1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

22 642 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 174 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa và chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loai ,rút kinh nghiệmtrong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở ViệtNam trong thời kì đổi mới, Hội ng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Ở thế kỷ XVII-XVIII, khi cách mạng côngnghiệp được tiến hành ở Tây Âu, Công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thếlao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Khái niệm công nghiệp hoámang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất

xã hội, của khoa học công nghệ Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm nàytrong những giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lýluận và thực tiễn

Kế thừa và chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loai ,rút kinh nghiệmtrong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở ViệtNam trong thời kì đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VI

và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản VIệt Nam dã xácđịnh:công nghiệp hoá - hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện cáchoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế từ sử dụng lao động thủcông là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của côngnghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước,công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay mang những đặc điểm cơ bản như: côngnghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá, nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội Trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và bối cảnhtoàn cầu hoá kinh tế, mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế làtất yếu đối với đất nước ta

Vậy hiện nay, thực tiễn quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa ở nước tađang diẽn ra như thế nào và những tiền đề, biện pháp để thực hiện thắng lợi quátrình đó,chính là nội dung tôi muốn tìm hiểu trong bài tiểu luận của mình Nội dung

Trang 2

và hình thức của bài tiểu luận còn nhiều hạn chế, tôi rất mong được sự góp ý sửachữa của thầy giáo và các bạn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

I MỤC TIÊU CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

* Tìm hiểu lịch sử những ý tưởng duy tân gắn với CNH - HĐH

Lịch sử Việt Nam có nhiều cuộc cải cách lớn xuất hiện ở những thời điểmkhác nhau Tuy nhiên, xét về ý tưởng và nội dung, phải đến các nhà duy tân cuốithế kỷ XIX mới được coi là sự kiện thể hiện tinh thần công nghiệp hoá Mục tiêucủa các đề án duy tân lúc đó nhằm đuổi kịp trình độ tiên tiến ở các nước đã thựchiện công nghiệp hoá Trước hết, nguy cơ xâm lược nước ta không phải từ các quốcgia láng giềng phương Bắc, mà là đế quốc phương Tây Các nhà duy tân hiểu rằngchỉ có thể chống lại kỹ thuật hiện đại bằng cách phải trang bị kỹ thuật hiện đại.Nguyện vọng cứu nước, chống Pháp và nguyện vọng duy tân thống nhất là một.Chính xu hướng duy tân đất nước xuất hiện từ năm 1861, khi Phan Thanh Giản vàođàm phán với Pháp ở Gia Định, Nguyễn Trường Tộ làm phiên dịch cho Pháp đãviết thư cho Phan Thanh Giản đề nghị phải cấp bách tiến hành duy tân Mặt khác,quan điểm thức thời ở những người được đi ra nước ngoài, chứng kiến tận mắtcảnh tượng “thần kỳ” của thế giới tư bản cũng định hình mục tiêu duy tân đất nước

Những đề nghị duy tân chứa đựng nhiều tinh thần công nghiệp hoá Ví dụ,Nguyễn Trường Tộ có các đề xuất: Phát triển công nghiệp khoáng sản và ngànhluyện kim; Nhà nước vay tiền của các ngân hàng nước ngoài (như Ngân hàng Anh

ở Hương Cảng) để có tiền mở mang kỹ nghệ; Đề cao giáo dục kiến thức thực dụng,kiến thức hiện đại và học tập khoa học phương Tây; Đề nghị nhà nước cử người đi

du học nước ngoài, nhất là sang Anh hay Pháp, vì đây là những nước tiên tiến nhất.Như vậy, phong trào duy tân cuối thế kỷ XIX chứa trong mình hoài bão lớn Đúngnhư nhà sử học Pháp Jean Chesneaux so sánh: Phong trào duy tân cuối thế kỷ XIX

ở Việt Nam giống trào lưu hình thành ở Trung Quốc sau năm 1895

Định hướng công nghiệp hoá thời kỳ này không thể hiện rõ ở bản thân nhữngluận thuyết Các ý kiến mang ra tranh cãi, như Paul Bernard thuyết trình tại Đại hộiLiên hợp thực dân Pháp (tiểu ban Đông Dương) cuối năm 1937, nhan đề “Những

Trang 4

vấn đề đặt ra bởi sự phát triển công nghiệp ở Đông Dương”; G.Kherian trong cuốnsách “Có cần công nghiệp hoá Đông Dương hay không?” chưa thể coi là nhữngcông trình nghiên cứu nghiêm túc về công nghiệp hoá Có xét hoàn cảnh kháchquan lúc đó mới bộc lộ tính chất của vấn đề Sau khủng hoảng 1930 - 1931, dochiều hướng thu hẹp thị trường trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, sự cạnh tranhkhông ngừng phát triển, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau ngày càng sâusắc Riêng tư bản tài chính Pháp ở Đông Dương đã vấp phải những khó khăn rấtnặng nề về thị trường Mâu thuẫn giữa các nhóm tư bản tài chính Pháp phát triểngay gắt hơn trước Tình hình đó nẩy sinh xu hướng độc lập, tự lực phát triển củalực lượng kinh tế ở Đông Dương, thậm chí cả xu hướng cạnh tranh với các ngànhcông nghiệp tại chính quốc.

Sự kiện công nghiệp hoá Đông Dương đã nhanh chóng đi vào dĩ vãng, bởi

dù sao Chính phủ Pháp không bao giờ chấp nhận cạnh tranh từ phía các nước thuộcđịa Kết cục này cho phép rút ra kết luận: Độc lập, tự chủ dân tộc là điều kiện tiênquyết tiến hành công nghiệp hoá Công nghiệp hoá sẽ nẩy sinh những mâu thuẫn vàchỉ đứng trên lợi ích tuyệt đối của dân tộc, nỗ lực của bản thân dân tộc mới giảiquyết theo hướng tích cực các mâu thuẫn đó

Hoàng Xuân Long

(KHCN tháng 4/2006)

Trong điều kiện ngày nay, Đảng ta xác định; Công Nghiệp Hóa (CNH) làquá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lýkinh tế, xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kếthợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại đểtạo ra năng suất lao động cao (Theo đại hội đảng 10)

nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệsản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản suất, đời sống vậtchất tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh xã hội

Trang 5

công bằng, dân chủ, văn minh Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 nước Việt Nam

cơ bản trở thành nước công nghiệp (có tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơncác ngành khác)

nghiệp với tỉ trọng trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệpkhoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xãhội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%

II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

- Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với hợp tác, mở rộng, hợp tác quốc tế, đaphương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế Dựa vào nguồn lực trong nước làchính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế

mở cửa hội nhập hướng mạnh về sản xuất cho xuất khẩu, đồng thời thay thế sảnphẩm nhập khẩu cho có hiệu quả

- CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, được mọi thành phần kinh tế thamgia, trong đó nền kinh tế nhà nước là chủ đạo

- Lấy việc phát huy yếu tố con người làm chủ đạo, tăng trưởng kinh tế gắnliền với cải thiện đời sống người dân, tăng cường dân chủ, thực hiện tiến bộ côngbằng xã hội

- Khoa học công nghệ là động lực của CNH-HĐH, kết hợp công nghệ truyềnthống và công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở nhữngkhâu có tính chất quyết định

- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựngphương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư phát triển và công nghệ, đầu tư cóchiều sâu để khai thác tối đa nguồn lực hiện có, trong phát triển mới ưu tiên pháttriển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn

Trang 6

nhanh, đồng thời xây dựng một số công trình qui mô lớn thật cần thiết và có hiệuquả

- Kết hợp chặt chẽ toàn diện, phát triển kinh tế quốc phòng – an ninh đấtnước

III NHỮNG TIỀN ĐỀ THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ ,HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Đào tạo nguồn nhân lực

Nhân tài, hiền tài - là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì nhân tài, hiền tài nhiều Nguyên khí suy thì nhân tài hiếm, hiền tài càng không có Vào các thời mạt vận của các triều đại phong kiến xưa, có lúc có tình trạng: “Nhân tài như lá mùa thu Tuấn kiệt như sao buổi sớm” tức là rất hiếm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị giáo viên toàn miền Bắc tại Thủ đô Hà Nội.

1958.

Đất nước ta, dưới thời thực dân phong kiến cũng vậy, nhiều tài năng bị thuichột, nhân tài do đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay Còn hiền tài thì chỉ được hunđúc trong gian khổ hy sinh của cách mạng Trong hai cuộc kháng chiến chốngPháp, chống Mỹ, biết bao thanh, thiếu niên thông minh, hiếu học đã phải hiến thâncho Tổ quốc khi chưa được đào tạo để trở thành nhân tài

Trang 7

Ngày nay, đất nước được độc lập tự do, nhân dân có quyền làm chủ, nhân tài

có điều kiện nở rộ, nếu được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng.Toàn Đảng, toàn dân ta đang chăm lo đào tạo nhân tài Các ngành tư tưởng, vănhóa, giáo dục, khoa học đều dốc sức vào việc đào tạo nhân tài Các đoàn thể quầnchúng, các hội văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, các địa phương từ làng, xãđến huyện, tỉnh, thậm chí đến các gia đình, dòng họ đều chăm lo đào tạo và pháttriển nhân tài Thực tiễn đất nước cũng cho thấy một xu thế tất yếu đang diễn ra là

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đòi hỏi phải có nhiều nhân tài

để thực hiện Ngược lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa lại là điều kiện

để sản sinh ra nhiều nhân tài Từ đông đảo các nhân tài sẽ xuất hiện những hiền tài

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển củamọi nền kinh tế Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ nguồnlực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững”, “ Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đấtnước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” Đại hội Đảng lần thứ X cũngnhấn mạnh: “Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động khoa học và công nghệvới giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo độnglực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức

Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH bao gồm những con người cóđức có tài, ham học hỏi,mthông minh sang tạo làm việc quên mình vì nền độc lập

và sự phồn vinh của Tổ quốc, được chuẩn bị tốt về kiến thức nghề nghiệp, về nănglực sản xuất và kinh doanh, về điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình

độ khoa học kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới Trong nguồn nhân lực ấy, việcxây dựng giai cấp công nhân là một mhiệm vụ trọng tâm, bởi vì chỉ có giai cấpcông nhân trưởng thành về chính trị ,có trình độ mới có thể là nòng cốt để lienminh với nông dân và đội ngũ trí thức ,tập hợp và đoàn kết các thành phần khác,phấn đấu đưa sự nghiệp CNH-HĐH đến thành công

Trang 8

- Đất nước ta đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giớiWTO, vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng trở nên bức thiết Trước hết, nhân lựccho WTO phải thông thạo luật lệ quốc tế Đối với doanh nghiệp Việt Nam, điềunày đặt ra một thách thức không nhỏ Chúng ta vẫn chưa quên bài học đắt giácủa Vietnam Airlines vào năm 2005 Do chủ quan và thiếu hiểu biết về luật phápquốc tế, Vietnam Airlines đã không cử đại diện tham dự phiên tòa khi có giấy triệutập của tòa án Roma Kết quả là Vietnam Airlines phải trả 5 triệu Euro Vụ kiệnnày chỉ là một trong những vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi hộinhập quốc tế Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng này là do các doanh nghiệpchưa đánh giá đúng về tầm quan trọng của vấn đề pháp lý, vì họ thường quan niệmsai lầm rằng có thể giải quyết vấn đề bằng nhiều cách, trong khi đối với quốc tếmọi vấn đề đều phải giải quyết dựa trên pháp luật Khi tham gia vào “sân chơichung toàn cầu”, do số lượng các hợp đồng thương mại được ký kết rất nhiều,doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn không thể tránh khỏi tranh chấp quốc tế trongquá trình thực hiện hợp đồng Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp hiện thiếu hiểubiết về luật lệ quốc tế và chưa có thói quen tôn trọng những luật lệ đó

Bên cạnh đó, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi khi hội nhập Muốncạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải có những thay đổi về nguồn nhânlực, cách thức quản lý, máy móc thiết bị công nghệ, và phải có năng lực nhất định

về tiếp cận, chiếm lĩnh thị trường Trong các yếu tố trên, yếu tố con người đặc biệtquan trọng Thiết bị và công nghệ có hiện đại đến mấy nhưng con người không đủmạnh thì sẽ nhanh chóng bị thua trên sân nhà

Nhìn lại thực trạng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nước ta, chúng takhông thể phủ nhận rằng doanh nghiệp Việt Nam kém cạnh tranh Xét về đội ngũquản lý, đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp ViệtNam còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý Số lượng doanh nhân giỏi,trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Đa phần họ chưa được

Trang 9

trang bị các kiến thức kinh doanh như: quản trị doanh nghiệp, phát triển thươnghiệu, chiến lược cạnh tranh, ứng dụng công nghệ thông tin,… Hoạt động quản lýchủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tiễn, do đó tính hiệu quả chưa cao và dễ gặp rủiro.

Một trong những đặc điểm được đề cập đến nhiều nhất là Việt Nam có số

lượng lao động dồi dào, giá cả rẻ Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh này bị hạn chế,

bởi hầu hết lao động không có tay nghề cao, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp,

cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập.

Tuy nhiên, khi mở cửa, các công ty đa quốc gia và các nhà cung cấp dịch vụgiáo dục vào Việt Nam sẽ gián tiếp góp phần làm tăng chất lượng nhân lực nước ta;Các doanh nghiệp Việt Nam phải tự đào tạo nguồn lực cho mình và ngày càng cónhững yêu cầu khắt khe hơn với các tổ chức đào tạo; Chính các công chức phải tựhọc tập, nâng cao chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đáp ứng đòihỏi của cải cách

WTO mang đến nhiều cơ hội nhưng những khó khăn chúng ta phải đối mặtcũng vô cùng to lớn Tuy nhiên, Việt Nam không thể đứng ngoài “sân chơi” này.Nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay chưa phải là mạnh, nhưng chúng ta cóquyền tin rằng, gia nhập WTO là một giải pháp hiệu quả để nâng cao nguồn lựcnày, chứ không nên lo lắng nguồn nhân lực yếu sẽ làm chúng ta thất bại trong hộinhập kinh tế quốc tế

2 Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả

Thực trạng: Nguồn vốn huy động được cả trong và ngoài nước không nhỏ Tuy nhiên, vẫn tồn tại quá nhiều vấn đề trong sử dụng vốn, xảy ra tình trạng lãng phí kép, và "bệnh hình thức".

"Lãng phí kép" trong sử dụng vốn

Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn.Tuy nhiên, thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ở nước ta hiện nay đến đâu?

Trang 10

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: "Ở Việt Nam, tồn tại một nghịch lí là nướcnghèo nhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gây lãng phí" Chúng ta chưa quan tâmđầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tưtrong nước cũng như nước ngoài và ODA

Dự án xây dựng chung cư cao cấp An Trung II(Đà Nẵng), giá trị gần 100 tỉ đồng bị bỏ hoang từ

Việc thất thoát ngân sách đã được Chính phủ thừa nhận, Quốc hội bàn thảo,

và khiến người dân xót xa Tiền ngân sách là gì khác ngoài tiền thuế của dân đónggóp?

Đầu tư trong nước cũng là một nguồn lực tốt, thậm chí, năm 2006, đầu tưtrong nước còn lớn hơn FDI Hầu hết đầu tư trong nước là các DN tư nhân, các cánhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc đẩy hiệu quả càng cao càng tốt Tuy nhiên,hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn bị hạn chế do tác động chung của các nguồnlực khác: Cơ chế chính sách, vấn đề cơ sở hạ tầng và cả những ưu đãi lớn dành cho

DN nhà nước Đáng ra, tư nhân có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rất nhiều

Trang 11

Tất nhiên, không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng một yếu

tố quan trọng chính là môi trường kinh doanh còn quá nhiều nhân tố bất ổn, dochính nhà nước tạo ra Về vốn bên ngoài, chúng ta đã nhận được rất nhiều cam kết,nhưng tốc độ giải ngân còn quá thấp Cam kết FDI 10-16 tỷ USD nhưng thực tế tỉ

lệ giải ngân thấp hơn đáng kể, chỉ 4,1 tỷ USD năm ngoái Các nhà đầu tư vàonhưng chưa đưa được tiền vào Nếu để tình trạng này lâu, nguy cơ rõ ràng có thểxảy đến chính là việc các nhà đầu tư ngần ngại trong việc đưa ra các cam kết mới,

và cả trong thực hiện các cam kết đã có Thậm chí họ có quyền rút vốn như đã từngxảy ra Việt Nam đã mất tới 10 năm để khôi phục đà đầu tư từ những năm 1995,

1996 Vào thời điểm đó, mức cam kết đầu tư vào Việt Nam đã lên tới 8 tỷ USD

Trên thế giới, nước nào cũng muốn thu hút đầu tư cho phát triển Tình trạngkhát vốn diễn ra ở mọi nơi Địa bàn chọn lựa đầu tư rất rộng Nếu Việt Nam khókhăn, làn sóng đầu tư vào nước này sẽ nhỏ dần, thậm chí mất hẳn Cố gắng lôi lại

đà đó không hề dễ dàng

Về cơ sở hạ tầng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong đầu tư nhưng bản thânViệt Nam lại chưa tạo điều kiện đầy đủ Hình thức BOT đã được luật hóa nhưngchưa có hướng dẫn thực sự để DN nước ngoài tham gia Cách đây chưa lâu, PhầnLan đã mất 5-7 năm để đàm phán tham gia xây dựng hạ tầng, đạt đến kí kết Họ lạiphải mất thêm 2 năm đàm phán về giá cung cấp điện nhưng không có kết quả.Nước này đã rút dự án khỏi Việt Nam Bài học Phần Lan cần phải tránh

Việt Nam cũng có thể học bài học Philippine khi nước này quyết định mở cửa thị trường điện để nhà đầu tư nước ngoài vào tham gia Chỉ trong vài năm, nhu cầu điện đã được đáp ứng cơ bản Nhờ đó, Philippine đã giảm tải được nguồn vốn lớn mà ngân sách phải bỏ ra cho phát triển

hạ tầng điện, dành đầu tư cho lĩnh vực khác Việc mở cửa thị trường điện nhiều nước khác cũng

đã làm rồi

Ngày đăng: 22/12/2015, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w