Phần I: Lý luận về phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong giaiđoạn hiện nay I-Tính tất yếu khách quan tồn tại kinh tế tư nhân: Qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất
Trang 1MỤC LỤC:
LỜI MỞ ĐẦU 1
Phần I: 2
I-Tính tất yếu khách quan tồn tại kinh tế tư nhân: 2
II-Nhận định,đánh giá về kinh tế tư nhân: 3
Phần II: Thực trạng của sự phát triển kinh tế tư nhân 6
trong giai đoạn hiện nay 6
1.Quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong những năm gần đây: 6
2 Những đóng góp và những kết quả đạt được của khu vực kinh tế tư nhân cho nền kinh tế 12
3 Những tồn tại yếu kém chủ yếu 21
4 Nguyên nhân 26
PHẦN III: Những phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân. 32
1 Phương hướng phát triển 32
2 Chính sách và giải pháp 33
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
“Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền
kinh tế Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế Tuy nhiên đã có thời không ít người, đặc biệt là các nhà lý luận theo mô hình Xô Viết lên án kinh tế tư nhân và chủ trương xóa bỏ nó Họ coi kinh tế
tư nhân là trở ngại chủ yếu cho việc xây dựng xã hội mới, nhưng thực tế đã minh chứng ngược lại, trong khi Chủ nghĩa Xã hội kiểu Xô Viết sụp đổ thì kinh tế tư nhân lại phát triển không ngừng và càng ngày càng thể hiện ưu thế và sức mạnh to lớn của nó Hiện tượng lịch sử trên cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ liên quan đến sự thành bại của một quốc gia, mà nó còn có tác động rất quan trọng tới tiến trình phát triển của toàn nhân loại.”
(“Suy tưởng”_Nguyễn Trần Bật Chủ tịch/ Tổng giám đốc InvestconsultGroup)
Nhận thức về thành phần kinh tế tư nhân trong giai đoạn đã được thayđổi và cần được tiếp tục đổi mới và nhìn nhận khách quan hơn về thành phầnkinh tế năng động này trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu về kinh tế tưnhân sẽ không chỉ nhằm giải thích hiện tượng lịch sử quan trọng như sự sụp
đổ của Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, mà quan trọng hơn nhận thức được conđường đi tới tương lai.Với ý nghĩa thiết thực như vậy,em đã chọn đề tài :
“Phát triển kinh tế tư nhân-Lý luận,thực trạng,giải pháp trong giai đoạn hiện na.”để làm sáng tỏ thêm những nhận định trên.
Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn của cô giáo PGS – TS ĐàoPhương Liên
Trang 3Phần I: Lý luận về phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong giai
đoạn hiện nay
I-Tính tất yếu khách quan tồn tại kinh tế tư nhân:
Qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất là qui luật chung cho mọi phương thức sảnxuất.Ở nước ta,với một nền sản xuất chưa thực sự phát triển cao,lực lượngsản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau ,tương ứng với mỗi trình độcủa lực luợng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất
Do đó,cơ cấu của nền kinh tế,xét trên phương diện kinh tế-xã hội,phải
là nền kinh tế nhiều thành phần.Căn cứ vào nguyên lý chung và điều kiện cụthể ở Việt Nam,Đảng Cộng sản Việt Nam xác định :nền kinh tế trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam có 5 thành phần:Kinh tế nhànước,kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân,kinh tế tư bản nhà nước,kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài,bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo,thì trong tình hình hiện nay,thành phần kinh tế tư nhân đang ngày càngkhẳng định được vai trò của mình,là một cấu thành quan trọng trong nềnkinh tế,đóng vai trò tích cực trong quá trình tăng trưởng kinh tế,tất nhiêncần có sự quản lý chặt chẽ và định hướng phù hợp đối với thành phần kinh
tế nhạy cảm này
Trang 4II-Nhận định,đánh giá về kinh tế tư nhân:
Các bộ phận của kinh tế tư nhân bao gồm:kinh tế cá thể, tiểu chủ vàkinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất nhưng có thuê mướn thêm lao động, tuy nhiên thu nhập vẫnchủ yếu dựa vào sức lao động và vốn có của bản thân và gia đình
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất, kinh doanh
dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóclột lao động làm thuê
Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung Ương
khoá IX có khẳng định: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm
là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nâng cao nội lực đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế có sự tương thích rất cao vớikinh tế thị trường, đặc biệt là khi tính chất mở của thị trường ngày càng tăng,
sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linhhoạt và tự chủ trong hoạt động kinh doanh ó sự tương thích rất cao với kinh
tế thị trường, đặc biệt là khi tính chất mở của thị trường ngày càng tăng, sựhợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt
Trang 5và tự chủ trong hoạt động kinh doanh.Những mặt tích cực mà nó đem lại chonền kinh tế có thể kể ra dưới đây:
Thứ nhất,hoạt động có hiệu quả,đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà
nước,sử dụng tốt các tiềm năng về vốn,biết tận dụng các nguồn nguyên liệuvật tư có sẵn trong nước, kể cả các phế liệu trong sản xuất cũng như máymóc, thiết bị cũ
Thứ hai, tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động, đảm bảo
đời sống và do đó góp phần đáng kể cho việc ổn định xã hội Vai trò nàycàng có ý nghĩa quan trọng hơn trong điều kiện nước ta khi mà khả năng thuhút lao động của kinh tế nhà nước còn rất hạn chế
Thứ ba, nhanh nhạy với thị trường,sản xuất ra nhiều hàng hoá, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu góp phần ổn định giá cả,kiềm chế lạm phát, bảo đảm tính ổn định và bền vững trong phát triển kinh
tế - xã hội đất nước
Thứ tư, giữ vai trò hỗ trợ, bổ xung cho kinh tế nhà nước, tạo thành
mối liên kết hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển, góp phần vào công cuộccông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Thứ năm, góp phần duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống,
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiện quản lý đã được tích luỹ quanhiều thế hệ của từng gia đình và dòng họ, phát huy truyền thống gắn liềnvới hiện đại
Thứ sáu, tạo sự cân đối về sự phát triển giữa các vùng, góp phần tích
cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp công nghiệphoá nông nghiệp, nông thôn
Trang 6Thứ bẩy, tuyển chọn cán bộ quản lý, phát triển kỹ năng lao động.
Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước Đối với nhữngnước đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, khu vực kinh tế tưnhân thực sự là một động lực đối với tăng trưởng kinh tế
Về mặt xã hội,nó cũng là một phương tiện để phát triển conngười Thực tế cho thấy kinh tế tư nhân có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triểncủa xã hội, tạo cho mỗi cá nhân có cơ hội có việc làm để khẳng định mình,
để mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, tức là góp phần tạo ra con người vớinhiều phẩm chất tốt đẹp hơn.Chính trong môi trường kinh tế tư nhân luônmang có tính cạnh tranh cao này buộc mỗi người phải tự hoàn thiện mìnhmới có thể đứng vững,qua đó góp phần phát triển toàn xã hội
Nhận thức đúng đắn về thành phần kinh tế tư nhân,Đảng ta đã coi đây
là một động lực của nền kinh tế.Và định hướng phát triển cho thành phầnkinh tế tư nhân là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong tình hình hiệnnay,mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.Để có thểphát huy hết vai trò của kinh tế tư nhân,tất nhiên phải có cơ chế chính sáchthông thoáng,phù hợp cùng sự quản lý chặt chẽ,vì đây cũng là thành phầnkinh tế có tính nhạy cảm và sự tự phát cao
Trang 7Phần II : Thực trạng của sự phát triển kinh tế tư nhân
trong giai đoạn hiện nay
1.Quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong những năm gần đây:
Trước đổi mới,kinh tế tư nhân bị coi là “kẻ thù” của chủ nghĩa xãhội,là đối tượng cải tạo, không được luật pháp bảo vệ và khuyến khích pháttriển.Khi đó, khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta mới chỉ cókinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế gia đình Từ khi thực hiện chính sách đổimới, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển Đặc biệt từ khi Nhà nướcban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước và gần đây là Luật Doanh nghiệp,thì kinh tế tư nhân dần hồisinh và phát triển,ngày càng mạnh mẽ,có thể thấy được điều đó qua số liệu
về các mặt sau đây
1.1Sự phát triển về số lượng các hình thức kinh tế thuộc khu vực kinh tế
tư nhân:
Năm 1991 sau một năm ban hành Luật doanh nghiệp tư nhân mới có
414 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phầnthì đến năm 1992 là 5198 doanh nghiệp, tương tự các năm 1993, 1994, 1995,
1996, 1997 là : 6.808 doanh nghiệp, 10.811 doanh nghiệp, 15.276 doanhnghiệp, 18.840 doanh nghiệp 25.002 doanh nghiệp và năm 1998 tăng lênđến 26.021( tăng 4%) gấp 62 lần so với doanh nghiệp năm 1991 Tính bìnhquân giai đoạn 1991 - 1998 mỗi năm tăng thêm 3252 doanh nghiệp khoảng32% trong đó năm 1992 tốc độ tăng về số lượng doanh nghiệp đặc biệt cao.Năm1999 con số này tăng lên 28.700 doanh nghiệp, năm 2000 tăng lên
Trang 841.700 doanh nghiệp.Và đến năm 2005 con số này là khoản128.000(6/2005,website: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So11/11-baiviet.htm)
Đối với mỗi loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn và công ty cổ phần mức tăng về số lượng cũng khác nhau Cụ thể:
- Loại hình doanh nghiệp tư nhân: Theo báo cáo của Hội nghị toànngành tài chính năm 2003, từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực đến nay đã
có hơn 71.500 doanh nghiệp được thành lập (gấp 1,6 lần so với giai đoạn1991-1999), đưa tổng số doanh nghiệp tư nhân lên tới gần 110.000 doanhnghiệp với tổng số vốn đăng ký khoảng 135.000 tỷ đồng Tỷ trọng đầu tưcủa khối doanh nghiệp này tăng so với tổng mức đầu tư toàn xã hội năm
2000 là 29%, năm 2001 là 23%, năm 2002 là 25,3% và ước năm 2003 là27%, nộp ngân sách Nhà nước năm 2003 ước đạt 8000 tỷ đồng.(Website:
http://www.moi.gov.vn/BForum/detail.asp?Cat=1&id=360)
- Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn: năm 1991 có 122 công ty,năm 1998 tăng lên 7.100 công ty, tăng lên 58 lần trong đó năm 1992 tốc độtăng về số lượng so với năm 1991 đặc biệt cao: 1444/122 = 1.183%, nhưngnăm 1997 tốc độ tăng chậm lại, nhất là năm 1998 chỉ còn 3%
- Loại hình công ty cổ phần: năm 1991 có 22 công ty, đến năm 1998tăng lên 171 công ty - tăng 7,7 lần , giai đoạn tăng nhanh nhất là vào năm1992: 526%, nhưng sau đó vào năm 1993 và năm 1995, 1996 châm lại, năm
1997 tăng lên nhưng năm 1998 lại giăm còn 12%
Trang 9Nhìn chung loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhânđang tăng nhanh về số lượng trong giai đoạn 1992 - 1994, có nguyên nhânsâu xa là sự khuyến khích của các chính sách vĩ mô - đặc biệt là Luật doanhnghiệp và Luật công ty; còn sự suy giảm về số lượng doanh nghiệp năm
1997 - 1998 là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó cótác động của khủng hoảng tài chính khu vực, sự phát triển hậm lại của nềnkinh tế nước ta nói chung và những yếu kém của bản thân các doanh nghiệp,cùng với hạn chế của những chính sách, giải pháp vĩ mô chưa kịp với tìnhhình v.v…
1.2 Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo ngành nghề sản xuất
kinh doanh.
Các số liệu thống kê cũng như kết quả điều tra cho thấy: đa số các cơ
sở kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân đều tập chung vào lĩnh vực thươngmại, dịch vụ, kế đó mới đến công nghiệp và sau cùng là sản xuất nôngnghiệp
Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 1995, trong tổng số1.882.792 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ thì có đến 940.944 cơ sở kinh doanhtrong lĩnh vực thương mại, khách sạn, nhà hàng; 707.053 cơ sở hoạt độngtrong ngành nông nghiệp, xây dựng và chỉ có 234.751 cơ sở trong các lĩnhvực còn lại; nghĩa là lĩnh vực thương mại, dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng caonhất(49%) sau đó đến công nghiệp(38%) và cuối cùng là các lĩnh vựckhác(13%)
Trang 10Những năm gần đây, xu thế trên vẫn được duy trì và có chiều hướngtập chung vào các lĩnh vực dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Cụ thể là: trongtổng số 2,2 triệu hộ cá thể, tiểu chủ được khảo sát thời kỳ 1997-1998 thì:lĩnh vực dịch vụ( bán lẻ, vận tải, dịch vụ cá nhân, khách sạn, nhà hàng, bánbuôn và đại lý) có trên 1,2 triệu cơ sở, chiếm tới 55% tổng số; lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng( chế biến thức ăn, dệt, may, sản phẩm gỗ, xây dựng,khai thác) với 527.000 cơ sở chiếm 26,3% và cuối cùng là lĩnh vực nôngnghiệp
(ngư nghiệp, chăn nuôi lâm nghiệp và các doanh nghiệp khác) vớikhoảng 369 ngàn cơ sở, chiếm 18,8%
Đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn thì tình hình cũng tương tự trên Cụ thể là:
Giai đoạn 1991-1996, trong tổng số 17.442 cơ sở: lĩnh vực thươngmại,dịch vụ với khoảng 6.802 cơ sở, chiếm tỷ trọng 39%; công nghiệp chếbiến với khoảng 6.105 cơ sở, chiếm tỷ trọng 35%; còn lại 4.534 cơ sở thuộclĩnh vực khác và chiếm khoảng 26%
Giai đoạn 1997-1998, trong tổng số 26.021 doanh nghiệp đã đăng kýnăm 1998, có tới quá nửa doanh nghiệp thương mại dịch vụ; chỉ có 5.620doanh nghiệp sản xuất trong đó 55% là chế biến thực phẩm và đồ uống, cònlại 7648 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác( xây dựng, vận tải v.v…).Như vậy doanh nghiệp thương mại vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số cácdoanh nghiệp tư nhân
Thương nghiệp tư nhân( gồm kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ) vàđang làm chủ nhiều ngành hàng nhất là công nghệ phẩm, lương thực thực
Trang 11phẩm, chủ công mỹ nghệ, gốm sứ, bán lẻ hàng hoá, dịch vụ cá nhân v.v trởthành đối thủ cạnh tranh và thay thế nhiều lĩnh vực trước đây vốn do thươngnghiệp quốc doanh và hợp tác xã đảm nhận Nhờ phát triển mạnh mẽ củathương nghiệp tư nhân đã làm thay đổi cơ cấu tổng mức lưu chuyển hànghoá bán lẻ toàn xã hội: năm 199, tư nhân chiếm tỷ trọng 66,9% tổng mức lưuchuyển hàng hoá bán lẻ xã hội, thì đến năm 1998 đã tăng lên 78%; ngược lạiquốc doanh tập thể từ 33,1% năm 1990, đến năm 1998 chỉ còn 22%; đồngthời tác động mạnh mẽ đến việc hình thành hệ thống marketing mơi ở nước
ta trong đó thương nghiệp quốc doanh chỉ còn làm chủ trong những ngànhhàng quan trọng, tư thương làm chủ bán lẻ hàng tiêu dùng xã hội
Trong lĩnh vực sản xuất, khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng còn thấp,tiềm lực còn nhỏ, dễ bị tác động, thua thiệt trong cơ chế thị trường Năm
1998, khối sản xuất khu vực nhà nươc( quốc doanh và tập thể) còn chiếm54,1% tổng giá trị sản lượng( mặc dù so với năm 1995 đã giảm đi 7%), khốiđầu tư nước ngoài tăng lên 18%( từ 15% năm 1995), khối kinh tế tư nhân
giảm xuống còn 27,8%( 28% năm 1995)- trong đó kinh tế tư nhânchính thức giảm xuống 9,6%( từ 10,5% năm 1995) Còn nếu xét về tốc độtăng trưởng tổng giá trị thì: khu vực quốc doanh giảm từ 11,7% vào năm
1995 giảm xuống 5,5% vào năm 1998; khu vực kinh tế tư nhân giảm từ16,8% năm 1995 xuống còn 9% vào năm 1998, riêng khu vực có vốn đầu tưnước ngoài từ 14,9% năm 1995 tăng lên 28,1% vào năm 1998
1.3 Sự phát triển của kinh tế tư nhân theo vùng lãnh thổ :
Con số thống kê năm 1995 cho thấy: 55% số doanh nghiệp tư nhântập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, trong
Trang 12khi đó vùng đồng bằng Sông Hồng con số đó là 18,1%, vùng Duyên hảimiền
Trung 10,1% Trong các tỉnh phía Nam thì riêng thành phố Hồ ChíMinh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai đã chiếm 63% các doanh nghiệp
tư nhân vừa và nhỏ
Năm 1996, trong tổng số 1.439.683 cơ sở kinh doanh thuộc doanhnghiệp tư nhân( bao gồm 1.412.166 cơ sở của cá nhân và nhóm kinh doanh,17.535 doanh nghiệp tư nhân và 6883 công ty trách nhiêm hữu hạn) thì :24% tập trung ở đồng Bằng sông Cửu Long, 21% ở vùng đồng Bằng sôngHồng, 19% ở vùng Đông Nam Bộ, 13% ở Khu Bốn cũ, 10% ở vùng duyênhải miền Trung, 9% ở vùng núi và trung du Bắc Bộ và 4% vùng TâyNguyên
Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, mức độ phát triển mạnh vàtập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lên tới 40%; đồng bằngsông Hồng là 33%; và Đông Nam Bộ là 25% Các công ty cổ phần lại pháttriển ở vùng Đông Nam Bộ lên đến 54%, Đồng bằng sông Hồng 23%
Sự phát triển và phân bố không đồng đều của kinh tế tư nhân vẫn diễn
ra không đồng đều tên cả nước trong những năm gần đây Năm 1997, trongtổng số 25.002 cơ sở kinh tế tư nhân( chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân) thì18.728 doanh nghiệp tập trung ở miền Nam, chiếm tới 75%, trong khi đó ởmiền Bắc chỉ có 4.178 doanh nghiệp, chiếm 17%, và miền Trung có 2.087doanh nghiệp, chiếm 8,3% Riêng thành phố Hồ Chí Minh có số lượng 6.304doanh nghiệp, chiếm 25%, bằng toàn bộ số doanh nghiệp của miền Bắc vàmiền Trung cộng lại Năm 1998, các con số tương ứng là: ở miền Nam 73%,lớn gần gấp 3 lần miền Bắc và miền Trung cộng lại( 27%); thành phố Hồ
Trang 13Chí Minh vẫn là địa bàn có số lượng lớn nhất(25%), Hà Nội và miền Trung
có số lượng tương đương nhau( khoảng 8%) Tính đến thời điểm hiện naythì mặc dù các cơ sở kinh tế nhân đã phát triển ở tất cả mọi nơi trên đất nướcnhưng sự chênh lệch giữa các vùng miền vẫn rõ rệt Các cơ sở kinh tế tưnhân tập trung nhiều nhất là ở miền Nam đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương…
2 Những đóng góp và những kết quả đạt được của khu vực kinh tế tư
nhân cho nền kinh tế
2.1 Khơi dậy và phát huy tiềm năng của bộ phận lớn dân cư tham gia vào công việc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo
việc làm.
2.1.1 Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển.
Kinh tế cá, thể tiểu chủ tuy quy môm nhỏ nhưng với số lượng
cơ sở sản xuất kinh doanh lớn nên đã động viên được nhiều nguồn vốn vàophát triển kinh doanh từ 14.000 tỷ đồng năm 1992 tăng lên 26.500 tỷ đồngvào năm 1996 chiếm 8,5% tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh toàn xãhội Các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã huy động được vốn kinh doanh là20.665 tỷ đồng ( tính đến hết năm 1996), bình quân mỗi năm trong giai doạn1991-1996 tăng thêm 3.904 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% số vốn đầu tư pháttriển của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành Tính đến thờiđiểm năm 1996, khu vực kinh tế tư nhân đã huy động được tổng lượng vốnđến 47.155 tỷ đồng, chiếm tới 15% tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.Mặc dù trong những năm vừa qua với chính sách mở cửa nhà nước kêu gọithêm nguồn đầu tư FDI ngày một tăng, nhưng khu vực kinh tế tư nhân trongnước vẫn đóng góp lượng vốn đầu tư rất đáng kể cho nền kinh tế Năm 1999
Trang 14vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là 131.171 tỷ đồng và đếnnăm 2000 con số này tăng lên 147,633 tỷ đồng.
2.1.2 Tạo việc làm, toàn dụng xã hội.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượngtham gia tích cực và có hiệu quả đối vơi vấn đề giả quyết việc làm Năm
2000, lao động của doanh nghiệp tư nhân là 21.017.326 người chiếm 56,3%lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước Trong đó, lao đông trongcác hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn lao động trong doanh nghiệp
Trong các ngành phi nông nghiệp, số lượng lao động năm 2000
là 4.634.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996, bình quân mỗi nămtăng thêm được 194.760 lao động, tăng 4,75%/năm Trong 4 năm từ năm
1997 đến năm 2000, chỉ tính riêng các ngành phi nông nghiệp trong khu vựckinh tế tư nhân đã thu hút thêm được 997.019 lao động, gấp 6,6 lần so vớikhu vực nhà nước So với năm trước, số lao động trong các doanh nghiệpphi nông nghiệp tăng lên như sau: 1997 là 11,7%; 1998 là 10,2%; 1999 là23,8%; 2000 là 56% Tỷ trọng lao động của kinh tế tư nhân trong lĩnh vựcphi nông nghiệp năm 2000 chiếm 22,1% lao động trong các khu vực kinh tế
tư nhân, 39,8% lao động phi nông nghiệp cả nước Trong đó, lao động ở hộkinh doanh cá thể chiếm 81,9%; ở doanh nghiệp chiếm 18,1% lao động phinông nghiệp
Năm 2000, lao động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp có16.373.428 người, chiếm 62,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc Sốlao động của các hộ ngoài hợp tác xã chiếm 99,67% tổng số lao động củakhu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Trong đó số lao động ở khu vựckinh tế tư nhân trong nông nghiệp, các trang trại chỉ thu hút được 363.084
Trang 15lao động, chiếm 22,2%, các doanh nghiệp nông nghiệp chỉ thu hút được53.097 lao động chiếm 0,33%.
2.1.3 Đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh mục tiêu cơ bản là huy động tiềm năng về vốn và giải quyếtviệc làm cho toàn xã hội, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư nhâncòn đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm xã hội Năm 2000, GDP của khuvực kinh tế tư nhân đạt 178.715 tỷ đồng, chiếm 42,3% GDP toàn quốc.Trong đó: hộ kinh doanh đóng góp được 154,562 tỷ đồng, chiếm 82,34%;donah nghiệp đóng góp được 33,153 tỷ đồng, chiếm 17,66% GDP của kinh
2000, GDP khu vực kinh tế phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân đạt 86.929
tỷ đồng, tăng 28,94% so với năm 1996, bình quân tăng hơn 7%/năm
Trong các ngành nông nghiệp: theo số liệu thống kê năm 2000, GDPcủa kinh tế tư nhân ngành nông nghiệp đạt 68.378 tỷ đồng, chiếm 15,4%GDP toàn quốc, 63,2% GDP của nông nghiệp, 36,4% GDP của kinh tế tưnhân Trong đó, hộ cá thể chiếm 98% GDP kinh tế tư nhân trong nôngnghiệp
Trang 162.2 Thúc đẩy hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất kinhdoanh … đều do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhận Hiện nay, trừmột số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, kinh tế tư nhân khôngđược kinh doanh, còn lại hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh káhc khu vực kinh tế tư nhân đều tham gia Trong đó, nhiều lĩnh vực,nghành nghề, khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuấtlương thực, thực phẩm Nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hànghoá bán lẻ, chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may, … Lĩnh vực sản xuất lươngthực, đặc biệt là xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp,thủy hải sản,lĩnh vực dệt may, giày dép xuất khẩu; thủ công mỹ nghệ xuất khẩu…đãmang về hàng tỷ đô la ngoại tệ cho nền kinh tế tư nhân Thực tế nêu trênđang đặt ra vấn đề cần xem xét vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nứoctrong nhữn ngành nghề, lĩnh vực nào là thích hợp khi mà khu vựuc kinh tế tưnhân đã tham gia và chiếm tỷ trọng lớn trong không ít ngành nghề Chính sựphát triển phong phú, đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loạisản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh … của khu vực kinh tế tư nhân
đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc khu vực kinh tế nhànứoc phảI cảI tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phươngthức kinh doanh dịch vụ… để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường.Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân đẫ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vựukinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức
ép lớng buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứngyêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nóichung Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng
Trang 17hình thành và xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theoyêu cầu của cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thúcđẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế quản lý theo hướng thịtrường, mở cửa hợp tác với bên ngoài.
2.3 Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ nhà doanh nghiệp Việt Nam, làm đầu tàu thúc đẩy nền kinh tế bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở của hợp tác với bên ngoài.
Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trước đây đã xoá bỏ các thànhphần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và cả những doanh nghiệp tư nhân, chỉ cònlại các nhà doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã.Đội ngũ các nhà doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh đựơc đàotạo trong cơ chế cũ - mặc dù đã đựoc đào tạo, đổi mới, trưởng thành trong cơchế thị trường những năm gần đây và đã đạt được những thành công đáng kểtrong sản xuất kinh doanh, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều yếu kém bất cậptrước yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường nhất là trướcyêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thời mở cửa nền kinh tế
Nhờ đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta đã từngbước hình thành được đội ngũ các nhà doanh nghiệp hoạt động trong hầu hếtcác lĩnh vực, các nghành nghề của nền kinh tế quốc dân với số lượng ngàymột lớn: khoảng trên 40.000 chủ doanh nghiệp và trên 120.000 chủ trang trại(trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp) Nếu so sánh với gần 6.000 giámđốc doanh nghiệp nhà nước được nhà nước đào tạo trong nhiêuù thập kỷtrước dây thì số lượng các nhà doanh nghịe tru nhân và các chru trang trạihình thành trong thời kỳ đổ mới lớn hơn nhiều lần Đây thật sự la một thành
Trang 18quả cáo ý nghĩa lớn trong việc xây dựng đội ngũ các doanh nghiệp và pháthuy nguồn lực con người cho đất nước thời mở của của khu vực kinh tế tưnhân mặc dù được hình thành một cách tự phát nhưng nhờ được đào tạoluyện trong cơ chế thị trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân đã tỏ rõbản lĩnh, tài năng, thích ứng khá kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế.
Họ đã vươn lên, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, nghành nghề sản xuấtkinh doanh mà luật pháp khơng cấm - trong đĩ bao gồm cả những ngành kỹthuật cao ( điện tử, phần mềm…) và đã làm chủ nhiều lĩnh vực ( nuơitrơng,đánh bắt tuỷ hảI sản, cơng nghiệp chế biến…), nhiều ngành hàng(thương mại, dịch vụ, bán lẻ hàng hĩa, ăn uống, gia cơng giáy dép, dệtmay, thủ cơng mỹ nghệ xuất khẩu…) Trong lĩnh vực nơng - lâm - ngưnghiệp, hàng trăm ngàn trang trại cung cấp nơng sản hàng hố cho xuấtkhẩu, đặc biệt là xuất khẩu gạo của Việt Nam Vai trị của các trang trại ngàycồng được khẳng định như đầu tàu, động lực, thúc đẩy phát triển kinh tếhàng hố và tăng trưởng trong sản xuất nơng nghiệp nước ta
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng số lượng các nhà doanh nghiệp tư nhân
và các chủ trang trại, cùng với các giám đốc doanh nghiệp nhà nước là mộtthành qủ quan trọng mà cơng cuộc đổi mới đã tạo nên, nhưng nếu so với yêucầu địi hỏi của nền kinh tế (trên 70 triệu dân và trên 12 triệu hộ gia đình) vàđặc biệt trước yêu cầu mở cửa, hội nhập nền kinh tế nước ta với khu vực vàthế giới - địi hỏi phải cĩ một đội ngũ các nhà doanh nghiệp đủ mạnh, ngangsức, ngang tài, là đối tác với các doanh nghiệp ở nước ta nĩi trên cịn quánhỏ bé Đến nay, ngồi các tổng cơng ty 90,91 và các doanh nghiệp tư bản
tư nhân, số doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là chủ yếu
Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân cũng như cácchủ trang trại ở nước ta ở vào độ tuổi trung niên, cĩ trình độ văn hố và
Trang 19trưởng thành trong giai đoạn đổi mới Con đường lập nghiệp của họ cũngkhác nhau: Phần đông là cán bộ, công nhân viên nhà nước vì nhiều lý do đãchuyển sang lập doanh nghiệp tư bản tư nhân, trang trại: một số là bộ đội vềhưu, phục viên, xuất ngũ; số khác là học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp có
cơ hội bước vào con đường lập nghiệp … Phần lớn các chủ doanh nghiệp tưbản tư nhân, chủ trang trại xuất thân từ gia đình lao động và bản thân họcũng là người lao động lớn lên trong chế độ mới - trong đó không ít người làcán bố, đảng viên được đào tào ngành nghề, có trình độ, bằng cấp cao, đãtham gia cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có hoài bão,ước mơ… muốn thử sức trong thương trường để làm giàu cho mình, cho xãhội và là những ngưòi làm ăn chân chính Đành rằng trong đó cũng còn tồntại không ít các chủ soanh nghiệp, các chủ trang trại có nhứng biểu hiện tiêucực, chạy theo lợi nhuận, đồng tiền bất chấp luật pháp, đạo lý xã hội, làm ănphi pháp, làm hàng giả… gây thiệt hại cho xã hội, rất cần được gaío dục,uốn nắn bằng pháp luật vàdư luận xã hội… Nhìn chung cần có hệ thốn luậtpháp đồng bộ, chặt chẽ, rõ ràng đối với khu vực kinh tế tư nhân, nhưng đồngthời cũng cần có chính sách, biện pháp khuyến khích đối với họ, để họ thực
sự đứng trong đội ngũ các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam, thúc đẩy con tàukinh tế đất nước vững bước tiến vào thế kỷ XXI, thực hiện thành công sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2.4 Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội.
Chính nhờ phát triển kinh tế tư nhân với nhiều loại hình kinh tế khácnhau, đã góp phần làm cho quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lựclượng sản xuất trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nước ta
Trang 20Trước hết là sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu Nếu trước đâyquan hệ sở hữu ở nước ta chỉ bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thìgiờ đây quan hệ sỏ hữu đã được mỏ rộng hơn: còn có sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp
Sự chuyển biến trong quan hệ sỏ hữu nói trên kéo thưo sựchuyển biến trong quan hệ quản lý: hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp tưbản tư nhân bên cạnh đội ngũ giám đốc các doanh nghiệp nhà nước; hìnhthành đội ngũ nhứng người lao động làm dthuê trong các doanh nghiệp tưbản tư nhân bên cạnh những người làm công ăn lương trong các doanhnghiệp nhà nước…: xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệ thuê mướn lao độngthông qua hợp đồng kinh tế; thị trường lao động bước đầu được hình thành
và ngày càng mở rộng, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho mọi người thay choviệc phân bổ lao động vào các doanh nghiệp theo chỉ tiêu (cơ chế kế hoạchhoá tập trung trước đây)
Quan hệ phân phối giờ đây càng trở lên linh hoạt, đa dạng; ngoài phânphối chủ yếu dựa trên lao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theogóp vốn theo tài sản, theo cổ phần và các hình thức khác …
Chính sự chuyển biến của các quan hệ sở hữu, quản lý và phân phốinói trên đã làm cho quan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, dễđược chấp nhận và phù hợp với thực trạng nền kinh tế và tâm lý xã hội nước