Từ thực tế cho thấy vốn đầu tư phát triển Khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên đã có những dấu hiệu khả quan, tích cực, đã thu hút được số lượng lớn vốn đầu tư ở trong và ngoài nước, đóng góp
Trang 1Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và vốn đầu tư phát triển khu công nghiệp nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm giải quyết Việc thu hút vốn đầu tư phát triển các Khu công nghiệp như thế nào để đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển của ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời việc thu hút vốn đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên đã hình thành một số khu công nghiệp tập trung thu hút hàng trăm nhà đầu tư đến đây thành lập doanh nghiệp, tiến hành sản xuất kinh doanh Các khu công nghiệp này cần huy động số lượng lớn vốn đầu tư phát triển của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và nước ngoài Để các khu công nghiệp của tỉnh không chỉ là đầu tàu kinh tế góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mà còn có thể trở thành các khu công nghiệp điển hình về thu hút vốn đầu tư phát triển ở khu vực phía Bắc
Từ thực tế cho thấy vốn đầu tư phát triển Khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên đã có những dấu hiệu khả quan, tích cực, đã thu hút được số lượng lớn vốn đầu tư ở trong và ngoài nước, đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, nảy sinh nhiều vấn đề như sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, tốc độ giải ngân chậm, còn nhiều KCN chưa lấp đầy, để trống gây ra tình trạng lãng phí đất,và đặc biệt là lượng đầu tư vào KCN của tỉnh chưa cao
Nhận thấy tầm quan trọng của các KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong quá
trình CNH-HĐH đất nước, tôi đã chọn đề tài :Thu hút vốn đầu tư vào khu công
Trang 2nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.Đề tài nghiên cứu này thể hiện rõ quan điểm
của tôi về bốn vấn đề sau:
(1).Vai trò của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế trên địa bàn tỉnh như thế nào?
(2)Tại sao nguồn vốn FDI vào các KCN trên địa bàn tỉnh lại thấp hơn so với các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Bình Dương…?
(3)Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện nguồn vốn FDI phát triển các KCN? (4) Cần có những giải pháp nào đề tăng cường thu hút nguồn vốn FDI vào các KCN?
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và phát triển Khu công nghiệp nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Ở nước ta có một số công trình nghiên cứu khoa học đã công bố liên quan đến thu hút vốn đầu tư vào các KCN trong nước
Đề tài : “Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu công nghiệp tập trung Hà Nội”, Khoá Luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương Thảo, lớp
CN 43B trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội.Đề tài về cơ bản đã thể hiện được tình hình hoạt động của một số KCN trên địa bàn Hà Nội nhưng mới là chung chung, chưa đi vào cụ thể từng KCN riêng biệt, chưa nói rõ được những thành công, hạn chế cũng như những nguyên nhân dẫn tới những thành công và hạn chế đó
Đề tài : “ Các Khu Công Nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh”,Khoá luận tốt
nghiệp, sinh viên Nguyễn Việt Hưng lớp KT09A, trường Đại Học kinh tế quốc dân thành phố Hồ Chí Minh.Đề tài đã cho độc giả biết tới những KCN đang hoạt động tại thành phố HCM, nhưng chưa nêu được tình hình thu hút vốn đầu tư
Trang 3trong và ngoài nước,những đóng góp của các KCN vào tăng trưởng kinh tế của toàn thành phố.
Đề tài : “Một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”,Khoá luận tốt nghiệp,sinh viên Trần Việt Thắng
trường ĐH kinh tế quốc dân TP.Hồ Chí Minh.Đề tài đã thể hiện rất rõ và cụ thể
về những mặt thành công và hạn chế của việc thu hút FDI vào các KCN,nêu bật được vai trò của nguồn vốn FDI đối với phát triển kinh tế nói chung và đối với các KCN trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh nói riêng; đồng thời đề ra những giải pháp hết sức khả thi, thuyết phục được độc giả.Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu vào tìm hiểu một số KCN điển hình trên thành phố để cho độc giả biết được tình hình thu hút ở các KCN ấy có những khó khăn gì,từ đó đưa ra những giải pháp
Tuy nhiên với nghiên cứu để xây dựng mô hình KCN khác nhau với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau,ở từng giai đoạn khác nhau và chưa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề thu hút vốn đầu tư vào KCN tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ của khoá luận
- Phân tích và làm rõ khái niệm KCN, vốn đầu tư, các nguồn vốn đầu tư
Trang 4KCN nói riêng Nghiên cứu kinh nghiệm một số tỉnh trong nước về thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp
- Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn vừa qua Tìm ra những thành công, hạn chế và các nguyên nhân
- Tổng hợp những quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước, của tỉnh Hưng Yên về việc phát triển khu công nghiệp và thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để thu hút vốn đầu tư có hiệu quả vào các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khóa Luận tập trung vào nghiên cứu tình hình thu hút mọi nguồn vốn đầu tư vào KCN, những thành công, hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư; từ đó đưa ra một vài giải pháp nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư hiệu quả trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
- Thời gian nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn từ năm 2006 - 2020 khi Hưng Yên thành lập các khu công nghiệp tập trung
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài Khoá Luận này, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: tiếp cận thực tế, thu thập thông tin,số liệu trên sách báo,internet; so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá.Đồng thời vận dụng lĩnh vực chuyên ngành Kinh tế Chính trị đưa ra những giải pháp thiết thực nhất, khả quan nhất
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương
Trang 5Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thu hút vốn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Chương 2 :Tình hình thu hút vốn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh
Chương 3 : Quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào các KCN của tỉnh trong thời gian tới
Do điều kiện và trình độ có hạn nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn đọc
Em chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy Phó hiệu trưởng trường
ĐH kinh tế - ĐHQGHN, Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Thanh, cùng sự giúp đỡ của ông Phạm Thái Sơn- trưởng Ban Quản Lý KCN tỉnh Hưng Yên
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN
1.1.Tổng quan về Khu Công Nghiệp
1.1.1.Khái niệm Khu công nghiệp
Tuỳ theo từng điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau Hiện nay có hai mô hình phát triển KCN từ đó hình thành hai khái niệm về KCN, đó là :
Thứ nhất, KCN là khu vực lãnh thổ rộng, có nèn tảng là sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở…KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính-kinh tế đặc biệt
Thứ hai, KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ, không có dân cư sinh sống.Tại Việt Nam, theo Quy chế KCN, KCX, Khu công nghệ cao – Ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ban hành ngày 24/4/1997 “ Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hang công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không
có dân cư sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất
Như vậy KCN Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa thứ hai trong
đó : Doanh Nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoat động trong KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và
Trang 7hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
1.1.2 Đặc điểm của các Khu công nghiệp
Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển.Mặc dù có sự khác nhau về qui mô, địa điểm, phương thức xây dựng hạ tầng nhưng nói chung các KCN có những đặc điểm sau:
KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị và phân bố dân cư hợp lý
KCN có chính sách kinh tế thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn.KCN cho phép các doanh nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai nhất định bên trong KCN để thành lập các nhà máy xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ, với nhiều ưu đãi như thủ tục hành chính, giá thuê đất…
Về tính chất hoạt động, KCN là nơi tập trung và thu hút các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất công nghiệp gọi chung là doanh nghiệp KCN Doanh nghiệp KCN có thể là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ; các bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh.Các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực sau : Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản xuất gia công; lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dung trong nước; phát triển và kinh doanh bằng sảng chế, qui trình công nghệ,…
Về cơ sở hạ tầng kĩ thuật, các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá,
hệ thống điện nước, thông tin liên lạc, xử lý giác thải…Nguồn vốn xây dựng cơ
sở hạ tầng thường do Chính phủ bỏ ra để san lấp mặt bằng, làm đường giao thông…Trong trường hợp nhà nước không đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì Nhà nước có thể kêu gọi từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài và trong
Trang 8nước.Việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong KCN thường do một công ty phát triển
hạ tầng đảm nhiệm.Công ty này có thể là doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh thực hiện Các công ty phát triển hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại
Về tổ chức quản lý, trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN.Ngoài Ban quản lý KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có các Bộ, Ngành như : UBND tỉnh- thành phố, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ thương mại, Bộ xây dựng,…
Sản phẩm của doanh nghiệp KCN chủ yếu dành cho thị trường thế giới và phục vụ xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ Tuy nhiên cũng có rất nhiều doanh nghiệp KCN sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ thị trường nội địa.Các nhà sản xuất trong KCN rất quan tâm đến việc giảm nhập khẩu máy móc, thiết bị và hàng hoá tiêu dung, họ rất chú trọng tới việc sản xuất hang hoá chất lượng cao với mục đích thay thế hang nhập khẩu
Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của thị trường
và diễn biến của thị trường quốc tế.Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN đều lấy điều tiết của thị trường làm chính
KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn tách biệt như KCX Các chế độ quản lý hành chính, các qui định trong nội bộ KCN và với các doanh nghiệp ngoài KCN sẽ rộng rãi hơn.Hoạt động trong KCN sẽ là hoạt động của các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước với điều kiện bình đẳng
KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh; doanh
Trang 9nghiệp 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn trong nước.
Ra đời cùng mô hình KCX, KCN cũng đã nhanh chóng thu được nhiều thành tựu ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những nước đang phát triển
1.1.3.Phân loại theo KCN chung
Có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau :
(1)Căn cứ vào mục đích sản xuất, người ta chia ra khu công nghiệp và khu chế xuất Khu công nghiệp bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Khu chế xuất là một dạng của khu công nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu
(2)Theo mức độ mới - cũ, khu công nghiệp chia làm 3 loại:
- Các khu công nghiệp cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương xây dựng khu chế xuất năm 1990) như khu công nghiệp Thượng Đình - Hà Nội, khu công nghiệp Việt Trì, khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên v.v
- Các khu công nghiệp cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt động
-Các khu công nghiệp xuất hiện trên địa bàn mới (hiện có khoảng 20)
(3) Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng, cần tách riêng 2 nhóm khu công nghiệp đã hoàn thành và chưa hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công trình bảo vệ môi trường như hệ thống thông tin, giao thông nội khu, các công trình cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, nước thải, các nhà máy xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
(4)Theo tình trạng cho thuê, có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100% (Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạm thời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê hết diện tích thì 2 tiêu thức đó không cần sử dụng nữa)
(5)Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ Các chỉ tiêu
Trang 10phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng Các khu công nghiệp lớn được thành lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả
(6) Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt
- Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều
- Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn
(7)Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
- Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
-Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài
(8) Theo tính chất của thực thể kinh tế xã hội, cần phân biêt 2 loại:
- Các khu công nghiệp thuần túy chỉ xây dựng các xí nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm, không có khu vực dân cư
- Các khu công nghiệp này dần dần sẽ trở thành thị trấn, thị xã hay thành phố vệ tinh Đó là sự phát triển toàn diện của các khu công nghiệp
(9) Theo tính chất ngành công nghiệp :
Có thể liệt kê theo các ngành cấp I, như khu chế biến nông lâm hải sản, khu công nghiệp khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu, điện tử, tin học, khu công nghiệp điện, năng lượng, khu công nghiệp phục vụ vận tải, khu công nghiệp vật liệu xây dựng v.v
(10)Theo lãnh thổ địa lý: phân chia các khu công nghiệp theo ba miền Bắc, Trung,
Trang 11Nam, theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm);
và theo các tỉnh thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế xã hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc dân phát triển bền vững
1.1.5.Vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế
1.1.5.1.Đối với nền kinh tế của cả nước
Qua thực tế, chúng ta đã từng bước làm rõ việc phát triển KCN mang lại nhiều
lợi ích cho đất nước
Thứ nhất ,KCN là công cụ thực hiện thu hút vốn đầu tư có hiệu quả.
KCN được xây dựng công nghệ hạ tầng hoàn chỉnh là nơi thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp, với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại tạo ra sản phẩm công nghệ tiêu dung và xuất khẩu với năng suất lao động cao.Đó là nền tảng của sự nghiệp CNH- HĐH
KCN tạo ra một cơ chế mới hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời việc xây dựng các KCN đảm bảo cho việc tổ chức,quản lý dễ dàng, xây dựng có
cơ sở hạ tầng tiết kiệm hơn.Do các nhà máy được xây dựng theo qui hoạch và các KCN được trang bị hạ tầng cơ sở đồng bộ nên các nhà đầu tư sẽ giảm được nhiều chi phí ngoài doanh nghiệp Việc các doanh nghiệp được xây dựng tập trung vào một khu vực còn giúp các doanh nghiệp phát triển các quan hệ liên kết, hợp tác.Vấn đề ô nhiễm môi trường được hạn chế do có hệ thống xử lý chung và được kiểm soát chặt chẽ
Thứ hai, Đầu tư nước ngoài vào KCN là nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho nguồn vốn phát triển kinh tế
Đối với Việt Nam, để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn.Vốn trong nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đó Do đó thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN là rất quan trọng vì KCN phản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi nước Theo ngân hàng thế giới(WB), các dự án thực hiện trong KCN do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện (24% do liên doanh với nước ngoài, 33% do
Trang 12các nhà đầu tư nước ngoài, 43% do đầu tư trong nước) Do vậy KCN góp phần đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho nước chủ nhà.
Thứ ba, KCN là nơi thu hút vốn đầu tư khoa học công nghệ, kĩ thuật cao
trong và ngoài nước
Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng là mục đích mà các nước đang và chưa phát triển rất quan tâm Bởi vì để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thị trường nội địa, nhà đầu tư thường đưa vào KCN những công nghệ tương đối hiện đại và cả những công nghệ loại tiên tiến nhất của thể giới Mặc
dù trong các KCN, người ta chủ yếu thực hiện sản xuất hàng tiêu dùng, gia công lắp ráp, song quá trình chuyển giao công nghệ vẫn diễn ra dưới nhiều hìnhthức: đào tạo công nhân nước chủ nhà sử dụng máy móc, công nghệ sản xuất Ngoài
ra chúng ta còn học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quản lý của nước ngoài
Thứ tư, Đầu tư vào KCN thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH, HĐH
Do tác động của vốn, khoa học kỹ thuật do đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại làm cơ cấu kinh tế được chuyển dịch Hướng chuyển dịch là tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp Số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào trong KCN tăng sẽ thu hút được số lượng khá lớn lao động, giải quyết được công ăn việc làm cho nước sở tại Ngoài ra, KCN còn góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước
Thực tế có rất nhiều nước đã tiến hành CNH, HĐH đất nước thành công nhờ một phần không nhỏ vào kết quả hoạt động của KCN Trung Quốc thời kỳ bắt đầu mở cửa đã chọn các tỉnh duyên hải xây dựng hàng loạt các KCN tập trung đã biến các vùng đất không có khả năng sản xuất nông nghiệp thành trung tâm công nghiệp, đô thị từ đó mở rộng hơn vào nội địa Hàn Quốc từ cuối thập kỷ 60 đã xây dựng mới hàng loạt các KCN cùng các thành phố mới, các tập đoàn công nghiệp lớn lên từ đó Nhật Bản, Đài Loan thành công trong việc xây dựng các khu công nghệ cao tạo ra các đột phá về công nghệ thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển, chiếm vị trí hàng đầu thế giới như các sản phẩm điện tử, tin học, viễn
Trang 13thông, chế tạo xe hơi, luyện kim Tại Việt Nam vào đầu thập kỷ này đã hình thành một số KCN Thành công bước đầu và quá trình phát triển, lớn mạnh các KCN góp phần quan trọng đưa đất nước ta tiến nhanh trên con đường CNH, HĐH đất nước
Thứ năm, Mở rộng hợp tác đầu tư quốc tế
Ngày nay trên thế giới không chỉ diễn ra sự cạnh tranh của các nước tiếp nhận đầu tư mà còn diễn ra cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước đi đầu tư Xu hướng
đa cực trong đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo điều kiện cho các nước thực hiện đường lối mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Vì vậy, đầu tư trực tiếp vào KCN cũng góp phần mở rộng quan hệ kinh tế giữa nước chủ nhà với các nước, lãnh thổ của chủ đầu tư
1.1.5.2.Đối với Hưng Yên
Thứ nhất,Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Thứ hai,Góp phần phát triển ngoại thương của tỉnh
Thứ ba, Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn
Góp phần hạn chế ô nhiễm mội trường
Như vậy ta thấy được rằng xây dựng các KCN nhằm mục đích phát triển sản xuất công nghiệp để xuất khẩu, gọi vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu kỹ thuật hiện đại và nhận công nghệ tiên tiến,đồng thời học tập kinh nghiệm và hình thành thói quen, phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến, sử dụng nguyên,nhiên vật liệu và lực lượng lao động tại chỗ, tạo việc làm mới và hỗ trợ giải quýêt các vấn đề kinh tế- xã hội của những vùng lạc hậu góp phần tăng trưởng kinh tế trong nước
Bổ sung bí quyết sản xuất và tìm thị trường, tiếp cận mạng lưới thị trường quốc tế
Khu công nhgiệp là công cụ để thúc đẩy xuất khẩu; tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm; tiếpthu chuyển giao kỹ thuật, tay nghề, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển xuất khẩu
Trang 141.2.Thu hút vốn đầu tư vào các KCN
1.2.1.Khái niệm về vốn đầu tư
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay
Vốn đầu tư là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị của các tài sản quốc gia được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm sử dụng vào mục đích đầu tư để sinh lời.
1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư
Thứ nhất, vốn phải được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có
nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và vô hình)
Thứ hai,vốn phải đựơc vận động nhằm mục đích sinh lời.
Thứ ba, Vốn bao giờ cũng gắn liền với một chủ sở hữu nhất định, không có khái
niệm vốn vô chủ
Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hoá đặc biệt.Người bán
vốn không mất đi quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng vốn mà thôi.Người mua nhận được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và phải trả cho người bán vốn một tỉ lệ nhất định tính trên tổng số vốn đó, gọi là lãi suất.Như vậy,lãi suất chính là quyền sử dụng vốn
Thứ năm, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian Ở các thời điểm khác nhau thì
giá trị của vốn cũng khau.Bởi lẽ, đồng tiền càng trải dài theo thời gian thì nó càng bị mất giá và độ an toàn càng giảm
Thứ sáu,vốn phải được tích tụ và tập trung
1.2.3.Phân loại vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau được chia thành nhiều loại khác nhau Trong đề tài này sẽ nghiên cứu nguồn vốn đầu tư dưới góc độ vĩ mô - nguồn vốn đầu tư được chia thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Trang 151.2.3 1 Nguồn vốn trong nước :
Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và nguồn huy động từ tiết kiệm của doanh nghiệp và dân cư Xét một cách tổng quát , nguồn vốn trong nước là phần tiết kiệm hay tích luỹ của nền kinh tế
a Nguồn vốn nhà nước :gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
b Nguồn vốn từ khu vực tư nhân :bao gồm phần tiết kiệm của dân cư , phần tích
luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã
1.2.3.2.Nguồn vốn ngoài nước:
Nguồn vốn đầu tư nứơc ngoài có thể hiểu là dòng lưu thông vốn quốc tế.Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới
a.Tài trợ chính thức ODA:bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ
có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
b.Nguồn vốn FDI: hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này
vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công
ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
1.2.4.Nội dung thu hút vốn đầu tư.
Trong nhiều năm qua tỉnh Hưng Yên đã tích cực đề ra các giải pháp nhằm thu hút và thực hiện vốn đầu tư một cách hiệu quả nhất.Với nhiều chính sách ưu đãi các nhà đầu tư.Để thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp phát triển nhanh, Hưng Yên thực hiện chủ trương "Quy hoạch khu công nghiệp phải đi trước một bước"; bởi có làm tốt công tác quy hoạch thì mới có nhà đầu tư cơ sở hạ tầng, có mặt bằng, sẵn sàng tiếp nhận dự án, nhất là những dự án lớn, dự án có công nghệ tiên tiến.Công tác cải cách hành chính được tiến hành nghiêm túc Sở Kế hoạch
Trang 16và Đầu tư đã rà soát 201 thủ tục hành chính, kiến nghị đơn giản hoá 162 thủ tục, kiến nghị loại bỏ bốn thủ tục Ban Quản lý các khu công nghiệp rà soát 59 thủ tục, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, đơn giản hoá 39 thủ tục; kiến nghị bãi bỏ đối với bảy thủ tục , giúp thời gian làm thủ tục đầu tư được rút ngắn, tạo cơ hội thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai dự án Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách, môi trường đầu tư được cải thiện, số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh tăng nhanh, các khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống đường, điện, nước, nhà máy
xử lý chất thải được xây dựng tương đối hoàn thiện tiếp nhận ngày càng nhiều
dự án có vốn đầu tư lớn, có công nghệ tiên tiến
Tỉnh cũng đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương dành đất cho công nghiệp, phát triển kinh tế; phối hợp với chủ đầu tư đền bù thoả đáng, tổ chức đào tạo nghề, tạo việc làm ổn định cho nông dân có đất bị thu hồi; đầu tư lớn cho khu vực nông thôn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Hằng năm, tỉnh đã tổ chức đào tạo cho từ 40 nghìn đến 55 nghìn lao động, giải quyết việc làm cho hơn 20 nghìn lao động, chủ yếu ở khu vực nông thôn
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư vào các KCN
1.3.1.Các nhân tố thuộc môi trường đầu tư bên ngoài
Nhân tố chính trị
Sự ổn định chính trị và an ninh là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình đầu tư lâu dài.Vì vậy,chính là yếu tố đầu tiên khiến các nhà đầu tư quan tâm khi có ý định đầu tư vào một quốc gia Đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư ngoài bỏ ra.Những bất ổn chính trị- xã hội sẽ ảnh hưởng tới khả năng sản xuất và tiêu dung.Nó làm cho dòng vốn từ nước ngoài
đổ vào từ trong nước đổ ra ngoài nhằm tìm cơ hội đầu tư tốt hơn
Những bất ổn định kinh tế chính trị không chỉ làm cho dòng vốn này bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi "trú ẩn" mới an toàn và hấp dẫn hơn Bất kỳ sự bất ổn định chính
Trang 17trị nào, các xung đột khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm và "gây khó dễ" của giới lãnh đạo và nhân dân đối với vốn ĐT, đều là những nhân tố nhạy cảm tác động tiêu cực đến tâm lý và hành động thực tế của các chủ ĐT, cũng như làm chậm lại các cải cách chính sách cần thiết đối với việc thu hút FDI của nước chủ nhà
Nhân tố kinh tế
Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô ảnh hưởng lớn đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, đến các thủ tục hành chính và nạn tham nhũng.Những nước có nền kinh tế vĩ mô kém thường dẫn tới tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài nhiều,tốc độ tăng trưởng thấp,…Đây là nguyên nhân gây biến động lớn về cung cầu và sức mua trên thị trường, tác động xấu tới việc thu hút và triển khai dự án FDI
Hệ thống chính sách khuyến khích ĐTNN
Chính sách thương mại cần thông thoáng theo hướng tự do hóa để bảo đảm khả năng xuất - nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phẩm, tức bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư của các nhà ĐTNN
Chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát và ổn định tiền tệ Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của FDI với tư cách là những yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường xác định Việc xem xét sự vận động của vốn nước ngoài ở các nước trên thế giới cho thấy, dòng vốn đầu tư dài hạn, nhất là FDI đổ vào một nước thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng lòng tin của các chủ đầu tư, đồng thời lại tỷ lệ nghịch với độ chênh lệch lãi suất trong - ngoài nước, trong - ngoài khu vực Nếu độ chênh lệch lãi suất đó càng cao, tư bản nước ngoài càng ưa đầu tư theo kiểu cho vay ngắn hạn, ít chịu rủi ro và hưởng lãi ngay trên chỉ số chênh lệch lãi đó Hơn nữa, khi mức lãi suất trong nước cao hơn mức lãi suất quốc tế, thì sức hút với dòng vốn chảy vào càng mạnh Tuy nhiên, đồng nghĩa với lãi suất cao là chi phí trong đầu tư cao, làm giảm đi lợi nhuận của các nhà đầu tư
Trang 18Một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở từng giai đoạn thì khả năng thu lợi nhuận từ xuất khẩu càng lớn, sức hấp dẫn với vốn nước ngoài càng lớn Những ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính giành cho nhà đầu tư Mức ưu đãi thuế cao hơn luôn được giành cho các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao, qui mô lớn, dài hạn, hướng về thị trường nước ngoài, sử dụng nhiều nguyên vật liệu và lao động trong nước, tái đầu tư lợi nhuận và có mức độ "nội địa hóa" sản phẩm và công nghệ cao hơn
Hệ thống thuế thi hành sẽ càng hiệu quả nếu càng rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng
và mức thuế không được quá cao (so với lãi suất, lợi nhuận bình quân, so với mức thuế chung của khu vực và quốc tế ) Các thủ tục thuế, cũng như các thủ tục quản lý ĐTNN khác, phải được tinh giản hợp lý, tránh vòng vèo nhiều khâu trung gian, phải công khai và thuận lợi cho đối tượng chịu quản lý và nộp thuế
Tự do hóa đầu tư càng cao càng thu hút được nhiều vốn nước ngoài
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
Ngoại trừ đối với các nhà ĐT chuyên kinh doanh trong lĩnh vực hạ tầng, còn sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa phương luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể
hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại với các cầu, cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế.Trong các điều kiện và chính sách hạ tầng phục vụ FDI, chính sách đất đai và bất động sản có sức chi phối mạnh mẽ đến luồng FDI đổ vào một nước Càng tạo cho các chủ đầu tư sự an tâm về sở hữu và quyền chủ động định đoạt sử dụng mua bán đất đai, bất động sản mà họ
có được bằng nguồn vốn đầu tư của mình như một đối tượng kinh doanh thì họ càng mở rộng hầu bao đầu tư lớn và lâu dài hơn vào các dự án trên lãnh thổ nước và địa phương tiếp nhận đầu tư
Trang 19Dịch vụ thông tin và tư vấn đầu tư đóng vai trò rất quan trọng đối với cả những nước thu hút vốn nước ngoài lẫn đối với các chủ đầu tư Nội dung hoạt động dịch vụ này rất phong phú và ngày càng mở rộng, bao gồm từ việc cung cấp thông tin cập nhật, có hệ thống, đáng tin cậy về môi trường đầu tư của cả nước và địa phương tiếp nhận đầu tư cũng như về các chủ đầu tư cho các đối tác tiềm năng rộng rãi trong nước và trên toàn thế giới ; hỗ trợ các đối tác đầu tư trong và ngoài nước tiếp xúc và lựa chọn các đối tác thích hợp, tin cậy; đến giúp
đỡ các bên làm thủ tục ký kết các hợp đồng kinh doanh, thành lập các liên doanh, cả các dịch vụ tư vấn kỹ thuật và thông tin cần thiết khác liên quan đến đánh giá các quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh Việc phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng không chỉ là điều kiện cần để khai tăng sự hấp dẫn của môi trường đầu tư của mình, mà đó còn là cơ hội để nước và địa phương tiếp nhận đầu tư có thể và có khả năng thu lợi đầy đủ hơn từ dòng vốn nước ngoài đã thu hút
Thủ tục hành chính
Lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm
rà, phiền phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư Bộ máy hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn nước ngoài mà còn của toàn bộ quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách, với những thủ tục hành chính, những qui định pháp lý có tính chất tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt
và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật
1.3.2.Các nhân tố thuộc môi trường bên trong KCN
Cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp
Cơ sở hạ tầng trong KCN bao gồm cơ sở hạ tầng trong và ngoài hang rào.Cơ sở
hạ tầng trong hang rào bao gồm : hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, hệ thống nước thải, hệ thống thông tin.Tất cả các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN Cơ sở hạ
Trang 20tầng ngoài KCN liên quan tới quá trình vận chuyển,tiêu thụ,cung cấp nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp trong KCN.
Các yếu tố liên quan đến quản lý nhà nước và thủ tục hành chính
Ban quản lý KCN phải cố gắng hoạt động theo cơ chế một cửa,tại chỗ,giải quyết nhanh các thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính là rất quan trọng Để doanh nghiệp nhanh chóng tiến hành sản xuất kinh doanh thì thời gian phê duyệt,quyết định cấp giấy phép đầu tư, cũng như thời gian thẩm định thiết kế kỹ thuật,thẩm định môi trường cho các dự
án trong KCN phải nhanh chóng
Các vấn đề liên quan đến dịch vụ trong KCN
Vị trí của các KCN hầu như ở ngoại ô thành phố,vì vậy muốn thu hút nhà đầu tư vào KCN thì cần một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe - nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện nước dồi dào và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống và một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ) phát triển rộng khắp, đa dạng và
có chất lượng cao Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho các chủ ĐTNN tiện nghi và sự thoải mái dễ chịu như ở nhà họ
Chất lượng nguồn nhân lực
Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học - công nghệ và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn Đội ngũ nhân lực có kỹ thuật cao là điều kiện hàng đầu để một nước và địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn các nhà ĐT Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa học-công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư ,làm chậm và thu hẹp lại dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước và địa phương
Trang 211.4.Một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp của một số địa phương
1.4.1 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào KCN ở Bình Dương
Chính sách thu hút vốn đầu tư của tỉnh.
Trong những năm qua đã thấy được sự quyết tâm của tỉnh trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự quyết tâm được thể hiện ngay trong đội ngũ lãnh đạo tỉnh, luôn sát cánh cùng nhà đầu tư để lắng nghe, giải quyết những vướng mắc, khó khăn, qua đó cải thiệt môi trường đầu tư lành mạnh và thông thoáng hơn
Cụ thể về việc cấp phép đầu tư, Bình Dương thực hiện theo cơ chế “một cửa”
Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối duy nhất giải quyết việc cấp phép và không quá 5 ngày, doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận kinh doanh và mã số thuế
Cũng trong quá trình thu hút vốn đầu tư, Bình Dương luôn đảm bảo tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, không có chính sách ưu đãi riêng cho các nhà đầu tư nằm ngoài khuôn khổ pháp luật quy định Thay vào
đó, Bình Dương tạo ra một môi trường bình đẳng, thuận lợi và an toàn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư
Khác với nhiều tỉnh, Bình Dương không thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, thay vào đó việc kêu gọi đầu tư được thực hiện thông qua hoạt động đối ngoại của tỉnh Việc tỉnh chủ động đặt văn phòng đại diện tại nước ngoài cũng như việc chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhiều quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… nhằm tìm kiếm đối tác trong những lĩnh vực tỉnh cần thu hút đầu tư Ông Phạm Hoàng Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, chia sẻ: “Đã có nhiều trường hợp đại diện lãnh đạo tỉnh cùng doanh nghiệp đi xúc tiến đầu tư, làm việc trực tiếp với đối tác
để tạo niềm tin cho doanh nghiệp, đồng thời nắm được tâm tư nguyện vọng của đối tác để kịp thời xử lý các vướng mắc, lo ngại khi đầu tư vào tỉnh”
Tình hình thu hút vốn đầu tư vào KCN của tỉnh Bình Dương
Trang 22Bình Dương là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Liên tục trong nhiều năm qua Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN cả về số lượng và chất lượng Sự phát triển của các KCN và sức lan tỏa của nó đã tạo ra cho Bình Dương một sức sống mới với tốc
độ đô thị hóa nhanh, thu hút lao động lớn trong và ngoài tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại…
Trong những năm qua, Bình Dương liên tục tạo những điều kiện thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào các Khu Công Nghiệp
Bảng : Tổng vốn đầu tư vào Bình Dương qua các năm (2007- 2010)
Đầu tư trong nước(tỷ đồng)
Đầu tư ngoài nước(triệu USD)
(Nguồn : Ban Quản lý KCN tỉnh Bình Dương năm 2011)
Cụ thể chỉ sau hơn 10 năm, Bình Dương đã thu hút 1.951 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn đăng ký đạt 13 tỷ 260 triệu USD, cùng với 9.605 doanh nghiệp trong nước được thành lập với tổng số vốn đăng ký 65.577 tỉ đồng Toàn tỉnh Bình Dương hiện có 28 khu công nghiệp với tổng diện tích 8.979 ha, trong
đó 24 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động Mục tiêu đến năm 2020, Bình Dương sẽ thành lập mới 11 khu công nghiệp để nâng tổng số khu công nghiệp lên 39 với tổng diện tích khoảng gần 20 ngàn ha
Một nét mới trong thu hút đầu tư phát triển của tỉnh Bình Dương trong thời gian gần đây chính là số dự án FDI có chiều hướng thiên về công nghệ cao, sản phẩm
có khả năng cạnh tranh và lĩnh vực dịch vụ xuất hiện ngày càng nhiều Trong
đó, nổi bật có dự án sản xuất lốp ô tô của tập đoàn Kumho Asiana với tổng vốn
380 triệu USD, dự án khu đô thị sinh thái Mỹ Phước được ký kết hợp tác giữa
SP Setia Berhad (Malaysia) và Becamex corp với vốn đầu tư khoảng 600 triệu
Trang 23USD, dự án sản xuất bao bì cao cấp của tập đoàn SDG Sam cment với tổng vốn giai đoạn 1 là 140 triệu USD…
Thành tựu đạt đựơc của KCN tỉnh Bình Dương.
Trong những năm qua kinh tế Bình Dương tăng trưởng rất nhanh, trở thành một trong những tỉnh, thành có nền công nghiệp (CN) phát triển mạnh nhất nước Thành công đó có đóng góp quan trọng của các khu công nghiệp (KCN) là đòn bẩy đưa CN Bình Dương đi lên
Với tỷ trọng CN chiếm 63% trong cơ cấu kinh tế và giá trị sản xuất CN hàng năm trên 105.000 tỷ đồng, Bình Dương đang trở thành một trong những tỉnh, thành CN có tốc độ tăng trưởng cao nhất nước Theo phân tích của các nhà quản
lý, yếu tố để làm nên thành công này chính là tầm nhìn của lãnh đạo tỉnh trong xây dựng các KCN tập trung làm đòn bẩy, đưa CN của tỉnh phát triển nhanh chóng
Bình Dương đã tận dụng được lợi thế mà thiên nhiên ban tặng, cùng những kinh nghiệm rút ra từ những địa phương khác nên các KCN luôn thỏa mãn và tạo ấn tượng với các nhà đầu tư Các KCN đã tạo việc làm ổn định cho hơn 250.000 lao động trong và ngoài tỉnh
Đánh giá từ UBND tỉnh, hoạt động của các KCN Bình Dương đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng dần tỷ trọng CN - dịch vụ Bên cạnh đó, vai trò của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN rất quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ cho kinh tế Bình Dương Từ KCN, nhiều công nghệ mới đã được nhập vào tỉnh như: sản xuất lốp
ô tô, linh kiện ô tô, linh kiện máy tính Nhiều sản phẩm mới với chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế đã ra đời và được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới
Hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư vào KCN của tỉnh Bình Dương
-Việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp không theo một quy hoạch thống nhất, hầu như địa phương nào cũng có các khu công nghiệp với chức năng tương
Trang 24tự nhau nên không tận dụng được những lợi thế so sánh, dẫn tới tình trạng cạnh tranh nhau gay gắt, thậm chí có tình trạng chèn lấn để thu hút đầu tư.
- Thiếu sự phối hợp giữa các KCN, giữa các địa phương trong các vùng Các KCN thường phát triển riêng rẽ, đầu tư tất cả các hạng mục công trình, kể cả xây dựng các cụm dân cư, đầu tư tốn kém, giảm hiệu quả hoạt động của các KCN
- Các KCN không có sẵn đất để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư do thiếu quỹ đất, mặc dù khách hàng không nhiều, trong khi quỹ đất còn nhiều nhưng lại không khai thác được do giá đền bù giải tỏa tăng mạnh, giá san lấp mặt bằng lớn Mặt khác giá thuê đất lrong KCN khá cao
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN, KCX Các dự án đầu tư thu hút vào các KCN ở các địa phương có nhu cầu lớn về cán
bộ quản lý người Việt Nam giỏi, công nhân tay nghề cao, kỷ luật lao động tết, song đa số các nơi không đáp ứng được
1.4.2.Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào KCN ở Bắc Ninh
Chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư
- Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Bắc Ninh được tạo điều kiện thuê đất với mức giá thấp nhất theo khung giá đất Khu công nghiệp do UBND tỉnh quy định
- Được miễn tiền thuê đất 10 năm đầu và giảm 50% trong những năm còn lại của dự án
- Tuỳ theo quy mô, ngành nghề, số lượng lao động sử dụng trình độ khoa học áp dụng các nhà đầu tư được xem xét hỗ trợ từ 10% đến 30% giá trị đền bù thiệt hại về đất
- Được hỗ trợ về vốn đầu tư bằng 30% số thuế VAT thực nộp vào Ngân sách tỉnh trong 2 năm đầu, kể từ khi sản xuất và kinh doanh
- Hỗ trợ vốn bằng 100% số thuế thu nhập doanh nghiệp thực nộp ngân sách cho
01 năm và hỗ trợ 50% cho 2 năm tiếp theo, kể từ khi có thu nhập chịu thuế, (ngoài thời hạn miễn giảm theo quy định của Nhà nước)
Trang 25- Một số chính sách hỗ trợ khác như: Tạo điều kiện cho vay vốn ưu đãi, xúc tiến thương mại, khai thác thị trường, ưu đãi trong trường hợp xây dựng nhà ở cho công nhân và các công trình hạ tầng ngoài hàng rào Khu công nghiệp.
- Chính sách khuyến khích tăng thu, thưởng nộp vượt dự toán thuế giao hàng năm:Mức thưởng bằng 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp và 20% thuế Giá trị gia tăng hàng sản xuất trong nước nộp Ngân sách vượt dự toán được giao
Tình hình thu hút vốn đầu tư của tỉnh
Từ 2000-2004: các KCN Bắc Ninh thu hút được 124 dự án với số vốn 335,2
triệu USD, trong đó có 24 dự án FDI, với số vốn 41,72 triệu USD và 100 dự án trong nước, với số vốn 5.295 tỷ đồng (tương đương 294 triệu USD)
Từ năm 2005-2006:Giai đoạn này Bắc Ninh có thêm một số KCN đi vào hoạt
động, trong đó có KCN Quế Võ và KCN Yên Phong
- Từ năm 2007 đến cuối năm 2008:là giai đoạn bùng nổ của vốn FDI vào các
KCN Bắc Ninh.Kết quả thu hút được thêm 131 dự án; trong đó FDI có 79 dự án, vốn 1.505,8 triệu USD và trong nước có 52 dự án với số vốn 1.440 tỷ đồng tương đương 191 triệu USD
Từ cuối năm 2008-2010: Do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dòng vốn
FDI vào các KCN Bắc Ninh cũng suy giảm Tuy nhiên cuối năm 2009, đầu năm
2010, thời kỳ hậu khủng hoảng, kinh tế thế giới được hồi phục.Giai đoạn này tuy dòng vốn FDI có suy giảm, song kết quả chúng ta vẫn thu hút được 72 dự
án, trong đó có 41 dự án FDI với số vốn 328 triệu USD và 31 dự án trong nước với số vốn 2.464 tỷ đồng, tương đương 137 triệu USD
Tính đến nay có 15 quốc gia vùng lãnh thổ đã đầu tư vào các KCN Bắc Ninh, trong đó Hàn Quốc là quốc gia có số dự án và vốn đầu tư nhiều nhất là 46
dự án, vốn 989,8 triệu USD; tiếp theo là Nhật Bản với 36 dự án, vốn 403,4 triệu USD; Đài Loan 18 dự án, số vốn 218,2 triệu USD; còn lại là của các quốc gia khác
- Về cơ cấu ngành:
Trang 26Nếu như trước năm 2007 các dự án đầu tư vào các KCN chủ yếu là chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng cao cấp, công nghiệp điện tử rất ít, chỉ có 2 dự án Công ty Canon chiếm 14% tổng số vốn đầu tư vào các KCN Bắc Ninh (130 triệu USD/896 triệu USD).
Thì từ 2008 đến hết tháng 12/2010 cơ cấu vốn đầu tư đã có sự thay đổi mạnh, hình thành ngành công nghiệp mũi nhọn điện tử - viễn thông
Bảng :Cơ cấu vốn đầu tư vào ngành nghề tại các KCN tỉnh năm 2008- 2010
(Nguồn :Ban quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh)
Hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư vào KCN của tỉnh Bắc Ninh
Đầu tư cơ sở hạ tầng , giải phóng mặt bằng còn yếu và chậm.Việc đầu tư hàng rào các KCN như cấp điện, cấp nước, đương gom còn chưa đồng bộ, chậm chạp
để đón đầu trước khi các KCN được lấp đầy, vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng còn thiếu.Công tác giải phóng mặt bằng cho các nhà đầu tư, điều này đẩy chi phí xây dựng tăng cao, làm giảm tình hấp dẫn của KCN Công tác giải phóng mặt bằng tại một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn, có nơi qui hoạch vẫn chưa hợp lý, còn sử dụng nhiều đất chuyên dung trồng lúa…Một số KCN chưa thực sự quan tâm đến vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường , hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn chỉnh Công tác xúc tiến đầu tư còn chậm
Ô nhiễm môi trường tại các địa phương có KCN.Thực tế, các KCN của tỉnh Hải Dương chưa làm tốt chức năng này, các công trình xử lý chất thải vẫn chưa được quan tâm đúng mức Chất thải công nghiệp chưa được xử lý tốt làm ô nhiễm môi trường trên diện rộng ảnh hưởng trức tiếp tới môi trường sống và sức khoẻ của người dân
Trang 271.4.3.Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hưng Yên
Qua việc tìm hiểu các KCN trên địa bàn một số tỉnh ,có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào KCN và phát huy hiệu quả từ quá trình phát triển các KCN sau đây:
Một là, sự thống nhất nhận thức và nhất quán hành động của toàn thể
Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh trong quá trình quy hoạch, xây dựng KCN là vô cùng quan trọng Cần có sự tuyên truyền vận động tốt để chính quyền địa phương, người dân trong vùng ảnh hưởng của KCN hỗ trợ tích cực trong công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN và tham gia giám sát, quản lý hoạt động của các KCN Và với chính sách thỏa đáng, hợp lý, nó sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải tỏa để nhanh chóng triển khai đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN và kêu gọi đầu tư
Hai là, quá trình quy hoạch phát triển KCN, đặc biệt là việc lựa chọn vị trí
xây dựng, quy mô xây dựng, chọn ngành công nghiệp ưu tiên thu hút đầu tư vào KCN phải phù hợp quy hoạch phát triển KT-XH chung, với tiềm năng và lợi thế của địa phương, với điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của khu vực, và đảm bảo an ninh quốc phòng
Việc quy hoạch phát triển KCN phải đảm bảo đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN và quá trình đô thị hóa Phát triển các KCN cần đồng thời chú trọng đầu tư đảm bảo sự đồng bộ về hạ tầng ngoài hàng rào KCN: giao thông, điện, nước, hạ tầng xã hội phục vụ đời sống công nhân KCN, khu dân cư dịch vụ phục vụ cho KCN
Ba là, lựa chọn chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phải có năng lực tài
chính, kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh nghiệm quản lý, và năng lực thu hút đầu tư Việc đầu tư xây dựng hạ tầng phải đảm bảo đồng bộ, đúng quy hoạch, đáp ứng ngay các yêu cầu về giao thông, điện, nước, thu gom
xử lý nước thải…phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp vào đầu tư và làm tốt công tác bảo vệ môi trường
Bốn là, thực hiện quản lý đối với KCN theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” tại
Trang 28bảo nâng cao vai trò và năng lực thực hiện chức năng quản lý trực tiếp đối với KCN và các doanh nghiệp KCN của Ban Quản lý, vừa đảm bảo yêu cầu giải quyết nhanh gọn, chính xác các yêu cầu của KCN và doanh nghiệp KCN đặt ra
Để thực hiện tốt cơ chế quản lý trên, cần tiếp tục quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý các KCN tỉnh thống nhất thực hiện trên toàn quốc Đồng thời cần phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ - công chức của Ban Quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp trong các KCN Các lĩnh vực được giải quyết thủ tục hành chính tại Ban quản lý phải được công khai, minh bạch, có hướng dẫn chi tiết, cụ thể Và cần thực hiện tốt quy chế phối hợp với các Sở, ngành trong việc giải quyết các yêu cầu của doanh nghiệp một cách rõ ràng, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước để quản lý chặt chẽ hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng cũng như hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật
Năm là, ổn định chính sách vĩ mô tạo sự yên tâm cho các nhà đầu
tư trong hoạt động đầu tư, nhất là chính sách khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng và hoạt động đầu tư vào các KCN Đồng thời cần ổn định chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tạo thuận lợi cho công tác giải phóng mặt bằng cho các KCN Bên cạnh đó cần có chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương cho người dân có đất bị thu hồi trong quá trình giải phóng mặt bằng cho các KCN để tiếp tục ổn định đời sống, có điều kiện chuyển đổi sang các nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, tiếp nhận được các ảnh hưởng tích cực từ quá trình phát triển các KCN để tự tạo việc làm, ổn định lâu dài
Sáu là, thu hút nhiều dự án đầu tư vào KCN, lấp đầy diện tích đất cho
thuê của KCN, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH là mục tiêu cuối cùng của phát triển các KCN, và cũng là mục tiêu của chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Song thu hút đầu tư phát triển sản xuất phải gắn với bảo đảm môi trường và phát triển bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trang 29Do đó, trong quá trình vận động thu hút đầu tư, bố trí dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định về ngành nghề thu hút đầu tư và quy hoạch xây dựng của KCN Ưu tiên thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, có khả năng đóng góp nhiều cho ngân sách, đồng thời đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường Cần cân đối, giải quyết hài hòa lợi ích của chủ đầu tư hạ tầng KCN, với lợi ích của địa phương trong quá trình lựa chọn thu hút đầu tư, từ
đó có sự phối hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất, giải quyết nhanh chóng và tốt nhất các yêu cầu của doanh nghiệp để hoạt động đầu tư vào các KCN vừa nhanh chóng, vừa có hiệu quả cao và đúng với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 30CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC
KCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
2.1 Quá trình hình thành và phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
2.1.1.Những lợi thế của Hưng Yên trong việc thu hút vốn đầu tư vào các KCN
2.1.1.1.Điều kiện địa lý tự nhiên
-Vị trí địa lý: Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23 km quốc lộ 5A và trên 20
km tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua Ngoài ra có quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thị xã đến quốc lộ 1A qua cầu Yên Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều Dương, là trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Tây- Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh.Hưng Yên gần các cảng biển Hải Phòng, Cái Lân và sân bay quốc
tế Nội Bài, giáp ranh với các tỉnh và thành phố là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình và Hải Dương
-Đặc điểm địa hình:Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, địa hình tỉnh Hưng Yên tương đối bằng phẳng, không có núi đồi Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông (với độ dốc 14cm/km) xen kẽ những ô đất trũng (đầm, hồ,
ao, ruộng trũng) thường xuyên bị ngập nước Độ cao đất đai không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao thấp xen kẽ nhau như làn sóng
-Khí hậu:Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 – 230C, độ ẩm dao động lớn, từ 80 - 90%
2.1.1.2.Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất:Nguồn tài nguyên đất của tỉnh Hưng Yên chủ yếu là đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 31- Tài nguyên khoáng sản:Tài nguyên khoáng sản chưa được điều tra cụ thể, khoáng sản chính của tỉnh Hưng Yên hiện nay là nguồn cát đen với trữ lượng lớn, chủ yếu nằm ven sông Hồng, sông Luộc, có thể khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng của địa phương và các vùng lân cận Bên cạnh đó còn có nguồn đất sét
để làm gạch, ngói,
2.1.2.Giới thiệu khái quát về các KCN trên địa bàn tỉnh.
Sau khi tỉnh tái lập năm 1997, trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên thời kỳ 1997-2010, đã định hướng xây dựng quy hoạch 06 khu công nghiệp, gồm: KCN Như Quỳnh A 60ha, KCN Như Quỳnh B 50ha, KCN Phố Nối A 100ha, KCN Phố Nối B 100ha, KCN Minh Đức 200ha và KCN thị xã Hưng Yên 60ha Tỉnh đã chỉ đạo lập quy hoạch chi tiết làm cơ sở tiếp nhận, bố trí các dự án đầu tư Giai đoạn 1997 - 2000 do khó khăn trong kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng nên việc tiếp nhận, bố trí các dự án đầu tư vào các KCN đều dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có, chưa có hạ tầng chung Một số KCN đã có nhiều dự án vào đầu tư, lấp đầy như KCN Phố Nối A, KCN Như Quỳnh A, KCN Như Quỳnh B, nhưng chưa được đầu tư hệ thống hạ tầng chung nhất là hệ thống cấp nước, thu gom xử lý nước thải và không được quản lý theo Quy chế khu công nghiệp
Năm 2003, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã trình và được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập KCN Phố Nối A với quy mô 390 ha và KCN Dệt may- Phố Nối
B với quy mô 95ha
Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Hưng Yên bổ sung 03 KCN gồm: Minh Đức - 200 ha, Vĩnh Khúc - 200ha, Thị xã Hưng Yên - 60ha, và mở rộng KCN Phố Nối B thêm 155 ha, vào Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 Năm 2007, UBND tỉnh đã trình và được Thủ tướng Chính phủ cho phép bổ sung vào quy hoạch KCN Minh Quang 325ha và điều chỉnh mở rộng KCN Phố Nối B thêm 105 ha để tiếp nhận dự án KCN Thăng Long II
Trang 32Năm 2008, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã chỉ đạo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh phối hợp với các sở ngành, địa phương lập Đề án điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, trong đó định hướng đến 2020 trên địa bàn tỉnh có 19 KCN với tổng diện tích 6.550 ha Trên cơ sở đó UBND tỉnh đã trình Thủ tướng Chính phủ đưa KCN thị xã Hưng Yên (60ha) ra khỏi Danh mục các KCN ưu tiên thành lập mới, và cho phép bổ sung một số KCN vào Danh mục.
Đến nay trên địa bàn tỉnh có 13 KCN với tổng diện tích 3.535 ha đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN cả nước, gồm: Khu công nghiệp Phố Nối A quy mô 594 ha; Khu công nghiệp Phố Nối B quy mô 355 ha (bao gồm KCN Dệt May Phố Nối, và KCN Thăng long II); Khu công nghiệp Minh Đức quy mô 200 ha; Khu công nghiệp Minh Quang quy mô 325 ha; Khu công nghiệp Vĩnh Khúc quy mô 380 ha (bao gồm KCN Agrimeco Tân Tạo và KCN Lingking Park); Khu công nghiệp Ngọc Long quy
mô 150 ha; Khu công nghiệp Yên Mỹ II quy mô 230 ha; Khu công nghiệp Bãi Sậy quy mô 150 ha; Khu công nghiệp Kim Động quy mô 100 ha; Khu công nghiệp Dân Tiến quy mô 150 ha; Khu công nghiệp Lý Thường Kiệt quy mô 300 ha; Khu công nghiệp Thổ Hoàng quy mô 400 ha; Khu công nghiệp Tân Dân quy
mô 200 ha
2.2.Tình hình thu hút vốn đầu tư và thực hiện vốn đầu tư vào các KCN trong thời gian qua
2.2.1.Các chính sách thu hút vốn đầu tư của tỉnh.
Ngay sau ngày tái lập, tỉnh đã chỉ đạo các cấp các ngành tiến hành quy hoạch các khu, cụm công nghiệp Như Quỳnh A, Như Quỳnh B, Phố Nối A, Phố Nối B, thị xã Hưng Yên, khu công nghiệp Bạch Sam, Minh Đức, để bố trí các dự án đầu tư Đồng thời, Tỉnh ủy đã có Nghị quyết “Đẩy mạnh hợp tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”; Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định hướng dẫn việc thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư và quy định quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh ngoài trên địa bàn tỉnh, tạo cơ sở pháp quy cho
Trang 33việc thống nhất quản lý hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 31-10-2001 của Ban Thường vụ
Tỉnh chủ trương khuyến khích các dự án đầu tư vào các lĩnh vực:
* Các dự án có công nghệ hiện đại, có khả năng thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển;
* Các dự án sớm có hiệu quả và đóng góp nhiều cho ngân sách;
* Các dự án nuôi trồng, chế biến nông sản thực phẩm sử dụng nguyên liệu địa phương;
* Các dự án giải quyết nhiều lao động tại chỗ Tập trung khuyến khích các dự án
sử dụng nhiều lao động vào khu vực các huyện phía Nam;
* Các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu
Để khuyến khích thu hút đầu tư, tỉnh chủ trương cho phép các dự án được hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư ở mức tối đa theo các quy định của Chính phủ Thủ tục cấp ưu đãi đầu tư đơn giản, nhanh chóng Đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh, có thể được tỉnh cho phép hưởng thêm các ưu đãi như:
* Hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nghề
* Hỗ trợ một phần kinh phí đền bù, làm hạ tầng,
* Tăng thời gian được miễn, giảm tiền thuê đất
2.2.1.1 Chính sách khuyến khích các dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh
Một là: chính sách đất đai, tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh"
Tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh Các thủ tục thuê đất được rút gọn, đơn giản hóa nhưng vẫn đảm bảo đúng quy định của pháp luật
Hiện nay, Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh là cơ quan đầu mối tiếp nhận và quản lý các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp hoạt động theo quy chế khu công nghiệp tập trung, Sở Kế hoạch và Đầu tư có chức năng là cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh thực hiện tiếp nhận các dự án đầu tư vào các khu vực
Trang 34nằm ngoài khu công nghiệp, phối hợp với các sở, ngành chức năng khác như Sở Xây dựng và các sở quản lý các ngành kinh tế kỹ thuật trong việc thẩm định các
dự án đầu tư xin thuê đất của doanh nghiệp; phối hợp cùng Sở Tài nguyên môi trường trong việc thực hiện các thủ tục cho doanh nghiệp thuê đất tạo mặt bằng sản xuất, kinh doanh một cách thuận lợi nhất
Hai là: chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học công nghệ:
Các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã được tuyên truyền, phổ biến một cách tích cực và sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng Thông qua nhiều phương tiện khác nhau, các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương về phát triển kinh tế và các quy định về sản xuất, kinh doanh đã được cộng đồng doanh nghiệp nhận thức khá đầy đủ Ngày càng có nhiều doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, đề cao chữ tín, chấp hành tốt đường lối, chủ chương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, chăm lo đời sống và điều kiện làm việc của người lao động
Để hỗ trợ doanh nghiệp về đào tạo lao động, tỉnh đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cho các dự án dạy nghề Các dự án dạy nghề đã được đặc biệt khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt như: mặt bằng, tín dụng, thủ tục…Các trường, các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh cũng được đầu tư xây dựng mới và mở rộng, năng cao chất lượng đào tạo
Ba là: chính sách hỗ trợ thông tin, xúc tiến thương mại:
Các thông tin về quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, các thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được công khai hóa, doanh nghiệp và công dân có thể dễ dàng tiếp cận
Trung tâm xúc tiến thương mại thuộc Sở Thương mại đã được thành lập và đang triển khai hoạt động, hệ thống thông tin về doanh nghiệp trong tỉnh đang từng bước hoàn thiện và sẵn sàng cung cấp theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân
Bốn là: thực hiện cải cách thủ tục hành chính:
Trang 35Cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận dự án đầu tư, biết được các nhà đầu
tư muốn đầu tư vào những địa phương có môi trường đầu tư thuận lợi nên tỉnh
đã chỉ đạo các sở ban ngành liên quan phải tinh giản các thủ tục hành chính khi tiếp nhận các dự án đầu tư ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh Giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối duy nhất tiếp nhận dự án đầu tư trong và ngoài nước Rút ngắn thời gian thẩm định cấp phép hoặc chấp thuận dự án đầu tư, chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác giải phóng mặt bằng
Đơn giản thủ tục đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp theo đúng qui định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp lý có liên quan;
Năm là: chính sách tài chính, tín dụng đối với doanh nghiệp Việt Nam:
Sự bình đẳng trong việc thực hiện chính sách tài chính, tín dụng đối với các thành phần kinh tế đã cơ bản được đảm bảo Các doanh nghiệp không kể loại hình nếu có dự án hoặc phương án kinh doanh khả thi, có năng lực quản lý và đáp ứng đủ các điều kiện áp dụng như nhau đều được vay vốn từ các tổ chức tín dụng Các dự án đầu tư theo các mục tiêu, ngành nghề kinh doanh Nhà nước khuyến khích đều được Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
Các thủ tục cho vay của các ngân hàng thương mại, đầu tư, Quỹ hỗ trợ phát triển
đã được sửa đổi theo hướng đơn giản hóa Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang được Quỹ hỗ trợ phát triển, các quỹ tín dụng và ngân hàng tích cực triển khai
2.2.1.2.Ưu đãi đầu tư
a Các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng ưu đãi tối đa theo
quy định của Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp
lý có liên quan
b Đối với các doanh nghiệp đầu tư trong nước, chủ đầu tư các dự án được
hưởng các ưu đãi đầu tư tối đa theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và các văn bản pháp lý có liên quan
Trang 36Trên đây là một số vấn đề về chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh Hưng Yên sẵn sàng chào đón và tiếp nhận các nhà đầu tư muốn vào tìm hiểu cơ hội đầu tư và đặt chân trên mảnh đất Hưng Yên.
2.2.2.Tình hình thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp trong thời gian
qua
Năm năm qua, tỉnh Hưng Yên đã thu hút được 487 dự án đầu tư, trong đó có
143 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1 tỷ
123 triệu USD và 344 dự án vốn đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 27 nghìn tỷ đồng Tính đến ngày 31-12-2010, tổng dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh là 869 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 70 nghìn tỷ đồng; trong đó doanh nghiệp có vốn FDI có 193 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,5 tỷ USD Hiện nay có 570 dự án đi vào hoạt động, tạo việc làm cho gần 100 nghìn lao động; tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân trong năm năm qua đạt 21%/năm, năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 20 nghìn tỷ đồng; đóng góp tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh.Đến hết tháng 2/2011 tổng số dự
án đầu tư vào trong KCN còn hiệu lực là 161 dự án (76 dự án nước ngoài và 85
dự án trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký là 942 triệu USD và 7.806 tỷ đồng
Bảng : Số dự án đầu tư và vốn đầu tư vào tỉnh qua các năm 2007- 2010