Dựa trên cơ sở nào để khẳng định những thay đổi trong chính sách ngoại thương của việt nam là đầy ấn tượng
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Môn: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
Đề bài: Dựa trên cơ sở nào để khẳng định: Những thay đổi trong chính
sách ngoại thương của Việt Nam là đầy ấn tượng.
nhóm 4:
Hà Nội, tháng 3 năm 2012
Trang 2Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra từng ngày từng giờ và không ngừng biến đổi, phát triển Việt Nam chúng ta cũng năm trong xu hướng đó, chúng ta đã có nhiều bước tiến dài, thần kỳ và ngoạn mục trong hơn 30 năm qua, từ một nền kinh tế lạc hậu, lạm phát cao và đóng cửa với thế giới, ngày nay, chúng ta đã hội nhập sâu rộng và vững chắc với toàn thế giới Để có những bước tiến như vậy, không thể không kể đến những chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua Các chính sách và đường lối lãnh đạo nói chung và chính sách đối ngoại nói riêng đã thực sự đóng góp cho thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế Trong các chính sách đối ngoại, chính sách ngoại thương có vai trò lớn, góp phần thúc đẩy các hoạt động giao thương với các quốc gia khác trên thế giới, mở ra những thị trường mới và tiềm năng cho sản xuất trong nước, góp phần phát huy các lợi thế vốn có của Việt Nam, giải quyết nhiều vấn đề Kinh tế - Xã hội Những bước phát triển của Chính sách Ngoại thương Việt Nam gắn liền với từng bước phát triển
của lịch sử và kinh tế nước ta Có nhận xét cho rằng: “Những thay đổi trong chính
sách ngoại thương của Việt Nam là đầy ấn tượng” Để có nói rằng nhận định trên
đã phản ánh đúng thực trạng của Chính sách Ngoại thương của Việt Nam hay không,
chúng ta sẽ dựa vào chính những Chính sách Ngoại thương qua các giai đoạn và những thành tựu mà nó mang lại cho nền kinh tế Việt Nam để đánh giá.
Chính sách Ngoại thương Việt Nam qua các thời kỳ
1 Chính sách ngoại thương giai đoạn 1976 - 1985
Thời kì 1976-1985, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ chia cắt hai miền sang thống nhất cả nước Trong bối cảnh đất nước đã thống nhất, hoạt động ngoại thương
có những thuận lợi mới, đồng thời có những khó khăn mới Ở giai đoạn này nền kinh
tế vẫn được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp với tư tưởng dựa dẫm vào viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, nước ta gặp phải sự bao vây, cấm vận của Mỹ và một số nước phương Tây vì vậy có nhiều khó khăn trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta, đặc biệt với các nền kinh tế phát triển
1.1 Chính sách ngoại thương trước đổi mới (1976 – 1985).
Nhà nước vẫn duy trì chính sách kinh tế đóng, quan hệ buôn bán với nước ngoài chưa phát triển, chủ yếu là buôn bán với các nước XHCN, hoạt động xuất nhập khẩu còn manh mún Chính vì vậy, chính sách ngoại thương chủ yếu là quản lý, điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nước và giữa nước ta với các nước XHCN
Nhà nước độc quyền quản lý về ngoại thương
Mọi hoạt động ngoại thương đều tập trung vào Nhà nước, Bộ Ngoại thương là
cơ quan duy nhất thay mặt Nhà nước quản lý hoạt động ngoại thương Bộ Ngoại thương xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu và trực tiếp phân bổ kế hoạch cho các doanh nghiệp được phép kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng thời Bộ trực tiếp điều tiết, quản lý hoạt động ngoại thương bằng các chỉ tiêu pháp lệnh và thông qua hệ thống cấp giấy phép xuất nhập khẩu Vì vậy, Bộ Ngoại thương thay mặt Nhà nước trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Trang 3Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn, vướng mắc, các doanh nghiệp phải báo cáo Bộ và xin ý kiến chỉ đạo, không được tự ý sửa đổi kế hoạch
Nhà nước độc quyền kinh doanh ngoại thương
Hoạt động kinh doanh ngoại thương do Nhà nước độc quyền, Bộ Ngoại thương cho phép một số doanh nghiệp quốc doanh được kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp này chỉ được kinh doanh những mặt hàng và ngành hàng được cho phép Số lượng các doanh nghiệp được phép kinh doanh ngoại thương là rất nhỏ, tính đến năm 1981, chỉ có 12 doanh nghiệp, năm 1987 là 35 doanh nghiệp
Các doanh nghiệp phải thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước: sản xuất cái gì, xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng gì, trị giá bao nhiêu, thị trường nào, thậm chí nhiều trường hợp ngay cả giá cả cũng do Nhà nước quy định
Nhà nước độc quyền về tài sản trong kinh doanh ngoại thương
Hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi và các chính sách ngoại thương đó đã gây ra cho nước ta không ít khó khăn, nhưng kinh tế nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng vẫn được tiếp tục phát triển
Sau đây là kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu giai đoạn 1976 -1985:
Bảng 1: Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976 -1985
Đơn vị: Triệu rúp – USD
KNXNK
Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại
Trị giá Tỉ lệ %
Tổng số 18.773,0 4.423,5 14.349,5 -9.926,0 30,8
Nguồn: Niên giám thống kê qua các năm
Qua bảng trên chúng ta thấy:
- Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm Tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong
10 năm (1976 - 1985) của xuất khẩu tăng cao hơn tỷ lệ tăng của tổng kim ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu Trong khi tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong 10 năm của xuất khẩu là 13,5% thì của XNK cộng lại là 8,4%, và của nhập khẩu chỉ có 7%/ năm
- Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhưng trong 10 năm (1976-1985) nhưng giá trị xuất khẩu cũng chỉ bằng 30,8% tổng giá trị nhập khẩu
- Cán cân thương mại quốc tế luôn trong tình trạng nhập siêu và nhập siêu có xu hướng tăng
Trang 4Hầu hết các loại hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần di sản xuất trong nước không đảm bảo
Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc thiết bị còn nhập khẩu cả hàng tiêu dùng Kể
cả những loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nước có thể đáp ứng được như lúa gạo, vải mặc Trong những năm 1976 -1985 đã nhập khẩu 60 triệu mét vải các loại và gần 1,5 triệu tấn lương thực quy ra gạo
Xuất khẩu tuy có tăng nhưng trị giá xuất khẩu quá thấp Hàng xuất khẩu chủ yếu dựa vào thu gom sản phẩm từ nền sản xuất hàng hoá kém phát triển: 63% trị giá xuất khẩu của năm 1985 là nông, lâm, thuỷ sản: 28,9% là hàng công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp
1.2 Thành tựu đạt được:
Trong 10 năm trước đổi mới, quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa được tăng cường, trong đó đặc biệt là với Liên Xô Tháng 7/1978, Việt Nam ra nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV) Viện trợ hàng năm và kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong khối SEV đều tăng
Từ năm 1975 đến năm 1977, nước ta đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước; ngày 15-9-1976, Việt Nam tiếp nhận ghế thành viên chính thức Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); ngày 21-9-1976, tiếp nhận ghế thành viên chính thức Ngân hàng Thế giới (WB); ngày 23-9-1976, gia nhập Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); ngày 20-9-1977, trở thành thành viên tại Liên hợp quốc Kể từ năm 1977, một số nước mở quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam
Với các nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á: Cuối năm 1976, Philippin và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.18/4/1977 chính phủ ta ban hành điều lệ về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
2 Chính sách Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 1986-1995
Trong năm 1986, tại Ðại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Ðảng Cộng Sản Việt
Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là về kinh tế Ðó là xóa
bỏ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng XHCN Bên cạnh đó nhà nước ta cũng xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế Đến năm 1995, nước ta đã thiết lập quan hệ buôn bán với hơn 100 nước và lãnh thổ thuộc đủ các châu lục trên thế giới;
đã ký Hiệp định hợp tác thương mại với EU; bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995); gia nhập ASEAN (28/7/1995) Với những cải tổ kinh tế vĩ mô trên đã mang lại nhiều kết qủa đáng khích lệ: tỷ lệ lạm phát từ 774,6% năm 1986 đã giảm xuống một cách nhanh chóng (năm 1990 là 67,4%; 1995 là 12,7%), trong khi
Trang 5đó tốc độ phát triển kinh tế trong giai đoạn 1991-1995, tăng xấp xỉ 9% Về hoạt động ngoại thương nói riêng cũng có những thành tựu khá ấn tượng
2.1 Các chính sách ngoại thương:
- Xóa bỏ độc quyền ngoại thương của nhà nước, cho phép các thành phần kinh
tế khác tham gia xuất nhập khẩu Nhà nước chỉ thực hiện quản lý bằng pháp luật và chính sách
- Chính sách khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu, đẩy mạnh áp dụng biện
pháp thuế quan, giảm thiểu dùng các biện pháp phi thuế…Cơ cấu thuế phức tạp 36 mức thuế suất từ 0 tới 200% nhưng thuế trung bình tương đối thấp là 13% Riêng thuế xuất khẩu từ 0 – 45% đánh lên 58 nhóm sản phẩm như gạo, điều, cà phê, sản phẩm gỗ, …và có sử dụng dụng hạn ngạch với gạo
Hạn ngạch với các sản phẩm về dầu khí, phân bón, xi măng, thép, xe hơi, xe máy, đường và hạn ngạch gộp với nhập khẩu hàng tiêu dùng (9% tổng nhập khẩu)
- Tiêu chuẩn: các sản phẩm phải được phê chuẩn đặc biệt như hóa chất, dược
phẩm, radio, điện thoại thiết bị in ấn, …
- Kiểm soát ngoại hối: việc kiểm soát ngoại hối được sử dụng như một công cụ
chính sách thương mại mà chính phủ tùy nghi sử dụng Các doanh nghiệp cần thì phải xin mua ngoại hối cho từng giao dịch
- Ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước trong hoạch định chính sách.
- Chính sách hội nhập: mở cửa nền kinh tế, thực hiện đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ quốc tế Theo đó, nước ta đã ký hiệp ước thương mại với EU, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kì (12/7/1995), gia nhập ASEAN (28/7/1995)
2.2 Thành tựu đạt được
Biểu đồ 1: Kết quả hoạt động ngoại thương Việt Nam giai đoạn 1986-1995
Đơn vị tính: Triệu USD
1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995
-4000
-2000
0 2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
2944.2 3309.3 3795.1
4511.8 5156.4 4425.2 5121.4
6909.2
9880.1
13604.3
Cán cân thương mại
Trang 6- Về trị giá xuất nhập khẩu: Trị giá xuất khẩu và nhập khẩu hàng năm lớn
hơn rất nhiều lần giai đoạn trước đó Từ năm 1986-1990 tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu khá đồng đều sau đó từ năm 1991-1995 tăng nhanh: từ 4425,2 triệu USD đến 13604,3 triệu USD
- Về tốc độ tăng trưởng: Xuất khẩu tăng bình quân 24%/năm Từ năm 1986 là
789,1 triệu USD tăng đến 5.448,9 triệu USD Còn nhập khẩu tăng bình quân 16%/năm từ 1986-1995 tăng từ 2155,1 triệu USD lên tới 8.155,4 triệu USD
- Về cán cân thương mại: Vẫn còn thâm hụt nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu cao (so với nhập khẩu, xuất khẩu đã chiếm tỷ lệ từ 33,6% đến 101,5% so với nhập khẩu hàng năm) nên đã phần nào làm giảm khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu Ngoài ra, trong giai đoạn này, đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ nước ta và đầu tư trong nước gia tăng, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân gia tăng nhập siêu, nhưng điều đó lại cần thiết vô cùng cho sư phát triển
- Về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu: giai đoạn1986-1995 nước ta mở
rộng hoạt động ngoại thương với 100 nước trên thế giới trong đó có các nước ở châu
Âu và Mỹ Đặc biệt hoạt động buôn bán với các nước châu Á được đẩy mạnh do có lợi thế gần về đia lý, cùng khu vực Châu Á chiếm 22,6% tổng giá trị xuất khẩu và 10,6% tổng giá trị nhập khẩu trong năm 1986 nhưng tới năm 1995 tỉ lệ tương ứng là 72,4% và 77,5% (Nguồn: Vụ xuất khẩu – Bộ Thương mại, giáo trình Kinh tế ngoại thương, 1997)
- Về cơ cấu mặt hàng: trước đây khi buôn bán với các nước trong khối SEV,
hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta bị thụ động theo những các hiệp định và nghị định kí kết với Thời kì 1986-1995 nước ta đã thực hiện buôn bán với các nước tư bản chủ nghĩa từ đó đã phát huy được những thế mạnh của ta nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực gạo, thủy sản, may mặc đã xuất hiện và tạo nên giá trị xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng so với thời kì trước đây
Bảng 2: Tỷ lệ xuất nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1986 - 1995
Năm
( Nguồn: Thương mại thời mở cửa, NXB thống kê 1996) Trong thời kỳ này, có thể thấy tỉ trọng hàng nông sản và nông sản chế biến tuy
có giảm nhưng luôn giữ tỉ trọng cao nhất năm 1986 là 40,4% và năm 1995 là 32%
Đứng thứ hai về tỉ trọng là hàng công nghiệp nhẹ và TTCN 28,4% năm 1995 Hai
nhóm hàng này đứng đầu về tỉ trọng là điều dễ hiểu vì chúng bao gồm những mặt
Trang 7hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta thời kì này Ngoài ra một điểm chú ý nữa là tỉ
trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng lên nhanh chóng năm 1986 chỉ là
8% nhưng tới năm 1995 đã là 25,3% Nguyên nhân là do từ năm 1989 nước ta bắt đầu xuất khẩu dầu thô, và tới năm 1995 khối lượng xuất khẩu dầu thô đã lên tới 7,5 triệu tấn
Dựa vào những thành tựu mà ngoại thương Việt Nam thời kì này đạt được có thể
thấy những thay đổi trong chính sách ngoại thương thời kì này là đầy ấn tượng.
3 Chính sách Ngoại thương giai đoạn 1996-2005
Trong giai đoạn 1996 – 2005, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động
Trên thế giới, năm 1997- 1998, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã bùng
nổ từ Thái Lan, lan rộng, kéo dài ảnh hưởng tói hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á rồi cả Châu Á Giai đoạn này, Việt Nam đã gia nhập ASEAN nên cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế đối ngoại của nước ta
Năm 2001, thế giới chứng kiến vụ tấn công khủng bố vào nền kinh tế mạnh
nhất thế giới - Mỹ Việc đầu tàu kinh tế rơi vào suy sụp đã khiến cho kinh tế của thế giới phát triển chậm lại khiến cho lượng hàng xuất khẩu của nước ta vào thị trường kinh tế lớn cũng sụt giảm theo
Trong nước, giai đoạn này là giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của
chúng ta, đánh dấu 1 bước phát triển trong quá trình đổi mới của Việt Nam Việc bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ vào năm 1995 đã mang yếu tố quyết định, có tính chất
thời đại Sau đó, vào năm 9/1996 đã bắt đầu có những cuộc đàm phán song phương
giữa hai bên để có được mối quan hệ tốt đẹp.
Trên cấp độ song phương chúng ta đã ký được nhiều hiệp định như : Hiệp
định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ (2000), Hiệp đinh bảo hộ và khuyến nghị đầu tư với Nhật Bản (2003)… Ngoài ra, Việt Nam tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tham gia sáng lập diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) vào năm 1996, gia nhập vào APEC năm 1998
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập tổ chức thương mại Thế Giới WTO, trong giai đoạn này chúng ta đã thực hiện nhiều phiên họp nhiều cuộc đàm phán song phương, đa phương Đây chính là những hoạt động quan trọng trong quá trình 11 năm để Việt Nam đến được với WTO
3.1 Quan điểm và các chính sách ngoại thương
3.1.1 Quan điểm về ngoại thương
Chính sách mở rộng giao lưu hàng hóa với nước ngoài theo hướng đa phương
hóa, đa dạng hóa; khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất hàng xuất khẩu theo quy định của pháp luật; có chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo các mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh, tăng xuất khẩu dịch vụ thương mại; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước đã sản xuất được và có khả năng đáp ứng nhu cầu,
Trang 8bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước; ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ cao,
kỹ thuật hiện đại để phát triển sản xuất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Quy định các chính sách cụ thể về ngoại thương trong từng thời kỳ và chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia phát triển ngoại thương
- Năm 2001 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách thương mại Một
lộ trình chính sách thương mại cho giai đoạn 2001-2005 đã được đưa ra Đây là một thay đổi so với trước đây, khi mà chính sách thương mại chỉ được thông báo theo từng năm Lộ trình này đã tạo ra một môi trường minh bạnh hơn và có thể dự báo được Trong khuôn khổ lộ trình này, chúng ta có kế hoạch cho việc dỡ bỏ một lượng lớn các hàng rào phi thuế quan
3.1.2 Các chính sách ngoại thương
Thuế quan:
Nhìn chung, Việt Nam đã sử dụng 3 loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu:
- Mức thuế ưu đãi chung: trong khuôn khổ AFTA được áp dụng cho các quốc gia
ASEAN từ năm 1996 Năm 2005, Việt Nam đã hoàn thành cam kết trong việc xóa bỏ thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu có xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN Một biểu thuế khác được sử dụng cho việc nhập hàng hóa dưới khung khổ hiệp định thương mại ACFTA( ASEAN_ Trung Quốc) và AKFTA ( ASEAN_ Hàn Quốc)
- Biểu thuế theo chế độ đối xử quốc gia được áp dụng cho các nước thành viên
của WTO và các quốc gia có các hiệp định thương mại song phương với Việt Nam
- Mức thuế phổ thông được áp dụng cho hàng nhập từ các quốc gia khác Tuy
nhiên giá trị hàng nhập khẩu trong nhóm này không đáng kể
Hạn ngạch và các công cụ phi thuế quan
- Việc kiểm soát khối lượng hàng nhập khẩu theo hạn ngạch được sử dụng cho hai mặt hàng chính là gạo và hàng dệt may theo các thị trường Hạn ngạch cho
việc xuất khẩu hàng dệt may do Liên minh Châu Âu, Na Uy, Canada và Hoa Kỳ thiết lập vào năm 2003 EU và Canada đã cho phép dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam từ tháng 1 năm 2005, mặc dù lúc đó Việt Nam vẫn chưa phải là thành viên của WTO Hạn chế số lượng hàng xuất khẩu đối với hầu hết các sản phẩm khác
đã bị bãi bỏ Năm 2001, hạn ngạch xuất khẩu gạo cũng được Chính phủ bãi bỏ
- Công cụ phi thuế quan trước kia chưa được phổ biến, tuy nhiên, trong giai
đoạn 2001-2005, nhà nước sử dụng hạn ngạch nhập khẩu với một số mặt hàng như sản phẩm sữa, thịt
- Các hàng rào hành chính: Các điều kiện tiêu chuẩn về y tế, về an toàn và các
thủ tục hải quan Các công cụ quản lý ngoại thương ngày càng được cải tiến để phù hợp với các hiệp định thương mại mà nước ta đã ký kết với các nước
3.2 Thành tựu
Trang 9 Tốc độ tăng trưởng cao, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh
- Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam
(Nguồn : Worldbank)
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
0%
1%
2%
3%
4%
5%
6%
7%
8%
9%
8%
6%
5%
8%
- Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP
bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD
- Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng 19%/
năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu
Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu đóng góp vào GDP Việt Nam 1996-2005
Đơn vị: %
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
0
10
20
30
40
50
60
70
80
62
74
50
Nguồn: Worlbank
Cơ cấu xuất nhập khẩu thay đổi
- Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, nước
ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2
về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu
Biểu đồ 4: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-2008
Trang 10- Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị
trường lớn Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm
- Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàng nông, lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%
Biểu đồ 5: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 2000 - 2008
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
30.6% 30.5% 29.8% 31.6% 28.8%
25.8% 24.6% 28.6% 26.6%
63.2% 61.5% 62.4% 60.6% 64.5% 66.6%
67.6% 64.0% 66.9%
6.2% 7.9% 7.9% 7.8% 6.7% 8.1% 7.8% 7.4% 6.4%
Hàng tiêu dùng Nguyên nhiên vật liệu Máy móc thiết bị
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu không có quá nhiều biến động, mặt hàng Nguyên nhiên vật liệu vẫn là hàng hóa nhập khẩu chính và có xu hướng tăng Các mặt hàng khác có tỷ trọng trong cơ cấu ít thay đổi
4 Chính sách Ngoại thương giai đoạn 2006-đến nay
Tình hình quốc tế có rất nhiều biến chuyển trong giai đoạn từ 2006 đến nay, đặc
biệt về kinh tế Thế giới chứng kiến một tốc độ tăng trưởng kinh tế nóng của các nền kinh tế lên đến đỉnh cao vào năm 2007, sau đó lại rơi vào cuộc đại suy thoái tồi tệ nhất kể từ sau đại khủng hoảng 1929-1933 Các quy luật kinh tế chịu tác động đan xen của nhiều yếu tố, nhiều chủ thể trở nên phức tạp và khó dự đoán Giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009 kéo dài hơn dự đoán Nhiều yếu tố rủi ro còn tiềm ẩn khiến kinh tế thế giới mặc dù tăng trưởng cao hơn mức kỳ vọng trong 2010 nhưng dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ chỉ phục hồi trở lại vào năm 2012
Trong nước, suốt 25 năm đổi mới, Việt Nam trở thành nền kinh tế tăng trưởng
nhanh thứ hai tại châu Á, sau Trung Quốc Kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng hết sức