Khi chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóarồi phát triển ở mức độ cao là kinh tế thị trường thì nền sản xuất hàng hóađều mang những đặc điểm nhất định.. b, Tác dụ
Trang 1CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ HÀNG HÓA
Kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển dựa trên hai điều kiện là: phâncông lao động và sự khác biệt tương đối về kinh tế Kinh tế hàng hóa lại tácđộng lên hai yếu tố trên, rồi các yếu tố ấy lại làm cho kinh tế hàng hóa càngphát triển hơn[1,trg58]
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ xã hộihóa cao Trình độ xã hội hóa cao đó làm nảy sinh các quy luật vận hành mớicủa nền kinh tế [4,trg112] Những quy luật đó giúp nền kinh tế thị trườngtao ra một cơ chế tự điều chỉnh, đó là cơ chế thị trường
Khi chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóarồi phát triển ở mức độ cao là kinh tế thị trường thì nền sản xuất hàng hóađều mang những đặc điểm nhất định Như:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi và mua bán.
Lao đông của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa
mang tính xã hội [1,trg59-60]
Và cần lưu ý rằng: Kinh tế hàng hóa có bước phát triển cao là kinh tếthị trường, mang tính chất phổ biến trong xã hội tư bản Song không phải vìthế mà đồng nhất kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường với kinh tế Tư bản
Trang 2b, Tác dụng to lớn của sự phát triển hàng hóa.
So với nền kinh tế tự cung, tự cấp thì nền kinh tế hàng hóa có những
ưu thế hơn hẳn:
Kinh tế hàng hóa ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội,chuyên môn hóa sản xuất Nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạchậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng xuất lao động xã hội tănglên nhanh chóng, nhu cầu xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất vàtrao đổi hàng hóa mở rông ra giữa các quốc gia thì nó còn khai thác được lợithế của các quốc gia với nhau
Quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lựcmang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, mỗi địa phương, mà nó được mở rộngdựa trên nhu cầu và nguồn lực của xã hội Tạo điều kiện thuận lợi cho việcứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất…thúc đẩy sảnxuất phát triển
Sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa vàquy luật giá trị, cung – cầu, cạnh tranh, buộc người sản xuất hàng hóa phảiluôn năng động, nhạy bén…làm chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầuthị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng
Sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giưa các
cá nhân,các vùng…không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống vănhóa, tinh thần cũng được nâng cao, đa dạng và phong phú hơn [1,trg61-62]
Kinh tế hàng hóa hay kinh tế thị trường mang lai những quy luật pháttriển và những cơ chế làm cho bản thân nó ngày càng phát triển, xã hội ngàycàng tiến bộ, cuộc sống của con người ngày càng nâng cao…
1.2 Những khuyết tật của kinh tế hàng hóa.
a, Kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường.
Trang 3Chúng ta đã biết kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường có cùng nguồngốc và bản chất, kinh tế thị trường là bước phát triển cao hơn của kinh tếhàng hóa Như vậy biểu hiện của kinh tế hàng hóa ngày nay chính là nhữngbiểu hiện của kinh tế thị trường Mà kinh tế thị trường ngày nay tự hoạt độngtheo cơ chế thị trường Hay nói một cách khác là cơ chế thị trường điềukhiển nền kinh tế hàng hóa hay kinh tế thị trường.
Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết của kinh tế hàng hóa dưới sựtác động bởi những quy luật vốn có của nó Cơ chế thị trường tự phát sinhcùng với sụ phát triển của kinh tế hàng hóa, ở dâu có lưu thông hàng hóa ở
đó có cơ chế thị trường hoạt động[1,trg107] Như vậy cơ chế thị trường lạitác động trực tiếp tới hoạt động của kinh tế hàng hóa Và do cơ chế thịtrường là một quy luật nên nó luôn tạo ra những khuyết tật nên nó cũng lànhưng khuyết tật của kinh tế hàng hóa
Vậy việc nghiên cứu những khuyết tật và cách khắc phục nhữngkhuyết tật của kinh tế hàng hóa cũng chính là nghiên cứu những khuyết tật
và cách khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường
b, Những khuyết tật của cơ chế thị trường hay nền kinh tế hàng hóa.
Cơ chế thị trường là cơ chế tốt nhất để đièu tiết nền kinh tế thị trường,tuy nhiên cơ chế thị trường cũng có những khuyế tật vốn có củ nó
Thứ nhất, cơ chế thị trường chỉ có thể phát huy tác dụng tốt nhất trongmôi trường cạnh tranh hoàn hảo, khi xuất hiện môi trường canh tranh khônghoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị trường bị giảm Chẳng hạn xuất hiện đôcquyền, các mhà độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng giá để thu lợi nhuậncao, mặt khác, khi xuất hiệ độc quyền thì không có sức ép về cạnh tranh đểcải tiến kĩ thuật Ví dụ điển hình nhất của nền kinh tế hiện đại bây giờ có lẽ
là OPEC với 45% sản lượng giầu lủa của thế giới Tuy không phải là độc
Trang 4quyền hoàn toan nhưng mỗi khi có sự thay đổi về chiến lược của OPEC, cảthế giới đều ảnh hưởng.
Thứ hai, Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa,
vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trườngsống của con người, do đó hiệu quả kinh tế_xã hội không được đảm bảo.Như tại nước Mỹ và Trung Quốc, hai nước đang có nền công nghiệp rất giàutiềm năng và đang vận hành một nền công nghiệp khổng lồ, thì tại đó cũng làhai nơi thải ra lượng khí thải lớn nhất, bằng 1/2 lượng khí thải của toàn thếgiới Gây hiểm họa khôn cùng cho bầu khí quyển, cho trái đất và cho cuộcsống của con người
Thứ ba, phân phối thu nhập không công bằng, có những mục tiêu xãhội dù cơ chế thị trường hoạt động trôi chảy cũng không thể đạt được Sự tácđộng của cơ chế thị trường dần dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, sự phân cựccủa của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình người Sự tác động của cơ chếthị trường sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng không tự động mang lại
nhưng giá trị chân, thiện, mỹ mà xã hội vươn tới Cũng tại ở Mỹ, một đất
nước vô cùng phát triển về cả kinh tế lẫn khoa học, nhưng lại có hàng loạtnhững sự kiện mà sinh viên, học sinh, vì quá căng thẳng với cuộc sống congnghiêp tai nước mình, mà cầm súng xả vào bạn bè thầy cô ngay trong trườngmình, rồi cuối cùng tự sát
Thứ tư, một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần túy điều tiết khótránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và thấtnghiệp Người ta nhận thấy rằng, một nền kinh tế thị trường hiện đại đứngtrước một khó khăn nan giải của kinh tế vĩ mô: không một nước nào trongmột thời gian giài lại duy trì được một mức lạm phát thấp và đày đủ công ănviệc làm [2,trg112-113]
Trang 5Đó là những khuyết tật mà bất cứ một nền kinh tế nào hoạt động dưới
sụ điều tiết cua cơ chế thị trường đều gặp phải
1.3 Bài học kinh nghiệm của các nước, mà tiêu biểu là Trung Quốc trong việc khắc phục những khuyết tật của kinh tế hàng hóa.
Có rất nhiều nét tương đồng với Viêt Nam trong việc xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, những gì Trung Quốc đãlàm rất có giá trị đối với chúng ta:
Thứ nhất, quyết tâm cải cách, đổi mới trong đường lối và thực hiện.
Hội nghị trung ương 3 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (1978) đã đề
ra quyết sách chiến lược là chuyển từ tình trạng kinh tế bị kìm hãm do mặttrái của cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cải cách, mở cửa bằng thể chếkinh tế định hướng thị trường
Đại hội XVI (2002) đề ra phải "kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trọngtâm, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội" Đại hội xácđịnh: "Nhiệm vụ chủ yếu của xây dựng và cải cách kinh tế trong 20 năm đầucủa thế kỷ này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thúcđẩy điều chỉnh chiến lược kết cấu kinh tế, cơ bản thực hiện công nghiệp hóa,đẩy mạnh tin học hóa, xây dựng nhanh hiện đại hóa, duy trì kinh tế quốc dânphát triển nhanh, lành mạnh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống củanhân dân"
Thứ hai, những biện pháp xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường.
Tuy thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã được xác định,nhưng nó còn phải tiếp tục được hoàn thiện Những thể chế mà Đảng đề ra
và tổ chức thực hiện là tiến hành cải cách kinh tế ở nông thôn; đẩy mạnh cảicách doanh nghiệp quốc hữu theo phương châm "ưu thắng kém thải"; chuyểnbiến chức năng quản lý kinh tế của chính quyền, không can thiệp trực tiếp
Trang 6vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các xí nghiệp; phát triển hệ thống thịtrường; kiện toàn hệ thống điều hành vĩ mô; tăng cường chế độ pháp luật củakinh tế thị trường; cải cách về tài chính, thuế, tiền tệ, ngoại thương, ngoạihối, đầu tư, giá cả; thực hiện các chính sách xã hội và việc làm.
Thứ ba, về chế độ phân phối.
Trong công cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc đi sâu thực hiện cảicách chế độ phân phối, căn cứ vào yếu tố sản xuất và yếu tố cống hiến đểđịnh ra các hình thức phân phối cho phù hợp, trong đó lấy phân phối theo laođộng làm chủ thể, tức "ưu tiên hiệu suất" nhưng cũng "tính đến công bằng";tăng cường chức năng điều tiết của chính quyền đối với việc phân phối
Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện các chính sách xã hội
và công bằng xã hội
Thứ tư, về thị trường
Lý luận về thị trường đóng vai trò cơ sở trong việc phân bố tài nguyên(hiểu theo nghĩa rộng) Trung Quốc xem đây là bản chất của cuộc cải cáchthể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Tăng nhanh tốc độ phát triển thịtrường sản xuất và thị trường tiêu thụ trở thành nhiệm vụ trọng điểm Quyphạm hóa trật tự thị trường; từng bước hình thành hệ thống thị trường lớn,thống nhất trong phạm vi cả nước sẽ làm cho các yếu tố sản xuất có thể lưuthông tự do trên thị trường Tấn công mạnh vào các hiện tượng làm giả, mạodanh và các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng; xây dựng và kiện toànkinh tế chữ "tín" và kinh tế pháp chế thị trường; kết hợp đúng đắn giữa đứctrị và pháp trị Hệ thống điều hành vĩ mô chủ yếu áp dụng biện pháp kinh tế
và pháp luật Kinh tế thị trường đòi hỏi cạnh tranh công bằng, bất luận kinh
tế công hữu hay kinh tế phi công hữu đều không được hưởng bất cứ một đặcquyền nào
Thứ năm, vấn đề chủ thể và chủ đạo trong kinh tế thị trường
Trang 7Trung Quốc lấy chế độ công hữu làm chủ thể, coi đó là chế độ kinh tế
cơ bản Không có chế độ công hữu thì không có chủ nghĩa xã hội, nhưngkhông có kinh tế phi công hữu thì không có kinh tế thị trường Từ khi cảicách, mở cửa đến nay, kết cấu chế độ sở hữu ở Trung Quốc có sự chuyểnbiến lớn
Không nên hiểu quan điểm lấy chế độ công hữu làm chủ thể một cáchgiản đơn là lấy kinh tế quốc hữu hay chế độ công hữu truyền thống "nhất đại,nhì công, tam thuần" (tức: một - quy mô lớn, hai - công hữu hóa toàn bộ, ba -thuần túy chủ nghĩa xã hội) làm chủ thể Chế độ công hữu làm chủ thể chủyếu thể hiện ở chỗ tài sản công hữu chiếm ưu thế trong toàn bộ tài sản xãhội, và, sức khống chế, địa vị chủ thể của kinh tế quốc hữu đối với toàn bộnền kinh tế quốc dân Vì vậy, các loại hình kinh tế có chế độ sở hữu khácnhau hoàn toàn có thể phát huy ưu thế của mình, thúc đẩy lẫn nhau cùng pháttriển trong cạnh tranh thị trường, thực hiện "dân làm, dân doanh, dân có, dânhưởng"
Thứ sáu, phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, xã
hội; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách, đổi mới, ổn định và phát triển.
Việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa liên quanchặt chẽ đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Thực hiện tốt vấn đề nàytức cũng là thực hiện sự đổi mới xã hội sâu sắc Giải quyết đúng đắn mốiquan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định theo nguyên tắc "cải cách làđộng lực, phát triển là mục đích, ổn định là tiền đề" Đó là "ba quân cờ chiếnlược gắn bó khăng khít với nhau trên bàn cờ xây dựng hiện đại hóa củaTrung Quốc"
Thứ bảy, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 8Trung Quốc coi việc mở cửa với bên ngoài là một quốc sách cơ bảnlâu dài, là con đường tất yếu trong tiến trình đẩy nhanh hiện đại hóa xã hộichủ nghĩa Để xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì phảikiên trì mở cửa với bên ngoài Cục diện mở cửa với bên ngoài đa phươnghóa, nhiều tầng nấc, lĩnh vực rộng, thực hiện chiến lược "đi ra thế giới" và
"đón thế giới vào" Mở cửa đối ngoại đã thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốcphát triển
Thứ tám, vai trò của Đảng và Nhà nước trong kinh tế thị trường
Trung Quốc thực hiện hiệp thương chính trị do Đảng Cộng sản TrungQuốc lãnh đạo, nhưng quyết không đa nguyên chính trị, không đa đảng đốilập, không tam quyền phân lập Đảng là hạt nhân lãnh đạo trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đại diện cho lợi ích căn bảncủa đông đảo nhân dân Trung Quốc Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp trị và coitrọng điều hành vĩ mô của Nhà nước [www.tapchicongsan.org.vn ]
Đó là những kinh nghiệm của Trung Quốc, và trên thực tế, những điều
họ làm đang mang lại một kết quả vô cùng tốt đẹp cho nền kinh tế thị trườngcũng như cho đất nước
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA NỀN
KINH TẾ HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Trang 9kì mà con đường tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa dễ dàng hơn, lòng tin của nhân dânvào Đảng ngày càng được củng cố [4,trg152]
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và ổn định Trong 5 năm 1991 –
1995, bình quân GDP nước ta đạt 8,2%, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra(5,5% –5,6%) 1994-2005 là 6,81% [www.undp.org.vn], và năm 2007 dự kiến sẽ đạt 8,2-8,5% [www.laodong.com.vn]
Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, đặc biệt là sản xuấtlương thực, năm 2005 tỷ trọng GDP của nông nghiệp là 20,89% Năm 1997 đãtăng từ nghèo đói lên đến 27.523 nghìn tấn, năm1998 là 29.141 nghìn tấn gạoxuất khẩu và sản lượng, đến năm 2007 dự đoán sẽ đứng thứ 2 trên thế giới sauThái Lan với số lượng khoảng trên 40 ngìn tấn [ www.gso.gov.vn ]
Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp đã tạo tiền đề cho công nghiệp, dịch
vụ, tạo tiền đề cho tích lũy vốn [4,trg154]
Các ngành xây dựng, vận tải, thương nghiệp, du lịch và đều có bướcphát triển khá Mức bán lẻ hàng hóa xã hội qua các năm đều tăng, 19.031 tỷnăm 1990 lên 580.710,1 tỷ năm 2005 So với năm 1990 đến năm 2005, cơcấu kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực: tỷ trọng nông nghiệptrong GDP từ 38,7% giảm xuống 20,89%, công nghiệp tăng từ 22,7% lên41,03%, dịch vụ tăng từ 16.190 tỷ lên 319.003 tỷ [ www.gso.gov.vn ]
Hoạt động khoa học gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vàthích nghi dần với nền kinh tế thị trường Nhờ hoạt động khoa học – côngnghệ đã tạo ra cách làm mới có lợi cho sự hình thành và chuyển dịch cơ cấungành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới ởnước ta [4,trg154]
Quan hệ kinh tế được mở rộng theo hướng đa phương hóa và đa dạnghóa, tính đến cuối năm 1995, tổng số vốn đăng ký của các dự án nước ngoàikhoảng 18 tỷ USD Trong đó đến 2004 thì 1/3 đã thực hiện được Năm 1995
Trang 10có 370 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký
là 6.530,8 triệu USD, năm 1997 có 345 dự án với tổng số vốn là 4.649,1triệu USD, năm 1998 có 275 dự án với tổng số vốn là 3897,4 triệu USD
Số vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài năm 1989 là 0,8 triệu USD, đếnnăm 2005 tăng lên đến 133,5 triệu USD, và năm 2006 tăng lên 320,8 triệuUSD Đó là tốc độ đầu tư tăng vọt và khổng lồ với một nước đang phát triểnnhư Việt Nam [www.gso.gov.vn]
Việc nước ta quan hệ buôn bán với trên 100 nước, hơn 50 lãnh thổ và vùnglãnh thổ có quan hệ đầu tư trực tiếp vào nước ta, nhiều chính phủ tổ chức quốc tếviên trợ, cho vay để phát triển là bằng chứng đánh dấu bước chuyển mới quantrọng trong thời kỳ phục hồi và phát triển kinh tế ở nước ta [4,trg152]
Cơ cấu thành phần kinh tế đã có nhiều tiến bộ Quan hệ sản xuất đãđược điều chỉnh lại cho phù hợp cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lựclượng sản xuất và nền kinh tế hàng hóa Khu vực kinh tế nhà nước từng bướcđược củng cố và phát huy “vai trò trò quyết định trong việc giữ vững địnhhướng Xã Hội Chủ Nghĩa Các hình thức kinh tế khác phát triển đa dạng vàmạnh mẽ
Về đời sống nhân dân cũng được cải thiện nhiều Số hộ có thu nhậptrung bình và số hộ giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm, dù mức sống củanhân dân ta so với nhiều nước trong khu vực nhìn chung còn thấp Trong cảnước mỗi năm chúng ta đã tạo ra 1,2-1,3 triệu việc làm mới Tỷ lệ hộ nghèogiảm từ trên 30% xuống 11% Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 2,31% xuống1,53% Tuổi thọ bình quân tăng từ 65 lên 71 tuổi (2004) [www.undp.org.vn]
Việc mua bán thuận tiện hơn, khách hàng được coi trọng hơn; do vậy
đã tạo được sự phấn khởi và đồng tình của nhân dân Năm 1996 xuất-nhậpkhẩu đạt hơn 18 triệu USD, trong đó xuất khẩu 7 triệu USD, tăng 31,2% sovới 1995, cao hơn mức tăng bình quân giai đoạn 1991-1995 (26%), năm
Trang 111997 tổng trị giá xuất-nhập khẩu đạt hơn 20 triệu USD, năm 1998 đạt gần 21triệu USD, năm 2000 trên 31 triệu USD Năm 2005 chỉ mình xuất khẩu đãđạt 32.447,1 tỷ đồng [22/1/2007 www.gso.gov.vn ].
Thêm nhiều nhà ở và đường giao thông được cải tạo, xây dựng; nângcấp và xây dựng mới nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng ở nông thôn và thành thị.Công tác phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, ngăn chặn dịch bệnh cónhiều tiến bộ.Thể dục, thể thao có bước phát triển hơn so với trước
Trình độ dân trí và mức độ hưởng thụ văn hóa của nhân dân đượcnâng lên Sự nghiệp giáo dục, đào tạo, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật,thông tin đại chúng và mạng lưới điện đã về tới phần lớn các vùng nôngthôn Công tác kế hoạch hóa gia đình và nhiều hoạt động xã hội khác cónhiều tiến bộ Các hoạt động “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”chăm sóc các lão thành cách mạng, người có công với nước, các hoạt độngnhân đạo-từ thiện, v v…được đông đảo nhân dân hưởng ứng Việc phòngchống tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, tham nhũng, ma túy…đã có nhữngbước đầu [4,trg152-160]
- Hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp còn nhiều Chất lượng,hiệuquả của công tác giáo dụcvà đào tạo còn thấp, chất lượng phục vụ y tế chưa