S ơ l ư ợc lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá: “Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức kinh tế rõ rệt là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.”[3, 53] K
Trang 1Trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH, để tạo nên sức sống cho nền kinh tếcủa mình, trong điều kiện thế giới đang bị cuốn vào xu thế toàn cầu hoá lắmthuận lợi và nhiều khó khăn, Việt Nam ta đang áp dụng cơ chế thị trường theođịnh hướng XHCN.
Chúng ta áp dụng cơ chế kinh tế thị trường với mục đích tận dụng ưu thếtruyền thống của hình thái kinh tế này là huy động mọi nguồn lực xã hội, pháthuy mọi năng lực sản xuất để xây dựng cơ sở căn bản bền chắc cho nền kinh
tế nước nhà
Phát triển nền kinh tế thị trường, chúng ta mới có khả năng tạo cho đấtnước một sức mạnh vật chất xứng đáng và điều kiện cải tạo một cách căn bảnmức sống của nhân dân và vị thế quốc gia trong bảng xếp hạng phát triển củathế giới, nhằm thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh
Vâng, vấn đề này không chỉ là người Việt Nam mới biết, thế giới cũng đãbiết đến, và cụm từ “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”được nói đến rất thường xuyên Nhưng người ta có thật sự hiểu “nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì không? Vấn đề này thật ra đangcòn trong vòng tranh luận gay gắt Nhưng thiết nghĩ đã là người Việt Namđang sống trong “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, thìcũng cần phải tìm hiểu xem nó là như thế nào, đúng không?
Qua đề án này tôi xin đóng góp một chút hiểu biết của mình về “ nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Đầu tiên, chúng talàm quen với những khái niệm cơ bản trước: sản xuất hàng hóa và điều kiệntồn tại của nó…
Trang 2Chương 1:
NHỮNG ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
I S ơ l ư ợc lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá:
“Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức
kinh tế rõ rệt là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.”[3, 53]
Kinh tế tự nhiên là hình thức sản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng
để thoả mãn nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế Đó làkiểu sản xuất tự cấp, tự túc, khép kín trong từng đơn vị kinh tế nhỏ, khôngcho phép mở rộng các quan hệ với đơn vị kinh tế khác trong xã hội Nềnsản xuất này thích ứng với lực lượng sản xuất chưa phát triển, lao động thủcông chiếm địa vị thống trị, năng suất lao động còn rất thấp trong thời kỳcông xã nguyên thuỷ và tồn tại phổ biến trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ.Trong thời kỳ phong kiến nó tồn tại dưới hình thức điền trang, thái ấp vàkinh tế nông dân gia trưởng
Đối lập với sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất hàng hoá – sản xuất rasản phẩm để bán Đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội, trong đó,mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường,qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau Hình thức đầu tiên của sảnxuất hàng hoá xuất hiện từ thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ
và chúng tiếp tục tồn tại và phát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo
Ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá chủ yếu là sảnxuất hàng hoá giản đơn, còn gọi là sản xuất hàng hoá nhỏ Sản xuất hànghoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của nông dân và thợ thủ công dựa trênchế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của người sản
Trang 3xuất sản xuất hàng hoá giản đơn đã tạo khả năng phát triển lực lượng sảnxuất, thiết lập nên các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế vốn táchbiệt nhau trong nền kinh tế (các công xã, các điền trang của chủ nô, thái ấpcủa quý tộc, …).
Quan hệ hàng hoá phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ phong kiếntan rã và góp phần thúc đẩy quá trình đó diễn ra nhanh chóng hơn
Hình thức điển hình của sản xuất hàng hoá là sản xuất hàng hoá tư bảnchủ nghĩa (còn gọi là sản xuất hàng hoá với qui mô lớn) Đó là hình thứcsản xuất hàng hoá đã phát triển ở mức độ cao và phổ biến trong lịch sử.Trong nền kinh tế này, quan hệ hàng hoá đã phát triển, thâm nhập vào mọilĩnh vực, mọi chức năng của nền sản xuất xã hội; hàng hoá trở thành tế bàocủa nền sản xuất xã hội Đặc điểm của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa
là dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động , trên cơ sở bóc lộtlao động làm thuê dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển dưới chủ nghĩa xã hội.Đặc điểm của sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa là nó không dựa trên cơ
sở chế độ người bóc lột người và nó nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vậtchất, tinh thần của mọi thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh.Như vậy sản xuất hàng hoá tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội, là sảnphẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người nó có nhiều ưu thế và
là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sản xuất tựcấp tự túc
II Điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên hai điều kiện sau:
1.Có sự phân công lao động xã hội:
Trang 4“Phân công lao động xã hội là chuyên môn hoá sản xuất; mỗi người, mỗi tập thể, mỗi vùng trong nền kinh tế, chỉ sản xuất một hay một số loại sản phẩm nhất định, với số lượng lớn.”
Phân công lao động xã hội ra đời và ngày càng phát triển là một quiluật tất yếu của sản xuất xã hội Cơ sở của sự phân công lao động xã hội làcăn cứ vào sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội cũng nhưnăng lực của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trong mỗi vùng của nền kinh tế.Đồng thời cũng căn cứ vào nhu cầu của xã hội về các loại sản phẩm khácnhau ngày càng lớn
-Phân công lao động theo giới tính: một hình thái phân công laođộng tự nhiên, tồn tại ở giai đoạn đầu của xã hội nguyên thủy, nghĩa là,trong một tập thể hoặc một nhóm người sống chung với nhau, các loạihình lao động được phân theo nam nữ Đàn ông lo việc săn bắt, sănbắn; đàn bà hái lượm Cách phân công lao động này tiếp tục duy trìtrong những thời kỳ lịch sử muộn hơn vào cuối xã hội nguyên thủy vàngay cả trong xã hội có giai cấp tiền tư bản chủ nghĩa, tuy có phạm vithu hẹp lại rất nhiều
Ví dụ: Ở các tộc người lấy nương rẫy làm loại hình kinh tế chủ yếu thìđàn ông lo việc chặt cây to, làm hàng rào bảo vệ rẫy khỏi sự phá hoạicủa thú rừng, nghĩa là những công việc nặng nhọc, còn làm cỏ là côngviệc của đàn bà Gieo hạt là việc chung, vv Khi nông nghiệp dùng càyxuất hiện, các công việc sản xuất chính nằm trong tay đàn ông, đàn bàchủ yếu chăm lo công việc gia đình Ở các cư dân du mục, công việcchăn nuôi và bảo vệ gia súc do đàn ông đảm nhiệm
-Phân công lao động theo lứa tuổi: một hình thái phân công laođộng tự nhiên, tồn tại ở giai đoạn đầu của xã hội nguyên thuỷ Nghĩa là,trong một tập thể hoặc nhóm người có quan hệ huyết thống gẫn gũi,
Trang 5mọi loại hình lao động được chia theo lứa tuổi: trẻ con, thanh niên,người lớn, người già; tuỳ theo sức lực, kĩ năng và kinh nghiệm của từnglứa tuổi.
-Phân công lao động theo lãnh thổ: một hình thức đặc biệt của phâncông lao động xã hội, mà kết quả mỗi địa phương căn cứ vào điều kiệnđặc thù của mình sẽ chuyên môn hoá sản xuất về một (hay một số) sảnphẩm, đôi khi chỉ một bộ phận nào đó của sản phẩm, để cung cấp chonhu cầu của các vùng khác trong nước và cả nước ngoài Phân công laođộng theo lãnh thổ phát triển theo đà phát triển của nền kinh tế hànghoá Phân công lao động theo lãnh thổ nâng cao năng suất lao động xãhội do đã sử dụng hợp lí thế mạnh của từng vùng sản xuất, tổ chức hợp
lí mối liên hệ lãnh thổ sản xuất và tiêu thụ, dựa trên một màng lưới giaothông vận tải tốt Phân công lao động theo lãnh thổ là nhân tố tạo ravùng kinh tế quan trọng nhất
Phân công lao động xã hội dẫn đến sự chuyên môn hoá người sản xuất,hình thành nên những ngành nghề ngày càng phong phú và đa dạng trongnền kinh tế Các loại phân công lao động xã hội :
-Phân công lao động chung là phân chia nền kinh tế thành các loạisản xuất khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, vận tải
-Phân công lao động riêng (phân công lao động đặc thù) là phânchia sản xuất thành những ngành và phân ngành như công nghiệp khaithác, công nghiệp chế biến, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi
-Phân công lao động cá biệt là phân công trong nội bộ xí nghiệp
Sự ra đời và tồn tại của phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sựtrao đổi sản phẩm trong xã hội Nó là cơ sở, là tiền đề của trao đổi sảnphẩm giữa những người sản xuất Do phân công lao động xã hội, mỗingười chỉ sản xuất ra một hay một loại sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu
Trang 6cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau Vì vậy, để tồntại họ phải trao đổi sản phẩm với nhau.
Như vậy, phân công lao động xã hội dẫn đến kết quả là mọi người sảnxuất trong xã hội phải trao đổi sản phẩm cho nhau, phụ thuộc vào nhau.Phân công lao động càng phát triển thì càng làm cho trao đổi sản phẩm trởnên phổ biến hơn, đa dạng hơn
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội chỉ mới là điều kiện cần nhưngchưa đủ Các Mác đã chứng minh rằng trong công xã thị tộc Ấn Độ thời
cổ, đã có sự phân công lao động khá chi tiết, nhưng sản phẩm lao độngchưa trở thành hàng hoá Bởi vì tư liệu sản xuất là của chung nên sản phẩmcủa từng nhóm sản xuất chuyên mộn hóa cũng là của chung; công xã phânphối trực tiếp cho từng thành viên để thỏa mãn nhu cầu Các Mác viết:
“Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ
thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hoá” [2, t23,
tr72]
Vậy muốn có sản xuất hàng hoá ra đời cần phải có điều kiện thứ hai:
2.Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất:
“Sự tách biệt này là do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất,
mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất” [3,54] Chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất thực chất là tư liệu sản xuất trong xã hội thuộc
về các cá nhân khác nhau, còn gọi là sở hữu tư nhân Nó ra đời cùng vớiquá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, khi lực lượng sản xuấtphát triển, năng suất lao động tăng lên, xuất hiện sản phẩm thặng dư, một
số người có quyền lực trong công xã (các tù trưởng, các tộc trưởng) có ýđịnh và có điều kiện chiếm đoạt sản phẩm thặng dư làm của riêng Quan
Trang 7hệ sở hữu tư nhân dần dần được hình thành và phát triển trên cơ sở lựclượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ xã hội hóa sản xuất pháttriển.
Quan hệ sở hữu tư nhân đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất làngười sở hữu sản phẩm lao động Điều này làm cho những người sản xuấthàng hoá độc lập với nhau và mỗi người có quyền chi phối về sản phẩmcủa mình Mặt khác họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hộinên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện ấyngười này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sựmua bán hàng hoá, tức là phải trao đổi dưới hình thái hàng hoá
Như vậy, phân công lao động xã hội làm nảy sinh các quan hệ kinh tếgiữa những người sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan đến nhau,phải dựa vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau Còn sự tồn tại của chế độ
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã làm tách biệt về lợi ích kinh tế giữanhững người sản xuất trong xã hội, làm cho họ độc lập với nhau Đây làmột mâu thuẫn, mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua trao đổi,mua – bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ để sản xuấthàng hoá ra đời và tồn tại Thiếu một trong hai điều kiện ấy, sản xuất hànghoá sẽ không thể tồn tại
Kinh tế hàng hóa, đối lập với kinh tế tự nhiên, sản phẩm trước khi đivào tiêu dùng phải qua khâu phân phối lưu thông Thị trường vừa là kếtquả của sản xuất hàng hóa vừa là điều kiện của sản xuất hàng hóa Sự táchbiệt giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa hàng và tiền đã dẫn tới sự không khớpnhau về khối lượng, tiến độ, thời gian sản xuất và tiêu dùng hàng hóa Khisản xuất xã hội càng phát triển thì đa số nhu cầu của con người được thỏamãn thông qua thị trường Bản thân sự tiêu dùng (tiêu dùng cho cá nhân và
Trang 8tiêu dùng cho sản xuất) luôn đòi hỏi sự đồng bộ cao, nếu không tiêu dùngkhông thực hiện được.
Trên thị trường có hai nhóm người hoạt động Nhóm thứ nhất là nhữngngười mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, nhóm thứ hai là những người bánhoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng Sự phân nhóm này chỉ làtương đối và với mỗi người khi này thì thuộc nhóm người mua nhưng khikhác lại thuộc nhóm người bán Thị trường là giao điểm gặp gỡ, tác độngcủa hai nhóm người này Cùng thông qua thị trường để giải quyết mâuthuẫn giữa người mua và người bán, bảo đảm thực hiện cân đối giữa cung
và cầu Mâu thuẫn trên thị trường phản ánh mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xãhội Khi mâu thuẫn được giải quyết thì người mua, người bán, người sảnxuất, người tiêu dùng đều thực hiện được mục tiêu của mình Những áchtắc trên thị trường có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng kinh tế, mâu thuẫn gâymất ổn định xã hội
Như vậy, phát triển thị trường là điều kiện để phát triển sản xuất hànghóa, suy rộng ra là điều kiện của sự phồn thịnh kinh tế xã hội
Trang 9Siêu lạm phát và khủng hoảng kinh tế xảy ra một phần bắt nguồn từnguyên nhân sâu xa và khách quan là nền kinh tế lúc xuất phát ở trình độ thấpkém, sản xuất nhỏ còn phổ biến lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và hậu quảchiến tranh để lại khá nghiêm trọng, nền kinh tế lại nằm trong vòng bao vâycấm vận của các thế lực thù địch và phản động quốc tế Tuy nhiên, sự non yếucủa nền kinh tế lúc xuất phát và hậu quả chiến tranh không phải là nguyênnhân quyết định đưa nền kinh tế đến khủng hoảng mà chính là do duy trì quálâu mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ và cấp phát hiện vật trêndiện rộng Đặc trưng của mô hình kinh tế ấy chứa đựng một cơ cấu kinh tếkém hiệu quả, phát triển kinh tế nhà nước tràn lan, tập trung quá mức vàocông nghiệp nặng, ham quy mô lớn, kỳ thị sản xuất nhỏ và phủ định các quyluật thị trường Để duy trì cơ cấu kinh tế ấy đã phải vay nợ, bao cấp sử dụng
Trang 10cơ chế cấp phát ở đầu vào và giao nộp ở đầu ra Một nền kinh tế như thếkhủng hoảng là không thể tránh khỏi Trong giai đoạn này tuy đã tiến hànhmột số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô nhưng nhìn chung chỉmới là các liều thuốc giảm sốt chứ chưa phải là phát đồ chữa trị căn bệnh siêulạm phát và khủng hoảng kinh tế Rất mừng là, thực tiễn và những bài họckinh nghiệm rút ra được từ 10 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
1976 – 1985 đã được xem xét một cách nghiêm túc, hội tụ thành quyết tâm:đổi mới
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước đột phá đầu tiên của tưduy lý luận về nền kinh tế thị trường:
Thứ nhất là sự phê phán triệt để cơ chế cũ tập trung quan liêu bao cấp, mởđường cho cơ chế mới xuất hiện
Thứ hai, đã bước đầu hình thành tư duy lý luận “nền kinh tế hàng hoá” Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3nguyên tắc:
- Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước
đi và hình thức thích hợp
- Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quanđiểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặctrưng của thời kỳ quá độ
- Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệsản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hội
Trang 11chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc.
Điểm đột phá đầu tiên sau Đại hội Đảng VI là Nghị quyết Trung ương haikhoá VI về phân phối lưu thông theo hướng xoá bỏ những rào cản, tình trạngcát cứ làm chia cắt thị trường tạo nên những mất cân đối cung - cầu giả tạokhông có lợi cho người sản xuất và người tiêu dùng mà chỉ làm lợi cho những
người có chức năng lưu thông, phân phối Tư tưởng Hồ Chí Minh về “không
sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên”
là cơ sở lý luận cho quyết sách đó Thị trường được “cởi trói”, thoát khỏi sợidây “bao cấp” đã góp phần bình hoà về cung - cầu đúng với thực chất của nềnkinh tế quốc dân, tạo cơ sở để thực hiện bước cải cách tiếp theo là xoá bỏ chế
độ tem phiếu - một đặc trưng của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
Với ba chương trình kinh tế lớn được thông qua tại Đại hội VI (lươngthực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu), vấn đề phát triển lựclượng sản xuất được đặt ở vị trí cao hơn so với xây dựng quan hệ sản xuấtmới Một mặt, đó là biện pháp sửa sai sau nhiều năm đặt trọng tâm vào quan
hệ sản xuất mới với hy vọng là “quan hệ sản xuất mới mở đường cho lựclượng sản xuất phát triển” Về cả lý luận cũng như thực tiễn, đây là sự thayđổi đúng hướng
Sau hơn bốn năm thực hiện nghị quyết của đại hội VI, chúng ta đã đạtđược những tiến bộ ban đầu về kinh tế: kiềm chế được bước đà lạm phát (chỉ
số tăng giá bình quân hằng tháng của thị trường xã hội năm 1986 là 20% đến
1990 là 4,4%), giảm bớt một phần khó khăn về đời sống của nhân dân đã kéodài nhiều năm, có tiến bộ về mặt xuất khẩu và cải thiện đáng kể cán cân xuấtnhập khẩu, viện trợ quốc tế giảm nhiều, nguồn vay nhập siêu không còn vàkhả năng nhập khẩu từ các thị trường truyền thống giảm mạnh Điều quantrọng là nền kinh tế đang có những chuyển biến có ý nghĩa cả về cơ cấu và cơ
Trang 12chế quản lý Đã bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủnghoảng và mặt trái của cơ chế thị trường ngày càng lộ rõ: lối làm ăn chạy theolợi nhuận bằng mọi giá, dẫn đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, hối lộ làm hànggiả, buôn lậu, … Công cuộc đổi mới sẽ không tránh khỏi những vấp váp nếukhông cân nhắc, tính toán bước đi
II. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên con
đường phát triển và hoàn thiện:
Đại hội VI của Đảng và hội nghị trung ương 6 (khóaVI) tiếp theo có bướcđột phá tư duy đối với nền kinh tế hàng hoá, nhưng còn nhiều yếu tố bất cập,chưa hoàn chỉnh
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng nhận định nền kinh tế đấtnước là đã bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và khẳng định: “Phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [6, 21]Đến giữa năm 1991 (sau
hơn 4 năm vừa học vừa làm kinh tế hàng hóa), trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lại tiếp tục bổ sung
tư duy khoa học về kinh tế hàng hóa:
Thay vì trước đây chỉ nêu nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa”, thìnay nói rõ và đầy đủ hơn: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước”
Kinh tế hàng hóa được đặt ở vị trí trung tâm, thỏa đáng trong phần
phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Trong
phần những định hướng lớn về chính sách trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
Trang 13xã hội, việc “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa” được trình bày ở vị trí đầu tiên, đúng với tầm quantrọng hàng đầu và bao trùm của nó.
Nội dung kinh tế hàng hóa được trình bày toàn diện, bao gồm cơ cấungành kinh tế; sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế; cơ chế quản lý kinh tế; vịtrí của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo trong phát triển kinh tế.Trong đó, nêu lên các luận điểm quan trọng: “Các hình thức sở hữu hỗn hợp
và đan kết với nhau”, “Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng của nền kinh tế quốc dân”, “thực hiện nhiều hình thức phânphối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu”.Nội dung của cơ chế quản lý nền kinh tế hàng hóa được trình bày đầy đủ
và mạch lạc hơn Nó không chỉ giới hạn ở hai yếu tố chủ yếu như trước đây là
kế hoạch và cơ chế thị trường, trong đó nhấn mạnh vai trò của kế hoạch
Cơ chế đó hiện nay có công thức như sau: “Hình thành cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụkhác” Ở đây, kế hoạch chỉ là một yếu tố trong quản lý của Nhà nước
“Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư,dịch vụ, tiền vốn, sức lao động ” Vấn đề này đã bước đầu được đặt ra tạiHội nghị Trung ương 6, khóa VI
Qua 5 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, việc phát triển nền kinh tế hàng hóa cùng với các chính
sách khác, đem lại nhiều thành tựu quan trọng trên đất nước ta Kết thúc thời
kỳ kế hoạch 1991 – 1995, đại hội lần thứ VIII đã kết luận: “Nước ta đã ra
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 14đất nước" [5,12] Đại hội VIII đã phát triển thêm Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Về sở hữu, bổ sung thêm hình thức thực hiện sở hữu toàn dân và tập thể
vốn đã được đặt ra bước đầu tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳkhóa VII (tháng 1-1994): Triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tạidoanh nghiệp, cho các tổ chức và các cá nhân ngoài doanh nghiệp Bên cạnhnhững doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nướcnắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối Hợp tác xã được tổ chức dựa trên
cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phânphối theo kết quả lao động và theo cổ phần
Về phân phối cũng được nói rõ hơn: Thực hiện nhiều hình thức phân
phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
“đồng thời dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất
kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội”
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thểhiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả
sản xuất Văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy
khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột
và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói giảm nghèo”.
Về cơ chế quản lý kinh tế, xác định thêm: Kế hoạch chủ yếu mang tínhđịnh hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô Thị trường có vai tròtrực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương
án tổ chức sản xuất kinh doanh
Trang 15Việc thiết lập đồng bộ các thị trường được nhấn mạnh và bổ sung thêm:
Tổ chức, quản lý tốt thị trường bất động sản, đặc biệt đất đai; xây dựng thịtrường vốn, từng bước hình thành thị trường chứng khoán
Bước đột phá mới trong tư duy lý luận về kinh tế thị trường ở nước ta làtại Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) lần đầu tiên nêu lên khái niệm nước tađang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khái niệm
đó về thực chất không khác mệnh đề mà Đảng ta nêu lên trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “ thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa”[7,86] Hai khái niệm “kinh tế thị trường” và “kinh tế hàng hóa” cócùng bản chất nhưng cấp độ khác nhau Trong những năm đầu, khi chuyển từ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, nhận thức lý luận
và thực tiễn của chúng ta về nền kinh tế mới còn nhiều khoảng trống Chỉ sau
15 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhận thức của chúng ta về nền kinh tếthị trường mới rõ dần Không thể bằng học tập qua sách vở hoặc thông quakhảo sát kinh nghiệm của nước ngoài có thể đưa lại cho chúng ta nhận thứcđầy đủ và sâu sắc về kinh tế thị trường chừng nào chúng ta còn chưa bắt tay tổchức công tác thực tiễn về nó
Đến Đại hội IX, chúng ta đã tích lũy được nhiều hơn nhận thức lý luận vàkinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực này Có thể nói về cơ bản chúng ta đã thiết
kế được khung thể chế kinh tế thị trường và vận hành nó trên đất nước ta, tuy
còn nhiều hạn chế Đảng đã tuyên bố: “Phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
[7,86] Văn kiện Đại hội IX cũng tiếp tục phát triển thêm những luận điểm