1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp đẩy nhanh trình cổ phần hóa

18 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không thể chấp nhận chỉ việc đổi tên các cửa hàng xí nghiệp chuyên sản xuất nay có thêm chức năng dịch vụ, thơng mại xuất khẩu thì đ… ợc gọi là công ty, mà điều quan trọng là phải biến d

Trang 1

A Mở đầu

Trong giai đoạn phát triển hiện nay của kinh tế nớc ta, với xu hớng mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc, nớc ta đã đa ra nhiều phơng h-ớng, giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp Công ty hoá, cổ phần hoá là hai giải pháp lớn cải cách doanh nghiệp nhà nớc vừa

đáp ứng yêu cầu sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nớc, lại vừa

đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế tổ chức và hoạt động doanh nghiệp nhà nớc hiện có Không thể chấp nhận chỉ việc đổi tên các cửa hàng xí nghiệp chuyên sản xuất nay có thêm chức năng dịch

vụ, thơng mại xuất khẩu thì đ… ợc gọi là công ty, mà điều quan trọng là phải biến doanh nghiệp nhà nớc thành một chủ thể sản xuất hàng hoá độc lập, trong đó mọi quyế định kinh doanh phải xuất phát từ đòi hỏi của thị trờng từ cần bảo toàn và tăng tài sản – vốn tại doanh nghiệp Công việc này do Hội đồng quản trị của doanh nghiệp quyết định chứ không phải do nhà nớc Từ đó xoá

bỏ mọi o bế trực tiếp của nhà nớc đối với hệ thống này Việc tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp đang đợc diễn ra ngày một nhanh chóng và đem lại những hiệu quả tốt Tuy nhiên việc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp đang vấp phải một số khó khăn cần giải quyết Đây là một nội dung quan trọng trong bớc đờng phát triển kinh tế nớc ta ở giai đoạn hiện nay

B.Nội dung

I Những vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp 1.Tính tất yếu khách quan của việc xuất hiện hình thức công ty cổ phần và xí nghiệp cổ phần trong chủ nghĩa t bản

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nhà nớc đã thể hiện vai trò chủ đạo, then chốt, thúc đẩy kinh tế phát triển Song cũng vì thế mà gánh nặng kinh tế đối với bộ mày nhà nớc ngày càng nặng nề Điều đó dẫn đến yêu cầu thực hiện các chính sách giúp các công ty nhà nớc tự đứng vững và phát triển trên đôi chân của mình mà không phụ thuộc và trợ cấp của chính phủ

Trang 2

Đối với nhiều lĩnh vực cần vốn lớn nh xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật đờng xá, các nghành công nghiệp nặng đòi hỏi… nguồn vốn đầu t là rất lớn Từ đó yêu cầu đặt ra là nhà nớc phải xác định đợc các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp nhỏ, từ dân để thực hiện các dự án lớn.…

Nhiều doanh nghiệp nhỏ, làm ăn kém hiệu quả song vần tiếp tục tồn tại trở thành gánh nặng cho nền kinh tế Thêm vào đó, chế độ cổ phần không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa t bản Nó vừa là sản phẩm của kinh tế hàng hoá, vừa là điều kiện

để phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển sản xuất lớn, xã hội hoá

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 và Trung ương 9 (khoỏ IX) về việc sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nuớc, cỏc doanh nghiệp trong toàn quốc đó cú những chuyển biến mạnh mẽ trong việc đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức nhằm nõng cao hiệu quả của doanh nghiệp gúp phần vào cụng cuộc cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đất nước Từ thực tiễn đú, việc chuyển đổi mạnh mẽ của cỏc DNNN sang hướng cổ phần hoỏ nhằm đạt đến tiờu chớ đa sở hữu về vốn, khắc phục tớnh chất độc canh về sở hữu – nguyờn nhõn dẫn đến kộm sức cạnh tranh và thay đổi mụ hỡnh tổ chức từ cỏc Tổng Cụng ty theo mụ hỡnh “lắp rỏp” bằng mệnh lệnh hành chớnh sang cỏc Tổng Cụng ty hoạt động theo mụ hỡnh “mẹ – con” lấy sự chi phối về vốn, về thị trường, về thương hiệu…làm sợi dõy ràng buộc là con đường đứng đắn để tăng sức cạnh tranh của cỏc doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay

2 Lịch sử ra đời của các công ty cổ phần

Một thời gian dài trớc khi Đại hội VI của Đảng, chúng ta lầm t-ởng rằng mô hình xí nghiệp cổ phần là phạm trù riêng có của chủ nghĩa t bản, phục vị cho chủ nghĩa t bản; phát triển kinh tế cổ phần sẽ dãn đén t hữu hoá, phá vỡ chế dộ công hữu nền tảng– của ché độ xã hội chủ nghĩa v.v Thực ra, mầm mống của kinh tế

cổ phần đã có từ thời cổ La Mã Đến nữa đầu thế kỷ XVII, nhất là sau khi công ty cổ phần ở Anh đợc công nhận vè mặt pháp lý và

có t cách pháp nhân độc lập, thì ơ đây đã xuất hiện các công ty cổ phần đầu tiên tơng đối ổn định, gồm các cổ đông đầu t lâu dài, không đợc rút vốn, nhng có quyền chuyển nhợng, mua bán cổ phần.Đến những năm 20 và 30 của thế kỷ XIX, trớc yêu cầu của cuộc cách mạng công nhiệp và xây dựng thị trờng toàn quốc, các nớc t bản chủ nghĩa cần rất nhiều vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng

mà nếu chỉ dựa vào vốn của các nhà t

Trang 3

có đủ, nên một loạt công ty cổ phần (nh công ty đờng sắt, công ty hầm mỏ, công tya điện lực) đã lần lợt ra đời và phát triển nhanh ở các nớc Âu, Mỹ đến nay, xí nghiệp cổ phần đã trở thành mô hình

tổ chức phổ biến ở nhiều nớc, nhất là ở các nớc kinh tế phát triển

ở Mỹ , số công ty cổ phần năm 1904 mới chiếm 23.6% thì năm

1947 đã chiếm 69%, năm 1968 chiếm tới 78% tổng số xí nghiệp cả nớc Hiện nay, cả nớc Mỹ có hơn 1.2 triệu công ty cổ phần Khi nghiên cứu mô hình xí nghiệp cổ phần dới chế độ t bản chủ nghĩa, Các Mác từng nêu rõ: trong công ty cổ phần, quyền sở hữu t bản tách khỏi quyền chi phối tài sản, và quyền chi phối này

đợc chuyển vào tay những ng“ ời lao động liên hiệp lại , tức là vào” tay xã hội Thông qua chế độ xí nghiệp cổ phần,tài sản của t bản

t nhân đầu t vào công ty đợc biến thành tài sản xã hội trc tiếp Từ

đó, Các Mac kết luận: chế độ cổ phần là sự thủ tiêu t bản t nhân ngay trong lòng xã hội t bản chủ nghĩa Kinh tể cổ phần ngày càng phát triển, càng xâm nhập vào những ngành sản xuất mới, thì nó càng xoá bỏ t bản t nhân; nó là điểm quá độ thuần tuý dẫn tới hình thức sản xuát mới (tức sản xuất xã hội chủ nghĩa_NNT) Xem vậy thì thấy ,chế độ cổ phần không phải là sản phẩm của chủ nghía t bản Nó vừa là sản phẩm của kinh tế hàng hoá ,vừa là

điều kiện để phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển sản xuất lớn, xã hội hoá Đặc điểm nổi bật cũng là – u điểm của chế độ này là;

nó là biện pháp huy động vốn có hiệu quả cho sản xuất lớn xã hội hoá trong một thời gian ngắn; nó tách quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh, thực sự biến xí nghiệp thành ngời sản xuất tơng đối

độc lập, có quyền tự chủ kinh doanh, tự ràng buộc

3 Sự cần thiết phải hình thành công ty cổ phần và xí nghiệp cổ phần ở Việt Nam

Những ưu điểm của mụ hỡnh tổ chức “Mẹ – Con”:

Một là, cụng ty con độc lập cổ phần, trong đú cụng ty mẹ giữ cổ

phần chi phối và khụng chi phối, cụng ty con phụ thuộc…Với phương chõm dựng sợi dõy ràng buộc về vốn, thị trường, thương hiệu để quản lý cỏc cụng ty con chứ khụng dựng mệnh lệnh hành chớnh một cỏch khiờn cưỡng, qua một năm rưỡi thực hiện phương chõm này, rừ ràng đó tạo ra sự khỏc biệt là cỏc cụng ty con đều thấy “cần” phải dựa vào cụng ty mẹ Bằng uy tớn thương hiệu và tiềm năng tài chớnh của cụng ty mẹ thỡ mới cú thể làm được cỏc dự ỏn đầu tư hoặc thi cụng cú quy mụ lớn; Ngoài ra,

Trang 4

công ty mẹ cũng có tầm nhìn chiến lược xa hơn các công ty con

về thị trường, về đầu tư, từ đó tạo ra sự dẫn dắt theo định hướng của công ty mẹ đối với các công ty con

Hai là, theo nguyên tắc và cơ chế điều hành của mô hình mẹ

– con hiện nay, công ty mẹ không thu phí của các công ty con Các công ty con độc lập, tự chủ trong hoạt động SXKD theo định hướng chiến lược chung, nếu có những công việc cần có sự hợp tác, liên lạc thì đều thể hiện qua các hợp đồng kinh tế bình đẳng giữa các bên theo đúng pháp lệnh hợp đồng kinh tế

Ba là, về đầu tư phát triển, các công ty con được chủ động trong đầu tư nếu quy mô dự án nhỏ hơn hoặc bằng 30% tổng tài sản trong bảng cân đối tài chính hàng năm của đơn vị Các công

ty con có thể tham gia góp vốn đầu tư trong các dự án của công

ty mẹ theo nhiều phương thức khác nhau: góp vốn theo cổ phần,

uỷ thác đầu tư, khoán dự án… Những hình thức phong phú này làm tăng khả năng đầu tư phát triển của các công ty con, mặt khác huy động được tối đa các nguồn lực trong doanh nghiệp và công tác đầu tư

Bốn là, về cơ cấu tổ chức: bộ máy quản lý theo hình thức

mẹ – con ở công ty mẹ phải đảm bảo cả hai chức năng vừa quản

lý chỉ đạo các công ty con bằng hệ thống các quy chế nội bộ theo điều lệ của công ty , vừa phải tự tác nghiệp kinh doanh để nuôi sống mình nên bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả Một đặc điểm nữa là

sử dụng Hội đồng Giám dốc để quyết định các vấn đề chiến lược chung của đơn vị: các dự án đầu tư lớn, các chủ trương quan trọng về chiến lược phát triển, về tổ chức bộ máy đều phải thông qua thảo luận và biểu quyết trong Hội đồng Giám dốc mà thành viên là giám đốc các công ty con

Với những cơ chế thông thoáng như vậy, mô hình “mẹ – con” đã tạo ra những sự tiếp cận với những quy luật của kinh tế thị trường và chính vì vậy đã tạo ra sự tăng trưởng vững chắc cho doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt và đầy cam

go, khó khăn

Năm là, về giá trị sản lượng và doanh thu: năm 2003 so với

2002 tăng hơn hai lần (đạt mức 1500tỷ doanh thu); 6 tháng đầu năm 2004 mặc dù có rất nhiều khó khăn do giá nguyên vật liệu tăng, doanh thu vẫn đạt mức tương đương cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2003

Sáu là, về lợi nhuận: cơ chế công ty mẹ – con đã thực sự

động viên được sức sản xuất phát triển

Trang 5

II.Thùc tr¹ng cæ phÇn ho¸ c¸c doanh nghiÖp nhµ n íc ë ViÖt Nam

1.Nh÷ng thµnh tùu cña cæ phÇn ho¸ doanh nghiÖp nhµ n

íc

Theo Ðề án trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cuối năm

2001, khi ấy Ðà Nẵng quản lý 55 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Trong đó, sẽ cổ phần hóa 18 doanh nghiệp (DN); phấn đấu đến năm 2005 chỉ còn lại 20 DNNN mạnh, tập trung các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn Và từ nay đến hết năm 2004, cố gắng CPH tiếp bốn DNNN nữa Ðồng thời, chuyển một DNNN 100% vốn sang công ty TNHH một thành viên; hình thành thí điểm một công

ty dạng "mẹ - con" Như vậy, riêng xét về lịch trình, thì không chậm Song, xét về thực chất vận động của sản xuất, kinh doanh của các DN CPH thì vẫn chậm Bởi, không ít DN sau CPH, hoạt động còn lúng túng, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với năng lực vốn có của DN Lượng cổ phiếu bán được ra ngoài DN quá ít (hoặc không bán được) cho nên những mục tiêu lớn ban đầu của công tác cổ phần hóa đã không thực hiện được trọn vẹn

Tuy vậy, những kết quả tích cực bước đầu đã rõ nét dần Trong tổng số 15 DNNN đã sắp xếp nói trên, có 11 DN có vốn Nhà nước và bốn DN không có vốn Nhà nước Tổng vốn điều lệ khi thành lập là 75 tỷ 860 triệu đồng (bình quân mỗi DN chỉ khoảng 5 tỷ 057 triệu đồng) và Nhà nước chiếm 42% vốn điều lệ Nhưng nay, qua khảo sát các DN sau CPH, đã thấy tổng doanh thu bình quân tăng khoảng 33% so với trước Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 9-10% mỗi năm Ðặc biệt, so trước CPH, lợi nhuận tăng bình quân khá cao

Nộp ngân sách của các DN CPH tăng khoảng 43% so với trước, bình quân mỗi DN nộp gần 1 tỷ 200 triệu đồng/năm Lương của người lao động trong các DN này tuy không đều; nhưng đều tăng

từ 25 đến 36% và bình quân tăng 11,6%/năm Do làm ăn có lãi, cho nên hầu hết các DN đều dành một lượng tiền khá đưa vào các quỹ đầu tư phát triển, dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc

Một số DN sau CPH đã bắt đầu đổi mới thiết bị, công nghệ; nâng cao một bước năng lực cạnh tranh; quan tâm đến thương hiệu, bảo vệ sở hữu trí tuệ

Trang 6

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước (CPH DNNN) là một giải pháp có nhiều ưu điểm nhất trong các giải pháp tái cơ cấu lại DNNN So với giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản DNNN thì CPH có ba ưu thế sau đây:

1) Giúp DNNN hiện tại có cơ chế huy động vốn nhằm thoát khỏi tình trạng yếu kém hiện nay trên cơ sở vẫn duy trì liên tục hoạt động sản xuất , đồng thời cho phép Nhà nước kiểm soát được doanh nghiệp (nếu cần);

2) Giúp chuyển triệt để DNNN hiện tại sang hoạt động theo

cơ chế thị trường trên cơ sở vừa xác định rõ chủ sở hữu vừa tạo quyền tự chủ rộng rãi cho doanh nghiệp;

3) Tạo cơ chế, mô hình quản lý hiệu quả cho DNNN chuyển đổi Thực tế hoạt động của đa số DNNN sau CPH thời gian qua đã chứng thực rõ ràng cho những ưu điểm của CPH Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thì trong 435 DNNN sau CPH được hỏi thì có tới 92,72% số doanh nghiệp cho rằng tình hình doanh nghiệp của họ tốt hơn so với trước CPH, chỉ có 4,85% đánh giá tình hình không thay đổi và 2,43% cho rằng kém hơn(1) Những thống kê định lượng của các

cơ quan Chính phủ cũng khẳng định nhận định đó Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp, tổng hợp hơn 200 doanh nghiệp

đã CPH hơn 1 năm cho thấy: bình quân doanh thu tăng 43%, lợi nhuận tăng hơn 100%, nộp ngân sách tăng 18%, lao động tăng 5%, thu nhập của người lao động tăng 22% Qua 2 năm thực hiện công tác cổ phần hoá của Bộ Xây dựng nói chung và của Tổng Công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp (IDICO) nói riêng có thể khẳng định rằng: cổ phần hoá DNNN đã và đang được xác định là giải pháp chủ yếu trong công tác sắp xếp DNNN thuộc Bộ Thông qua cổ phần hoá đã làm rõ ràng, minh bạch tình hình tài chính của đơn vị, phát huy tính công khai, dân chủ ở các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động là cổ đông tham gia quản lý doanh nghiệp Một số DNNN sau khi cổ phần hoá đã cho thấy sự tăng trưởng và tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tính công khai, dân chủ được phát huy tốt, người lao động có ý thức trách nhiệm cao hơn, năng suất và chất lượng lao động tăng lên, góp phần thu hút cổ đông và thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá

2.Nh÷ng v íng m¾c, khã kh¨n, trë ng¹i cÇn th¸o gí trong cæ phÇn ho¸

Trang 7

Thực tiễn triển khai cổ phần hoá DNNN đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong nhận thức cũng như trong thực tiễn Chúng ta đều nhận thức rằng, từ DNNN chuyển sang công ty

cổ phần là sự thay đổi về mọi mặt, từ quyền sở hữu đến quyền năng pháp lý và phương pháp quản lý điều hành doanh nghiệp Khi chuyển sang công ty cổ phần thì bản thân công ty cổ phần có quyền sở hữu đối với tài sản công ty cổ phần là một pháp nhân đầy đủ, cơ quan lãnh đạo cao nhất của công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp, trên công ty cổ phần không có cơ quan chủ quản như DNNN

Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước trong quản trị công ty cổ phần sau khi

- Đối với các công ty cổ phần có nhà nước tham gia vốn, Tổng Công ty vẫn có sự chỉ đạo trong khi bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc điều hành, can thiệp vào quyền tự chủ kinh doanh của công ty vì công ty cổ phần vẫn là thành viên của Tổng

Để xử lý mối quan hệ này cần làm rõ: cơ quan chủ quản trước đây, nếu còn đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu nhà nước trong công ty cổ phần mà Nhà nước còn nắm giữ cổ phần thì chỉ được thực hiện sự chỉ đạo thông qua vai trò là cổ đông đại diện chủ sở hữu của nhà nước tại công ty, không thể áp đặt các mệnh lệnh

- Khi Công ty cổ phần là thành viên của Tổng Công ty thì chịu sự điều chỉnh bởi điều lệ Tổng Công ty, nhưng điều lệ Tổng Công ty

là áp dụng chung cho các thành viên Tổng Công ty, như vậy có những vấn đề nảy sinh bất cập, không phù hợp với Luật doanh nghiệp

- Cần làm rõ mối quan hệ giữa tổ chức cơ sở đảng - Hội đồng quản trị - Giám đốc Ban điều hành trong công ty cổ phần Thực chất, trong công ty cổ phần chỉ thực hiện theo Nghị quyết của Hội đồng quản trị, trong khi đó nghị quyết của chi bộ, của Đảng uỷ được thực hiện thông qua cơ chế nào ? Ví dụ về vấn đề tổ chức

- Hiện nay, trong công ty cổ phần có vốn nhà nước tham gia, Giám đốc công ty cổ phần vừa là người đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước vừa là tư cách cổ đông, Trưởng ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên vừa là nhân viên của Phòng Tài chính kế toán công ty Do đó, các quy định về chức trách nhiệm vụ rất khó thực hiện, cần phải quy định rõ những vấn đề này để làm cho công ty cổ phần hoạt động theo đúng luật doanh nghiệp

Trang 8

Từ những vấn đề thực tế trên, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn

để công tác cổ phần hoá DNNN đạt những kết quả cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN

Cùng lúc, hàng loạt khía cạnh liên quan cũng nảy sinh, thậm chí bức xúc Tuy quản trị và điều hành DN theo Quy chế tài chính được Hội đồng quản trị thông qua, nhưng giữa các công ty

cổ phần thì cách sử dụng các quỹ, phân phối tiền lương, tổng thu nhập, áp dụng chế độ BHXH rất khác nhau do chưa có Chế định tài chính chung cho loại hình DN CPH Chi cục quản lý vốn

và tài sản DN (thuộc sở Tài chính các tỉnh, thành phố) dường như không kiểm soát được tình hình hoạt động tài chính của các DN sau CPH Cả trước và sau CPH, hầu hết các DN đều không tìm

ra phương án khả thi để giải quyết các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi và nợ phát sinh theo hướng cố tình chiếm dụng lẫn nhau Tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp

3.Nh÷ng nguyªn nh©n chñ yÕu h¹n chÕ qu¸ tr×nh cæ phÇn ho¸ doanh nghiÖp nhµ n íc

Tuy nhiên, có một nghịch lý là mặc dù cả về nhận thức và thực tiễn CPH đã được thừa nhận là tốt nhưng tốc độ CPH dường như quá chậm so với mục tiêu đặt ra Chưa có thời kỳ nào kết quả CPH đạt kế hoạch Chẳng hạn năm 2003 dự kiến CPH

986 DNNN nhưng thực tế chỉ đạt 156 doanh nghiệp bằng 15,82%

kế hoạch Thử đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng chậm

Thứ nhất, tâm lý lẩn tránh CPH vẫn còn tồn tại trong không ít

cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý DNNN và người lao động trong các doanh nghiệp cần CPH Trước đây khi chỉ đạo CPH còn chờ vào tinh thần tự nguyện của doanh nghiệp và cơ quan chủ quản thì họ tìm ra rất nhiều lý do để chậm trễ CPH càng lâu càng tốt Thậm chí có những DNNN còn tìm cách tránh CPH bằng sáp nhập vào đơn vị khác, đầu tư để mở rộng sản xuất hy vọng không nằm trong diện dưới 5 tỷ, không tích cực xử lý nợ, lao động Sau khi có Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và gần đây là Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX) thì lý do để lẩn tránh CPH ít nhiều đã bị gạt bỏ song thực tâm cán bộ và người lao động vẫn chưa tích cực CPH vì họ tiếc nuối bệ đỡ khá an toàn

Trang 9

của DNNN, tiếc nuối những ưu đãi vẫn mặc nhiên tồn tại cho DNNN (như tín chấp, sử dụng đất, quan tâm của các tổ chức kinh

tế lớn của Nhà nước cũng như các cơ quan Nhà nước tới DNNN ); vì họ còn lo sợ sự mất an toàn và khó khăn hơn khi chuyển sang công ty cổ phần Để giải quyết triệt để căn nguyên này cần kiên quyết xóa bỏ các ưu đãi bất hợp lý từ phía các cơ quan Nhà nước cũng như các tổ chức kinh tế của Nhà nước, đặt DNNN 100% vốn Nhà nước trong môi trường cạnh tranh như mọi doanh nghiệp khác, chính sách kinh tế của Nhà nước không nên thiết kế ưu đãi theo thành phần mà theo ngành, lãnh thổ Tuy nhiên để làm được điều này cần nhiều thời gian để chuẩn bị và điều chỉnh dần dần Trong khi đó thời gian để CPH không cho phép kéo quá dài hơn nữa Do đó biện pháp trước mắt là đi đôi với vận động tuyên truyền dưới mọi hình thức phải có sự chỉ đạo chặt chẽ và quyết tâm của tất cả các ngành các cấp Về tuyên truyền, nên đa dạng hóa các hình thức và nội dung Thời gian qua chúng ta mới nặng tuyên truyền thuyết phục, vận động doanh nghiệp và người lao động tự nguyện CPH Giờ đây cần mở rộng giáo dục kiến thức về công ty cổ phần, về quyền

và trách nhiệm của cổ đông, của Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành Những kiến thức đó cần thiết

để người lao động tự giác lựa chọn CPH cũng như đủ sức vận hành công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả Cũng cần tuyên truyền rộng rãi các kinh nghiệm, các tấm gương doanh nghiệp sau CPH hoạt động hiệu quả để kích thích tính tích cực của những người liên quan đến CPH Các chủ trương chính sách của Nhà nước cũng phải được truyền tải đến tận người lao động để mỗi người biết lựa chọn phương thức hành động tốt nhất cho mình Đồng thời cần gắn trách nhiệm của cán bộ đứng đầu các

cơ quan chủ quản đối với tiến độ và chất lượng CPH Mỗi cán bộ này phải giải trình theo định kỳ 1 năm hoặc 6 tháng nguyên nhân của sự chậm trễ CPH Và nếu không có lý do thỏa đáng thì các

cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm hành chính tương xứng

Về phía Nhà nước cần củng cố năng lực của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp hơn nữa, tăng cường quyền lực cho Ban này

để họ đủ sức tham mưu cho Chính phủ tháo gỡ nhanh chóng các ách tắc trong CPH Trong một xu hướng chỉ đạo tích cực như vậy, sẽ có ít DNNN tìm được lý do để lẩn tránh CPH hơn trước

Thứ hai, vướng mắc nhất hiện nay của CPH là khâu định giá

DNNN Chúng ta thấy rằng, CPH là hoạt động mang tính trao đổi mua bán, trong đó bên bán là Nhà nước do các cấp được ủy quyền khác nhau đại diện và bên mua là xã hội công dân với các chủ thể đa dạng như cá nhân, pháp nhân, tổ chức đoàn thể, xã

Trang 10

hội, người trong nước và người nước ngoài Trong quan hệ mua bán đó lợi ích của các bên không phải tuyệt đối thống nhất với nhau Nhà nước muốn bán được giá Nếu bán rẻ thì cán bộ định giá sẽ bị gán cho tội làm thất thoát vốn Nhà nước Người mua muốn mua rẻ để có lợi sau này Do đó tất yếu giá phải được hai bên chấp nhận qua thỏa thuận và ngày nay đa số dân chúng đều cho rằng cơ chế tạo ra giá thỏa đáng ấy chính là giá thị trường trên cơ sở cung - cầu và cạnh tranh Thời gian qua cơ chế định giá theo NĐ 28/CP, NĐ 44/CP, NĐ 64/CP đều chưa thể hiện tính cạnh tranh và cung cầu do người mua chưa được cạnh tranh với nhau, do sự định giá dựa nhiều vào giá trị sổ sách (đã quá lạc hậu) và sự định giá chủ quan của các chuyên gia Để khắc phục nguyên nhân này cần hành động mang tính thị trường hơn, tức là giống như các doanh nghiệp khi chuyển đổi thành công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán mà các nước có kinh

tế thị trường, DNNN trước hết cần do các tổ chức chuyên nghiệp (công ty định giá doanh nghiệp, công ty tư vấn tài chính, công ty kiểm toán ) tính toán đặt ra một mức giá làm căn cứ đưa ra chào thầu, sau đó trên cơ sở bỏ thầu mà xác định được mức giá cổ phiếu

Do thị trường chứng khoán nước ta chưa phát triển nên các tổ chức dịch vụ thị trường tài chính cũng còn yếu kém Trước mắt

có thể mời thầu các cổ đông chiến lược, vì đây mới là yếu tố hiệu quả và đổi mới của công ty cổ phần sau này Sau đó căn cứ vào giá thầu có tham chiếu là giá tính toán để quyết định giá trị DNNN Theo cách làm này có thể xảy ra một số doanh nghiệp sau CPH giá tăng cao Nhưng nếu giá tăng cao do năng lực quản trị và chiến lược của công ty cổ phần tốt thì đó không phải là thất thoát của Nhà nước Không nên quá gạn vốn Nhà nước trong khi CPH, bởi lẽ xã hội phải chấp nhận sự định giá của thị trường và coi đó là giá trị trao đổi đúng Vấn đề thất thoát cần xem xét ở khía cạnh những người liên quan đến định giá và CPH doanh nghiệp có dấu hiệu cấu kết với cổ đông chiến lược để dìm giá bán DNNN hay không và nên đưa khía cạnh này vào hoạt động điều tra hình sự, không thuộc khuôn khổ của CPH Cũng có thể xuất hiện nhiều DNNN không bán được vì doanh nghiệp quá kém Giống như món hàng ế, khi đó cần giảm giá Thậm chí có nhiều DNNN nếu có cố tình CPH cũng không thể sống được trong môi trường cạnh tranh thì không thể cứ trông trờ vào CPH

mà cần chuyển qua xử lý bằng các hình thức khác như giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản Ngoài ra, không nên quá coi nặng vấn đề thất thoát vốn của Nhà nước khi CPH Bởi lẽ những người mua cổ phiếu (mà cổ phiếu bán công khai do đó về nguyên

Ngày đăng: 23/12/2015, 04:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w