệt là khí hậu và đất đai

Trang 11

đã tạo nên những điều kiện để huyện phát triển đa dạng các giống cây trồng, vật nuôi, các vùng chiêm trũng ven sông, các hồ trong huyện đang được chú trọng phát triển chăn thả thủy sản, chủ yếu là cá Một loại nông sản trở thành loại cây hàng hóa giảm nghèo bậc nhất của Lập Thạch chính là trái thanh long Ngoài ra, các cây lương thực, cây nguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, mía vẫn được duy trì

và phát triển Một số cây công nghiệp dài ngày đang dần được thu hẹp về diện tích để nhường chỗ cho các giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như: nhãn, vải, hồng, xoài Vào mùa hè, khi đi qua hầu như bất kỳ con ngõ nhỏ nào, chúng ta đều có thể cảm nhận được hương vị của mít, na, nhãn, vải Cùng với vị ngọt thơm của những đồi quả chín, Lập Thạch hôm nay còn trải rộng màu xanh mát mắt của những cánh đồng rau màu Những giống cây trồng như bí đỏ, bí xanh, dưa chuột và đỗ cove đã mang lại màu xanh

no ấm cho nhiều cánh đồng cao sản trên địa bàn huyện Tuy nhiên, việc quan tâm đầu

tư để khai thác các nguồn lực của huyện phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế hiện nay còn chưa tương xứng Tuy tiềm năng để phát triển kinh tế của huyện rất mạnh nhưng công tác khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó còn thiếu tính lâu dài và đồng

bộ trên toàn khu vực, thiếu cơ sở khoa học Để có quy hoạch phát triển kinh tế bền vững, phát huy được thế mạnh của huyện, cần có những nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc đi ̣nh hướng phát triển, nâng cao năng suất, chất lươ ̣ng, giá trị sản phẩm nông - lâm nghiệp, đảm bảo phát triển bền

vững kinh tế - xã hội của huyện Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp” nhằm góp phần khai thác tốt các tiềm năng tự nhiên phục vụ chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu

- Nghiên cứu đặc điểm phân hóa CQ huyện Lập Thạch, làm sáng tỏ tiềm năng

và thực trạng khai thác tài nguyên của huyện

- Xác lập luận cứ khoa học cho phát triển nông - lâm nghiệp huyện Lập Thạch, trên cơ sở phân tích, đánh giá cảnh quan Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển ngành nông - lâm nghiệp của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 12

2.2 Nhiệm vụ

Để hoàn thành những mục tiêu trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Xác định cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Thu thập các dữ liệu, số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan ở vùng nghiên cứu

- Phân tích đặc điểm, sự phân hóa các hợp phần tự nhiên, xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan huyện Lập Thạch tỷ lệ 1:100.000 làm cơ sở để đánh giá cho các loại hình sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu trên lãnh thổ nghiên cứu

- Tiến hành xây dựng bản đồ phân hạng mức độ thích hợp tiềm năng sinh thái

tự nhiên đối với cây trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp cho huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

- Đánh giá cảnh quan huyện Lập Thạch cho mục đích phát triển nông - lâm nghiệp

- Đề xuất một số định hướng khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, tổ chức không gian phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng bền vững huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Về không gian, thời gian

- Bao gồm toàn bộ phần diện tích của huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

- Về mặt thời gian: Luận văn sử dụng các số liệu từ năm 2005 cho đến nay

3.2 Về nội dung

- Đối tượng là các nhân tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới sự phát triển và

hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

- Luận văn nghiên cứu sự phân hóa điều kiện tự nhiên trong địa bàn huyện Lập Thạch để thành lập bản đồ cảnh quan tỷ lệ 1:100.000

- Luận văn đi sâu nghiên cứu, đánh giá loại cảnh quan huyện Lập Thạch Từ đó, xác định mức độ thuận lợi hay không thuận lợi của từng loại cảnh quan đối với sản xuất nông, lâm nghiệp và đề xuất định hướng không gian phát triển bền vững cho lĩnh vực nông, lâm nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 13

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

* Quan điểm tổng hợp

Quan điểm tổng hợp là quan điểm chủ đạo, giữ vai trò kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu địa lý mà các đối tượng được nằm trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau Quan điểm tổng hợp yêu cầu và đặt ra cho các nhà nghiên cứu phải nhìn nhận sự vật hiện tượng địa lý trong mối quan hệ tương tác nhau bởi mỗi một sự vật hiện tượng trong giới vô cơ và hữu cơ đều có những quy luật vận động phức tạp Các ngành kinh tế phát triển trên cơ sở hệ thống tương đối toàn diện từ nguồn lực tự nhiên cho đến các nguồn lực kinh tế xã hội Mỗi ngành kinh tế có tính đặc thù riêng, tuy nhiên, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải đảm bảo mối quan hệ liên ngành, tổng hợp có hệ thống của các thành phần kinh tế

Như vậy, khi nghiên cứu tới cấu trúc, chức năng để đánh giá thuận lợi và khó khăn của huyện Lập Thạch chúng ta không chỉ xem xét từng bộ phận của tự nhiên

mà phải nghiên cứu một cách toàn diện các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

và các mối quan hệ tương tác giữa chúng Ngoài ra chúng ta cũng cần chú ý đến các điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường trong mối quan hệ tổng hợp với các điều kiện

tự nhiên để từ đó đề xuất các định hướng bố trí không gian sản xuất nông, lâm nghiệp thích hợp với từng điều kiện của các xã trong huyện Lập Thạch

* Quan điểm hệ thống

Quan điểm hệ thống chính là cơ sở cho phép xác định lãnh thổ nghiên cứu là một hệ thống lớn chứa đựng các hệ thống con trong nó, đồng thời cũng là hệ thống con trong mối liên hệ với các lãnh thổ cấp cao hơn, tạo nên sự phân hóa đa dạng của lãnh thổ Hệ địa sinh thái là một hệ thống động lực hở và tự điều chỉnh có ranh giới xác định và có sự thống nhất biện chứng giữa các thành phần cấu tạo

Quan điểm hệ thống là quan điểm khoa học chung, phổ biến và là đặc trưng của địa lý học Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động khai thác - sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội huyện Lập Thạch Bên cạnh đó, hệ địa sinh thái huyện Lập Thạch cũng là một hệ thống động lực có khả năng thay đổi theo thời gian vì vậy cần có sự quan tâm đúng mức khi

Trang 14

tiến hành phân tích, đánh giá, vạch ranh giới các đơn vị CQ trong một thời gian phù hợp, cụ thể nhằm phân tích đánh giá và đưa ra các định hướng sản xuất nông, lâm nghiệp đúng đắn trên địa bàn huyện Lập Thạch

* Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ là quan điểm mang tính đặc thù của các đối tượng, hiện tượng địa lí hay nói một cách khác mọi sự vật hiện tượng đều có sự phát sinh, phát triển trên một lãnh thổ nhất định, chúng có sự phân hoá không gian nội tại nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các lãnh thổ xung quanh về cả tự nhiên và kinh tế xã hội

Mỗi cảnh quan đều phát sinh và hình thành phát triển gắn với một không gian

cụ thể, sự thay đổi bất cứ một thành phần tự nhiên trong một bộ phận lãnh thổ từ miền núi hay vùng gò đồi cũng đều có liên quan đến các bộ phận lãnh thổ khu vực đồng bằng và ngược lại Vì vậy quan điểm lãnh thổ được vận dụng để tiến hành nghiên cứu cảnh quan huyện Lập Thạch và đặt trong mối liên hệ cho việc xây dựng chiến lược kinh tế đồng bộ của toàn tỉnh Vĩnh Phúc

* Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững luôn là một vấn đề mang tính thời đại ở bất kỳ một lãnh thổ nào trên thế giới Đối với các vùng núi nói chung cũng như huyện Lập Thạch nói riêng thì vấn đề phát triển bền vững là một phương án tối ưu trong phát triển toàn diện nền kinh tế

Phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường được thể hiện trong việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, mang lại lợi ích cao nhất, đảm bảo nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai, đảm bảo cân bằng sinh thái và cải thiện môi trường tự nhiên Phát triển bền vững được coi là tiêu chí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đánh giá CQ cho các mục đích cụ thể

* Quan điểm lịch sử

Mỗi thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đều có quá trình phát sinh, phát triển

và biến đổi không ngừng theo thời gian Mỗi đơn vị cảnh quan phải mất một thời gian dài để hình thành Trong quá trình phát triển các đặc trưng riêng hầu như đã

bị biến đổi

Trang 15

4.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập, phân tích, xử lí và tổng hợp tài liệu

Khi đã xác định được phương hướng của đề tài thì để có cái nhìn khái quát, cụ thể về khu vực nghiên cứu thì phương pháp thu thập, phân tích, xử lí và tổng hợp tài liệu là rất cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Các tài liệu, số liệu thống

kê được phân tích chọn lọc và tổng hợp lại để phù hợp với yêu cầu của đề tài Trên cơ

sở đó tiến hành lập đề cương chuẩn bị cho công tác thực địa để kiểm chứng, bổ sung cập nhật tài liệu, bảo đảm tính đúng đắn và tính chính xác của việc điều tra nghiên cứu tổng hợp điều kiện địa lý lãnh thổ phù hợp với mục đích nghiên cứu

* Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống, bắt buộc khi nghiên cứu các vấn đề tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nhất là đối với địa lý tự nhiên tổng hợp Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập, bổ sung tài liệu, tìm hiểu thực tế ở lãnh thổ nghiên cứu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu, điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên

và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực, bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thu thập Để tiến hành phương pháp thực địa tốt, đòi hỏi người nghiên cứu phải chuẩn bị tốt các yêu cầu cho một chuyến thực địa hiệu quả

* Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)

Đây là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc biểu diễn các thành quả nghiên cứu - đánh giá cảnh quan Với nhiều tính năng ứng dụng cao trong nghiên cứu địa lý

mà phương pháp bản đồ, hệ thông tin địa lý (GIS) là các phương pháp không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu cảnh quan Trong đề tài, phương pháp GIS được vận dụng để chuẩn hóa, phân loại, tích hợp các lớp dữ liệu hợp phần cảnh quan, chồng xếp các lớp dữ liệu, xây dựng các bản đồ chuyên đề

* Phương pháp phân tích và đánh giá cảnh quan

Đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các giá trị kinh tế của ĐKTN và TNTN của tổng thể lãnh thổ cho mục tiêu KT - XH, mô hình hoá các hoạt động giữa tự nhiên với KT -XH phục vụ cho việc dự báo những biến đổi của môi trường, điều chỉnh các tác động của con người, xây dựng cơ sở cho việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Sau khi có kết quả nghiên cứu CQ, tác giả tiến hành các bước đánh giá CQ tuần tự

từ việc lựa chọn chỉ tiêu, phân cấp chỉ tiêu, xác định trọng số, thang điểm, xác định các nhân tố giới hạn; phương pháp tính điểm, phân chia mức độ thích hợp (thuận lợi) của các đơn vị CQ với các loại hình sản xuất; nhóm gộp các cấp thuận lợi để thể hiện lên bản đồ… Nội dung nghiên cứu và các bước tiến hành ĐGCQ đã được các nhà CQH xây dựng

Trang 16

* Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là cách mang lại những phản hồi có giá trị, bám sát nhất vào đề tài nghiên cứu dựa trên những nhận định, phân tích, phản hồi từ việc tác giả đã tiếp xúc và trao đổi với cán bộ quản lí địa phương, người dân địa phương ở các điểm khảo sát nhằm thu thập nhanh thông tin về tình hình sử dụng tài nguyên, tình hình sản xuất, hoạt động KT-XH địa phương Các thông tin được thu thập, chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu, bổ sung cho luận văn Nhờ có sự nhìn nhận khách quan từ các nhân chứng mà đề tài mang tính ứng dụng cũng như chân thực hơn

5 Cơ sở dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong luận văn chia thành các nhóm sau:

5.1 Hệ thống các bản đồ số

Các bản đồ và dữ liệu số: hành chính, địa hình, độ dốc, thổ nhưỡng, hiện trạng

sử dụng đất năm 2010, bản đồ đánh giá thích nghi sinh thái của các loại cây và bản đồ cảnh quan huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ở tỷ lệ 1:100.000

5.2 Hệ thống tài liệu

- Các đề tài mang tính lý luận về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế nông, lâm nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các đề tài khoa học, các luận án và các công trình nghiên cứu khác có liên quan, bổ sung kiến thức lý luận và thực tiễn cho

đề tài Các số liệu thống kê của huyện Lập Thạch từ năm 2000 đến 2013

- Số liệu, văn bản, báo cáo kinh tế - xã hội của huyện Lập Thạch đã được công

bố trong giai đoạn 2000 - 2014

- Kết quả các đợt khảo sát thực địa

6 Những đóng góp của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Hệ thống hóa, vận dụng có chọn lọc những cơ sở lý luận, phương pháp đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp vào điều kiện cụ thể của lãnh thổ huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

- Trên cơ sở quan điểm địa lý ứng dụng, đề tài đã xây dựng bản đồ tổng hợp làm

cơ sở phục vụ cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện tự nhiên và bố trí cây trồng trong sản xuất nông - lâm nghiệp huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 17

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá được tiềm năng điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông - lâm nghiệp bằng một hệ thống chỉ tiêu tổng hợp theo quy định của các ngành nông - lâm nghiệp

- Đề tài đã đề xuất được phương án sử dụng các điều kiện tự nhiên hợp lý qua chọn cho các cây trồng nông - lâm nghiệp phù hợp góp phần vào sử dụng hợp lý vùng đất trống đồi trọc ở lãnh thổ nghiên cứu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết quả nghiên cứu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luâ ̣n nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục

vụ phát triển nông-lâm nghiệp huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 2: Các nhân tố thành tạo cảnh quan và đặc điểm cảnh quan huyện Lập

Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Đánh giá cảnh quan huyện Lập Thạch và đề xuất định hướng phát

triển nông - lâm nghiệp huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP

HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu cảnh quan trên Thế giới

Nghiên cứu cảnh quan phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau Giai đoạn từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 được coi là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành khái niệm cảnh quan, với nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau từ trường phái Nga (Liên Xô cũ) và các nước Đông Âu đến trường phái nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu và Bắc Mĩ

Học thuyết về cảnh quan được sáng lập ra bởi nhà bác học Nga L.S Berg với tiền đề là học thuyết của V.V Dokutsaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên Đến năm 1913, L.S Berg đã đưa khái niệm cảnh quan vào trong khoa học địa lí và ông cho rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí Đến năm

1931, L.S Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô” (tập 1) - công

trình nổi tiếng là cơ sở để hoàn thiện lí luận cảnh quan Cảnh quan học thực sự phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới thứ nhất 1945 Đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện và phát triển lý thuyết nghiên cứu cảnh quan phải kể đến công lao của các nhà địa

lý Xô Viết Năm 1947, N.A.Xôntxev đã trình bày những tổng hợp lý luận đầu tiên, ông phát triển các quan niệm về cảnh quan trong các công trình trước đó của L.G.Ramenxki, X.V.Kalexnik, đưa ra một định nghĩa mới, rõ ràng hơn về hình thái cảnh quan Từ đó bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cảnh quan và các vấn đề liên quan Đầu tiên là các nghiên cứu của B.B Pôlưnôv, tiếp đó A.I Pérelman đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá học trong cảnh quan và yếu tố hoá học trong phân chia cảnh quan Tác giả M.A.Glazôpxkaia đã tiến hành xây dựng những nguyên tắc phân loại địa hoá các cảnh quan một cách cụ thể hơn và đưa ra hệ thống phân loại các cảnh quan địa phương Hướng nghiên cứu địa vật lý cảnh quan do A.L.Armand đề xuất, ông đã sử dụng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên CQ

Trang 19

Năm 1955, hội nghị chuyên đề cảnh quan học được triệu tập ở Lêningrat và liên tiếp sau đó là các Hội nghị Khoa học về các vấn đề cảnh quan học được tổ chức gần như hàng năm Từ đó các nhà nghiên cứu cảnh quan học Xô Viết đã dần hoàn thiện lý luận, phương pháp nghiên cứu, ứng dụng cảnh quan học, mở rộng các công trình nghiên cứu

và thành lập bản đồ cảnh quan ở nhiều tỷ lệ khác nhau, nghiên cứu về nguyên tắc, phương pháp xây dựng bản đồ, phân loại cảnh quan, vấn đề sử dụng học thuyết cảnh quan trong thực tiễn qua các công trình của N.I.Mikhailôv, V.B.Xôtsava (1956), N.A.Gvozdetxki (1963), X.V.Kalexnik (1964), A.G.Ixatsenko (1965), P.N.Minkov, V.X.Preobrazenxki (1966), N.A.Xôntxev, V.I.Prôkaev (1971)

Sự ra đời của “Cảnh quan học ứng dụng” phải kể đến công lao to lớn của A.G Ixatsenko Ông là một nhà cảnh quan tiêu biểu khác của Nga có nhiều công trình có giá trị Năm 1961, ông đã hoàn thành công trình “Bản đồ cảnh quan Liên Xô, tỉ lệ 1: 4.000.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan” Năm 1969, ông cho ra đời tác phẩm “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên”, trong đó ông đã trình bày những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lý tự nhiên

Đến năm 1974, ông cùng với A.A Shliapnikov công bố công trình “Về những nội

dung của bản đồ cảnh quan địa lý” Năm 1976, ông tiếp tục xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” - công trình thể hiện tầm nhìn và khả năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh quan học Những năm sau, một loạt các công trình về cảnh quan ứng dụng cũng được hoàn thành như: “Nghiên

cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch vùng” (E.M Rakovskaia, I.R

Dorphman - 1980); “Phương pháp đánh giá cảnh quan sinh thái nhằm mục đích phát

triển tối ưu lãnh thổ” (M Ruzichka, M Miklas - 1980)

So với Nga và Đông Âu, các nghiên cứu cảnh quan tại Tây Âu và Bắc Mĩ xuất hiện muộn hơn, chỉ thực sự bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và lúc đầu với những quan niệm không khác xa nhau

Một trong những nhà lý luận cảnh quan đầu tiên người Đức là Z.Passarge 1958), ông đã có những công trình về các đới cảnh quan trên Trái Đất Sau đó các nhà địa lý người Đức cũng đã tiến hành thành lập bản đồ cảnh quan và chủ yếu dựa trên nghiên cứu cấu tạo hình thái cảnh quan, lấy các đơn vị sinh cảnh để phân chia cảnh quan

Trang 20

(1866-Tác giả G.Bertrand (Pháp) năm 1968, trong công trình “Phong cảnh tự nhiên toàn

cầu”, coi phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy của cảnh quan Vì thế mà

ở Pháp, thuật ngữ “Phong cảnh (Paysage)” được sử dụng thay cho thuật ngữ cảnh quan

Các nhà địa lí Mĩ như M.Khactoxơ, D.Uitttơlxli cũng tập trung nghiên cứu địa lí khu vực nhưng cũng trên quan điểm của các nhà địa lí Xô Viết

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu đánh giá cảnh quan để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam này chính là Nguyễn Đức Chính

và Vũ Tự Lập Năm 1963, các ông đã công bố tác phẩm “Địa lý tự nhiên Việt Nam”, trong đó trình bày rõ về các nguyên tắc cơ bản của phân vùng cảnh quan và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam Cũng trong năm đó, đã có nhiều bài báo nghiên cứu về vấn đề phân vùng địa lý tự nhiên, ví dụ như: “Cơ sở lí luận của phân vùng địa lý tự nhiên” (Nguyễn Đức Chính, V.G Zavrie); “Về vấn đề xác định nội dung các danh từ dùng

để chỉ các đơn vị phân vị cơ bản trong phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp tỉ lệ khác nhau” (V.G Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập); “Phương pháp luận và phương pháp phân vùng địa lý tổng hợp tỉ lệ trung bình (V.G Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Nhưng)

Đến năm 1976, Vũ Tự Lập với sự giúp đỡ của E.M.Murzaev và V.G Zavriev

đã hoàn thành công trình “CQ địa lí miền Bắc Việt Nam” - được xem là một công trình tổng hợp hết sức công phu có giá trị học thuật lớn lao đối với khoa học địa lí Việt Nam hiện đại Hệ thống phân vùng CQ gồm 16 cấp, từ Quyển địa lý đến Điểm địa lý, được chia làm 3 đoạn, 2 dãy (theo quy luật địa đới và phi địa đới) và 2 nhánh (cho khu vực miền núi và khu vực đồng bằng), đưa ra 527 cá thể cảnh địa lý [12]

Tại Hội thảo về CQ sinh thái (Hà Nội - 1992), ông và Nguyễn Thành Long đánh dấu sự mở đầu hướng nghiên cứu sinh thái trong CQ học Việt Nam với bài “Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu CQ” Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm về CQ, hệ sinh thái, sự phát triển của CQ học và sinh thái học CQ” - làm rõ hơn mối quan hệ giữa CQ và sinh thái học Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn Nhưng báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số CQ Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái được vận dụng linh hoạt hơn trong nghiên cứu CQ Việt Nam

Trang 21

Ngoài các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các hướng nghiên cứu CQ có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin Có thể kể đến là Nguyễn Thành Long với công trình “Nghiên cứu CQ Tây Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat” (1987); Phạm Hoàng Hải và nnk với công trình “Xây dựng BĐCQ sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990); Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập BĐCQ đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1 : 250.000 bằng tư liệu viễn thám” (1992)

Một trong những hướng nghiên cứu được tiến hành rất mạnh thời gian gần đây

là hướng nghiên cứu, đánh giá CQ phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ, mà tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải Năm 1988, ông hoàn thành công trình

“Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam Bộ” Kế đến vào năm 1990, trong Chương trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nnk đã tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm” Năm

1993, ông cùng Nguyễn Thượng Hùng thực hiện “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên Tây Nguyên” Vào 1997, Nhà xuất bản Giáo dục

đã công bố “Cơ sở CQ học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh - công trình được đánh giá cao bởi những miêu tả chi tiết các quy luật và đặc trưng của các CQ nhiệt đới gió mùa Việt Nam trên cơ sở một hệ thống phân loại tương đối thống nhất cho toàn lãnh thổ và theo các miền, các vùng CQ riêng biệt; đồng thời công trình cũng đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi của tự nhiên nói chung và CQ nói riêng dưới tác động của con người, từ đó đưa ra các giải pháp, các hướng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường

Có những nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế

xã hội như đề tài độc lập cấp nhà nước của GS.TS Trần Nghi làm chủ nhiệm “Đánh giá

tổng hợp tài nguyên, điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội nhằm định hướng phát triển bền vững khu vực biên giới phía Tây từ Thanh Hóa đến Kon Tum” - Đại học

Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Hay luận án Tiến sĩ của TS.Lê Năm

“Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế, trường ĐHSP Hà Nội, 2004” - Trường Đại học Sư

phạm Huế Nhìn chung các đề tài đã vận dụng cơ sở lý luận của nghiên cứu đánh giá tổng hợp ĐKTN nhằm phục vụ phát triển KT - XH của một địa phương cụ thể

Trang 22

Thêm vào đó là các bản đồ cảnh quan và đánh giá CQ đã được các nhà CQ học

và các nhà địa lý tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30 năm qua, giúp cho lĩnh vực nghiên cứu CQ của nước ta ngày càng có những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc

Đề tài “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp

và du lịch tỉnh Phú Thọ” của Tiến sĩ Đặng Thị Huệ năm 2014 đã có những đánh giá

tổng hợp về cảnh quan của một tỉnh miền núi và trung du khá đặc trưng và kết quả đánh giá có tính ứng dụng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu đánh giá riêng cảnh quan của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Đối với tỉnh Vĩnh Phúc nhìn chung các đề tài cũng như các luận án Tiến sĩ về viê ̣c đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên để phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp còn khá mới mẻ, chưa có nhiều đề tài Một số công trình nghiên cứu về tỉnh Vĩnh Phúc chỉ xoay quay từng khía cạnh nông nghiệp, trồng rừng, cải tạo đất, canh tác trên các loại đất, mà chưa đề cập đến mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần tự nhiên cấu thành nên thể tổng hợp địa lí tự nhiên (cảnh quan) Ví dụ như: tác giả Trịnh Đình Dũng

có bài: “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Vĩnh Phúc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế”, số 781 (tháng 11/2007) đã nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Vĩnh Phúc, trong đó có đề cập tới việc phát triển nông nghiệp bền vững ở địa phương Hay như luận văn thạc sĩ “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp cấp xã trên địa bàn huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2010” của tác giả Hoàng Thị Ngọc Hà, luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số phục vụ công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Vĩnh yên- tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Tạ Ngọc Long,…

Như vâ ̣y , chưa có nghiên cứu nào đề cập m ột cách toàn diện đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên để phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 23

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho phát triển nông - lâm nghiệp

1.2.1 Quan niệm về cảnh quan

Thuật ngữ “Cảnh quan” lần đầu tiên được sử dụng vào đầu thế kỷ XIX, nó có nguồn gốc từ tiếng Đức “Landschaft”, với nghĩa ban đầu là phong cảnh Sự ra đời của

khoa học cảnh quan xuất phát từ các công trình nghiên cứu về sự phân chia địa lý tự

nhiên bề mặt Trái Đất gắn liền với tên tuổi của những nhà địa lý nổi tiếng: L.S.Berg

(1913,1931), N.A Solntsev (1948,1960), A.G.Isachenko (1965,1991), D.L Armand (1975) [3]… và ở Việt Nam là Vũ Tự Lập (1976) [12], Phạm Hoàng Hải (1992, 1997),

Nguyễn Cao Huần (2005)…[6, 10]

Theo cuốn "Khoa học về cảnh quan" thì: “Cảnh quan đi ̣a lý là một bộ phận của bề mặt đất, về mặt định tính, khác hẳn với các bộ phận khác, được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và là một sự tập hợp các đối tượng, các hiện tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật và thống nhất trong bản thân nó, được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ không tách rời về mọi mặt với lớp vỏ đi ̣a lý” [3, tr 152]

Cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của Địa lý học hiện đại Không kể quan niệm CQ là phong cảnh như trên Cho đến nay, trong khoa học địa lý tồn tại 3 quan niệm khác nhau về cảnh quan:

- Quan điểm xem cảnh quan là một khái niệm chung, để chỉ sự đồng nhất có

thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ cấp lãnh thổ nào Người đầu tiên hiểu khái niệm cảnh quan theo nghĩa này là S.S Neustruev, ông cho rằng

“Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những hiện tượng tự nhiên phụ thuộc

lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng quá trình phát triển không ngừng” Như vậy, khái niệm cảnh quan tương đương với thuật ngữ thể tổng hợp đi ̣a

lý tự nhiên hay cảnh quan tự nhiên Ủng hộ nghiên cứu theo quan điểm này gồm có các tác giả F.N Minkov, D.L Armand, P.X Kuzonhenxov, V.I Prokaev

- Quan điểm xem cảnh quan là những cá thể đi ̣a lý không lặp lại trong không

gian và là đơn vị cơ bản của phân vùng đi ̣a lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu

rõ ràng Cảnh quan thể hiện sự tương hỗ của các hợp phần tự nhiên và các yếu tố thành tạo trên một lãnh thổ nhất định Quan niệm này được thể hiện trong các nghiên cứu của L.X Berg, A.A Grigoriev (1957), X.V Kalexnik (1947 - 1959), A.G Ixatsenko (1965), N.A Soltsev (1949), ở Việt Nam có Vũ Tự Lập và một số người khác

Trang 24

- Quan điểm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại Quan điểm này cho

rằng cảnh quan một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên Mỗi cấp phân vị được coi là một đơn vị cảnh quan và được phân chia dựa vào hệ thống chỉ tiêu đặc trưng theo trật tự lôgic từ trên xuống dưới Tính đồng nhất tương đối và lặp lại thể hiện rõ trong các cấp phân vị và phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan Quan điểm này đã được vận dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước, tiêu biểu là các tác giả L.X Berg, S.V Kalexnik, A.A Xôntxep A.A Grigoriev, N.I Mikhailov, A.G Ixatsenko, cũng như G.Bertrand, Th.Brossard, I.C Wieber của Pháp, Vũ Tự Lập, Nguyễn Thế Thôn của Việt Nam

Tóm lại, dù có hiểu cảnh quan theo khía cạnh, phương diện nào đi chăng nữa thì

về bản chất, cảnh quan là một tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tính đồng nhất, vừa

có tính bất đồng nhất Tính bất đồng nhất được biểu thị ở 2 mặt: (1) Cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực

vật) tạo nên (2) Mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau “Sự

khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải” (Nguyễn Thành Long, 1993) [13]

Trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất (Địa lý ứng dụng), cảnh

quan được xem xét ở cả 3 khía cạnh: đơn vị tổng thể (theo khái niệm chung), đơn vị

phân kiểu (theo khái niệm loại hình) và đơn vị cá thể (theo khái niệm cá thể)

(Shishenko P.G, 1988) [6]

Trong đề tài này, cảnh quan của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc là một thể tổng hợp tự nhiên mang tính phức tạp, có sự phân cấp từ thấp đến cao theo hệ thống phân loại nhất định tạo nên tính đa dạng trong cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan Với một hệ thống các yếu tố, thành phần cấu tạo (địa chất, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật), vừa có tính đồng nhất vừa có tính bất đồng nhất, tuy nhiên giữa chúng vẫn có những mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau, làm cho đề tài cần bám sát hơn vào các đối tượng nghiên cứu để có thể đánh giá được cảnh quan của huyện Lập Thạch

Trang 25

1.2.2 Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan

Trong lời nói đầu của cuốn sách “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan tỷ lệ

trên lãnh thổ Việt Nam” GS Nguyễn Thượng Hùng cho rằng: “Nghiên cứu cảnh quan thực chất là nghiên cứu về các mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên, nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hóa của tự nhiên nhằm phát hiện và phân chia các thể tổng hợp tự nhiên - các đơn vị cảnh quan có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và KT-XH để lập quy hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường” [13]

Như vậy, nghiên cứu cảnh quan thực chất là nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố thành phần trong địa tổng thể và giữa các địa tổng thể tự nhiên với nhau trên một lãnh thổ, nhằm phát hiện và phân chia các thể tổng hợp tự nhiên - các đơn vị cảnh quan có tính đồng nhất tương đối để làm cơ sở đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, TNTN và KT-XH Điều này giúp cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên đồng thời phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Để xác định cơ sở lý luận, phương pháp luận cần xác định đối tượng nghiên cứu, những nguyên tắc cơ bản, cơ

sở khoa học thực hiện nội dung và đề xuất các bước nghiên cứu cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra

1.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu cảnh quan

Đối tượng nghiên cứu cảnh quan là các đơn vị CQ, trong đó có thể bao gồm cả các đơn vị phân loại với nhiều cấp từ trên xuống dưới từ cấp hệ thống CQ đến đới, kiểu, lớp, loại đến các dạng, diện CQ, cũng như có thể là các cấp đơn vị phân vùng CQ như các địa ô, các miền, các vùng CQ được phân chia trên lãnh thổ Việc lựa chọn, sử dụng các đối tượng nghiên cứu là các đơn vị CQ cụ thể (đơn vị phân loại), hay là các vùng, miền CQ (đơn vị phân vùng) còn phụ thuộc khá nhiều vào các mục tiêu cụ thể cần đạt được và đặc biệt vào tỷ lệ nghiên cứu, tỷ lệ của các bản đồ sẽ được xây dựng

1.2.2.2 Những nguyên tắc nghiên cứu cảnh quan

Ngoài những nguyên tắc mang tính thống nhất đã được khẳng định như trong nghiên cứu tự nhiên chung còn có rất nhiều các nguyên tắc riêng của CQ học, trong đó đặc biệt quan trọng và nổi bật nhất là các nguyên tắc liên quan đến các đặc điểm đặc trưng của chính CQ lãnh thổ, đó là các nguyên tắc đồng nhất trong phát sinh, đồng nhất

Trang 26

về lịch sử phát triển, đồng nhất trong cấu trúc và chức năng của các đơn vị CQ được phân chia Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến nguyên tắc mà thường được gọi là lịch sử phục hồi hay phát sinh lịch sử Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng nghiên cứu CQ, trong xác định nguồn gốc thành tạo nên chúng và đặc biệt cần thiết trong quá trình nghiên cứu đề xuất các phương án sử dụng cho các mục đích thực tiễn

a Nguyên tắc phát sinh hình thái: Nguyên tắc phát sinh hình thái trả lời một

cách chính xác những câu hỏi: cảnh quan được cấu tạo như thế nào, các quan hệ phát sinh và các quan hệ nhân quả và chức năng tự nhiên và chức năng xã hội của nó Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối giống nhau sẽ được xếp vào một đơn vị ở cấp lớn hơn, trái lại một đơn

vị lãnh thổ có hình thái tương đối đồng nhất nhưng không có cùng nguồn gốc phát sinh

sẽ được phân thành những cấp đơn vị khác nhau, từ đó tạo cơ sở cho việc vạch ra ranh

giới giữa các cấp của đơn vị cảnh quan [6]

b Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Mỗi cấp phân vị được xác định bởi một

số chỉ tiêu nhất định, phản ánh mối quan hệ giữa các hợp phần cảnh quan Mỗi cấp đơn vị lớn bao hàm ít nhất là hai cấp đơn vị nhỏ hơn nó Đối với cấp đơn vị cảnh quan càng lớn, lãnh thổ càng rộng thì mức độ đồng nhất càng thấp và ngược lại ở các cấp đơn vị càng thấp, lãnh thổ càng hẹp thì mức độ đồng nhất càng cao

Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất được xếp vào cùng cấp, mặc dù chúng phân bố ở nững nơi khác nhau trên lãnh thổ

c Nguyên tắc tổng hợp: Là một lãnh thổ miền núi có tính đa dạng cao về tự

nhiên và nhân văn, các đơn vị cảnh quan huyện Lập Thạch là những tổng thể tự nhiên khá phức tạp, thể hiện trong các tác động tương hỗ giữa các thành phần trong cấu trúc thẳng đứng cũng như các đơn vị cảnh quan trong cấu trúc ngang của cảnh quan Song nếu sử dụng nhân tố trội như là một phương pháp chính thì kết quả sẽ gần giống với bản đồ của một yếu tố nào đó Cho nên, khi vạch ranh giới chính thức của các đơn vị cảnh quan ta phải xét đến tất cả các hợp phần tham gia thành tạo cảnh quan trong mối

quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần đó [6]

Trang 27

1.2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan

Theo lý luận chung, nghiên cứu đặc điểm CQ cần nghiên cứu về cấu trúc, chức năng và động lực của CQ, cụ thể:

a Cấu trúc cảnh quan

Chính là nghiên cứu tổ chức bên trong của thể tổng hợp địa lí tự nhiên (địa hệ) với sự sắp xếp các thành phần cảnh quan trong không gian bao gồm cấu trúc đứng (cấu trúc tầng) và cấu trúc ngang (cấu trúc hình thái) Nó liên quan đến quy luật biến động, phát triển của mỗi đơn vị cảnh quan trong toàn hệ thống CQ Đây là cơ sở để xác định chức năng đặc trưng cho các mục đích sử dụng khác nhau

Cấu trúc thẳng đứng: Cấu trúc thẳng đứng của cảnh quan được tạo nên bởi

đặc điểm liên hệ và mối quan hệ tác động tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo của cảnh quan, phụ thuộc vào hướng thay đổi của các thành phần cấu tạo trong úa trình phát triển cũng như vào tuổi và lịch sử phát triển của thể tổng hợp [8]

Cấu trúc thẳng đứng thể hiện ở sự phân bố theo tầng của các thành phần cảnh quan được sắp xếp từ dưới lên, từ nền địa chất của thạch quyển, địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu và mối quan hệ giữa chúng Nó được biểu thị qua lát cắt tổng hợp nói lên sự sắp xếp các thành phần theo tầng từ dưới lên trên và ngược lại

Cường độ và tốc độ hình thành cấu trúc đứng còn phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu, mức độ ẩm trên mặt và nước ngầm Ở nơi có các quá trình tự nhiên diễn ra

mạnh (thường mang tính chất địa phương) thì cấu trúc đứng cũng phức tạp và dày hơn

Cấu trúc đứng biến động và vận động trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài do ảnh

hưởng của các quá trình tự nhiên, đặc biệt là các quá trình hiện thời (cấu trúc đứng

thường bị phá huỷ ở các đơn vị cảnh quan nhỏ - miền núi) Bên cạnh quá trình tự nhiên

thì hoạt động của con người cũng làm thay đổi cấu trúc đứng (thực bì, thổ nhưỡng,

dòng chảy, địa hình - nhiều nơi thực bì tự nhiên còn bị thay thế bằng thực bì trồng trên toàn bộ diện tích) Những nơi mà cấu trúc đứng của cảnh quan ở đó bị biến đổi cơ bản

sẽ tạo nên những cảnh quan hoàn toàn mới [6]

Cấu trúc ngang: Tác động tương hỗ giữa các bộ phận cấu tạo hình thái (cấu trúc

ngang) của cảnh quan tạo thành cấu trúc ngang của cảnh quan Cấu trúc ngang bao gồm các địa tổng thể đồng cấp hay khác cấp tạo nên một đơn vị địa lý nhất định cùng mối quan hệ phức tạp giữa các địa tổng thể đó với nhau Vì bản thân mỗi một đơn vị cảnh

Trang 28

là một hệ thống hoàn chỉnh riêng nên cấu trúc ngang thường được mô hình hóa bởi một mô hình đa hệ thống Cũng như cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân

vị có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có những nét riêng

Đối với cấu trúc CQ thì tác động của các điều kiện địa lý nhất là các điều kiện địa

lý tự nhiên lên cấu trúc CQ có sự tương đồng lớn, còn các yếu tố KTXH (trong đó có con người) được thể hiện ở các hoạt động nhân sinh sẽ là một phần của CQ có tác động đến

CQ theo các mức độ khác nhau từ yếu đến mạnh và ngược lại CQ là sản phẩm của chính sức lao động của con người trên lãnh thổ Các điều kiện địa lý không những có vai trò quyết định thành tạo CQ mà còn có vai trò chi phối các hoạt động SXNLN được thể hiện:

Bảng 1.1 So sánh các điều kiện địa lý, cấu trúc CQ và hoạt động SXNLN

STT Các điều kiện

địa lý Cấu trúc CQ Các yếu tố đầu vào cho SXNLN

1 Địa chất Cấu trúc địa chất, nham thạch Đá tạo đất

2 Địa hình - địa mạo Các kiểu và dạng địa hình Mặt bằng cho sản xuất

3 Khí hậu Các kiểu khí hậu Sinh khí hậu cho NLN

4 Thủy văn Chế độ thủy văn Nguồn nước tưới

5 Thổ nhưỡng Các nhóm, loại đất Dinh dưỡng đất

6 Sinh vật Thảm thực vật Giống cây trồng và vật nuôi

7 Kinh tế - xã hội Hoạt động nhân sinh

Sức lao động, trí thức khoa học

và cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất

kỹ thuật nông nghiệp

Qua bảng trên ta thấy rằng:

- Nền địa chất: Bất cứ một cảnh quan nào cũng có một nền địa chất đồng nhất chủ yếu dựa vào tính chất và tuổi của thành hệ thạch học Ở mức độ nhất định, đơn vị địa chất trùng với đơn vị địa mạo và thổ nhưỡng

- Địa hình: Địa hình là hợp phần quan trọng trong cấu trúc đứng và các cấp cấu tạo nên cấu trúc ngang của cảnh quan Cùng với nền địa chất, địa hình đã hình thành nên nền tảng rắn của cảnh quan - cơ sở vật chất bền vững quyết định tính chất của các hợp phần còn lại Vì vậy, việc xác định và phân loại các kiểu địa hình giữ vai trò chủ chốt

Trang 29

- Khí hậu: Khí hậu của cảnh quan có mối quan hệ mật thiết với bề mặt đệm Mỗi một đơn vị cảnh quan có một đơn vị khí hậu phù hợp, đó là kiểu khí hậu của cảnh Trong mối quan hệ giữa khí hậu và cảnh quan, khí hậu của cảnh được xác định dựa trên số liệu thu thập được của các trạm quan trắc khí tượng đặt tại địa điểm đại diện cho cảnh

- Thuỷ văn: Các thành phần của thuỷ văn, tính chất và mức độ phổ biến của các tích tụ nước, chế độ của chúng, cường độ tuần hoàn, mức độ khoáng hóa, thành phần hóa học và các tính chất khác, tất cả đều phụ thuộc vào tương quan giữa các điều kiện địa đới và vào thực tế bên trong của bản thân cảnh quan

- Thổ nhưỡng: Theo A.G Ixatsenko, trong cảnh quan thì các loại đất thay thế nhau theo không gian phù hợp với sự thay đổi của nhân tố địa hình, khí hậu, chế độ nước cũng như thực vật Như vậy có nghĩa là cảnh quan phải tương ứng với vùng đất nhất định

Vũ Tự Lập cho rằng, thổ nhưỡng của cảnh quan phải là một đại tổ hợp thổ nhưỡng Bởi vì trong một cảnh địa lý rất hiếm khi chỉ có một kiểu thổ nhưỡng, nó có quan hệ chặt chẽ với kiểu địa hình, nền địa chất, với kiểu khí hậu - thuỷ văn, và trên

nó sẽ tương ứng với một đại tổ hợp thực vật

- Sinh vật: Theo A.G Ixatsenko, cảnh quan được đặc trưng bằng một tổ hợp hoàn chỉnh các quần thể thực vật hình thành một dãy liên hợp với nhau một cách

có quy luật về mặt sinh thái Trong các dãy như thế có thể có sự kết hợp của các quần xã rất khác nhau, thay thế nhau trong không gian Vũ Tự Lập xác định thực vật của cảnh phải là một đại tổ hợp thực vật, từ nhóm quần hệ trở lên đến lớp giữa quần hệ hoặc kiểu thảm thực vật trong hệ thống phân loại các quần thể thực vật

b Chức năng của cảnh quan

Việc nghiên cứu chức năng của CQ chính là đi tìm hiểu hoạt động của cấu trúc cảnh quan, thể hiện bản chất của cảnh quan Bản chất đó được thể hiện ở cách thức liên hợp của các bộ phận cấu thành cảnh quan, các thành phần cấu tạo của cảnh quan luôn tác động qua lại lẫn nhau trong hoạt động của cảnh quan Theo A.G Ixatsenko, có thể vạch

ra các kênh liên hệ chủ yếu sau đây giữa các thành phần trong cấu trúc cảnh quan:

- Sự chuyển dịch cơ học do trọng lực của vật chất (thể rắn, thể lỏng, thể khí),

đi kèm với sự biến đổi thế năng thành động năng

Trang 30

- Các quá trình hóa lí (phân tử) bảo đảm các khâu quan trọng của sự trao đổi

chủ yếu theo chiều thẳng đứng giữa các hợp phần của cảnh quan được thực hiện nhờ

năng lượng Mặt Trời và đi kèm với sự biến đổi của nó (có sự hòa tan, kết tủa, các

phản ứng hóa học)

- Sự chuyển hóa sinh vật - quá trình cực kì quan trọng trong hệ thống các mối liên

hệ giữa các hợp phần của cảnh quan, nhờ đó vật chất của tất cả hợp phần được lôi cuốn vào sự trao đổi Sự chuyển hóa sinh vật đóng vai trò điều hòa và ổn định, nhờ đó vật chất được giữ lại, ngăn cản quá trình trọng lực mang chúng đi khỏi cảnh quan

Trên cơ sở phân tích, đánh giá CQ đã xác định được những chức năng chủ yếu của chúng trên lãnh thổ nghiên cứu như: chức năng phòng hộ bảo vệ; chức năng phục hồi và bảo tồn; chức năng phát triển kinh tế sinh thái; chức năng sản xuất lương thực thực phẩm Phát triển nông nghiệp tạo sản phẩm hàng hóa đa dạng, nâng cao đời sống người dân, người dân sẽ không phá rừng Phát triển lâm nghiệp bảo tồn và tái tạo sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi và an toàn nhất cho phát triển nông nghiệp, tạo cảnh quan đẹp cho phát triển du lịch sinh thái

c Về động lực của cảnh quan

Sự nghiên cứu động lực CQ không những làm sáng tỏ thực trạng biến đổi của

CQ dưới các tác động tự nhiên, nhân tác mà còn cho phép lựa chọn các phương án sử dụng chúng có tính phù hợp nhất đối với tiềm năng tự nhiên của lãnh thổ Phải khẳng định rằng sự hoạt động của cảnh quan dựa trên cơ sở hệ thống động lực, các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong suốt quá trình hình thành và phát triển

Một trong những yếu tố động lực có tính quyết định đến sự biến đổi cảnh quan

mà tác giả nhắc tới đó chính là hoạt động khai thác lãnh thổ và hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của con người Những tác động đó vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực:

- Tích cực: Làm thay đổi chế độ ẩm của các khu vực lãnh thổ khác nhau nhờ điều tiết dòng chảy, giúp duy trì độ ẩm ổn định cho CQ; hình thành CQ nhân sinh góp phần điều khiển vật chất và năng lượng trong các hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái nông - lâm ; thay đổi bề mặt địa hình tạo nên các quần thể kiến trúc,các CQ đô thị

Trang 31

- Nhưng tác động tiêu cực đó là: phá hủy cân bằng trọng lực của CQ qua việc tạo

ra những chất độc hại làm nhiễm bẩn nguồn nước, môi trường, phá vỡ vòng tuần hoàn địa hóa; làm thay đổi vòng tuần hoàn ẩm và cán cân nước; phá vỡ cân bằng sinh học và tuần hoàn sinh học của vật chất trong CQ; sự biến đổi cán cân nhiệt của CQ; sự tiêu cực của các tác động công nghệ đối với CQ,phá vỡ quy luật cấu trúc động lực của CQ

Trên lãnh thổ nghiên cứu với nguồn năng lượng dồi dào được cung cấp bởi mặt trời với tổng lượng bức xạ và nền nhiệt khá cao, lượng mưa lớn và tập trung theo mùa, sự luân phiên tác động vào lãnh thổ chế độ mùa đã tạo nên nhịp điệu mùa của

CQ và tạo ra những tác động làm biến đổi CQ thông qua sự gia tăng của các quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong nó, cũng như những tác động mang tính kìm hãm hay thúc đẩy các quá trình tự nhiên khác Tuy nhiên, theo đánh giá chung, yếu tố động lực lớn nhất, có tính quyết định nhất đến sự biến đổi CQ chính là các hoạt động khai thác lãnh thổ của con người

1.2.2.4 Hướng nghiên cứu cảnh quan

Cùng với sự phát triển Khoa học địa lý bộ phận, thành tựu nghiên cứu địa lý sinh vật và phân hoá không gian của các hợp phần CQ, khoa học CQ xác định một

thời kì nghiên cứu sự phân chia bề mặt Trái đất CQ học là học thuyết về các quy luật

phân hoá lãnh thổ của lớp vỏ địa lý; CQ là đơn vị cơ sở Hệ thống phân vùng được xem như là nhóm các CQ vào các liên kết lãnh thổ bậc cao trên cơ sở các mối quan

hệ liên quan CQ về mặt không gian và lịch sử Đây là giai đoạn nghiên cứu cấu trúc không gian của CQ

Hướng nghiên cứu cấu trúc xác định định tính tính chất CQ Do đó, các nghiên

cứu hướng sâu vào chỉ tiêu định lượng tính chất CQ, sử dụng các biện pháp như: tiếp

cận hệ thống, tiếp cận điều khiển, tiếp cận sinh thái, nghiên cứu tác động kĩ thuật (nhân tác) vào NCCQ… Điều này đánh dấu hướng chuyển từ nghiên cứu cấu trúc

không gian sang nghiên cứu chức năng động lực của CQ

Cùng thời gian này, vấn đề “môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái

và CQ địa lý” góp phần tạo nên hướng NCCQ mới - hướng sinh thái CQ, nhưng nó ít

có tiến bộ rõ rệt trong lĩnh vực lý thuyết Hướng sinh thái hoá CQ là hướng ứng dụng với mục đích nghiên cứu trao đổi và chuyển hoá vật chất của vòng tuần hoàn sinh vật trong CQ, bảo vệ và làm tốt hơn môi trường sống

Trang 32

Hiện nay, xu hướng NCCQ trên thế giới và ở Việt Nam là dựa vào kết quả nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu Các nhà CQ học tiếp tục đi sâu vào hướng tiếp cận khoa học tổng hợp - NCCQ vùng Quan trọng hơn là ứng dụng kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích thực tiễn: ĐGCQ cho mục đích phát triển sản xuất, KT - XH và bảo

vệ môi trường lãnh thổ trên quan điểm phát triển bền vững (PTBV) [7]

1.2.3 Lý luận chung về đánh giá cảnh quan (ĐGCQ)

1.2.3.1 Khái niệm đánh giá cảnh quan

Đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN một lãnh thổ là rất phức tạp Đối tượng của ĐGCQ là các hệ địa lý, nhưng bản thân hoạt động đánh giá lại thể hiện cơ chế quan

hệ tương hỗ giữa các hệ thống tự nhiên (TN) - khách thể và hệ thống Kinh tế - Xã hội

(KT - XH) - chủ thể Vậy nên, “Thực chất của đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng

hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, thuỷ sản, du lịch, tái định cư )” [10]

Nói cách khác, đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) là đánh giá tổng hợp điều kiện tự

nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ nghiên cứu cho mục đích thực tiễn Tuỳ vào

từng mục đích cụ thể mà lựa chọn các kiểu đánh giá cho phù hợp:

- Đánh giá chung là giai đoạn đánh giá sơ bộ, ban đầu trên cơ sở các kết quả

nghiên cứu tự nhiên theo vùng lãnh thổ, mang tính định hướng chung cho các mục đích thực tiễn khác nhau

- Đánh giá mức độ thuận lợi hay thích hợp của điều kiện tự nhiên, tài nguyên

thiên nhiên đối với các ngành sản xuất

- Đánh giá kinh tế - kỹ thuật đề cập sâu hơn đến giá trị và hiệu quả của các

ngành sản xuất đó Kiểu đánh giá phổ biến hiện nay là đánh giá mức độ thích hợp hay thuận lợi của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích khác nhau cho từng lãnh thổ riêng biệt

Vì rằng, như chúng ta đã biết, trong tự nhiên nói chung và trên từng lãnh thổ nói riêng các thành phần và đơn vị tự nhiên luôn có mối liên quan, tác động tương hỗ lẫn nhau Vì vậy, khi tiến hành đánh giá cần có những hiểu biết một cách nhuần nhuyễn các quy luật tự nhiên, mối liên quan, và tác động tương hỗ của hệ thông “tự nhiên - xã hội”, để qua đó có thể đưa ra được các biện pháp kinh tế - kỹ thuật cũng như các chính sách xã hội hợp lí Nói tóm lại, đối tượng của đánh giá tổng hợp không chỉ là các đơn

Trang 33

vị tổng hợp tự nhiên, các thành phần, các yếu tố riêng biệt của tự nhiên, xã hội, mà là tổng hòa của chúng, trong mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau giữa các hệ thống

tự nhiên và các hệ thống kinh tế - xã hội Việc xác định các đối tượng đánh giá dựa trên mối liên quan và tác động tương hỗ giữa tự nhiên và xã hội, cũng chính là cơ sở khoa học quan trọng của công tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích ứng dụng thực tiễn nói chung [7]

Vậy đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy

hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT ĐGCQ vừa là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lí ứng dụng vừa đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra kế hoạch chiến lược phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể

1.2.3.2 Đối tượng, nhiệm vụ, mục tiêu đánh giá cảnh quan

Đối tượng đánh giá cảnh quan là các hệ địa lí với tính đặc thù của các điều kiện

tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm cấu trúc chức năng, động lực cảnh quan, các quá trình và hiện tượng nói chung, chức năng của các đơn vị tự nhiên trong mối quan hệ tổng hòa, tác động qua lại lẫn nhau giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế

- xã hội Việc xác định đối tượng đánh giá dựa trên các mối quan hệ tự nhiên - xã hội là

cơ sở khoa học quan trọng trong đánh giá cảnh quan cho mục đích ứng dụng

Đối tượng đánh giá tổng hợp không phải là một đơn vị cá thể riêng lẻ hay các thành phần, các yếu tố riêng biệt của tự nhiên mà là tổng hoà các mối quan hệ, cá tác động giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội

Nhiệm vụ của công tác đánh giá thường gắn liền với mục đích đánh giá cho các

thể tổng hợp riêng biệt Có hai kiểu đánh giá là đánh giá về mặt chất lượng và đánh giá

kinh tế Đánh giá chất lượng: đánh giá định tính, phân loại mức độ tốt xấu theo cấp, theo mức độ thuận lợi nhiều hay ít Đánh giá kinh tế: hiệu quả kinh tế đánh giá bằng tiền,

nhưng phải xem xét toàn diện các mặt vì sự PTBV của môi trường sinh thái

Mục tiêu của việc đánh giá cảnh quan là đưa ra những quyết sách sử dụng môi

trường tự nhiên hợp lí nhất, hiệu quả nhất, tối ưu nhất, tương đối chính xác, làm cơ sở khoa họccho việc bố trí các ngành sản xuất kinh tế phù hợp với từng vùng lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển bền vững

Trang 34

Như vậy, đối tượng ĐGCQ trong đề tài này là các hệ địa lí - đơn vị CQ huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc

ĐGCQ huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc cho phát triển nông lâm nghiệp cho mỗi loại cây trồng ở bản đồ CQ tỉ lệ 1: 50.000, đối tượng đánh giá là dạng CQ Đối tượng đánh giá là các hệ địa lí nhưng bản thân hoạt động đánh giá lại thể hiện cơ chế quan hệ tương hỗ giữa hệ thống TN và hệ thống KT-XH

1.2.3.3 Nguyên tắc của đánh giá CQ

Nguyên tắc chung của ĐGCQ là thông qua đặc điểm, tính chất của chủ thể và tương ứng là các đặc tính thành phần của khách thể (là đặc điểm cảnh quan luôn thay đổi theo không gian và thời gian) để xác định mức độ thích hợp của các cảnh quan cho từng ngành sản xuất kinh tế riêng biệt Khi đánh giá cần tính đến khả năng sử dụng vào nhiều mục đích của lãnh thổ (đánh giá cho yêu cầu của nhiều chủ thể) Chính việc đánh giá tổng hợp cảnh quan cho phép chúng ta tiếp cận gần nhất với thực tiễn sử dụng hợp lý TNTN và BVMT

Trong đánh giá, cần tiềm hiểu nhân tố giới hạn (nhân tố loại trừ khả năng sử

dụng vào mục đích nào đó) Việc xác định được nhân tố giới hạn giúp đơn giản hoá quá trình đánh giá Vì địa tổng thể chứa đựng nhân tố giới hạn nào đó được xem là bất lợi cho việc sử dụng sẽ không được đánh giá, mặc dù các nhân tố khác của nó thuận lợi hay trung bình

Thang bậc đánh giá: tuỳ theo yêu cầu đánh giá (khái quát hoặc chi tiết),

thường lựa chọn thang đánh giá từ 2, 3…10 cấp hoặc nhiều hơn

Chỉ tiêu đánh giá được lựa chọn phụ thuộc đối tượng, mục đích đánh giá Yêu

cầu của chỉ tiêu là các đặc điểm đặc trưng của lãnh thổ (có thể là chỉ tiêu giới hạn đối với mục đích sử dụng lãnh thổ đó) Bao gồm: các chỉ tiêu tự nhiên, các chỉ tiêu kinh tế

xã hội và hoạt động nhân tác Việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá tuân thủ các nguyên tắc:

- Chỉ tiêu lựa chọn phải phản ánh mối quan hệ của chúng đối với yêu cầu của chủ thể (dạng sử dụng)

- Số lượng yếu tố chỉ tiêu lựa chọn phải ít hơn hoặc bằng số lượng tính chất của các CQ đã biết và liệt kê trong bản đánh giá

- Ưu tiên lựa chọn các chỉ tiêu có sự phân hoá trong không gian

Trang 35

Tuỳ vào mục đích đánh giá, số lượng và mức độ quan trọng của chỉ tiêu đánh giá sẽ thay đổi Với mỗi mục đích, lựa chọn những loại chỉ tiêu thích hợp, xác định trọng số theo thứ tự ưu tiên cho từng chỉ tiêu

1.2.3.4 Phương pháp đánh giá CQ

Để ĐGCQ của một lãnh thổ ta phải thông qua một hệ thống các phương pháp

đa dạng, phức tạp, có nhiều cách và hình thức đánh giá, cần lựa chọn được phương pháp, hình thức đánh giá phù hợp, bởi nó phản ánh kết quả, mức độ chính xác, chi tiết của đánh giá Trên quan điểm tiếp cận địa lí tổng hợp trong đánh giá cảnh quan có thể

sử dụng các phương pháp mô hình hóa, phương pháp bản đồ, phân tích tổng hợp, so sánh định tính, thang điểm có trọng số

Bất kỳ nghiên cứu địa lý ứng dụng nào đối với một lãnh thổ cụ thể cũng phải có 3 giai đoạn: Nghiên cứu cơ bản, đánh giá và kiến nghị Trong đó, đánh giá là khâu kết nối giữa giai đoạn đầu và giai đoạn cuối Tùy vào mục đích đánh giá cảnh quan để làm gì mà

ta sử dụng các phương pháp đánh giá sao cho đạt hiệu quả Một số phương pháp đánh giá cảnh quan ứng dụng:

- Phương pháp đánh giá thành phần: là phương pháp đánh giá cho các mục đích,

giải quyết các vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đánh giá đất cho việc phát triển trồng các loại cây công nghiệp dài ngày bảo vệ và phát triển môi trường bền vững về thực chất bao gồm việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống đặc điểm của các tổng hợp thể tự nhiên ở các cấp bậc khác nhau Với phương pháp này, các thành phần tự nhiên được tách biệt ra khỏi mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau

- Phương pháp đánh giá tổng hợp: là cách đánh giá xét đến tất cả các mối

quan hệ và tác động tương hỗ của các yếu tố và các thành phần tự nhiên, cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ trong tổ chức không gian, cấu trúc, động lực của cảnh quan, với đặc trưng phân hóa của các dạng sử dụng tài nguyên một cách có quy luật và hiệu quả trên lãnh thổ cũng như sự phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố con người, thông qua các hoạt động kinh tế Đánh giá tổng hợp dựa trên các phép phân tích về thích nghi sinh thái, sự bền vững xã hội, bền vững môi trường và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng phương pháp này cần có thêm những lý giải, cũng như xem xét kỹ những vấn đề lý thuyết đánh giá, phương pháp luận, các thủ pháp tiến hành đối với mỗi đối tượng cũng như ở mỗi một đơn vị lãnh thổ riêng biệt khác nhau

Trang 36

Qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Xô Viết, các mô hình đánh giá tổng hợp khái quát cho các lãnh thổ: mô hình đánh giá chung của L.I Mukhina (1970); mô hình đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN cộng hoà Ucraina của A.M Marinhich (1970); mô hình đánh giá thiết kế lãnh thổ Cộng hòa Ucraina của P.G Sisenko (1983) và nhiều công trình khác Có thể khái quát nội dung quá trình đánh giá tổng hợp theo mô hình sau:

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình đánh giá cảnh quan

Dựa trên việc nghiên cứu ĐGCQ, tác giả sẽ đưa ra mức độ thích nghi của từng đối tượng sản xuất Nông - Lâm nghiệp một cách phù hợp ở địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc Tính thích nghi được đánh giá theo điểm dựa vào nhu cầu sinh thái của của loại hình sử dụng đất và đặc điểm tự nhiên của các dạng cảnh quan Điểm đánh giá được tính theo một trong các phương pháp sau [10]:

- Phương pháp tính tổng hoặc trung bình cộng các điểm thành phần

- Phương pháp tính tích hoặc trung bình nhân các điểm thành phần

- Phương pháp phân tích nhân tố

- Phương pháp tích hợp đánh giá đất đai tự động và hệ thông tin địa lý (gọi tắt

là phương pháp tích hợp ALES - GIS)

Các nhiệm vụ được đặt ra để giải quyết trong quá trình đánh giá có thể khác nhau Công thức đánh giá thích nghi sinh thái chung có dạng:

và bảo vệ môi trường

Đánh giá tổng hợp Xác định mức độ thích nghi của các thể tổng hợp TN đối với các mục tiêu

thực tiễn cụ thể

Trang 37

Trong đó:

(A) là địa tổng thể/cảnh quan

(X) là dạng sử dụng, khai thác tài nguyên

(Y) là điều kiện

Các nhóm nhiệm vụ đánh giá cảnh quan có các dạng sau:

+ “X” đã xác định, tìm “A”

+ “A” đã xác định, tìm “X”

+ Tìm “A” và “X”

+ “A” và “X” đã biết, tìm điều kiện “Y” tối ưu

Những vấn đề lý luận, phương pháp luận đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan cho một số đối tượng cây trồng, vật nuôi, các loại hình sản xuất, kinh tế đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập khá kỹ, cũng như đã có những kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn

Ở đề tài này, tác giả lựa chọn các cây Thanh Long ruột đỏ, mía, cây gấc, bí đỏ,bí xanh, trồng trên địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc Vì các loại cây này

trồng ở huyện và đã cho thu hoạch, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao, được xem

là “loại cây xóa đói giảm nghèo và cây làm giàu” của huyện

1.2.4 Các hệ thống phân loại phổ biến trong nghiên cứu CQ

1.2.4.1 Một số hệ thống phân loại CQ trên thế giới

Hệ thống phân vị của phân vùng là hệ thống phân loại các thể tổng hợp ĐLTN

cá thể Trong nghiên cứu các thể tổng hợp ĐLTN cần phân chia theo các đơn vị kiểu loại Hiện nay, xây dựng bản đồ CQ các tỉ lệ cũng sử dụng rộng rãi các đơn vị phân vùng theo kiểu loại để thể hiện các thể tổng hợp kiểu loại (các CQ) Đặc biệt quan tâm đến 3 hệ thống phân loại cảnh quan theo kiểu loại sau:

- Hệ thống phân loại của A.G.Iasachenko (1961) [1], [11]

Gồm 8 bậc: Nhóm kiểu  Kiểu  Phụ kiểu  Lớp  Phụ lớp  Loại  Phụ loại  Biến chủng (Thể loại) (Phụ lục 1.1)

- Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A.Govdesky (1961) [12], [11]

Gồm 5 bậc: Lớp  Kiểu  Phụ kiểu  Nhóm  Loại (Phụ lục 1.2)

Cảnh quan (A) thuận lợi đối với dạng sử dụng (X) trong điều kiện (Y)

Trang 38

- Hệ thống phân loại của N.N.Nikolaev (1966) [6], [12]

Gồm 12 bậc, áp dụng cho nghiên cứu cảnh quan đồng bằng: Thống  Hệ  Phụ hệ  Lớp  Phụ lớp  Nhóm  Kiểu  Phụ kiểu  Hạng  Phụ hạng  Loại  Phụ loại (Phụ lục 1.3)

Qua phân tích các hệ thống phân loại cảnh quan của các tác nước ngoài như trên chúng ta nhận thấy, các hệ thống phân loại đưa ra đều dựa trên một nguyên tắc chung: lần lượt sử dụng các dấu hiệu địa đới và phi địa đới để phân chia các đơn vị tiếp theo Theo ý kiến của của nhiều nhà địa lý, sự xen kẽ của các dấu hiệu địa đới và phi địa đới chỉ là một phương pháp quy ước, không phản ánh được tương quan tự nhiên giữa các thể tổng hợp địa lý

Ngoài ra một số nhà nghiên cứu địa lý đã tách yếu tố địa đới và phi địa đới thành những dãy độc lập: một dãy sắp xếp các cấp phân vị theo tính địa đới, một dãy theo tính phi địa đới và một dãy kết hợp

Đại diện cho các nhà nghiên cứu này có thể kể đến D.L.Armand (1965), V.I.Prokaev (1967) và A.G.Isachenko (1965),

- Hệ phân vị 2 hàng (hàng địa đới và phi địa đới) được A.A.Grygoryev, V.B

Sochava, I.P.Gerasimov, A.M.Riapchicov và những người

Mặc dù nguồn gốc và nguyên nhân hình thành có khác nhau nhưng bên trong mỗi đơn vị tổng thể tự nhiên bao giờ cũng có sự biểu hiện của cả hai nhân tố này mặc

dù mức độ khác nhau, khó có thể tách biệt từng nhân tố Phát triển quan điểm này V.I.Prokaev đã xây dựng hệ thống nhiều hàng như sau :

Trong đó: + Nghĩa rộng được hiểu trên quy mô hành tinh

+ Nghĩa hẹp được chỉ trên quy mô địa phương

Từ hệ thống phân loại cảnh quan của các tác nước ngoài như trên chúng ta nhận thấy, các hệ thống phân loại đưa ra đều dựa trên một nguyên tắc chung: lần lượt

sử dụng các dấu hiệu địa đới và phi địa đới để phân chia các đơn vị tiếp theo Theo ý kiến của của nhiều nhà địa lý, sự xen kẽ của các dấu hiệu địa đới và phi địa đới chỉ là một phương pháp quy ước, không phản ánh được tương quan tự nhiên giữa các thể tổng hợp địa lý

Trang 39

1.2.4.2 Một số hệ thống phân loại CQ ở Việt Nam

Người đưa ra hệ thống phân vùng đầu tiên cho nước ta là T.N Seglova (Liên

Xô cũ) trong công trình “Việt Nam” (1957) - tác phẩm địa lý Việt Nam ra đời đầu

tiên Ông sử dụng hệ thống phân vị đơn giản, có 2 cấp: vùng và á vùng

- Chỉ tiêu để phân chia Vùng là yếu tố địa chất - kiến tạo, khí hậu, thực vật, trong đó yếu tố chủ đạo là khí hậu

- Chỉ tiêu để phân chia Á vùng là các nhân tố địa mạo

Trong “Thiên nhiên miền Bắc Việt Nam” (1961) của Fridland, sử dụng hệ

thống phân vị gồm 5 cấp Mối quan hệ giữa các cấp không rõ ràng miền Bắc Việt Nam được chia thành 3 lãnh thổ: Đồng bằng, đồi núi Lãnh thổ đồng bằng và đồi được chi ra Tỉnh  Vùng Lãnh thổ núi chia theo hệ thống khác: Lãnh thổ  Tỉnh  Quận  Á quận  Đới (đối với khu vực đá silicat) hoặc Vùng (đối với các khu vực

đá vôi) Hệ thống phân vị này không chỉ rõ quan hệ của các cấp với cấp trên nó và không có chỉ tiêu cho từng cấp cụ thể [27]

Cũng trong giai đoạn này công trình phân vùng có giá trị thực tiễn lớn là Phân vùng địa lý tự nhiên Tây Nguyên của tập thể tác giả Nguyễn Văn Chiển, Trần Quang Ngãi, Hoàng Đức Triêm nghiên cứu từ 1976 - 1980 và công bố năm 1984 với hệ thống phân vị chỉ gồm 3 cấp: xứ, khu, vùng nhưng đã nói lên được giá trị thực tiễn của việc vận dụng nghiên cứu địa lý tự nhiên trong thực tiễn sản xuất

- Năm 1983, Vũ Tự Lập đưa ra hệ thống phân loại 4 cấp cho bản đồ các kiểu

cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1: 2.000.000, bao gồm: Lớp CQ  Phụ lớp CQ Hệ CQ

 Kiểu CQ

- Năm 1983, Phạm Quang Anh và tập thể tác giả phòng Địa lý tự nhiên tổng

hợp(Viện Khoa học Việt Nam) xây dựng bản đồ cảnh quan Việt Nam tỷ lệ 1:

2.000.000 đã xây dựng hệ thống phân loại gồm 7 cấp: Khối cảnh quan  Hệ cảnh quan  Phụ hệ cảnh quan  Lớp cảnh quan  Phụ lớp cảnh quan  Nhóm cảnh quan  Kiểu cảnh quan.Trong đó kiểu cảnh quan là cấp cơ sở, hiểu là kiểu các khu vực (cảnh quan) tương tự nhau về mặt phát sinh, có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn Hướng khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên trên lãnh thổ của cùng kiểu gần giống nhau, mặc dù sự phân bố của chúng ở xa nhau

Trang 40

- Năm 1983, tập thể tác giả Phòng địa lý tự nhiên tổng hợp (Viện Khoa học Việt Nam) thành lập bản đồ cảnh quan cho đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý tự nhiên

Tây Nguyên đã xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam với 8 bậc: Hệ CQ

 Phụ hệ CQ  Lớp CQ  Phụ lớp CQ  Kiểu CQ  Phụ kiểu CQ  Hạng CQ

 Loại CQ (riêng hạng CQ phân chia căn cứ vào dấu hiệu địa mạo, kiểu địa hình phát sinh với đặc điểm của nền địa chất)

- Năm 1997, khi nghiên cứu cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam cho mục

đích sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã xây dựng hệ thống phân

loại 7 cấp: Hệ thống CQ Phụ hệ thống CQ Lớp cảnh quan  Phụ lớp CQ  Kiểu CQ  Phụ kiểu CQ  Loại CQ (Phụ lục 1.4) [6]

- Năm 2004, khi nghiên cứu về cảnh quan dải ven biển đồng bằng sông Hồng,

tác giả Phạm Thế Vĩnh đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 cấp: Hệ phụ hệ dải

lớp kiểu hạng loại

Qua hệ thống phân loại CQ của các tác giả, chúng tôi nhận thấy:

- Có sự khác nhau rõ rệt giữa các hệ thống phân loại Nghiên cứu ở tỉ lệ bản đồ khác nhau xuất hiện các đơn vị phân loại khác nhau

- Lãnh thổ càng nhỏ, đơn vị phân vị càng chi tiết

- Một số đơn vị cơ sở được nhiều tác giả thừa nhận, đó là: lớp CQ, phụ lớp

CQ, kiểu CQ, phụ kiểu CQ và loại CQ

Như vậy, tên gọi một CQ ở các hệ thống phân loại khác nhau là không đồng nghĩa với nhau Do đó, khi nghiên cứu cảnh quan một lãnh thổ cần hiểu đúng bản chất, không thể hiểu theo tên gọi của chúng

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp

1.3.1 Định hướng sử dụng CQ cho phát triển nông - lâm nghiệp

Để định hướng sử dụng CQ cho phát triển NLN một cách hợp lý, trước hết phải lựa chọn các đặc điểm đặc trưng tự nhiên, các điều kiện môi trường sinh thái phù hợp của lãnh thổ phục vụ cho mục đích SXLN Bên cạnh đó, cần chú trọng đến yếu

tố con người và đặc điểm chung của các điều kiện KTXH và nhân văn Vì vậy, định

Ngày đăng: 23/12/2015, 15:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình đánh giá cảnh quan - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình đánh giá cảnh quan (Trang 36)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Lập Thạch - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Lập Thạch (Trang 44)
Hình 2.2. Bản đồ địa hình huyện Lập Thạch - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 2.2. Bản đồ địa hình huyện Lập Thạch (Trang 46)
Hình 2.3: Biểu diễn nhiệt độ trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 2.3 Biểu diễn nhiệt độ trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 (Trang 48)
Hình 2.4. Lượng mưa trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 2.4. Lượng mưa trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2003- 2012 (Trang 49)
Hình 2.5. Bản đồ thổ nhưỡng huyện Lập Thạch - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 2.5. Bản đồ thổ nhưỡng huyện Lập Thạch (Trang 51)
Bảng 2.1: So sánh một số chỉ tiêu đất nông nghiệp - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Bảng 2.1 So sánh một số chỉ tiêu đất nông nghiệp (Trang 53)
Bảng 3.1: Tổng hợp đánh giá riêng các chỉ tiêu của CQ - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Bảng 3.1 Tổng hợp đánh giá riêng các chỉ tiêu của CQ (Trang 82)
Hình 3.1. Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển nông nghiệp huyện Lập Thạch - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 3.1. Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển nông nghiệp huyện Lập Thạch (Trang 85)
Hình 3.3. Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển tổng hợp nông lâm nghiệp - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 3.3. Bản đồ đánh giá cảnh quan để phát triển tổng hợp nông lâm nghiệp (Trang 92)
Hình 3.4. Sơ đồ: Vòng xoáy đói nghèo của người dân miền núi - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Hình 3.4. Sơ đồ: Vòng xoáy đói nghèo của người dân miền núi (Trang 95)
Bảng 1.2: HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN - Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp
Bảng 1.2 HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w