2.Lý do chọn đề tài Có ba lý do chính để nhóm chúng tôi cùng quyết định chọn đề tài này: -Tìm hiểu sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa để ta có thể biết thêm những giai đoạ
Trang 1MỤC LỤC
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHẦN NỘI DUNG
1.XHCN LÀ GÌ?
1.1Khái niệm xã hội chủ nghĩa
1.2 Khái niệm hệ thống xã hội chủ nghĩa
2.SỰ RA ĐỜI CỦA HỆ THỐNG CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Sự hình thành từ nguyên thủy đến xã hội chủ nghĩa
2.2 Những ảnh hưởng và tiền đề hình thành xã hội chủ nghĩa
2.2.1 Ảnh hưởng của thắng lợi cách mạng tháng 10 Nga
2.2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Mác-Lê nin và những yếu tố khác.
2.3 Sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
2.3.1 Việt Nam cũng là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
2.4 Khó khăn và thách thức
2.4.1 Khó khăn
2.4.1.2 Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980 2.4.1.2 Giai đoạn từ cuối nhưng năm 1980 đến nay
2.4.2 Khắc phục
3/THÀNH TỰU
3.1 Về kinh tế:
3.2 Về chính trị.
3.3 Về văn hoá,khoa học kỹ thuật
3.4 Liên hệ với Việt Nam về những thành tựu đã đạt được
3.4.1 Kinh tế thị trường định hướng XHCN
C.LỜI KẾT
A/PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21.Mục đích và yêu cầu
Làm rõ được sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.Những ảnh hưởng ban đầu tác động đến sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu những khó khăn thách thức gặp phải trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa ngay từ buổi ban đầu khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô thành lập.Cho đến xã hội chủ nghĩa thành hệ thống trên toàn thế giới
Những thành tựu mà các nước xã hội chủ nghĩa đã làm được trong giai đoạn phát triển
4.Phương pháp nghiên cứu
1 Tìm kiếm tài liệu liên quan đến sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa,những khó khăn gặp phải cũng như những thành tựu đạt được
2 Trao đổi thảo luận nhóm để tìm quan điểm thống nhất chung
3 Vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin để đưa ra như phương pháp luận để giải quyết vấn đề
2.Lý do chọn đề tài
Có ba lý do chính để nhóm chúng tôi cùng quyết định chọn đề tài này:
-Tìm hiểu sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa để ta có thể biết thêm những giai đoạn lịch sử trong quá khứ đã làm thay đổi toàn nhân loại.Giúp những người thống khổ trên toàn thế giới tìm cho mình một lối thoát,thoát khỏi sự thống trị,áp bức
-Biết được những thành quả mà hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa làm được, giúp ta thêm tin và tự hào về những truyền thống của nhân loại
-Đặc biệt tìm hiểu thêm về sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và thành tựu mà nó mang lại.Để sinh viên ta ngày nay cùng nhau cố gắng,phấn đấu để có thể duy trì sự phát triển của xã hội chủ nghĩa.Cùng nhau tạo ra nhiều thành tựu hơn nữa chứng tỏ đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là đúng đắn và sáng suốt
3.Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.quá trình hình thành,phát triển của nó cũng như những khó khăn trở ngại gặp phải từ lúc mới xuất hiện.Những ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự ra đời phát triển của xã hội chủ nghĩa,từ một đất nước đơn lẻ là Liên Xô để làm tiền đề quan trọng cho sự phát triển lớn mạnh sau này của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển cũng như bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội
Cuối cùng,nghiên cứu về những thành quả mà hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được
Liên hệ với Việt Nam-cũng là một nước tiến lên con đường xây dựng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa,à cả những thành quả mà Việt Nam đạt được trong quá khứ cũng như tương lai
5.Ý nghĩa của đề tài
Từ những bước đi chập chững buổi ban đầu đầy khó khăn,thách thức.Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội bắt đầu ở Liên XÔ đã mở ra một thời đaị mới cho lịch sử nhân loại.Những giai cấp bị thống trị trước kia có thể tự làm chủ cuộc sống của mình,cùng nhau xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa có công bằng,dân chủ,văn minh, thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân.Từ những buổi ban đầu đó,vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn xã hội chủ nghĩa đã phát triển thành một hệ thống trên toàn thế giới.Giúp nhau cùng tồn tại và phát triển
Trang 3Việt Nam ta là một nước cũng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.Những thành quả đạt được ngày hôm nay làm ta thêm tự hào và tin tưởng hơn vào con đường đúng đắn ấy
Tìm hiểu về sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và những thành tựu của
nó ta cảm nhận được nhũng sự cố gắng của biết bao con người đặt những viên gạch đầu tiên xây nên nền móng cho Sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sau này
B/PHẦN NỘI DUNG
1.XHCN LÀ GÌ?
1.1Khái niệm xã hội chủ nghĩa
XHCN là một xã hội quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội,trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với nhân dân lao động xây dựng xã hội công bằng,dân chủ văn minh
Một số dặc trưng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ để đàn áp một giai cấp nào đó,nhà nước đó thực hiện một chính sách giai cấp vì lợi ích của tất cả người lao động nhưng dồng thời vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó đối với nhà nước vẫn được duy trì
- Cũng là công cụ của chuyên chính giai cấp,nhưng vì lợi ích của tất cả người lao dộng tức là tuyệt đại đa số nhân dân,nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện sự trấn áp những kẻ chống đối phá hoại sự nghiệp cách mạng của xã hội chủ nghĩa
- Mặt tổ chức xây dựng là đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân,mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản lí nhà nước,quản lí xã hội
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”,là “nửa nhà nước”.Sau khi những cơ sở kinh tế xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn,nhà nước tự “tiêu vong”
1.2 Khái niệm hệ thống xã hội chủ nghĩa
Hệ thống xã hội chủ nghĩa: là thể chế chính trị ở các nước có đảng cộng sản đã hoặc đang giữ độc quyền.các nước này,tạm gọi tắt là hệ thống Xô Viết,tự gọi mình là các nước xã hội chủ nghĩa,trong đó từ chủ ngĩa xã hội dùng theo nghĩa giai đoạn trước chủ nghĩa cộng sản
Một số đặc trưng của hệ thống các nước XHCN:
- Chỉ do một đảng lãnh đạo đó là đảng cộng sản
- Các đặc trưng của cơ cấu quyền lực chính là nền tảng để từ đó suy ra quy luật vận hành của chính hệ thống xã hội chủ nghĩa
- Thể chế căn bản của cơ cấu quyền lực là đảng cộng sản.Các nước xã hội chủ nghĩa
có hệ thông một đảng,trong đó không một đảng đối lập nào khác được hoạt động.Ở thời điểm đỉnh cao của quyền lực,đảng viên chiếm một tỉ lệ dân số đáng kể
- Phương châm chủ đạo của nguyên tắc tổ chức đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ
- Ban lãnh đạo được bầu tại đại hội tổ chức cơ sở theo từng nhiệm kì cụ thể.Mỗi tổ chức cơ sở có một bí thư lãnh đạo
- Các cơ sở chịu sự lãnh đạo của tổ chức đảng cao hơn,thường được tổ chức theo nguyên tắc phạm vi lãnh thổ
Trang 4- Lãnh đạo cấp trung ương có bộ tham mưu rất lớn,là những người tạo ra hệ thống thứ bậc quan liêu bao gồm những người đứng đầu các ban,phó ban và những viên chức.Theo quy định chính thức,quan chức được chỉ định của đảng không có quyền lực,bởi vì quyền quyết định duy nhất thuộc về cơ quan bầu ra.Trên thực tế,họ có ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động
- Các cán bộ lãnh đạo được bầu ra(làm việc chuyên trách) và công chức được của đảng thường được biết đến như là bộ máy của đảng
- Theo hiến pháp,pháp luật và các quy phạm pháp luật,nhà nước dưới hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển cũng giống như các nhà nước hiện đại khác.Nhà nước chia thành ba ngành:lập pháp,hành pháp và tư pháp;cơ quan quản lí nhà có trách nhiệm hành pháp
và tư pháp
2.SỰ RA ĐỜI CỦA HỆ THỐNG CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Sự hình thành từ nguyên thủy đến xã hội chủ nghĩa
Từ lúc sơ khai theo quy luật tiến hóa của lịch sử,loài người đi lên từ cái không
có đến cái có.Từ xã hội nguyên thủy,xã hội nô lệ,xã hội phong kiến đến xã hội tư bản
và tiến tới xã hội chủ nghĩa.Lịch sử cho thấy rằng,xã hội cộng sản nguyên thủy chỉ là một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,mọi người sống bình đẳng,chưa có giai cấp và chưa có nhiều nước.Tổ chức đầu tiên của xã hội loài người là chế độ thị tộc,bộ lạc phù hợp với tình trạng còn thấp kém lúc bấy giờ.Đứng đầu các thị tộc bộ lạc là các tộc trưởng,hội đồng các tộc trưởng cho nhân dân bầu ra.Họ chịu trách nhiệm trước nhân dân,coi sóc các công việc chung và có thể bị bãi nhiễm nếu không có sự tín nhiệm của nhân dân.Họ điều chỉnh các quan hệ xã hội,duy trì các quy tắc đời sống xã hội vừa điều khển các công việc sức mạnh của dư luận xã hội và uy tín của họ đối với xã hội.Trong tay họ không có và không cần có một công cụ cưỡng dức đặc biệt nào cả
Sự phát triển của lực lượng sản xuất vào thời kì cuối của xã hội nguyên thủy dẫn đến sự hình thành các chế độ tư hữu và bắt đầu phân thành những giai cấp nô lệ,quan hệ người áp bức,người thay thế quan hệ bình đẳng,hợp tác tương trợ sự đối kháng của giai cấp bóc lột đối với những nô lệ, giai cấp nô lệ phải phục tùng theo những trật tự do mình đặt ra,bộ máy đó là nhà nước
2.2 Những ảnh hưởng và tiền đề hình thành xã hội chủ nghĩa
Những nhà nước đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là những nhà nước chiếm hữu nôlệ, tiếp đó là những nước phong kiến,những nước tư sản và những nước xã hội chủ nghĩa.Đặc biệt,khi tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển mạnh làm cho mâu thuẫn giữa các tầng lớp ngày càng gay gắt.Những giai cấp bị bóc lột đứng lên đấu tranh chống áp bức,đòi quyền tự do cho chính bản thân mình Tư tưởng lý luận mác – Lê nin
ra đời và cách mạng tháng 10 Nga là những ảnh hưởng cũng như tiền đề quan trọng cho sự hình thành hệ thông các nước xã hôi chủ nghĩa trên trên toàn thế giới
2.2.1 Ảnh hưởng của thắng lợi cách mạng tháng 10 Nga
Thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga đã làm nên một kì tích to lớn và tạo dựng nên một chế độ xã hội chủ nghĩa “ưu việt”,có ảnh hướng sâu sắc đến đời sống chính trị thế giới,ngay từ những năm tháng nó diễn ra cho đến mọi thời đại sau này.Cách mạng tháng 10 Nga là cột mốc lịch sử đánh dấu sự mở đầu của một thời đại lịch sử mới,thời đại quá độ từ chủ ngĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.Vì cuộc cách mạng này làm sụp đổ trật tự xã hội chủ nghĩa cũ-xã hội tư bản chủ nghĩa, tổ chức xây dựng một xã hội mới do nhân dân làm chủ.Sau cách mạng tháng 10,nhân dân Nga đã làm chủ bộ máy nhà nước,làm chủ những tư liệu sản xuất của chính mình,nhân dân Liên
Xô dưới sự lãnh đạo của của đảng cộng sản Liên xô, đã lao động quên mình,nhanh chóng biến nước Nga từ một nước lạc hậu thành một nước xã hội chủ nghĩa có nền
Trang 5kinh tế phát triển,nhiều ngành khoa học tiên tiến,có một xã hội luôn luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động
Với thành quả của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,với niềm tin vào lý tưởng cộng sản đã giúp cho nhân dân Liên Xô cùng với lượng dân chủ tiến bộ đập tan chủ nghĩa phát xít,cứu nhân loại khỏi họa diệt chủng,giải phóng hàng loạt các nước Đông Âu,tạo điều kiện cho các nước này đi lên chủ nghĩa xã hội
Chủ ngĩa xã hội với tính ưu việt của nó,đã cổ vũ hàng loạt các nước đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc,dân chủ cho nhân dân,xóa bỏ chế độ bàn tích của của chế độ thực dân phong kiến.Nhiều nước,trong số đó đã lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa hoặc định hướng lên chủ nghĩa xã hội.chủ nghĩa xã hội đã vượt khỏi phạm vi của một nước trở thành hệ thống trên toàn thế giới đối lập với tư bản chủ nghia
Tóm lại,cách mạng tháng 10 Nga đã mở đầu một thời đại mới thời kì qua dộ lên chủ nghĩa xã hội vì
Thứ nhất:sau cách mạng tháng 10 Nga chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành
thực tiễn,đã xuất hiện hình thái kinh tế-XH cộng sản chủ nghĩa,là cái đối lập,là cái phủ định hình thái kinh tế-Xh tư bản chủ nghĩa
Thứ hai:chiều hướng phát triển chủ yếu,xuyên suốt của sự vận động lịch sử từ
sau cách mạng tháng 10 là đấu tranh xoa bỏ trật tự tư bản chủ nghĩa,thiết lập và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn thé giới
Thứ ba:từ sau cách mangh tháng 10,các nước xã hội chủ nghĩa,phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế trở thành lực lượng nòng cốt,đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hòa bình,dân chủ và tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới
Sự vận động lịch sử là quanh co và phức tạp khi tiến,khi lùi.Do vậy,hiện nay mặc dù tình hình quốc tế diễn ra vô cùng phức tạp,nhưng đảng ta vẫn khẳng định “chủ ngĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn,thách thức,lịch sử thế giới hiện đang trải qua những bước quanh co,song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật của tiến hóa lịch sử”
Từ sau cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 tới kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1945
Giai đoạn này là giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa mới hình thành trên phạm vi một số nước như Mông Cổ,Liên Xô,cuộc cách mạng tháng 10 là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử đưa nhân dân lao động từ những người nô lệ,làm thuê trở thành những người làm chủ đất nước.Sức mạnh của chế độ mới đã giúp nhân dân lao động Nga đứng vững trong công cuộc nội chiến,đập tan âm mưu can thiệp của chủ nghĩa đế quốc,với khí thế lao động của những con người được giải phóng,thông qua chính sách kinh tế mới,thông qua con con đường hợp tác hóa nông nghiệp,công nghiệp hóa đất nước,sau 20 năm Liên Xô đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế.Đó là những nguyên nhân Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ 2,cứu nhân loại khỏi thảm họa chủ nghĩa phát xít
Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định “giống như mặt trời chói lọi,cách mạng tháng
10 Nga chiếu sáng khắp năm châu,thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột.Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào ý nghĩa to lớn và sâu sa như thế
2.2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Mác-Lê nin và những yếu tố khác.
Thành công của cách mạng tháng 10 Nga ảnh hưởng không nhỏ dến sự ra đời của chủ nghĩa xã hội,bên cạch đó chủ nghĩa Mác- Lê nin cũng ảnh hưởng lớn lao,các phong trào cộng sản,công nhân quốc tế,các cuộc cách mạng để hình thành nên các nước xã hội chủ nghĩa.Điển hình như một số cuộc cách mạng như:Cuộc cách mạng
Trang 6tháng 03/1871 ở Pháp lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại,một kiểu nhà nước mới – nhà chuyên chính vô sản(công xã Parí)được thành lập,có thể coi là sự kiểm nghiệm vĩ đại đối với chủ nghĩa Mác- Lê nin
Năm 1919,Quốc tế cộng sản được thành lập,năm 1922 Liên Bang CộngHòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời đánh dấu sự liên minh vô sản trong nhiều quốc gia.Chiên tranh thế giới thứ hai không chỉ bảo vệ được thành quả của giai cấp vô sản mà còn đưa chủ nghĩa xã hội phát triển ra ngoài biên giới của Liên Xô,hình thành nên cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu.Với các thành viên như:Mông Cổ,Ba Lan,Rumani,Hungari,Việt Nam,nam Tư,Anbani,Tiệp khắc,Nam tư,Triều Tiên,CH DC Đức,Trung Quốc,Cu Ba
Sự kiện này làm cho chủ nghĩa tư bản không còn là các hệ thống duy nhất mà song song là một hệ thống chính trị đối lập với nó về bản chất và mục đích hoạt động
Những sự kiện này cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân của giai cấp công nhân toàn thế giới,thức tỉnh cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.Vai trò định hướng của Chủ Nghĩa Mac lê-nin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình,độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hôi
2.3 Sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản ở nhiều nước châu Âu và châu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân phối hợp với Hồng quân Liên xô thành một mặt trận chống phát xít, có sự phối hợp chi viện cho nhau, tăng cường liên hệ quốc tế Chính sự lớn mạnh của các Đảng Cộng sản trong thời kỳ chiến tranh là cơ sở để khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, Đảng Cộng sản ở nhiều nước đã đứng lên lãnh đạo quần chúng nhân dân vũ trang giành chính quyền thành lập nhà nước dân chủ nhân dân Trong thời gian 5 năm (từ năm 1944 đến năm 1949) ở châu Âu và châu Á đã có 11 nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo bằng 3 phương thức đã giành được chính quyền
Phương thức thứ nhất chủ yếu dựa vào lực lượng vũ trang của nhân dân nước mình, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền như: cộng hoà nhân dân liên bang Nam Tư thành lập 1944; nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập 1945; cộng hoà nhân dân Anbani năm
1946 và cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Phương thức thứ hai chủ yếu dựa vào Hồng quân Liênxô giải phóng đồng thời phối hợp vũ trang của nhân dân nước mình như Cộng hoà nhân dân BaLan (1945), Bungari (1946), Rummani (1948), Hunggari và Tiệp Khắc (1946) nhưng sau đó phải đấu tranh trong nội bộ chính phủ để trục xuất các phần tử tư sản, trở thành nước cộng hoà dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo (Hunggari 7/1947; Tiệp Khắc 2/1948) và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên.Phương thức thứ ba hoàn toàn do Hồng quân Liênxô giải phóng và dưới sự giúp đỡ của Liênxô để đi lên con đường chủ nghĩa xã hội như CHDC Đức(10/1949)
Vậy là sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước đã mở rộng ra 13 nước ở châu Âu và châu Á; với thắng lợi của cách mạng dân chủ ở Cu Ba năm 1959, Phong trào 26 tháng 7 do Phiden Castrô lãnh đạo, nước cộng hoà Cu Ba chuyển sang chủ nghĩa xã hội Như vậy chủ nghĩa xã hội đã không chỉ ở châu Âu, châu Á mà còn mở rộng đến châu Mỹ Latinh Những nước này về hình thái ý thức đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm tư tưởng chỉ đạo Về chính trị hình thành phe chủ nghĩa
xã hội do Liênxô đứng đầu, về quân sự ở châu Âu hình thành tổ chức thông qua Hiệp ước Vacsava Về quan hệ kinh tế, đó là những nước có chung một kiểu cơ sở kinh
tế-xã hội, quyền sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và thông qua các hiệp ước song phương và Hội đồng tương trợ kinh tế để tương trợ giúp đỡ lẫn nhau xây dựng cộng
Trang 7đồng thị trường thế giới xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống tồn tại song song với hệ thống tư bản chủ nghĩa
2.3.1 Việt Nam cũng là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Sự kiện này là mốc son đánh dấu
sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng
Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát Tại Đại hội IX của Đảng, khi tổng kết những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới, Báo cáo chính trị
đã chỉ rõ bài học thứ nhất là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” Sự lựa chọn của Đảng ta của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng ta đàn áp và thất bại
Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên
là yêu cầu cơ bản, cấp bách Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong
“tình hình đen tối như không có đường ra” Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh gách vác sứ mệnh lịch sử đó?
Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người Và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính
là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới, chi phối mọi mặt đời sống xã hội loài người Chính vào thời điểm ấy Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra,
mở đầu cho một xu thế mới của lịch sử thế giới, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam – nơi mà chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi” Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội Vời kỳ công của Nguyễn
Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm
1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng
Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội Cộng sản” Một cách tự nhiên, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa Xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi, từ đó dọc theo
Trang 8thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI, và tiếp tục đi cho tới đích cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc
và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết,
ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui,hạnh phúc ấm no của con người
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau
Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng khác
Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học Đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại; xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia – dân tộc nào phải do quốc gia – dân tộc đó giải quyết,không có sự can thiệp từ con người
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất sinh ra Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh
mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay Nhận thức và hành động theo
sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với “hai
đế quốc to”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên thế giới
Trang 9Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ Quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tín độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và trên thế giới
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới
2.4 Khó khăn và thách thức
2.4.1 Khó khăn
2.4.1.2 Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980
Trong giai đoạn này ở nhiều nươc XHCN không chú ý tới công tác xây dựng Đảng,nhiều kẻ cơ hội chui vào hang ngũ của Đảng Cộng Sản.Một số mắc vào tệ nạn sùng bái cá nhân, không ít người mắc bệnh kiêu ngạo cộng sản,không nhìn thấy và đánh giá đúng những thay đổi trong chính sách của chủ nghĩa tư bản.Ở không ít nước XHCN,bộ máy nhà nước trở lên quan liêu,vi phạm những quyền dân chủ của nhân dân.Trong xây dựng kinh tế chủ quan nóng vội,không tuân thủ nhưng quy đinh khách quan,chậm đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.Trong lĩnh vực xã hội thực hiện bao cấp tràn lan,không kích thích được tính tích cực cá nhân,do vậy không tạo được động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Những sai lầm trên kéo dài,chậm được phát hiện và khắc phục triệt để đã hạn chế tốc độ phát triển kinh tế -xã hội của các nước,dẫn tới tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội ở nhiều nước,buộc các nước phải thay đổi
Trong quá trình cải cách đổi mới,nhiều đảng cộng sản mắc những sai lầm mang tính nguyên tắc.Lợi dụng tình hình đó,những thế lực thù địch với CNXH ở bên ngoài,kết hợp với những kẻ phản bội bên trong,thậm chí cả những người đứng đầu cơ quan nhà nước của Đảng đã tấn công làm sụp đổ chế độ CNXH ở Đông Âu và Liên Xô
Nguyên nhân chủ quan: Quan niệm giáo điều về CNXH
Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản xuất
và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan
hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung
Trang 10quan liêu, bao cấp Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ, khiến Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân dân; vừa không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội , dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn
Một nguyên nhân chủ quan khác là đánh giá quá cao CNXH hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng CNXH (như quan điểm của Liên
Xô về “CNXH đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”,
“CNXH phát triển” ), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH
Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ XHCN suy yếu, rơi vào khủng hoảng Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ XHCN, mà do quan niệm giáo điều về CNXH
Nguyên nhân trực tiếp: Lệch lạc về hệ tư tưởng XHCN và sự can thiệp từ bên ngoài
Một là, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thể hiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất Những tuyên bố ban đầu: “cải tổ
để có nhiều dân chủ hơn, nhiều CNXH hơn”, “chúng ta sẽ đi tới CNXH tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của CNXH chứ không phải
ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra” , rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội
Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu XHCN mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác
- Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không vùng cấm”, cải tổ đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử 70 năm xây dựng CNXH, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của CNXH Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của CNXH Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây
Hai là, chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ
tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mỹ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới” Hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” trong nội bộ