1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu tư tưởng của C.Mác về bản chất con người

44 542 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 516,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời bản chất con người là gì, triết học không phải chỉ xem xét con người với tư cách là những cá nhân ñược sinh ra, là những con người cụ thể hiện có, mà phải xam xét con người trong

Trang 1

Kể từ khi con người bước vào lịch sử ñến nay, cùng với việc ñi sâu

tìm hiểu thế giới xung quanh, con người cũng ñã không ngừng tìm hiểu về

chính bản thân mình Con người là gì, nó sinh ra từ ñâu, quan hệ con

người với con người cũng như với thế giới ra sao, mục ñích cuộc sống con

người là gì, thế nào là hạnh phúc, ñiều gì sẽ ñến với con người sau khi

chết…Biết bao nhiêu câu hỏi ñã ñặt ra và cũng ñã có bao nhiêu cách trả

lời về những câu hỏi ấy Qua nhiều thời ñại, với những chế ñộ xã hội kế

tiếp nhau trong lịch sử, vấn ñề con người vẫn không hề trở nên cũ trong

nhận thức của con người

Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại với con

người và coi con người như một ñối tượng trung tâm của mình Dù là duy

vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên là “triết học của con

người”, “triết học về con người”, mọi trào lưu triết học ở thời cổ ñại cũng

như hiện ñại ñều ñi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn

ñề chung nhất của con người Nhưng xuất phát từ những lập trường thế

giới quan và phương pháp luận khác nhau của triết học, những lý giải ấy

ñã nhiều khi rất khác nhau hoặc ñối lập hẳn nhau Cuộc ñấu tranh về lý

luận và tư tưởng xung quanh vấn ñề con người, bản chất con người cũng

là một trong những nét ñộc ñáo nhất của triết học

Chỉ ñến khi chủ nghĩa Mác ra ñời và phát triển một cách hệ thống,

thì vấn ñề con người mới ñược ñặt ra và giải quyết một cách khoa học và

cách mạng Xem xét tư tưởng của C.Mác về bản chất con người (trong

“luận cương về Phoiơbắc”) có liên hệ trực tiếp ñến chiến lược phát triển

con người của nước ta hiện nay Nó ñáp ứng cả về mặt lý luận và thực

tiễn trong quá trình xây dựng và ñào tạo con người mới

Trang 2

Thực tiễn ở Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện ñại hóa

nay ñòi hỏi phải có những con người toàn diện, hài hòa về mọi mặt, ñặc

biệt là sự phát triển hoàn thiện về nhân cách Chính vì vậy chúng tôi quyết

ñịnh chọn ñề tài niên luận “góp phần tìm hiểu tư tưởng của C.Mác về

bản chất con người” với mong muốn là sáng tỏ một số cơ sở lý luận của

C.Mác về bản chất con người từ ñó ñối chiếu với chiến lược xây dựng và

ñào tạo con người ở nứơc ta hiện nay

Trong thực tế và trên nhiều bình diện của cuộc sống vấn ñề bản chất

con người vẫn còn là một vấn ñề tiếp tục làm sáng rõ hơn

2 Mục ñích và nhiệm vụ

Mục ñích:

Niên luận này nhằm nêu bật tư tưởng của C.Mác về bản chất của con

người, từ ñó thấy ñược cái mới, có tính khoa học và cách mạng trong tư tưởng

của C.Mác so với các nhà triết học trước ñó

Nhiệm vụ:

Niên luận sẽ lý giải hai vấn ñề cơ bản sau:

1.Hệ thống các tư tưởng về bản chất con người trong lịch sử triết học

trước C.Mác

2 Phân tích tư tưởng của C.Mác về bản chất con người từ ñó liên hệ

với chiến lược xây dựng và ñào tạo con người ở nước ta hiện nay

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của ñề tài là nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện

chứng- chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin Đồng thời kế

thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả ñi trước

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tài liệu, phương pháp logíc lịch sử

4.Đối tượng nghiên cứu

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của niên luận là quan niệm cơ bản

của C.Mác về bản chất con người

Trong phần vận dụng thực tiễn chúng tôi di tập trung ñối chiếu với

chiến lược xây dựng và ñào tạo con người của nước ta hiện nay

5 ý nghĩa niên luận

Niên luận góp phần nhận thức khái quát, làm sáng tỏ hệ thống lý

luận trong việc xác ñịnh bản chất con người Từ ñó niên luận tham gia

vào việc xác lập một số mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển con

người ở nước ta hiện nay

6 Kết cấu

Ngoài phần mở ñầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung niên luận gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 4

1.1 Tư tưởng về con người trong lịch sử triết học phương Đông

Triết học phương Đông ñã ra ñời từ rất sớm cùng với sự xuất hiện

của rất nhiều học thuyết và trường phái Nội dung xuyên suốt và nổi bật

trong các học thuyết, tư tưởng ñó chính là vấn ñề con người Triết lý nhân

sinh của người phương Đông hết sức phong phú, ña dạng, và vô cùng ñộc

ñáo, thâm thúy Con người là một nội dung chủ yếu của triết học học này

Việc luận bàn về con người trong lịch sử tư tưởng phương Đông

xuất hiện từ khá sớm Không phải ñợi ñến tư duy trừu tượng với năng lực

khái quát thành tư tưởng học thuyết mà ngay từ các truyền thuyết, thần

thoại, sử thi ñược lưu truyền lại từ thời cổ ñại, trong kho tàng các truyện

cổ tích…Chúng ta ñã có thể tìm thấy không ít sự lý giải về nguồn gốc của

con người Đó là những quan niệm có tính chất triết lý nhân sinh ñầu tiên

về cuộc sống của con người

Con người- cá nhân ñược gắn chặt vào những cấu trúc siêu cá nhân,

các cấu trúc mang nguồn gốc xã hội thuần túy, cũng như là các cấu trúc

thiên nhiên hay cấu trúc “thế giới khác”, những cấu trúc siêu nghiệm

Những tư tưởng này tập trung trong quan niệm triết học của Trung Quốc,

của ấn Độ- hai trong số những nôi xuất hiện và phát triển xã hội loài

người

1.1.1.Vấn ñề con người trong triết học Trung Hoa cổ ñại

Trang 5

Các nhà tư tưởng của triết học Trung Hoa cổ ñại hầu như ñều tập

trung bàn ñến con người Họ không muốn tách con người ra khỏi thế giới;

xem con người là một phần của tự nhiên, chú ý nhấn mạnh ñến mặt xã hội

nhân sinh của con người Khi bàn ñến nội dung này họ ñều mong muốn

lập một trật tự xã hội mới

Trong toàn bộ khổng giáo cổ ñại, từ Khổng Tử, Tuân Tử, Lão Tử,

Hàn Phi Tử…ñều thể hiện sự thống nhất tính cộng ñồng của con người,

trong sự ràng buộc của rất nhiều mối quan hệ xã hội Trong không ít học

thuyết, bản chất con người bắt ñầu từ chở thiện và thể hiện ra ñạo ñức của

con người quân tử

Chữ “nhân” là hạt nhân trong học thuyết chính trị của Khổng Tử-

con người ñạo ñức phong kiến phương Đông trong Nho giáo: “quân tử nhi

bất nhân giả hữu hỉ, vị hữu tiểu nhân nhi nhân giả dã” Nghĩa là ñạo nhân

chỉ là ñạo của người quân tử, của giai cấp thống trị, còn nhân dân lao

ñộng kẻ tiểu nhân không có ñược ñức nhân

Mặt khác khi bàn ñến con người, Khổng Tử cho: “người là cái ñức

của trời ñất, trước hết là sự giao hợp của âm dương, là sự hội tụ của quỷ

thần, là khí tinh tú của ngũ hành”, có nghĩa là ông thừa nhận con người là

sản phẩm của tự nhiên nhưng con người ở ñây lại xuất hiện một cách thần

bí Theo ông, con người có số mệnh, số mệnh do trời quy ñịnh “sống chết

có mệnh, giàu sang tại trời”, con người chỉ biết hoàn toàn tuân theo số

mệnh Sống-chết, phú quý- giàu nghèo của mỗi cá nhân ñều là do “thiên

mệnh” quy ñịnh Khổng Tử nhấn mạnh ñến bản tính thiện của con người;

con người ngay từ khi mới lọt lòng ñã có sẵn tính thiện, ñó là “thiên

tính” Điều ñáng chú ý ở ñây là khi bàn ñến mối quan hệ giữa con người

và xã hội, Khổng Tử nhấn mạnh ñến lý luận, ñạo ñức, quan hệ tinh thần

mà không chú ý ñến quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế Nhưng ông cũng

thấy ñược vai trò của học tập, giao tiếp trong việc quyết ñịnh bản tính con

người

Trang 6

Cùng thời Khổng Tử, Lão Tử với quan niệm “ñạo là vạn vật chi

tông” và người phải tuân theo quy luật của thế giới Ông cho rằng mọi sự

hình thành, biến hóa của vạn vật ñều từ “ñạo” mà ra “Đạo” cũng là cái có

trước vạn vật, có trước hiện tượng ñầu tiên: Đạo sinh ra một, một sinh ra

hai, hai sinh ra ba và ba sinh ra vạn vật Như vậy Đạo của Lão Tử là một

thứ rất huyền bí, trần thoát, cái có tên là “mẹ ñẻ của thiên hạ” Như vậy

Lão Tử không thấy nguồn gốc ñích thực sinh ra loài người là sản phẩm

của sự vận ñộng cao nhất của tự nhiên mà lại cho rằng con người và vật

chất là do “Đạo” sinh ra Trong mối quan hệ con người và xã hội thì Lão

Tử lại xây dựng học thuyết con người vô vi, bát tranh thụ ñộng trước mọi

thế lực thù ñịch

Lão Tử chủ trương conn người cần phải trở lại với trạng thái chất

phác của trẻ con “cần phải có trái tim ngu”, ông chủ trương “học những

người không học” và cho rằng “viết bỏ Thánh trí nhân, nhân dân sẽ có lợi

gấp trăm lần; vứt bỏ nhân nghĩa nhân dân sẽ trở lại hiếu từ” Tức Lão Tử

phủ ñịnh mọi quan hệ luân lý, quan niệm tốt xấu và mọi thứ văn hóa tinh

thần của xã hội hiện thực mà trở lại với cái chất phác “vô danh”, trở lại

với cái ý thức trẻ con không phân biệt tốt xáu, phải trái Từ ñó ông cho

rằng mọi sự sản xuất tinh thàn, mọi văn hóa tinh thần ñều là ý muốn thừa

và hành vi vô dụng” ông ñã phủ nhận tri thức một cách cực ñoan, từ ñó

xem nhẹ vai trò của lý tính con người trong việc nhận thức thế giới, ñề

cao trạng thái tự nhiên của con người

Nhìn chung cả Khổng Tử và Lão Tử chỉ ñề cập ñến mặt tinh thần

của con người mà không nói gì ñến mặt vật chất cái ñể ñáp ứng nhu cầu

sinh học, ñiều kiện ñể con người tồn tại Đặt trong bối cảnh lịch sử thời

ñại ông thì mục ñích xây dựng mẫu người như vậy là cần tiết, song

phương pháp thực hiện mục ñích ñó lại là thiên lệch

Bên cạnh Khổng Tử, Lão Tử, ở thời Xuân Thu chiến Quốc còn có

Mặc Tử với thuyết “làm ái” ông là người ñầu tiên ñã lấy lao ñộng làm cái

Trang 7

là người ñầu tiên chủ trương xây dựng một hình tượng con người với ñầy

ñủ với các mối quan hệ kinh tế lẫn tinh thần trong ñời sống xã hội Dù

còn nhiều ảo tưởng và duy tâm, song học thuyết về con người của Mặc Tử

có nhiều tiến bộ

Cuối thời chiến Quốc, xã hội Trung Hoa bước vào giai ñoạn suy tàn

ñến cực ñộ Các vương quốc nhỏ tiến hành chiến tranh một cách tàn bạo

Trong bối cảnh ñó Trung Hoa xuất hiện một trào lưu tranh biện về bản

tính người, tiêu biểu cho trào lưu ấy là Mạnh Tử và Tuân Tử

Theo Mạnh Tử, ông cho rằng : “nhân tri sơ tính bản thiện” Tức con

người sinh ra vốn ñã tốt Ông nói : Tính người (nhân tính) vốn thiện Bản

chất con người là thuộc “tính thiện của người ta cũng ví như nước chảy

ñến chỗ thấp Người ta không ai là không có tính lành, không nước nào là

không chảy xuống chỗ thấp” Cái thiện ñó ñược biểu hiện qua các mối

quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, thông qua hành vi xử thế của con

người Nhưng nếu không biết nuôi dưỡng, lại chịu ảnh hưởng của tập

quán xấu thì sẽ xa dần cái tốt Với ông tu dưỡng và giáo hóa sẽ giúp con

người hiểu ñược lẽ phải và giữ ñược mình không xa vào cái xấu Tuy có

nhiều tiến bộ, nhưng Mạnh Tử không hiểu ñược ñạo ñức của con người

chỉ là sản phẩm sinh hoạt xã hội của họ và mỗi giai cấp ñều có ñạo ñức

riêng Do ñó con người trong triết học Mạnh Tử cuối cùng vẫn không

thoát khỏi duy tâm

Ngược với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng “nhân tôi sơ tính bản ác”

con người sinh ra vốn ác Bản năng con người vốn là ñi tìm sự thỏa mãn

dục vọng sinh lý, nên hoạt ñộng tự nhiên theo bản tính ấy thì trong xã hội

sẽ có trộm cướp, vô luân Do vậy Tuân Tử ñã chủ trương xây dựng con

người, lễ nghĩa…ñiểm tích cực trong học thuyết của Tuân Tử là ông rất

chú ý ñến vai trò của giáo dục, thông qua giáo dục có thể cải tiến cái xấu,

cái ác ñể trở thành người thiện Thế nhưng, con người của ông lại là con

người ñẳng cấp và ông cho “thánh nhân là người tích nhiều ñức hạnh”

Trang 8

Như vậy cả Mạnh Tử và Tuân Tử ñều thấy ñược vai trò của hoàn

cảnh sống, của giáo dục, giáo hóa ñến việc hình thành nhân cách con

người

Có thể nói triết học Trung Hoa cổ ñại chú ý ñến con người xã hội

hơn con người tự nhiên, con người ñạo ñức hơn con người trí tuệ Vấn ñề

con người ñược bàn ñến ở ñây chủ yếu ñều thiên về mặt ñời sống tinh

thần Tuy có nhiều mặt tiến bộ, song nó không thoát khỏi ñường lối triết

học duy tâm, do ñó không ñem lại cách giải thoát cho con người

1.1.2.Vấn ñề con người trong triết học ấn Độ cổ ñại

Trong triết học ấn Độ cổ ñại, vấn ñề con người cũng ñóng vai trò

trung tâm, ñược thể hiện rõ ràng ở hệ thống không chính thống, trong ñó

Phật giáo là một khuynh hướng nổi tiếng của ấn Độ

Người sáng lập ra phật giáo Budda (sinh năm 623 trước công

nguyên) Phật giáo ra ñời là sự phản kháng chống lại tình trạng phân biệt

ñẳng cấp một cách nghiệt ngã của Đạo Balamon, nhằm tạo ra sự bình

ñẳng giữa người và người Theo Budda: không có ñẳng cấp trong dòng

nước mắt cùng chảy như nhau và cũng không có sự khác biệt trong dòng

máu ñỏ như nhau

Con người trong quan niệm phật giáo ñược sinh ra do cấu tạo của

hai yếu tố ! vật chất gồm hai yếu tố tạo thành là sắc (vật chất) và thụ (cảm

giác); tinh thần (danh) gồm tưởng (ấn tượng), hành (tư duy), Thức (ý

thức)

Điểm hạn chế khi lý giải nguồn gốc cá nhân của con người trong

triết học Phật giáo là chưa nhận thấy nguồn gốc của con người thoát thai

từ ñộng vật Phật giáo không thừa nhận con người là một thực tại khách

quan vì nó là “vô thường”, “vô ngã” là “giả tượng” Lý giải nguồn gốc

con người nguồn gốc con người Phật giáo cho con người ñầu tiên xuất

hiện ở cõi thứ sáu, sau ñó con người ăn phải loại thức ăn thực vật thiên

nhiên, từ ñó con người trở nên nặng nề, không bay ñược nữa nên ở lại trái

Trang 9

ñất Chính cách lý giải này ñã không hiểu ñược con người là sản phẩm

cao nhất của quá trình vận ñộng và phát triển của giới tự nhiên Bên cạnh

ñó, Phật giáo nhìn cuộc ñời con người với một chuỗi khổ ñau vô hạn “ñời

là bể khổ” ñược tóm lại trong “bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly

khổ (yêu thương nhau mà phải xa nhau), cán tăng hội khổ (ghét nhau mà

phải tụ hội với nhau), sở cầu bất khổ (muốn mà không ñược) Ngũ thụ uẩn

khổ (khổ vì có sự tồn tại của thân xác) Để giải thoát cuộc ñời, con người

phải ñi theo con ñường “bát chính ñạo” Chỉ có như vậy con người mới

giải thoát nỗi khổ và nhập vào cõi “niết bàn” chấm dứt sinh tử luân hồi,

hoàn toàn yên tĩnh sáng suốt ñạt ñược ñại ñạo - tư tưởng này mang tính

chất duy tâm thần bí

Nói chung, quan niệm của Phật giáo có nhiều ñiểm tích cực Song

quan niệm của Phật giáo về con người và cuộc ñời con người mang màu

sắc duy tâm thần bí Vậy cái gì tạo ra “vật chất”, “tinh thần” với tư cách

là khởi nguyên? Phật giáo không giải thích ñược cuộc ñời con người là do

chính con người tạo ra, vì vậy Phật giáo khuyên con người chấp nhận số

phận một cách thụ ñộng Phật giáo nêu lên tư tưởng giải phóng con người

nhưng thực sự lại không giải phóng ñược số phận của con người trong ñời

sống hiện thực của nó Đạo Phật cũng ñã không giải quyết triệt ñể vấn ñề

mà triết học lâu nay thường ñặt ra: bản chất con người là gì? Trả lời bản

chất con người là gì, triết học không phải chỉ xem xét con người với tư

cách là những cá nhân ñược sinh ra, là những con người cụ thể hiện có,

mà phải xam xét con người trong sự xuất hiện về giống, loài của nó và cả

sự tồn tại coi như là phức hợp của những yếu tố vật chất, tinh thần

1.2 Tư tưởng về con người trong triết học Phương Tây

1.2.1 Vấn ñề con người trong triêt học Hy lạp – Cổ ñại

Các nhà triết học La Mã cổ ñại dã có sự nhìn nhận “ duy vật” về con

người duù là còn ở mức ñộ mộc mạc, chất phác, thô sơ Họ quy bản

nguyên của mọi vật trong thế giới về những dạng vật chất cụ thể, họ quan

Trang 10

Chẳng hạn Xôcrát ñã khẳng ñịnh “ con người hãy nhận thức chính

bản thân mình” và cho rằng “ con người là thước ño của tất thảy mọi vật

Cụ thể hơn, Talét coi bản chất của con người là “ nước” , Hêracrit cho

rằng bản chất con người là “lửa”,hoặc có quan ñiểm cho rằng ñó là không

khí, thậm chê rất chung chung về một dạng vật chất, không cụ thể vô ñịnh

hình gọi là “Aperon”, hoặc chỉ là các con số theo quan niệm của Pitago Ở

mức ñộ cụ thể và phức tạp hơn, Đêmôcrit cho rằng bản chất của con

người la nguyên tử Đây là một quan ñIểm rất tiến bộ vì so với trình ñộ

khoa học vào thời kỳ ñó thì cấp ñộ nguyên tử là cấp ñộ vật chất nhỏ nhất

mà con người phát hiện ra Theo Đêmôcrit con người khác với ñộng vật ở

chổ có linh hồn Linh hồn theo ông không phảI là hiện tượng tinh thần mà

là hiện tượng vật chất, linh hồn có cấu tạo từ nguyên tử dạng hinh cầu,

linh ñộng như ngọn lửa, chuyển ñộng với vận tốc nhanh, sinh ra nhiệt,

làm cho cơ thể vận ñộng Linh lồn không bất tử sẽ chết cùng với cáI chết

của thể xác Hạn chế của Đêmôcrit ở chỗ ông cho rằng linh hồn cũng là

các nguyên tử tạo thành

Bên cạnh ñó còn có quan niệm nhị nguyên tiêu biểu la Aritốt Quan niệm

này cho rằng thể xác và linh hồn là hai mặt của một thực thể duy nhất Linh hồn

gắn với cáI sinh vật, là cáI bản nguyên, cái phụ thuộc Tuy nhiên Arixtốt cũng

xem xét con gnười là một “ ñộng vật chinh trị” hay “ ñộng vật xã hội” - ñây là

mquan niệm chứa ñựng ñIểm tiến bộ , ñúng dắn ,duy vật ở ñây Aritotmuốn

khẳng ñịnh dặc tính con người ở bình diện chính trị của nó

Tư tưởng biện chứng về con người là sự kết tinh của tính tự nhiên

và xã hội - ñộng vật chính trị - ñã ñưỡcem là quan niệm tiến bộ và cách

mạng của thời kỳ cổ ñại, quan niệm ñó sau này ñược các nhà triết học

Phục Hưng , Khai Sáng và cận ñại kế thừa và phát triển, nhất là các nhà

triết học Mác sau này

Trang 11

1.2.1 Vấn ñề con người trong triết học thời Trung Cổ Tây Âu

Xã hội Tây Âu thời Trung Cổ diễn ra sự biến ñổi sâu sắc trên mọi

mặt linh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá… Đặc biệt về về mặt tinh

thần, thời Trung Cổ là sự thông trị của tôn giáo, thần học và chủ nghĩa

kinh viện nhà thờ con người bị ràng buộc trong quan niệm mang ñậm tính

chất duy tâm tôn giáo Người bị áp ñặt trong một cuốc sống ñã ñược

Thượng Đế an bài sẵn Giáo lý Kitô quan niệm con người về bản chất là

kẻ có tội – tội tông ñồ – những diều con người vi phạm cào cac ñiều cấm

của chúa ñều bị trừng phạt Con người không chỉ có thể xác mà còn có

linh hồn Thể xác sẽ mất ñi nhưng linh hồn thì còn lại Con người phải

cứu lấy của mình Linh hồn hay tinh thần là phần cao quý của con người

Cho nên ta phải chăm lo phần linh hồn chính vì sự thống trị của tôn giáo

và nhà thờ, nhất là về mặt tinh thần nên khoa học và triêt học ñã không

tìm ñược cho mình một con ñường ñộc lập Bởi chính các nhà bác học và

thần học khi ñó kho co thể vượt qua sự bình luận và giải thích kinh thánh

“ những tín ñIều nhà thờ là ñiểm xuất phát của mọi tư duy”

Tư tưởng về con người thời kỳ này còn ñược biểu hiện thông qua

học thuyết của các tác giả tiểu biểu như :Tô mát ña canh; Ôguýt xtanh

Ôguýtxtanh ñề cao vai trò con người ñến mức cho rằng con người

sống suy ñến cùng chỉ là linh hồn Ông cho rằng cuộc sống trần thế là tội

và tạm thời , còn cuộc sống ở thiên ñường mới là hạnh phúc vĩnh viễn

Khác với Ôguýt xtanh, Tô mát ña canh lại xem con người là sự

thống nhất giữa thể xác và linh hồn Ông nhấn mạnh con người là thực thể

trung gian giữa ñộng vật và thiên thần con người là hình ảnh của chúa và

linh hồn bất tử là con người bản thân con người tất cả ñều ñược chúa sắp

xếp trong một trật tự thế giới mặc dù sự sắp xếp ấy ngoài ý muốn của con

người

Sống và nghiên cứu khoa học ,triết học trong hoàn cảnh như thế

cho nên chúng ta không thể ñưa ra những lý lgiảI ñúng ñắn về con người

Trang 12

và vai trò của con người Chính vì sự thống trị của quan niệm ấy mà xã

hội Tây Âu và con người ñã bị nhấn chìm trong bóng tối của “ ñêm

trường trung cổ” Chỉ ñến các nhà triết học thời kỳ Phục Hưng –Khai

Sáng mới ñủ sức vượt qua tường rào của tôn giáo, thần học - ñể có ñược

những tư tưởng mới, ñúng ñắn về thế giới và về bản chất con người

1.2.3 Vấn ñề con người trong triết học thời kỳ Phục Hưng – Khai

Sáng

Thời kỳ Phục Hưng – Khai Sáng bắt ñầu từ thế kỷ XV ở Tây Âu Đây là

thời kỳ có sự chuyển mình to lớn của xã hội Phương Tây, với rất nhiều phát

minh , phát kiến lớn thuộc các lĩnh vực linh tế , khoa học kĩ thuật , văn hoá xã

hội… Chế ñộ phong kiến với các ñạo luật hà khắc , Trung cổ bắt ñầu tan rã và

ñã ñược thay thế bằng nền dân chủ chủ nghĩa Rất nhiều các cuộc cách mạng tư

sản nổ ra ở Anh, Hà Lan, Pháp… các cuộc cách mạng ấy ñã ảnh hưởng rất lớn

ñến thế giới quan của các nhà triét học lúc bấy gìờ như Bêcơn; Hôpxơ; Lôckơ

ñặc biệt là tư tương của các nhà khai sáng Pháp thế kỉ XVIII, như Môngtexkiơ;

Rutxô; Vônte; Điñơrô…

Tiền ñề nhận thức của triết học Tây Âu thời kì này chính là những

thành tựu về mặt tư tưởng , Văn hoá Hi lạp- La mã cổ ñại Về ñiều này

Ănghel nói: “ không có các cơ sở cuả nền văn minh Hi Lạp và ñế chế La

mã thì không có Châu Âu hiện ñại”

Sự thống trị của tôn giáo cũng ảnh hưởng ñến tư tưởng triết học thời

kì này, xong xu thế chung của khoa học và triết học thời Phục hưng- Khai

sáng là ñấu tranh chống lại các quan ñiểm , quan niệm tôn giáo thần bí,

tiêu cực , thậm chí chính dưới cái vỏ bọc thần học ấy , nhiều nhà tư tưởng

ñã xây dựng những quan niệm sâu sắc như : Nikôlai Kuzan, Lép nít … và

ngay ở một số quan niệm của tôn giáo cũng ñề cao già trị và sức mạnh của

con ngưổitng nhận thức và cảI tạo thế giới

Một trong những ñặc ñiểm của triết học thời kì này là gắn liền với

vấn ñề con người và giảI phóng con người Thời Trung Cổ ñời sống con

Trang 13

người đã bị hạ thấp chỉ như đời sống của một sinh vật thụ động Sự phát

triển to lớn của sản xuất , của khoa học kĩ thuật và rất nhiều thành tựu văn

hố tư tương khác đã chứng minh cho sức mạnh vĩ đại của con người Vì

vậy thời kì này ở Italia xuất hiện khẩu hiệu” con người hãy thờ phụng

chính bản thân mình Chiêm ngưỡng cía đẹp của mình” Con người được

nhìn thấy ở đĩ là những con người tràn đầy sức sống và hồi bão tự do

Vấn đề mối liên hệ giữa con người và thế giới trở thành trung tâm của các

quan niệm triết học Khi mầm mống của chủ nghĩa Tư bản xuất hiện đã

thúc đẩy con người tìm đến tự do cá nhân Mở đầu cho quan niệm con

người thời kì này là Nikơlai Kuzan cho rằng con người là sản phẩm tối

cao và tinh tuý nhất trong sự sáng tạo của Thượng đế, theo ơng , von

người chính là thế giới bao quát dưới dạng tiềm tàng tồn bộ Thượng dế

và thế giới Con người lúc này đã tác động thường xuyên vào tự nhiên và

cải tạo tự nhiên Đây là hạt nhân duy vật và nhận thức sâu sắc sức mạnh

của con người ẩn dưới vỏ bọc tự nhiên thần luận của N.Kuzan

Tơmát Hốpxơ, nhà duy vật tiêu biểu của nước Anh thế kỉ XVI đã

khẳng định con người là thực thể sinh vật xã hội “và con người ngay từ

khi sinh ra, đã sống thành tập đồn và cần đến nhau trong sự tồn tại ,

trong sự phát triển của mình Với ơng , triết học là hoạt động trí tuệ của

con người nhằm khám phá ra bản chất của sự vật và của chính bản thân ,

nên vấn đề trung tâm của triết học là vấn đè con người, con người chỉ cĩ

thể sống khơng phải lo sợ gì khi gắn bản thân trong quan hệ xã hội cộng

đồng”

Các nhà duy vật Pháp cũng đã khẳng định bản chất con người là tự

nhiên Rút xơ coi lịch sử của nhân loại là kết quả hoạt động của con

người chứ khơng phải bàn tay Thợng đế sắp đặt Ơng khẳng định bản

chất con người là tự do nhưng con người bị kìm hãm sự phát triển trong

các thể chế xã hội Điđờrơ cũng khẳng định nhân cách của con người là

của hồn cảnh và mơI trường xung quanh Tuy nhiên, các nhà duy vật

Pháp vẫn chưa hiểu được rằng bản thân mơi trường và hồn cảnh đĩ cũng

Trang 14

là sản phẩm của hoạt ñộng con người , vì vậy nó mang tíng lịch sử Đây

cũng là hạn chế chung của các nhà triết học trước Mác trong quan niệm về

con người và Thế giới Không ít nhà triết học ñã suy tư về một xã hội lý

tưởng trong ñó con ngườ sẽ ñạt tới tự do, hạnh phúc ñược hưởng quyền

sống, quyền bình ñẳng

Một khuynh hướng Triết học khác về con người là pháI nhân ñạo của

chủ nghĩa, như Tômát More, và T.Kămpenla Tư tưởng của họ về con

người mang tính nhân ñạo sâu sắc Họ ước mơ xây dựng một xã hộ lí

tưởng Điều này trong “Utôpia” của Tomat More và “Thành phố mặt

trờicủa Kăm Panena Trong xã hội lý tưởng ñó con người ñược hạnh

phúc; không có tình trạng biến con người thành cái máy trong guồng quay

của xã hội quyền tự nhiên ñược sống làm việc của con người ñược ñảm

bảo

Như vậy Triết học thời kỳ này ñã phần nào nhận rõ vai trò của con

người trong việc xây dựng và cảI tạo thế giới Hệ thống tư tưởng về con

người trong xã hội Cộng sản “không tưởng” là những mầm mống phôI

thai của triết học Mác Xit sau này

Trong thời cận ñại, nhận thức về bản chất cong ngwoif phản ánh

những vấn ñề mới mẻ do thời ñại ñặt ra

1.2.4 vấn ñề con người trong triết học cổ ñiển Đức

Trong tình hình kinh tế-xã hội ở các nước Tây Âu cuối thế kỷ

XVIII-ñầu thế kỷ XIX có những biến ñổi vượt bậc là do sự phát triển kinh tế của

hàng loạt các nước ñi theo con ñưòng Tư bản chủ nghĩa kéo theo sự biến

ñổi trong ñời sống kinh tế của xã hội Tư bản thì ở Đức vẫn là một nước

phong kiến cát cứ, nền kinh tế còn lạc hậu, ñiều ñó ñã ảnh hưởng lớn tới

sự phát triển của ñất nước Đức nói chung, các tư tưởng triết học nói riêng

thời ñó Song nét ñặc thù của Đức là truyền thống văn hoá phát triển cao

“nước Đức không những sống bằng tồn tại Đức mà bằng tồn tại của Châu

Trang 15

Âu”-nét ñặc thù này ảnh hưởng không nhỏ ñến sự phát triển tư tưởng triết

học ở Đức trong giai ñoạn này

Triết học cổ ñiển Đức mở ñầu với ñại biểu xuất sắc của nó là I.Cantơ

(1724-1804) Hệ thống triết học của ông bao chứa nhiều lĩnh vực khác

nhau trong ñó nhân bản học chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng

Tư tưởng của I Cantơ thực sự là cuộc ñảo lộn Copecnich: hướng

triết học từ nghiên cứu tự nhiên tới nghiên cứu con người như một chủ thể

hoạt ñộng

Con người với tư cách là chủ thể thống nhất cả về hoạt ñộng lý luận

và thực tiễn, tức là bao hàm cả con người nhận thức và con người bằng

hoạt ñộng thực tiễn ñã tác ñộng “vật tự nó”, ñươc I Cantơ coi là chủ thể

tiên nghiệm Đây là toàn bộ sự kết tinh những giá trị trong hoạt ñộng của

con người, ñồng thời là mục ñích cuối cùng của triết học I Cantơ ñặt ra

câu hỏi: “con người là gi?” vấn ñề xuyên suốt toàn bộ triết học phê phán

của I.Cantơ và ông ñã trả lời cho câu hỏi “chúng ta có ñầy ñủ cơ sở ñể

xem xét con người không chỉ là mục ñích của tự nhiên như những sinh

vật khác nhưng ở ñây, trên trái ñất, là mục ñích cuối cùng của tự nhiên”

Điều cơ bản nhất trong con người là toàn bộ nền văn hoá,văn minh do con

người tạo ra Con người là chủ thể ñồng thời là kết quả của quá trình hoạt

ñộng của mình

Một ñại biểu tiếp theo của triết học cổ ñiển Đức, nhà biện chứng duy

tâm lỗi lạc-Hêghen cho rằng con người ñược sáng tạo bởi “tinh thần tuyệt

ñối” con người là sản phẩm là giai ñoạn cao nhất của tinh thần tuyệt ñối

Tinh thần tuyệt ñối thực hiện sự tự phủ ñịnh Lần phủ ñịnh thứ nhất tạo

thành giới tự nhiên, lần phủ ñịnh thứ 2 tạo thành con người Con người

theo Hêghen do ñó là sự thống nhất giữa tự nhiên vật chất và con người ý

thức Con người là sản phẩm của lịch sử ñồng thời cũng là chủ thể của

lịch sử

Trang 16

Con người ngày càng tham gia hoạt ñộng bao nhiêu thì ý thức càng

mang bản chất xã hội bấy nhiêu Hêghen ñã nhận ra vai trò của hoạt ñộng

trong sự hình thành ý thức bản chất con người Tuy vậy nó vẫn núp dưới

vỏ bọc duy tâm thần bí về cái gọi là “tinh thần thế giới” hay “ý niệm tuyệt

ñối”

Đối lập với Hêghen là Phoi ơ Bắc Ông coi con người là trung tâm, là

cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ thống triết học của mình ông chống lại các

quan ñiểm tách rời thể xác và linh hồn trong quan niệm về con người

Ông cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên, là cái gương vũ trụ,

thông qua tự nhiên ý thức và nhận thức chính bản thân mình Bản chất

con người là tổng thể nhu cầu, khát vọng, ham muốn và cả khả năng

tưởng tượng của anh ta nữa Ông khẳng ñịnh “on người là sản phẩm của

văn hoá và của lịch sử” Nhưng văn hoá lịch sử ấy là văn hoá lịch sử

chung chung phi giai cấp, phi dân tộc và vì thế quan niệm này còn quá

trừu tượng Cũng như vậy quan niệm về bản chất con người của ông cũng

quá trừu tượng, mang tính chất sinh lý thụ ñộng, bị tách khỏi những ñiều

kiện kinh tế-lịch sử: “bản chất của con người là bản chất chung và bản

chất ñó là bản chất cá thể” Ông viết “bản chất thần thánh không có gì

khác mà là bản chất của con người nhưng ñã ñược tinh tế, khách quan

hoá, tách rời với con người bằng xương bằng thịt”

Như vậy, triết học cổ ñiển Đức ñã ñề cập ñến bản chất, nguồn gốc

của cong người cũng như vị trí vai trò của họ ñối với thế giới Mặc dù

còn nhiều hạn chế, nhưng triết học cổ ñiển Đức ñã ñem lại một cách nhìn

mới về con người so với các thời kỳ lịch sử trước ñây

Tư tưởng triết học trước Mác về con người mặc dù ñã ñạt ñược

những thành tựu nhất ñịnh nhưng cũng còn có những hạn chế Những tư

tưởng triết học ñó thể hiện sự ñối lập các thế giới quan, giữa chủ nghĩa

duy tâm và chủ nghĩa duy vật; giữa hai phương pháp tư duy siêu hình và

tư duy biện chứng Cuộc ñấu tranh nảy lửagiữa các quan ñiểm ñó là một

Trang 17

con người cũng như việc tìm ra những con ñường giải phóng con người

thoát khỏi sự thống trị của giới tự nhiên Tuy nhiên các nhà triết học trước

Mác ñã không lý giải một cách ñúng ñắn và khoa học và con người, bản

chất con người, không ñề ra ñược con ñường hiện thực ñể giải phóng con

người thoát khỏi mọi sự tha hoá Bởi lẽ họ ñã không xuất phát từ hiện

thực ñời sống con người từ lịch sử con người và xã hội Họ ñã không hiểu

ñược rằng chính tồn tại xã hội quyết ñịnh ý thức xã hội, ý thức xã hội

không phải là yếu tố thụ ñộng ñối với tồn tại xã hội mà có tác ñộng trở lại

một cách tích cực

Những hạn chế của các nhà triết học trước Mác có nguyên nhân về

mặt lịch sử, kinh tế, xã hội của thời ñại mà họ ñang sống Những hạn chế

ñó chưa cho phép họ khám phá và ñi sâu vào bản chất của con người và

xã hội loài người Điều này chỉ có thể khắc phục bằng quan ñiểm mới của

Các Mác-Ăngghen và các nhà Mácxit sau này

Trang 18

TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

2.1 tính hiện thực của bản chất con người

Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của triết học các

thời ñại trước, C Mác ñã khắc phục sự nghiên cứu con người một cách

trìu tượng bằng việc xác lập quan ñiểm khoa học, xem xét con người hiện

thực trong lịch sử phát triển của nó Ông ñã chỉ ra rằng, con người không

phảI do một ñấng siêu nhiên hoặc thần thánh, thượng ñế tạo ra như sự bịa

ñặt của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, mà là sản phẩm cao nhất trong quá

trình phát triển lâu dài của vật chất Nếu như tất cả các nhà triết học trước

Mác xem xét bản chất con người trong từng cá nhân riêng lẻ mà không

thấy các mối quan hệ xã hội hiện thực của nó, thì với quan ñiểm duy vật

triệt ñể và phương pháp biện chứng C Mác ñã nêu ra một luận ñiểm rất

nổi tiếng: “bản chất con người không phảI là một cáI trìu tượng cố hữu

của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là

tổng hoà các mối quan hệ xã hội”

Với luận ñiểm này, có thể nói ñiều ñầu tiên mà C Mác muôn nêu bật

lên ñó là: bản chất con người không phải là cái gì ñó có sẵn, hay cái gì

nhất thành bất biến, mà là cái ñược hình thành nên, ñược bộc lộ ra trong

cuộc sống hiện thực của nó; nghĩa là phải xem xét bản chất con người

trong tính hiện thực của nó

Hiện thực theo từ ñiển triết học: là ñang thực tế tồn tại và phát triển

chứa ñựng bản chất của chính nó và quy luật trong bản thân nó, và cũng

bao hàm những kết quả của sự hoạt ñộng và phát triển của chính nó Thực

tại khách quan với tất cả tính cụ thể của nó chính là hiện thực ñó Với ý

nghĩa ñó hiện thực không những khác với tất cả cái bề ngoài, cái tưởng

tượng mà còn khác với tất cả chỉ là cái logic (cái tư duy), còn khác với tất

cả chỉ là cái khả năng cái có thể có nhưng chưa tồn tại

Trang 19

Như vậy C Mác ñã ñặt bản chất con người trong tính hiện thực, ñiều

ñó có nghĩa con người là hiện thực, không phải là cái gì trìu tượng mà là

cụ thể-cảm tính Con người ñược hiện ra dưới dạng hoạt ñộng thực tiễn,

phong phú ña dạng Đó là một con người sống trong một thời ñại nhất

ñịnh, một môi trường xã hội nhất ñịnh với các ñiều kiện tự nhiên, sinh

quyển và những mối quan hệ phức tạp, ngày càng phong phú cùng với

sự phát triển của văn minh Con người cụ thể hiện thực ñối tượng ñầu tiên

mà C Mác nghiên cứu là những người Vô sản

Khi giai cấp Vô sản tay cầm cờ ñỏ bước lên vũ ñài chính trị, thì

ngay trong những tác phẩm ñầu tay, Mác ñã thấy: “từ bộ mặt thô rám ñi vi

lao ñộng của họ toả ñến chúng ta sự cao quý của con người” Đây không

những là tình cảm ban ñầu của C Mác ñối với giai cấp Vô sản mà còn là

cách nhìn mới mẻ nhất trong lịch sử về những người lao ñộng xưa nay

vẫn bị coi là dưới mức phát triển của con người

Chúng ta phải thấy rằng sở dĩ, khi bàn ñến con người C Mác ñã ñặt

trong tính hiện thực bởi vì: trong triết học cổ ñiển Đức, con người ñược

xem xét một cách sai lệch Hêghen ñã quan niệm duy tâm về con người,

cho con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt ñối”, “tinh thần thế giới”,

còn Phoi ơ Bắc lại tách con người ra khỏi ñời sống, quy tính sinh vật vào

bản tính con người Để chống lại các quan ñiểm sai lầm ñó, C.Mác ñã

xem xét con người trong tính hiện thực của nó Mặt khác, trong triết học

C Mác, vấn ñề thực tiễn là ñiểm xuất phát có tính chất nền tảng Trong

“luận cương về Phoi ơ Bắc” C Mác ñã nhấn mạnh ñến vai trò của thực

tiễn: “các nhà triết học trước kia chỉ nhận thức thế giới bằng nhiều cách

khác nhau xong vấn ñề là ở chỗ cải tạo thế giới”

Hoạt ñộng thực tiễn của con người rất phong phú, ña dạng, xong

hoạt ñộng cơ bản nhất ñó là hoạt ñộng sản xuất vật chất Con người thông

qua hoạt ñộng lao ñộng mà quan hệ với tự nhiên Chính trong hoạt ñộng

sản xuất ra ñời sống của mình, con người có những quan hệ năng ñộng,

tích cực hai chiều và nhiều chiều với tự nhiên, với ñồng loại Qua sự tác

Trang 20

ñộng của con người với tự nhiên, con người làm biến ñổi tự nhiên, ñồng

thời làm biến ñối chính bản thân mình Trong “Tư bản”, C Mác viết: “lao

ñộng trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một

quá trình trong ñó bằng hoạt ñộng của chính mình con người làm trung

gian ñiều tiết và kiểm tra sự trao ñổi chất giữa họ và tự nhiên Bản thân

con người ñối diện với thực tiễn tự nhiên với tư cách là một lực lượng của

tự nhiên Để chiếm hữu ñược thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có

ích cho ñời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự

nhiên thuộc về bản thân của họ: “tay và chân, ñầu và hai bàn tay Trong

khi tác ñộng vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận ñộng ñó làm thay

ñổi tự nhiên con người ñồng thời làm thay ñổi bản tính của chính họ”

Bằng lao ñộng, con người ñã tạo ra những tư liệu ñể thoả mãn nhu

cầu của mình Bản chất tự nhiên của con người ñược biểu hiện ra bên

ngoài là các nhu cầu tất yếu khách quan như: ăn, ở, mặc Hoạt ñộng ñể

thoả mãn nhu cầu sinh học của con người khác với con vật ở con người,

hoạt ñộng này không phải là hoạt ñộng bản năng, hoạt ñộng ñơn thuần

sinh vật mà nó ñã mang tính xã hội Trong “bản thảo kinh tế-triết học

1844” C Mác khẳng ñịnh: “con người có một hoạt ñộng sinh sống có ý

thức Đó không phải là cái có tính quy ñịnh mà với nó con người trực tiếp

hoà làm một Hoạt ñộng sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con

người với hoạt ñộng sinh sống của con vật”

Hoạt ñộng có ý thức, có mục ñích của con người là ñặc trưng ñể

phân biệt giữa con người và con vật “bản thân con người bắt ñầu phân

biệt với con vật ngay từ khi con người bắt ñầu sản xuất ra tư liệu của

mình-sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình như thế là con người

ñã gián tiếp sản xuất ra ñời sống vật chất của mình và ñó chính là hành vi

lịch sử ñầu tiên” Chính vì thế, sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là hoạt ñộng

bản chất nhất của con người C Mác khẳng ñịnh nét ñặc trưng riêng của

quá trình lao ñộng của con người là sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu

Trang 21

lao ñộng, vì thế C Mác ñã nhất trí với Phranclin khi ông ñịnh nghĩa con

người là “ñộng vật chế tạo công cụ”

Như vậy, hoạt ñộng lao ñộng ñã làm biến ñổi bản chất tự nhiên của

tổ tiên con người, tạo lập ra bản chất xã hội của con người Hoạt ñộng xã

hội của con người chủ yếu là hoạt ñộng lao ñộng sản xuất, hoạt ñộng cách

mạng cải tạo thế giới ñã làm biến ñổi mặt sinh học của con người một

cách ñáng kể và làm cho mặt sinh vật trở thành “người hoá” Chính toàn

bộ sự hoạt ñộng ấy ñã làm cho những nhu cầu sinh vật ở con người trở

thành những nhu cầu xã hội Nếu con vật chỉ thuần tuý là sản phẩm của tự

nhiên, hoàn toàn chịu sự chi phối và thống trị của tự nhiên thì con người

với tư cách là một sản phẩm ñặc biệt của tự nhiên, lại luôn tìm cách chế

ngự chinh phục và làm chủ tự nhiên ñể thoả mãn những nhu cầu của bản

thân mình Nếu con vật chỉ biết thích nghi với môi trường tự nhiên vây

quanh nó một cách hoàn toàn thụ ñộng bằng cách biến ñổi cơ thể cho phụ

hợp với những ñiều kiện của môi trường thì con người bằng hoạt ñộng của

mình lại luôn tìm cách sử dụng và biến ñổi môi trường xung quanh ñể tồn

tại và phát triển Lao ñộng sáng tạo nên con người và nhờ tham gia lao

ñộng xã hội con người xẽ hoàn thiện các bản chất ñặc thù của mình

Chính vì thế Ăngghen viết: “trên một nghĩa nhất ñịnh nào ñó, chúng ta

phải nói rằng: lao ñộng sáng tạo ra bản thân con người” Nhờ lao ñộng

loài người ñã trải qua những biến ñổi về mặt sinh học, ñồng thời xét ñến

cùng lao ñộng ñã hình thành nên bản chất con người và quy ñịnh phẩm

chất xã hội ñặc biệt của con người trong những ñiều kiện lịch sử cụ thể

Nhờ lao ñộng có mục ñích nên con người ñã thoát khỏi ra tình trạng loài

vật, xong không có nghĩa là con người thoát ra khỏi hoàn toàn tự nhiên

Ăngghen ñã nói rất ñúng rằng: “chúng ta, với cả xương, thịt, máu bộ não

của chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên và chúng ta nằm trong giới tự

nhiên Hơn thế nữa, cũng giống như bất kỳ sinh vật nào, con người phải

thích ứng với tự nhiên, xong con người thích ứng với tự nhiên bằng cách

bắt tự nhiên ñáp ứng nhu cầu của mình Sự thích ứng ấy có tính chất môi

Trang 22

giới và thực hiện thông qua lao ñộng Nhờ lao ñộng có mục ñích mà con

người tác ñộng và giới tự nhiên và sáng tạo ra thế giới vật chất riêng của

mình Khi thoả mãn nhu cầu, trong ñiều kiện thay ñổi môI trường tự

nhiên, con người ñã thể hiện bản chất loài của mình và tự biến mình thành

một thực thể xã hội

Hoạt ñộng thực tiễn của con người không chỉ tạo nên mối quan hệ

giữa con người với xã hội mà nó còn làm cho con người thực sự trở thành

người, làm cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên chuyển sang

hình thức mối quan hệ giữa con người với con người Theo C.Mác, trong

xã hội thống nhất biện chứng giữa con người với tự nhiên là xã hội vì bản

chất tự nhiên của con người chỉ tồn tại với con người xã hội Chỉ có trong

ñời sống xã hội, tự nhiên ñối với con người mới là khâu liên hệ con người

với con người, mới là nhân tố sinh hoạt của con người Chỉ có trong xã

hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của

con người ñối với con người Tự nhiên có trước con người, còn xã hội ra

ñời cùng với con người Song tự nhiên và xã hội luôn có mối quan hệ với

nhau Tính tự nhiên của con người không tồn tại bên cạnh tính xã hội của

con người mà chúng hoà quyện vào nhau, tồn tại trong yếu tố xã hội Như

vậy con người hiện thực của Mác là con người với tư cách là tổng thể tồn

tại bao gồm cả mặt tự nhiên và mặt xã hội Con người hiện thực ñược hiện

ra với các hoạt ñộng thực tiễn và cũng chính thông qua các hoạt ñộng

thực tiễn bản chất của con người ñược hình thành và tính tự nhiên của con

người ñã mang tính xã hội, ñược chuyển vào hoà nhập trong xã hội Như

vậy, tính hiện thực của con người cũng chính là sự tồn tại của con người

trong hiện thực khách quan, trong thực tiễn của nó Tính hiện thực của

con người trước hết ñược thể hiện ở chỗ con người tồn tại thực, hiển

nhiên, cảm tính, trong mối quan hệ với tự nhiên với xã hội, trong một

hoàn cảnh nhất ñịnh, một thời ñại nhất ñịnh, chứ không phải là sự tồn tại

trìu tượng Điều này ñã ñược Mác khẳng ñịnh trong “hệ tư tưởng Đức”

rằng: “chúng ta cũng không xuất phát từ những con người chỉ tồn tại

Ngày đăng: 23/12/2015, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w