1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG hợp bài tập LUẬT KHUYẾT tật

414 2,6K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 414
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và em cũng đồng ý với quan điểm của bác Nguyễn Trung đó là để đánh giá sự quan tâmcủa Nhà nước đối với người khuyết tật không phải dựa vào số tiền trợ cấp mà Nhà nước cấpcho mình là bao

Trang 1

Bài nhóm SỐ 5:

I, KHÁI NIỆM CHUNG

- Sức khỏe: Là trạng thái thoải mái, toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ

không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Và chăm sóc sức khỏe bao gồmchăm sóc y tế và chăm sóc ngoài y tế Chăm sóc y tế do ngành y tế thực hiện như khám chữabệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng; còn chăm sóc ngoài y tế là chăm sóc về dinh dưỡng,

vệ sinh môi trường, nhà ở, giao thông, thể thao

Có thể thấy sức khỏe là vấn đề rất được Nhà nước, cộng đồng xã hội chú trọng và quantâm Đặc biệt là sức khỏe của những người khuyết tật

- Sức khỏe người khuyết tật: Là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần và

xã hội

- Còn chăm sóc sức khỏe người khuyết tật: Không chỉ là hướng đến các yếu tố môi

trường bên ngoài (như thức ăn, nước uống, điều kiện vệa sinh, ) mà còn các yếu tố môitrường bên trong (như di truyền, gen, tế bào, ), không chỉ là giữa các hoạt động đề phòngphát sinh bệnh tật mà còn phát hiện sớm bệnh và điều trị phục hồi sức khỏe cho ngườikhuyết tật

Người khuyết tật đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình ban đầu để làm sao có thể thích

nghi với mọi thứ Như anh Khúc Hải Vân là người khuyết tật, anh bị mù bẩm sinh nên anh

đã gặp khó khăn trong việc đi lại, cũng như xác định vị trí của mọi đồ vật trong nhà Do đó,

để mình có thể nhận biết được hướng đi vào phòng ngủ, phòng vệ sinh thì anh đã treo ở gầnnơi vào phòng vệ sinh một chiếc giày; treo một chiếc quần gần hướng vào phòng ngủ để mỗilần anh sờ thấy đồ đó là anh biết hướng rẽ vào phòng Hay như lúc nấu ăn nhất là rán trứng,anh cũng không thể lật trưngd như người bình thường mà phải gạt trứng vào một chiếc đĩarồi sau đó úp đĩa trứng lại vào nồi để rán tiếp

Đó chỉ mới là số ít khó khăn mà người khuyết tật gặp phải trong cuộc sống Vì vậy, để

họ có động lực hơn trong cuộc sống và đảm bảo cho họ có thể hoạt động tốt hơn trong sinhhoạt, trong lao động, học tập; đồng thời giúp người khuyết tật tự tin, được quyền bình đẳngnhư những người bình thường khác trong các hoạt động giải trí, văn hóa, mà pháp luậtViệt Nam đã đưa ra những quy định về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật Vấn đềnày được quy định cụ thể trong Luật người khuyết tật năm 2010

- Theo đó, chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật: Là tổng hợp các quy định về

quyền của người khuyết tật được Nhà nước, cộng đồng xã hội thực hiện trong các hoạt động

Trang 2

phòng bệnh, khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng nhằm giúp người khuyết tật

ổn định sức khỏe, vượt qua những khó khăn bệnh tật, vươn lên hòa nhập cộng đồng

Người khuyết tật cũng giống như người bình thường khác đều có quyền được sống, đượchọc tập, vui chơi, cũng như quyền được bảo vệ cuộc sống, quyền con người Hiểu được tầmquan trọng của chế độ chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật nên càng ngày vấn đề nàyđược quan tâm điều chỉnh Ở Việt Nam, từ lúc Luật người khuyết tật được ban hành, ngườikhuyết tật đã được quan tâm hơn, quyền của người khuyết tật cũng đã được đảm bảo bìnhđẳng hơn nhiều Như Điều 1 Luật khuyết tật năm 2010 đã quy định về phạm vi điều chỉnhcủa luật này là quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, cũng như trách nhiệmcủa Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật

Từ đó, chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật cũng được Nhà nước và các

cơ sở quan tâm hơn Vấn đề này được quy định cụ thể tại chương III Luật người khuyết tật từĐiều 21 đến Điều 26 Bên cạnh đó, chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn được quyđịnh tại Điều 12 Luật người cao tuổi; Điều 3 Luật khám bệnh, chữa bệnh; Điều 7 Luật hoạtđộng chữ thập đỏ; Điều 2 và Điều 41 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Điều 12 đến Điều 15Luật bảo hiểm y tế; Điều 41, Điều 42, Điều 48, Điều 52 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em, Như vậy, tùy vào từng đối tượng và mức độ dạng tật hoặc nhu cầu của ngườikhuyết tật mà pháp luật quy định chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật đượcthực hiện khác nhau Từ đó, người khuyết tật cũng được hưởng một hoặc nhiều chế độ trongquá trình chăm sóc sức khỏe

Những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần hay trí tuệ đã làm cho người khuyết tật gặprất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe Do đó, nhu cầu chăm sóc và được chămsóc sức khỏe là nhu cầu thường xuyên của người khuyết tật Ngoài ra, việc bị khuyết tật cònlàm cho người khuyết tật luôn cảm thấy tự ti, mặc cảm; đặc biệt là sự kỳ thị của cộng đồng

Vì vậy, chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là quan hệ về trách nhiệm của nhiều chủ thể liênquan được pháp luật điều chỉnh Đó là mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng xã hội vàngười khuyết tật trong việc thực hiện các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh, chỉnhhình, phục hồi chức năng nhằm giúp người khuyết tật vượt qua những khó khăn của bệnh tật,vươn lên hòa nhập cộng đồng

Bên cạnh đó, Nhà nước còn thể hiện trách nhiệm của mình thông qua việc khuyến khíchcác tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kĩ thuật, vật chất để thực hiện hoạtđộng chăm sóc sức khỏe người khuyết tật Nhà nước còn hỗ trợ kinh phí theo dự án cho cơquan, tổ chức nghiên cứu khoa học về người khuyết tật, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên về

Trang 3

chỉnh hình, phục hồi chức năng Ngoài ra, cơ sở sản xuất dụng cụ chỉnh hình, phương tiện,thiết bị phục hồi chức năng, trợ giúp sinh hoạt, học tập và lao động cho người khuyết tậtđược vay vốn với lãi suất ưu đãi, được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.

Như trong một giờ học giao lưu với người khuyết tật, anh Khúc Hải Vân đã chia sẻ về

chế độ chăm sóc sức khỏe mà Nhà nước đã dành cho người khuyết tật như: Nhà nước đã cấpthẻ người khuyết tật cho những người bị khuyết tật nặng nhằm giúp họ được miễn giảm chiphí khi đi tàu; tham gia giao thông cũng được miễn phí khi đi xe bus; được Nhà nước trợ cấphằng tháng 520 nghìn đồng Tuy nhiên, việc để được cấp thẻ người khuyết tật thì phải thôngqua nhiều thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian, phải thông qua việc thẩm định mức độkhuyết tật của từng người nên nhiều người khuyết tật không thẩm định đánh giá mức độkhuyết tật đã không được cấp thẻ Trong khi đó, nếu đi tàu người khuyết tật mà không có thẻngười khuyết tật thì sẽ không được hưởng chế độ miễn giảm chi phí đi lại

Hay như bác Nguyễn Trung cũng đã chia sẻ bác là người khuyết tật nhưng chưa biết

đến tiền trợ cấp là thế nào Điều này cũng đã cho thấy ngân sách Nhà nước ở nước ta cònkhó khăn nên không đủ để trợ cấp cho tất cả mọi người bị khuyết tật, Nhà nước ưu tiên trợcấp cho những người bị khuyết tật nặng hơn

Và em cũng đồng ý với quan điểm của bác Nguyễn Trung đó là để đánh giá sự quan tâmcủa Nhà nước đối với người khuyết tật không phải dựa vào số tiền trợ cấp mà Nhà nước cấpcho mình là bao nhiêu, mình có được trợ cấp hay không mà sự quan tâm của Nhà nước cóthể thể hiện qua những quy định về sự ưu tiên, miễn giảm chi phí khám chữa bệnh, thườngxuyên hỏi thăm động viện học, tạo điều kiện cho người khuyết tật được học tập và làm việc,tạo điều kiện để người khuyết tật được khám chữa bệnh theo phương pháp phù hợp với sứckhỏe của từng người giúp họ hòa nhập hơn với cộng đồng, xóa bỏ sự kì thị của mọi ngườiđối với họ, Chỉ cần như thế thôi cũng đã giúp người khuyết tật cảm thấy tự tin, vui vẻ và

có động lực hơn trong cuộc sống

Như vậy có thể thấy chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật đã được pháp luật ViệtNam quan tâm và ra sức bảo đảm cho họ được thực hiện quyền của mình, cũng như giúp họhòa nhập hơn với cộng đồng, với mọi người xung quanh

2, Ý nghĩa chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật:

Việc quy định về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật có ý nghĩa vô cùng to lớn,thể hiện qua các khía cạnh như:

- Thứ nhất, có ý nghĩa về mặt xã hội và nhân văn: Đó là sự chia sẻ, cảm thông của

cộng đồng xã hội với rủi ro của người khuyết tật Chế độ này còn thể hiện lòng nhân đạo sâu

Trang 4

sắc giữa con người với con người Sự giúp đỡ về các điều kiện vật chất hay tinh thần trongquá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng nhằmđáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của mọi người khuyết tật Từ đó giúp họ khắcphục các bất lợi, khó khăn từ khuyết tật, vượt qua những mặc cảm, tự ti về ngại hình, vềkhiếm khuyết để vươn lên khẳng định bản thân, hòa nhập với cộng đồng.

- Thứ hai, có ý nghĩa về pháp lý: Thể hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của con

người nói chung, đặc biệt là người khuyết tật và trách nhiệm của cộng đồng Quyền củangười khuyết tật đã được quy định trong Tuyên ngôn chung về quyền con người của Liênhợp quốc Đồng thời, được quy định trong Hiến pháp và luật chuyên ngành, pháp luật ngườikhuyết tật đã tạo cơ sở để người khuyết tật thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe Vấn đềnày hiện nay được quy định cụ thể hơn trong Luật người khuyết tật năm 2010 Luật nàyđược ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho người khuyết tật được thực hiện cácquyền của họ, đặc biệt là quyền được chăm sóc sức khỏe trên thực tế Bên cạnh đó, pháp luậtquy định trách nhiệm của Nhà nước, các ban ngành y tế, cộng đồng xã hội trong việc chămsóc sức khỏe người khuyết tật nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và cong bằng xã hộitrong các hoạt động này

- Thứ ba, có ý nghĩa về kinh tế: Tạo điều kiện cho người khuyết tật có điều kiện tham

gia vào các hoạt động lao động, hoạt động việc làm để sống độc lập, đảm bảo thực hiện cácquyền của công dân Khi sức khỏe được đảm bảo, người khuyết tật sẽ tìm kiếm việc làm,tham gia lao động để có thu nhập nhằm nuôi sống bản thân và gia đình Người khuyết tật nếuđược chăm sóc sức khỏe phù hợp, hiệu quả, đúng phương pháp thì người khuyết tật cũng làmột trong những nguồn nhân lực tiềm tàng cho nhân loại và đất nước như những người bìnhthường khác Những người khuyết tật có lòng tận tụy, trung thành và ý chí vươn lên trongcuộc sống, trong công việc Sự phấn đấu, nỗ lực của họ là động lực mạnh mẽ để giúp cácthành viên khác trong xã hội cũng cố gắng vươn lên Khi có sức khỏe, người khuyết tật sẽ có

cơ hội để nghiên cứu chế tạo ra nhiều đồ dùng cần thiết, tạo công ăn việc làm cho nhữngngười khuyết tật khác Qua đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước

Ví dụ như: Bác Nguyễn Trung với niềm đam mê và sự hi vọng tạo ra được những chiếc

xe lăn với giá thành rẻ để có thể giúp người khuyết tật khiếm khuyết về chân nhưng không

có đủ điều kiện để mua những chiếc xe lăn bán ngoài thị trường vì nó đắt thì có thể tìm đến

với bác để mua chiếc xe lăn với giá thành thấp Hay như cô bé Nguyễn Phương Anh bị

bệnh xương thủy tinh từ nhỏ đã làm em không thể đi lại bằng đoi chân của mình mà phảingồi xe lăn Nhưng nhờ vào sự chăm sóc về sức khỏe của gia đình cũng như của y bác sĩ đã

Trang 5

giúp em tự ti hơn, cố gắng vượt qua sự mặc cảm để theo đuổi ước mơ ca hát của mình khi

em tham gia cuộc thi Tìm kiếm tài năng Việt

II, GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

Xét tình huống trên thì:

- Em Như Ý bị dị dạng 4 đốt sống lưng:

Điều này làm cho khả năng vận động, di chuyển của em gặp khó khăn Do đó, căn cứ

vào Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của luật người khuyết tật thì em Như Ý mắc dạng tật là Khuyết tật vận động

Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay,than mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển (theo khoản 1 Điều 2 Nghị định28/2012/NĐ-CP) Do đó, người khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt

cá nhân, vui chơi, học tập và lao động Tuy nhiên, đa số người khuyết tật vận động có bộ nãophát triển bình thường nên họ tiếp thu được chương trình học tập, làm được việc có ích chogia đình, bản thân và xã hội Người khuyết tật về vận động cần được sự hỗ trợ về phươngtiện đi lại (xe lăn, gậy chống…) và đặc biệt là không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để dichuyển khi làm việc, đảm bảo các nhu cầu cuộc sống bình thường của con người và tham giacác hoạt động xã hội

- Ngoài ra, em Như Ý còn bị bệnh tim bẩm sinh, mắt bị cận thị nặng, sức khỏe yếu:

Những dấu hiệu này là của bệnh lý thông thường chứ không phải là một dạng tật Tuy nhiên,những bệnh này cũng làm cho em gặp khó khăn trong cuộc sống

Pháp luật Việt Nam đã quy định về chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tậtđược quy định tại Luật người khuyết tật năm 2010 Theo Luật này, em Như Ý có thể đượchưởng những chế độ chăm sóc sức khỏe sau:

 Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú:

Chăm sóc sức khỏe ban đầu có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sức khỏe người khuyết tật.

Chế độ này thể hiện quan điểm y học hiện đại, coi phòng bệnh hơn chữa bệnh Nếu hoạtđộng chăm sóc sức khỏe ban đầu thực hiện tốt sẽ giúp ngăn ngừa khuyết tật xảy ra do loại bỏhoặc hạn chế được các yếu tố có hại cho sức khỏe từ thức ăn, nước uống, môi trường…Ngoài ra, việc phát hiện sớm khuyết tật sẽ giúp cơ quan chuyên môn có biện pháp điều trịkịp thời để khắc phục khuyết tật, hạn chế các hậu quả do khuyết tật gây ra

Chế độ này được quy định cụ thể tại Điều 21 Luật người khuyết tật 2010, đó là:

“1 Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:

Trang 6

a, Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng;

b, Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe người khuyết tật;

c, Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết tật;

2 Kinh phí để thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này do ngân sách nhà nước đảm bảo.”.

Như vậy, em Như Ý được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú là bởi

vì em là trẻ khuyết tật Em bị dị dạng 4 đốt sống lưng đã làm cho hoạt động sinh hoạt của emcũng gặp nhiều khó khăn Vì thế, em cần được quản lý, theo dõi chăm sóc sức khỏe kịp thời

để giúp em phục hồi lại sức khỏe một cách nhanh nhất và có thể hoạt động dễ dàng hơn.Ngoài ra, em Như Ý cần được giáo dục sức khỏe về các biện pháp phòng ngừa, cách tự chămsóc bản thân bởi em là người hiểu rõ nhất về sức khỏe của mình và nhu cầu chăm sóc sứckhỏe cho bản thân Hơn nữa, em Như Ý còn bị bệnh tim bẩm sinh, mắt bị cận thị nặng, sứckhỏe yếu nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc và theo dõi của Trạm y tế, của gia đình để giúp

đỡ em tìm ra phương pháp quản lý đặc biệt, chú ý đến điều kiện dinh dưỡng, vệ sinh môitrường xung quanh cho em để giúp em nhanh chóng phục hồi chức năng

Chính vì thế mà Trạm y tế Phường 4 thành phố Vĩnh Long cần nghiêm chỉnh thực hiệntrách nhiệm của mình trong việc:

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về chăm sóc sứckhỏe cho gia đình em Như Ý để gia đình em giúp đỡ em trong việc chăm sóc sức khỏe nhưcải thiện điều kiện dinh dưỡng và ăn uống phù hợp cho em Như Ý; cung cấp nước sạch; vệsinh môi trường; giúp em hòa nhập với mọi người xung quanh

- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa những tái phát gây hậu quả nặnghơn, làm cho tình trạng sức khỏe của em bị suy giảm

- Trạm y tế Phường 4 thành phố Vĩnh Long còn có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi vàquản lý tình trạng sức khỏe của em Như Ý nhằm giúp cơ quan chức năng đưa ra các giảipháp hợp lý để chăm sóc sức khỏe cho em được hiệu quả hơn

 Khám bệnh, chữa bệnh:

Chế độ chăm sóc sức khỏe này thể hiện rõ tính nhân đạo truyền thống của ngành y tế, thểhiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, cộng đồng đến những người khuyết tật Chế độ nàyđược quy định cụ thể tại Điều 22 Luật người khuyết tật 2010

Trang 7

Theo đó, em Như Ý sẽ được Nhà nước đảm bảo để em được khám bệnh, chữa bệnh nhưnhững người bình thường khác và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp Việc em được hưởngcác dịch vụ y tế là thiết yếu nhằm phục hồi chức năng, sức khoẻ và khả năng học tập.

Bên cạnh đó, em còn được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

về bảo hiểm y tế; được ưu tiên ở chế độ miễn giảm viện phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đilại, chuyển viện, điều trị khi bệnh của em tái phát cần phải đưa tới bệnh viện Em Như Ý còn

bị cận thị nặng nên sẽ được cắt kính hoặc được cấp kính tròng nhằm giúp em nhìn mọi vật rõhơn, vận động dễ dàng hơn

 Phục hồi chức năng:

Chế độ này được quy định cụ thể tại Điều 24 và Điều 25 Luật người khuyết tật 2010.Theo đó, phục hồi chức năng đối với người khuyết tật là quy định về các biện pháp y học,giáo dục, xã hội nhằm hạn chế tối đa việc suy giảm chức năng của bộ phận cơ thể đảm bảongười khuyết tật có cơ hội bình đẳng để hòa nhập với cộng đồng

Em Như Ý bị dị dạng 4 đốt sống lưng làm cho việc vận động, di chuyển của em trở nênkhó khăn Do đó, em cần được áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng thông qua các cơ

sở chỉnh hình hoặc em sẽ được phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng bằng dịch vụ y tếthích hợp như trị liệu bằng thuốc, xoa bóp, để giúp em giảm bớt đau đớn khi bệnh tái phát,cũng đồng thời giúp em mau chóng phục hồi sức khỏe Nếu bệnh của em không thể chữa trịđược dứt điểm để em có thể đi lại bình thường thì em sẽ được hỗ trợ cấp xe lăn giúp việc dichuyển của em dễ dàng hơn

Tuy em gặp nhiều khó khăn do bệnh tật gây ra nhưng em Như Ý vẫn lạc quan, cố gắngvươn lên trong học tập, em luôn đạt học sinh xuất xắc Như vậy, để em Như Ý có thêm nghịlực, tiếp tục phát huy khả năng học tập của mình thì nhà nước cần thúc đẩy các cơ hội bìnhđẳng cho em cũng như những người khuyết tật khác về giáo dục đào tạo, dạy nghề và việclàm; bảo đảm có một hệ thống giáo dục hoà nhập ở mọi cấp và chương trình học tập suốtđời; đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho em để em có thể học lên cao hơn như miễn giảmhọc phí, có các quỹ học bổng, thực hiện các hoạt động giáo dục phù hợp với tình trạng sứckhỏe của em Bên cạnh đó, em còn được Nhà nước, gia đình, cộng đồng tạo điều kiện đểtham gia vào các hoạt động văn nghệ tại trường, tại phường

**************************************************************************

*********************

Các phương thức giáo dục cho người khuyết tật - ưu, nhược điểm của từng phương thức và Quy định về việc đi bộ của người khuyết tật.

Trang 8

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng thì giáo dục

là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất củamột đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lựcnhư yêu cầu đề ra Hoạt động giáo dục chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động giảngdạy của giáo viên và hoạt động học tập của học viên

Học viên tham gia học tập có thể là người bình thường hoặc cũng có thể là người

khuyết tật, tức là những người "bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn" Giáo dục đối với người khuyết tật được hiểu là những hoạt động nhằm tác động

một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của người khuyết tật nhằm trang bịcho họ kiến thức, tri thức, phẩm chất đạo đức, hình thành và phát triển nhân cách đồng thờigiúp người khuyết tật vươn lên hòa nhập cộng đồng, thể hiện sự bình đẳng và không phânbiệt đối xử đối với người khuyết tật

1.2 Ý nghĩa của giáo dục đối với người khuyết tật

Có thể nói giáo dục đối với người khuyết tật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đảm bảocho họ có được quyền học tập như những người khác, điều này được thể hiện ở nhiều khíacạnh như:

Thứ nhất, giáo dục sẽ giúp người khuyết tật có được những tri thức, kiến thức, sự

hiểu biết về tự nhiên, về xã hội và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội Đối với từngdạng tật cụ thể, giáo dục còn giúp cho người khuyết có thể phục hồi chức năng, phát triển vềtrí tuệ, phát triển về nhận thức,

Thứ hai, giáo dục cũng giúp cho người khuyết tật có được những kiến thức cơ bản và

nó sẽ trở thành nền tảng cần thiết và quan trọng để họ có thể tham gia học nghề và tìm kiếmviệc làm Có nhiều người khuyết tật vận động nhưng đã say mê tìm tòi và học tập, nhờnhững kiến thức tích lũy được mà họ có thể tìm kiếm việc làm và tự nuôi sống bản thânmình, không cần sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội

Thứ ba, giáo dục giúp người khuyết tật tái hòa nhập vào cộng đồng Trong môi

trường học tập, người khuyết tật sẽ có điều kiện để giao tiếp với thầy cô cũng như bạn bè và

Trang 9

những người khác Đây môi trường tốt nhất và nhanh nhất để người khuyết tật phát triểnnhận thức và trí tuệ của mình, để họ cảm thấy luôn được quan tâm, hòa đồng, không bị phânbiệt đối xử hay xa lánh, kì thị.

Thứ tư, giáo dục giúp người khuyết tật có được những kiến thức, kỹ năng, sự hiểu,

những nhận thức mới mẻ và đúng đắn để họ tự tin và có nghị lực vươn lên những khó khăntrong cuộc sống

1.3 Nguyên tắc cơ bản của giáo dục đối với người khuyết tật

Thứ nhất, hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết để người khuyết tật có thể tham gia học

tập: Học tập là quyền cơ bản của mỗi công dân nói chung và mỗi người khuyết tật nói riêng.Tuy nhiên, do bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năngnên việc học tập đối với người khuyết tật gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, cần phải có sự

hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết để người khuyết tật có thể tham gia học tập và thực hiệnđược quyền học tập của mình

Thứ hai, đề cao và khuyến khích giáo dục hòa nhập cộng đồng: Để xóa bỏ rào cản

giữa những người khuyết tật và người không khuyết tật cần phải thực hiện nguyên tắc giáodục hòa nhập cộng đồng Phương thức giáo dục chuyên biệt chỉ nên áp dụng đối với nhữngtrường hợp đặc biệt, không thể áp dụng phương thức giáo dục hòa nhập

2 Các phương thức giáo dục cho người khuyết tật và ưu, nhược điểm của từng phương thức

Trên thực tế, các dạng tật của người khuyết tật thường rất đa dạng Có khuyết tật vậnđộng; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ

và các khuyết tật khác Trên cơ sở sự đa dạng của các dạng tật, Điều 28 Luật Người khuyếttật quy định 3 phương thức được áp dụng trong giáo dục đối với người khuyết tật, bao gồm:giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt

Trang 10

Thuật ngữ giáo dục hòa nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻngoại lệ được hòa nhập, quy thuộc vào trường hòa nhập Giáo dục hòa nhập dựa trên quanđiểm xã hội trong việc nhìn nhận, đánh giá đúng về người khuyết tật Nguyên nhân gây rakhuyết tật không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn do môi trường xã hội,

do đó, môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của người khuyết tật.Mặt khác, giáo dục hòa nhập còn dựa trên quan điểm tích cực về người khuyết tật Mỗingười khuyết tật đều có những năng lực nhất định, chính từ sự đánh giá đó mà người khuyếttật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tácđộng giáo dục Vì vậy, trong giáo dục, gia đình, cộng đồng, xã hội cần tạo ra sự hơp tác vàhòa nhập với người khuyết tật trong mọi hoạt động

2.1.1 Ưu điểm của giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật

Thứ nhất, giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục hiệu quả: Trong giáo dục hòa

nhập, người khuyết tật được học tập trong môi trường bình thường, học ở trường học gầnnhà nhất Điều này tạo cho họ không bị tách biệt với bố, mẹ, anh, chị, em, bạn bè Do đó,người khuyết tật sẽ có tâm lí ổn định, phát triển cân đối, hài hòa như những người bìnhthường khác Trong điều kiện đó, họ sẽ yên tâm phấn đấu, học tập và phát triển

Người khuyết tật được học cùng một chương trình với những người khác Chươngtrình và phương pháp học có thể được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu, năng lực củangười khuyết tật Việc giáo dục như vậy sẽ đưa đến hiệu quả cao, người khuyết tật sẽ pháttriển hết khả năng của mình

Giáo dục hòa nhập coi trọng sự cân đối giữa kiến thức và kĩ năng xã hội Môi trườnggiáo dục thay đổi, người khuyết tật được tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó giúp họ pháttriển toàn diện hơn và thích ứng tốt hơn với môi trường xã hội

Mặt khác, giáo dục hòa nhập cũng tạo ra cơ hội, môi trường để các lực lượng tham giagiáo dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung Đây là môi trường mà mọi ngườitrong cộng đồng có dịp tiếp cận với người khuyết tật nhiều hơn, thấy rõ những nhu cầu, tiềmnăng cũng như những mặt mạnh cũng như điểm yếu của họ để có các hoạt động trợ giúp họnhiều hơn

Thứ hai, phương thức giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục người khuyết tật có

hiệu quả kinh tế nhất: Chi phí giáo dục cho một người khuyết tật có thể bao gồm: chi phí chođào tạo giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, Đối với giáo dục hòa nhập,những chi phí này được tiết kiệm một cách đáng kể so với các phương thức giáo dục khác

Trang 11

dành cho người khuyết tật (giáo dục chuyên biệt, giáo dục bán hòa nhập) Mặt khác, nhiềungười khuyết tật được tiếp cận với phương thức giáo dục này hơn.

Thứ ba, giáo dục hòa nhập là phương thức hoàn thiện nhất trong các phương thức

giáo dục người khuyết tật: Giáo dục hòa nhập có cơ sở lý luận vững chắc về đánh giá conngười, về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và các giải pháp thích hợp trong tổ chứccũng như trong tiến hành giáo dục Giáo dục hòa nhập người khuyết tật được áp dụng những

lý luận dạy học hiện đại - lấy người học làm trung tâm Chương trình được điều chỉnh,phương pháp được đổi mới thích hợp cho mọi học sinh

Thứ tư, so với các phương thức giáo dục khác, giáo dục hòa nhập về cơ bản đáp ứng

được các mục tiêu giáo dục là: Học để làm người, Học để biết, Học để làm, Học để cùngchung sống (theo quan điểm của UNESCO)

Thứ năm, phương thức giáo dục hòa nhập đáp ứng được sự gia tăng số lượng người

khuyết tật

2.1.2 Nhược điểm của giáo dục hòa nhập

Thứ nhất, người khuyết tật học tập trong môi trường giáo dục hòa nhập dễ nảy sinh

tâm lí tự ti, mặc cảm Học tập trong một môi trường mà xung quanh là những người khôngkhuyết tật trong khi bản thân mình lại bị khiếm khuyết một hoặc thậm chí là nhiều bộ phận

cơ thể, bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật dễ khiến người khuyết tật rơi vào trạngthái tự ti, mặc cảm Theo phản ánh của nhiều giáo viên ở các lớp học có trẻ em khuyết tật, córất ít trẻ khuyết tật thể hiện sự sôi nổi, vui tươi trên lớp học Phần lớn các em thường ít nói,rụt rè, nhút nhát Hiệu quả của phương thức giáo dục hòa nhập cũng vì vậy mà bị hạn chếnhiều

Thứ hai, những người khác (phụ huynh, bạn bè, ) trong môi trường giáo dục hòa

nhập thường có tâm lí e ngại, xa lánh, thậm chí là kì thị đối với người khuyết tật Theo cô ĐỗThị Kim Chi, Phó Hiệu trưởng Tiểu học Phạm Văn Hai (TP Hồ Chí Minh), trở ngại lớn nhất

từ công tác giáo dục hòa nhập hiện nay là nhiều phụ huynh thẳng thừng yêu cầu nhà trườngthay chỗ ngồi hoặc tách các trẻ mắc bệnh ra để tránh ảnh hưởng đến con của họ, khiến nhà

trường “khó xử” Bên cạnh đó là thái độ xa lánh, chế giễu của bạn bè khiến nhiều trẻ khuyết

tật trở nên mặc cảm, tự ti và kết quả là không ít em phải nghỉ học vì không thể vượt quađược những rào cản tâm lí

Thứ ba, người khuyết tật học tập trong môi trường giáo dục hòa nhập gặp không ít

khó khăn khi tiếp cận với chương trình học, phương tiện, dụng cụ học tập so với nhữngngười khác Trong môi trường giáo dục hòa nhập, chương trình học được thiết kế phù hợp

Trang 12

đối với nhận thức và năng lực của những trẻ không khuyết tật, vì vậy, nó trở nên nặng nề đốivới những trẻ khuyết tật Do đó, có không ít trẻ khuyết tật đã phải bỏ học vì không theo kịpchương trình, đặc biệt là những trẻ khuyết tật trí tuệ Mặt khác, tình trạng thiếu thốn trangthiết bị, đồ dùng dạy học đặc thù như sách, giấy chữ nổi cho người khiếm thị; máy trợ tính

và tài liệu ngôn ngữ cho người khiếm thính, xe lăn và các dụng cụ trợ giúp khác cho ngườikhuyết tật vận động cũng là một trở ngại không nhỏ đối với người khuyết tạt khi tiếp cận vớiphương thức giáo dục hòa nhập

2.2 Giáo dục chuyên biệt

Khác với giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt là "phương thức giáo dục dành riêng cho người khuyết tật trong cơ sở giáo dục" (Khoản 5 Điều 2 Luật Người khuyết tật

năm 2010) Phương thức này thường được áp dụng cho người khuyết tật chưa đủ điều kiện

để học tập theo phương thức hòa nhập

2.2.1 Ưu điểm của giáo dục chuyên biệt

Thứ nhất, chương trình học cũng như phương tiện, dụng cụ học tập trong môi trường

giáo dục chuyên biệt thường được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhậnthức, khả năng tiếp thu của người khuyết tật Nhờ đó, việc học tập của người khuyết tật trongcác cơ sở giáo dục chuyên biệt trở nên dễ dàng hơn

Thứ hai, cùng với việc giảng dạy các kiến thức văn hóa, các cơ sở giáo dục chuyên

biệt còn giáo dục kĩ năng sống như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng phòngchống thương tích, và các kỹ năng đặc trưng của từng dạng tật Mặt khác, công tác hướngnghiệp dạy nghề cho người khuyết tật ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt cũng được coitrọng Đó là những nghề đơn giản nhưng thiết thực như chế biến cà phê, làm bánh, thủ công

mỹ nghệ và làm xà bông Mỗi lớp học sẽ áp dụng những phương pháp khác nhau để phù hợpcho từng đối tượng học sinh khuyết tật Ví dụ, lớp dạy làm bánh và làm xà bông thì dùngphương pháp trực quan, đàm thoại, luyện tập - thực hành để giúp học sinh khuyết tật bướcđầu làm quen, biết cách sử dụng các trang thiết bị, tên các nguyên liệu, dụng cụ làm bánhhay hương liệu làm xà bông Lớp dạy thủ công mỹ nghệ với phương pháp giảng giải lýthuyết, hướng dẫn trực quan cầm tay chỉ việc đối với từng học sinh, bước đầu dạy cho các

em phát huy kỹ năng khéo léo của đôi bàn tay, khâu được những sản phẩm đơn giản, làmthành những sản phẩm nhỏ, dễ tiêu thụ trên thị trường như chiếc móc khóa, giỏ xách haychiếc ví xinh xắn

Thứ ba, phương thức giáo dục chuyên biệt tạo điều kiện thuận lợi đối với giáo viên

trong việc soạn giáo án giảng dạy Thầy Đặng Thanh Tùng, Phó Hiệu trưởng Trường phổ

Trang 13

thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu, cho biết: “Khi áp dụng chương trình này (chương trình giáo dục chuyên biệt), giáo viên sẽ không còn lúng túng trong soạn giáo án, chọn bài

để dạy như khi còn sử dụng giáo trình giáo dục phổ thông Chương trình không chỉ là phương tiện giúp giáo viên triển khai hoạt động giảng dạy thuận lợi, mà còn là cơ sở để giáo viên điều chỉnh nội dung chương trình dạy học phù hợp với khả năng của học sinh".

2.2.2 Nhược điểm của giáo dục chuyên biệt

Thứ nhất, số lượng cũng như cơ sở vật chất ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt chưa

đáp ứng được nhu cầu đặt ra Theo thống kê của Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòanhập người khuyết tật TP Hồ Chí Minh, trong năm học 2014 - 2015 vừa qua, toàn thành phố

có 27 trường chuyên biệt tiếp nhận gần 3.000 học sinh khuyết tật Tuy nhiên, đến nay, vẫncòn bảy quận, huyện chưa có trường chuyên biệt công lập Các trường chuyên biệt dân lậpthì còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí và dụng cụ giảng dạy Cơ sở vật chất của các trườngchuyên biệt còn nhỏ hẹp, thiếu sân chơi, thiếu đồ chơi vận động ngoài trời Ở những quận,huyện chưa có trường chuyên biệt, phụ huynh có con khuyết tật đành để con ở nhà hoặc phảiđưa đến những quận xa để xin học nhờ…

Thứ hai, giáo viên dạy ở cơ sở giáo dục chuyên biệt hầu hết do không được đào tạo

chuyên sâu về lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật Chính vì vậy, chương trình do giáo viên biênsoạn thiếu cơ sở khoa học, khi xây dựng chương trình ít chú trọng vào đặc điểm, khả năng,nhu cầu của người khuyết tật mà chủ yếu lựa chọn nội dung trong chương trình phổ thôngbằng cách lược bỏ nội dung khó, trừu tượng theo cảm tính của mình sau đó sắp xếp, phân bổcho hợp lí theo thời gian quy định của một năm học

Thứ ba, vai trò của những người thân (cha mẹ, anh chị, em, ) trong việc chăm sóc,

giáo dục người khuyết tật trong phương thức giáo dục chuyên biệt không được phát huy tối

đa Hầu hết những người thân của người khuyết tật chưa được tiếp cận với chương trình giáodục chuyên biệt dành cho người khuyết tật Những người thân có thể có nhiều thời gian gầngũi, hiểu tâm sinh lí người khuyết tật nhất nhưng do thiếu kiến thức, kĩ năng và không nắmbắt được nội dung, tiến trình giảng dạy đối với người khuyết tật nên sự hỗ trợ của họ trongviệc giáo dục người khuyết tật ở phương thức giáo dục chuyên biệt rất hạn chế

2.3 Giáo dục bán hòa nhập

Đây là phương thức giáo dục kết hợp giữa giáo dục hòa nhập và giáo dục chuyên biệtcho người khuyết tật trong cơ sở giáo dục (Khoản 6 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm2010) Cũng như phương thức giáo dục chuyên biệt, giáo dục bán hòa nhập thường được ápdụng cho người khuyết tật chưa đủ điều kiện để học tập theo phương thức hòa nhập

Trang 14

2.3.1 Ưu điểm của giáo dục bán hòa nhập

Thứ nhất, giáo dục bán hòa nhập giúp người khuyết tật từng bước hòa nhập với cộng

đồng và xã hội Tuy chỉ một hoặc một số hoạt động học sinh khuyết tật mới tham gia cùnghọc sinh bình thường nhưng đây cũng là bước khởi đầu để họ được tiếp xúc, học tập, vuichơi với những người bình thường khác Từ đó góp phần thay đổi những suy nghĩ tiêu cựccủa những người xung quanh đối với người khuyết tật cũng như thay đổi chính tâm lý mặccảm, tự ti của người khuyết tật

Thứ hai, phương thức giáo dục bán hòa nhập tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp

cận với chương trình học phù hợp với bản thân hơn cả, không vượt quá khả năng cũngkhông bị hạn chế khả năng và cơ hội học tập

2.3.2 Nhược điểm của giáo dục bán hòa nhập

Thứ nhất, ở phương thức giáo dục bán hòa nhập, mặc dù có sự tiếp xúc và cùng học

tập giữa những học viên thường với những học viên là người khuyết tật nhưng còn hạn chế

Vì vậy cần nhiều thời gian (hơn phương thức giáo dục hòa nhập) để người khuyết tật có thểhòa nhập với cộng đồng

Thứ hai, giống như phương thức giáo dục hòa nhập, sự kì thị của những người bình

thường đối với người khuyết tật là điều không thể tránh khỏi Điều này có thể khiến ngườikhuyết tật tự ti, mặc cảm về bản thân mình, không muốn giao tiếp, hòa nhập với cộng đồng

3 Một số đề xuất, kiến nghị

Về phía người khuyết tật, gia đình người khuyết tật: Người khuyết tật, cha, mẹ hoặc

người giám hộ của người khuyết tật cần lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý, khả năng cũng như nguyện vọng của cá nhân người khuyết tật

Gia đình người khuyết tật cần tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật được học tập

và phát triển, tránh trường hợp vì tâm lý e ngại, xấu hổ với cộng đồng mà không cho ngườikhuyết tật đến với các trường giáo dục hòa nhập Mặt khác, cũng không nên vì tâm lý lo sợ,thương xót quá lớn mà từ chối việc đưa người khuyết tật vào các cơ sở giáo dục chuyên biệt

Về phía các cơ quan có thẩm quyền: Các cơ quan có thẩm quyền cần biên soạn

khung chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật tiểu học, làm cơ sở để cáctrường xây dựng chương trình chi tiết phù hợp với khả năng trẻ khuyết tật và điều kiện thựchiện của mỗi trường Không nên để giáo viên mất thời gian biên soạn chương trình mà dànhthời gian đầu tư vào việc nghiên cứu thiết kế bài học, sưu tầm, làm đồ dùng dạy học để phục

vụ cho giảng dạy đạt hiệu quả hơn

Trang 15

Nên đưa thêm vào chương trình giáo dục một số môn đặc thù nhằm phát huy thếmạnh của trẻ khuyết tật để học tập và giao lưu hiệu quả hơn.

Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong việc chăm sóc vàgiáo dục trẻ bằng các việc làm cụ thể như sau: cung cấp chương trình, tài liệu cho phụ huynhnghiên cứu; tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hỗ trợ trẻ ở nhà;thường xuyên trao đổi thông tin về trẻ với phụ huynh thông qua hình thức gặp gỡ trực tiếp,

sổ liên lạc, thư, email, điện thoại

Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên được giao lưu giữa các trường chuyên biệt vớinhau và giao lưu với các trường phổ thông khác Thông qua các hoạt động học tập, vui chơisinh động, hấp dẫn trong các buổi giao lưu nhằm tăng cường sự hiểu biết, nâng cao kĩ năngsống, kĩ năng xã hội, khả năng hoà nhập ở trẻ khuyết tật

II Quy định về việc đi bộ của người khuyết tật và nhận xét

1 Cơ sở pháp lí của các quy định về việc đi bộ của người khuyết tật

Đối với người khuyết tật, nhu cầu đi lại và tham gia giao thông là hết sức bức thiết,bởi đó là một trong những phương tiện để họ tiếp cận với các cơ hội thông tin, việc làm, vuichơi giải trỉ, đáp ứng nhu cầu hòa hập xã hội và phục hồi chức năng Cũng như người bìnhthường khác, người khuyết tật có thể tham gia giao thông dưới nhiều hình thức khác nhaunhư: đi bộ, sử dụng phương tiện giao thông cá nhân hay sử dụng phương tiện giao thôngcông cộng

Về việc đi bộ của người khuyết tật, hiện nay, có một số văn bản pháp luật điều chỉnhnhư:

• Luật Giao thông đường bộ năm 2008;

• Luật Xây dựng năm 2014;

• Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 265:2002;

• Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếpcận sử dụng QCVN 10:2014/BXD;

Trang 16

2 Nội dung các quy định về việc đi bộ của người khuyết tật

2.1 Quy định về thiết kế cơ sở hạ tầng

Khoản 1 Điều 44 Luật Giao thông đường bộ về vấn đề bảo đảm yêu cầu kĩ thuật và an

toàn giao thông của công trình đường bộ quy định rõ: "Công trình đường bộ xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện an toàn giao thông cho người, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong đó có người đi bộ và người khuyết tật Đường đô thị xây dựng phải có hè phố, phần đường, cầu vượt, hầm và tổ chức giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật đi lại an toàn, thuận tiện" Khoản 4 Điều 79 Luật Xây dựng cũng đặt ra yêu cầu đối với thiết kế xây dựng là phải: "Có giải pháp thiết kế phù hợp và chi phí xây dựng hợp lý; bảo đảm đồng bộ trong từng công trình và với các công trình liên quan; bảo đảm điều kiện về tiện nghi, vệ sinh, sức khỏe cho người sử dụng; tạo điều kiện cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em sử dụng công trình” Như vậy, theo

các quy định của pháp luật hiện hành, mọi công trình xây dựng nói chung và công trình giaothông đường bộ nói riêng đều phải đảm bảo điều kiện an toàn, thuận tiện cho người khuyếttật khi sử dụng

Đối với các loại đường phải đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng bao gồm:đường đi bộ, đường dạo trong công viên, đường vào khu du lịch, quảng trường, lối lên xuống

hè phố tại các nút giao thông, lối vào công trình và phần đường dành cho người đi bộ trênđường dành cho xe cơ giới, đường dành cho xe không có động cơ, cầu vượt, đường hầm; cácđiều kiện này được quy định cụ thể tại QCVN 10:2014/BXD và TCXDVN 265:2002 Đó là:

- Tại các nơi giao cắt khác cao độ như các lối sang đường, lối lên xuống hè phố phảilàm đường dốc, vệt dốc

- Tại nút giao thông giữa lối đi bộ và đường dành cho các phương tiện giao thông, lốisang đường dành cho người đi bộ hoặc tại lối vào công trình nếu có sự chênh lệch cao độ lớnhơn 150 mm phải bố trí vệt dốc và tấm lát cảnh báo giao cắt Độ dốc của mặt dốc không lớnhơn 1/12

- Mép ngoài của đường đi bộ và đường đi xung quanh ao, hồ trong công viên phải códấu hiệu cảnh báo hoặc gờ chắn cao tối thiểu 150 mm để đảm bảo an toàn cho người khuyếttật nhìn

- Các tiện nghi trên đường phố như điểm chờ xe buýt, ghế nghỉ, cột điện, đèn đường,cọc tiêu, biển báo, trạm điện thoại công cộng, hòm thư, trạm rút tiền tự động, bồn hoa, câyxanh, thùng rác công cộng, v.v… không được gây cản trở cho người khuyết tật và được cảnh

Trang 17

báo bằng các tấm lát nổi hoặc đánh dấu bằng các màu sắc tương phản để người khuyết tậtnhìn có thể nhận biết.

- Các vật thể đứng độc lập trên lối đi bộ như cọc, bồn hoa và các dạng khác phải cóchiều cao tối thiểu 100 mm và không có góc cạnh sắc nhọn

- Đối với cây xanh nằm trên lối đi, phải có giải pháp cảnh báo cho người khuyết tậtnhìn bằng các biện pháp thay đổi bề mặt vật liệu lát nền xung quanh khu vực trồng cây hoặc

có gờ nổi cao tối thiểu 100 mm xung quanh ô trồng cây Cắt tỉa các cành cây thấp hơn 2 000mm

- Các chướng ngại vật đứng độc lập như biển quảng cáo, thùng thư, điện thoại côngcộng, v.v phải được bố trí bên ngoài phần đường dành cho người đi bộ Cạnh dưới cáchmặt đất không lớn hơn 600 mm, độ nhô ra tối đa là 100 mm và chiều cao thông thủy trên lối

đi là 2 000 mm để người khuyết tật nhìn tránh bị va đập

- Đối với công trình xây mới, cải tạo, sửa chữa nằm kề cận với đường dành cho người

đi bộ phải có rào chắn bảo vệ cao từ 1 000 mm đến 1 200 mm, được dựng chắc chắn đểkhông bị đổ khi va vào và phải được chiếu sáng đầy đủ vào ban đêm Giàn giáo và các biệnpháp bảo vệ phải không gây nguy hiểm cho người khuyết tật nhìn

- Đối với cầu vượt và đường hầm có phần đường dành cho người đi bộ nếu có từ 3bậc trở lên phải tuân theo các quy định: Chiều cao bậc không lớn hơn 150 mm, chiều rộngmặt bậc không nhỏ hơn 300 mm; Mỗi đoạn có tối đa 18 bậc Nếu có nhiều hơn 18 bậc phải

bố trí chiếu nghỉ Chiều rộng chiếu nghỉ không nhỏ hơn 1 400 mm Bề mặt phần đường dànhcho người đi bộ trên cầu vượt và trong đường hầm không được trơn trượt Tại điểm bắt đầu

và kết thúc cầu vượt và đường dốc trong đường hầm phải có biện pháp để cảnh báo ngườikhuyết tật nhìn bằng các tấm lát nổi cảnh báo giới hạn hoặc đánh dấu bằng các màu sắctương phản

- Tại các nút giao thông, lối vào đường hầm và vị trí lên xuống cầu vượt cần phải cótín hiệu đèn giao thông, biển báo, biển chỉ dẫn và có thêm các tín hiệu bằng âm thanh hoặcchữ nổi Braille để chỉ dẫn người khuyết tật nhìn khi qua đường

2.2 Quy định về trách nhiệm của những người cùng tham gia giao thông

Bên cạnh quy định về mặt thiết kế của cơ sở hạ tầng, pháp luật cũng quy định tráchnhiệm của những người khác khi cùng tham gia giao thông với người khuyết tật

Mọi người có trách nhiệm giúp đỡ người khuyết tật khi đi qua đường (Điều 33 LuậtGiao thông đường bộ) Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển

Trang 18

phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của ngườikhuyết tật qua đường Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiểnphương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đườngthì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đườngbảo đảm an toàn (Khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ).

và an toàn cho NKT khi họ đi bộ trên đường, hè phố, cầu vượt,

Việc thực hiện các quy định này trên thực tế cũng đạt được một số kết quả nhất định.Một trong những thành tựu phải kể đến là việc xây dựng và đưa vào vận hành Phố đi bộ

Nguyễn Huệ tại TP Hồ Chí Minh Phố đi bộ Nguyễn Huệ được đánh giá là "thân thiện" với

NKT bởi các tiêu chí như: Vỉa hè không quá cao so với mặt đường, lại có dốc thoải nên NKT

dễ dàng lăn xe mà không cần nhiều sự trợ giúp Toàn bộ đá granite lát từ vỉa hè, phần đườngcho đến quảng trường lõi ở giữa được mài nhám trên mặt để tạo độ bám cho bàn chân/bánh

xe của người khuyết tật đi bộ hoặc đi xe lăn Phần bó vỉa ngăn cách giữa vỉa hè với phầnđường hoặc tiếp cận với khu quảng trường chênh nhau không quá 5 cm và được lát đánghiêng cạnh dài 25-30 cm; giúp người khuyết tật (người đi nạng, đi xe hoặc người khiếmthị) dễ dàng di chuyển, chuyển tiếp, tiếp cận từng khu vực chức năng của phố Cầu thang đixuống nhà vệ sinh công cộng nằm ngầm dưới đất có độ dốc thoai thoải hơn so với cầu thangnhà bình thường và ở giữa có chiếu nghỉ, hai bên cầu thang có tay vịn bằng inox chắc chắn

*Hạn chế

Các quy định về việc đi bộ của người khuyết tật còn nằm rải rác nhiều văn bản phápluật khác nhau, dẫn đến việc áp dụng gặp khó khăn, thiếu đồng bộ Mặt khác, hầu hết cácquy định này chỉ mang tính hình thức, kết quả thực hiện trong thực tế còn rất hạn chế Cụ thểlà:

Mặc dù các quy định của quy chuẩn đã cụ thể, tuy nhiên hiện nay rất nhiều công trình

xây dựng đã “quên” thiết kế, lẫn thi công các phần công trình dành cho người khuyết tật.

Một số đường đã xây dựng nhưng xây sai kỹ thuật, nhiều đường dẫn không trùng vào vạch

Trang 19

cho người khuyết tật đi bộ qua đường, nhiều đường đã đâm thẳng vào hộp kỹ thuật điện,hoặc chỗ đậu xe ô tô.

Tình trạng hố ga, biển quảng cáo và xe cộ đỗ lộn xộn trên vỉa hè diễn ra phổ biến, gâytrở ngại rất lớn cho người khuyết tật, đặc biết là người khiếm thị mỗi khi di chuyển Bởingay cả khi đi trên vỉa hè, gậy của người khiếm thị cũng chỉ định hướng được bên dưới, cònnhững biển quảng cáo treo thấp và vô số chướng ngại vật trên không, người khiếm thị chỉ

biết chấp nhận "bươu đầu".

Trên hầu hết các tuyến giao thông hiện nay đều không có tín hiệu âm thanh hoặc chữnổi để chỉ dẫn cho người khuyết tật khi muốn sang đường, chuyển hướng,

Rất ít tuyến đường, khu đô thị hiện nay có phần đường dành riêng cho người đi bộ.Một số ít có đường dành cho người khuyết tật nhưng lại bị chiếm dụng làm nơi đỗ xe, bị lấnchiếm làm cửa hàng, nơi buôn bán,

Phố đi bộ Nguyễn Huệ, một công trình được đánh giá là "thân thiện" với người

khuyết tật nhưng theo đánh giá của chính những người khuyết tật thì vẫn còn một số hạn chế

như: thời gian ưu tiên qua đường quá ngắn (chưa tới 20 giây) khiến người khuyết tật phải "đi như chạy", với những người khuyết tật phải đi xe lăn, đây quả thực là một "thách thức" mỗi

khi muốn sang đường Các nút bấm qua đường chưa có kí hiệu chữ nổi để người khiếm thịnhận biết thuận tiện

Mặt khác, ý thức người dân về việc giúp đỡ người khuyết tật chưa cao Nhiều ngườitham gia giao thông gặp người khuyết tật qua đường không những thờ ơ mà còn tỏ thái độ kìthị, khó chịu đối với họ

3.2 Kiến nghị

Thứ nhất, cần đẩy mạnh việc thực hiện các quy định về mặt thiết kế cơ sở hạ tầng để

đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng, để những quy định này không còn là những

quy định "hình thức", "lý thuyết"

Để thực hiện được điều này, theo quan điểm của người viết, Nhà nước cần đưa ra cácchính sách đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân thiết kế, xây dựng và đưa vào vận hành

các hạng mục công trình giao thông đường bộ "thân thiện" với người khuyết tật như: Phát

động các cuộc thi thiết kế công trình, thiết bị giao thông đường bộ (đèn tín hiệu, vạch kẻđường, nút bấm ưu tiên, ) dành cho người khuyết tật; Xem xét việc miễn, giảm thuế, phí đốivới chủ đầu tư các tuyến đường, khu đô thị, có thiết kế đảm bảo cho người khuyết tật đi bộthuận tiện, an toàn

Trang 20

Mặt khác, các nhà làm luật cũng cần nghiên cứu xây dựng và ban hành các quy định

về những biện pháp chế tài áp dụng đối với hành vi không tuân thủ hoặc tuân thủ khôngđúng, không đầy đủ các quy định về tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng các phần công trình dànhcho người khuyết tật đi bộ Hành vi lấn chiếm, chiếm dụng, các phần công trình dành chongười khuyết tật đi bộ cũng cần được xử lí kịp thời, nghiêm minh

Thứ hai, các phần công trình dành cho người khuyết tật đi bộ khi thiết kế phải tính

toán kĩ càng về mức độ an toàn và thuận tiện cho người khuyết tật khi tiếp cận sử dụng, tránh

tình trạng của phố đi bộ Nguyễn Huệ, mặc dù được đánh giá là "thân thiện" với người

khuyết tật nhưng vẫn còn một số vướng mắc, bất cập với người khuyết tật khi sử dụng

Về mặt thiết kế của cơ sở hạ tầng dành cho người khuyết tật đi bộ, chúng ta có thểtham khảo và học tập kinh nghiệm của Nhật Bản Ở Nhật Bản, trên tất cả các con đường đều

có một vệt sơn đường màu vàng rực và có kí hiệu nổi, những người khiếm thị có thể phânbiệt đâu là đường dành cho mình Ngoài ra, ở một số ngã tư, ngã ba đường hay có hộp nút ấngiao thông, người khuyết tật khi muốn qua đường chỉ cần ấn nút để được nhường quyền ưutiên qua đường Và trong khoảng thời gian qua đường thì sẽ có những tiếng kêu bíp bíp báohiệu rằng đèn tín hiệu qua đường đang ở màu xanh

Thứ ba, cần tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức của mỗi người dân khi tham gia

giao thông nói chung và trong việc giúp đỡ người khuyết tật đi bộ nói riêng Sở dĩ Nhật

Bản được mệnh danh là quốc gia có hệ thống giao thông an toàn nhất trên thế giới và

người dân có ý thức cao khi tham gia giao thông, một trong những giải pháp được NhậtBản chú trọng đó là giáo dục an toàn giao thông cho trẻ em để xây dựng cho các em ýthức ngay từ nhỏ Giáo dục trong trường học, gia đình, các tổ chức xã hội, thông quađài phát thanh, truyền hình, báo chí với nội dung phù hợp với từng lứa tuổi

**************************************************************************

**************

Bài 9

1 Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông?

2 Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định mức

độ khuyết tật cấp xã thực hiện

B, GẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I, Khái quát chung về người khuyết tật

1 Định nghĩa NKT

Trang 21

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về NKT, trong đó có hai quan điểm chính: quan điểmkhuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội Với các quốc gia, khái niệm người khuyếttật cũng khó có sự thống nhất do quy định pháp luật còn phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu

mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Do vậy, không có khái niệm chung về người NKT

áp dụng chung cho tất cả các nước Với quan điểm của Việt Nam được thể hiện ở quy định

tại khoản 1 Điều 2 Luật NKT thì NKT được hiểu là: “ Người bị khiếm khuyết một hay nhiều

bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”.

2 Đặc điểm người khuyết tật.

Thứ nhất, NKT là con người nên mang đầy đủ đặc điểm chung về Kinh tế- Xã hội tâm sinh lý như người bình thường khác, đầy đủ các quyền trên các lĩnh vực đời sống xã hội Thứ hai, đặc điểm của NKT dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế;khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người thân, ),khôngchỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó khăn cho gia đình,cộng đồng.Từ góc độ xã hội, NKT gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, văn hóa, thể thaotiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn…, gặp rào cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, họctập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng đồng Những khó khăn càng trở lên trầm trọnghơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT

Thứ ba, đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết tật:

Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật được quyđịnh chi tiết trong Luật NKT Việt Nam và Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm

2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LuậtNKT năm 2010 Các dạng khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói,khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi dạnglại có những đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lý, về khả năng qua đó tác động đến nhu cầucủa bản thân và ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hội nhập cộng đồng

II, Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông

1, Khái niệm, ý nghĩa, các nguyên tắc cơ bản của giáo dục đối với người khuyết tật 1.1 Khái niệm

Trang 22

Giáo dục đối với người khuyết tật được hiểu là những hoạt động nhằm tác động một cách có

hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của người khuyết tật giúp họ có được kiến thức,tri thức, phẩm chất đạo đức đồng thời hình thành và phát triển nhân cách

Giáo dục đối với người khuyết tật có thể được thực hiện ở nhiều hoạt động, dưới nhiều hìnhthức và phương thức khác nhau song hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động học tập Vì vậy,nói đến giáo dục người khuyết tật dưới góc độ pháp lý là đề cập đến vấn đề học tập củangười khuyết tật như quyền được tham gia học tập của người khuyết tật, các phương thứcgiáo dục đối với người khuyết tật, các cơ sở giáo dục người khuyết tật…

1.2 Ý nghĩa của giáo dục đối với người khuyết tật

Giáo dục có ý nghĩa với bất kì cá nhân nào, đặc biệt đối với người khuyết tật Quyền giáodục của người khuyết tật sẽ đảm bảo cho họ có được tri thức, kiến thức, trang bị cho họnhững hành trang về tự nhiên, xã hội, giúp họ hòa nhập với cuộc sống, có nhận thức tốt trởthành công dân có ích cho xã hội

Bên cạnh đó, việc giáo dục sẽ trang bị cho người khuyết tật kiến thức cơ bản, để họ có thểphát triển hơn nữa, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm tạo cho họ động lực, niềm tin là mình làngười có ích, giúp họ có thể nuôi sống bản thân

Môi trường giáo dục tốt sẽ giúp người khuyết tật có nhiều mối quan hệ như bạn bè, thầy cô,khiến họ cảm thấy được quan tâm, không mặc cảm tự ti, giúp hòa đồng với xã hội

Giáo dục giúp người khuyết tật có kiến thức kĩ năng, sự hiểu biết sẽ giúp họ tự tin, chủ độnghơn trong cuộc sống, giúp họ nhận thức được vấn đề cà có nghị lực vượt lên trên mọi khókhăn của cuộc sống

1.3 Các nguyên tắc cơ bản đối với giáo dục của người khuyết tật

Nguyên tắc thứ nhất: Hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết để người khuyết tật có thể tham giahọc tập

Bởi lẽ, ngay từ đầu bản thân người khuyết tật đã có thiếu sót hơn so với người bình thườngnên khi tham gia vào học tập sẽ có những khó khăn nhất định Chính vì lí do đó, cần có sự hỗtrợ và tạo điều kiện cần thiết để người khuyết tật có thể tham gia học tập Sự hỗ trợ này cầnxuất phát từ nhiều phía như từ người thân, gia đình của người khuyết tật, từ xã hội, cộngđồng và của Nhà nước để người khuyết tật có thể tham gia học tập

Nguyên tắc thứ hai: Đề cao và khuyến khích giáo dục hòa nhập cộng đồng

Bản thân người khuyết tật đã có những thiếu sót ngay từ đầu nên họ luôn mặc cảm, tự ti vànhận thức của xã hội về NKT còn nhiều hạn chết thì đảm bảo giáo dục hòa nhập cộng đồng

Trang 23

cho họ là một điều hết sức cần thiết Giáo dục giành cho NKT cần luôn quan tâm và đề caonguyên tắc này để tạo điều kiện tốt nhất cho NKT hòa nhập với xã hội.

2, Quy định của pháp luật về quyền của người khuyết tật khi tham gia vào chường trình giáo dục phổ thông.

Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 2013 có qui định “1 Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.” (Điều 37) và “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39) Điều 61 trong hiến pháp qui định “Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; … bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung họ”.

Theo nguyên tắc thì học sinh phổ thông Việt Nam phải thực hiện chương trình giáo dục đúng

độ tuổi Tuy nhiên, các nhóm học sinh nêu trong điều 26 của Luật Giáo dục2005 có thể đi

học không đúng tuổi Cụ thể khoản 2 Điều 26 của luật này qui định: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những trường hợp có thể…học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu

số, học sinh bị tàn tật, khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước”.

Điều này còn được khẳng định và cụ thể hóa hơn trong Luật Người khuyết tật Điều 27 của

Luật Người khuyết tật có qui định: “Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của người khuyết tật Người khuyết tật được nhập học

ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng”.Bên cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện để NKT được

học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của NKT, được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗtrợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; NKT nghe, nói được học bằng ngôn ngữ

ký hiệu; NKT nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia

Theo Điều 63 Luật giáo dục 2005 thì Quyền giáo dục của NKT còn được thể hiện:

“ Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành chongười tàn tật, khuyết tật nhằm giúp các đối tượng này phục hồi chức năng, học văn hóa, họcnghề, hòa nhập với cộng đồng

Trang 24

Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho các trường, lớpdành cho người tàn tật, khuyết tật do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với cáctrường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật do tổ chức, cá nhân thành lập.”

Luật NKT 2010 cũng qui định các cơ sở giáo dục có trách nhiệm và bắt buộc phải tạo điềukiện để trẻ khuyết tật có thể theo học hòa nhập Điều 30, Luật Người khuyết tật quy định các

cơ sở giáo dục phải “Bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật,không được từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của pháp luật.Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm điều kiện tiếp cậnđối với người khuyết tật”

Luật người khuyết tật cũng xem xét đến khó khăn riêng của từng đối tượng người học cókhuyết tật và đưa ra các qui định với Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tại điều31: “Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội dung chương trình,thiết bị, tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục, tổ chức giáo dục phù hợp vớiđặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật”

Theo Điều 52 Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em 2004, trẻ em khuyết tật được nhận vào các lớphọc hòa nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật, được giúp đỡ học văn hóa

Theo khoản 3 Điều 4 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 49/2010/ NĐ-CP nghị định quy định vềmiễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáodục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ 2010-2011 đến năm học 2014-2015 thì NKT đượcmiễn học phí và hỗ trợ chi phí học tập

Từ những phân tích ở trên, ta đã thấy được Nhà nước luôn tạo điều kiện để đảm bảo quyềncủa người khuyết tật trong chương trình giáo dục phổ thông

III, Bình luận quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định cấp xã thực hiện

1, Quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định cấp xã thực hiện

Bước 1: Để được xác nhận là mức độ khuyết tật thì người khuyết tật hoặc người đại diện hợppháp của người khuyết tật gửi đơn đề nghị được xác nhận đến Ủy ban nhân dân xã nơi ngườikhuyết tật cư trú( khoản 1 Điều 18 Luật người khuyết tật 2010)

Bước 2: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật,Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyếttật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ Theo khoản 2 Điều 16 Luật người khuyết tật Hội đồng xác địnhmức độ khuyết tật cấp xã gồm : Chủ tịch UBND cấp xã là Chủ tịch Hội đồng, Trạm trưởng

Trang 25

trạm y tế cấp xã, công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội, ngườiđứng đầu hoặc cấp phó của UB mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,Hội cựu chiến bình cấp xã, Người đứng đầu tổ chức của người khuyết tật cấp xã( nếu có).Hội đồng xác định mức độ khuyết tật làm việc theo nguyên tắc tập thể, và quyết định theo đasố.

Theo điều 17 Luật người khuyết tật thì phương pháp xác định mức độ khuyết tật do Hộiđồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện bằng phương pháp quan sát trực tiếp ngườikhuyết tật, thông quan thực hiện hoạt động giản đơn phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàngngày, sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về ý tế, xã hội và các phương pháp đơn giản khác

để kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật Cụ thể tại điều 3 Thông tư liêntịch 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT Ngày 28/12/2012 Thông tư liên tịchquy định về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thựchiện quy định về phương pháp xác định dạng tật và mức độ khuyết tật Đối với việc xác địnhdạng và mức độ khuyết tật cho trẻ dưới 6 tuổi sẽ được Hội đồng quan sát trực tiếp các dấuhiệu cụ thể và phỏng vấn người đại diện hợp pháp của trẻ và sử dụng “ Phiếu xác định dạngkhuyết tật cho trẻ dưới 6 tuổi” theo Mẫu số 02 và “ Phiếu đánh giá mức độ khuyết tật dànhcho trẻ dưới 6 tuổi” theo mẫu số 04 Đối với việc xác định dạng tật và mức độ khuyết tật chongười khuyết tật từ đủ 6 tuổi trở lên sẽ được Thành viên Hội đồng quan sát trực tiếp các dấuhiệu của đối tượng, phỏng vấn người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của ngườikhuyết tật và sử dụng “ Phiếu xác định dạng khuyết tật cho người tư đủ 6 tuổi trở lên” theoMẫu số 03

Và “ Phiếu đánh giá mức độ khuyết tật dành cho người đủ 6 tuổi trở lên” theo Mẫu số 05.Địa điểm thực hiện căn cứ khoản 3 Điều 5 Thông tư liên tịch 37/2012 thì địa điểm thực hiệnxác định sẽ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trạm y tế Trường hợp ngườikhuyết tật không thể đến được địa điểm quy định trên đây thì Hội đồng tiến hành xác địnhmức độ khuyết tật tại nơi cư trú của người khuyết tật

Bước 03: Lập hồ sơ, biên bản kết luận xác định mức độ khuyết tật của người được đánh giá(Mẫu số 06, Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT)

Bước 04: Căn cứ khoản 4 Điều 18 Luật người khuyết tật 2010 và khoản 1 Điều 6 thông tưliên tịch 37/2012 thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có biên bản kết luận củaHội đồng về mức độ khuyết tật của người khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân cấp xã niêm yết

và thông báo công khai kết luận của Hội đồng tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp Giấyxác nhận khuyết tật Trường hợp có khiếu nại, tố cáo hoặc có ý kiến thắc mắc không đồng ý

Trang 26

với kết luận của Hội đồng thì trong thời hạn 05 ngày, Hội đồng tiến hành xác minh, thẩm tra,kết luận cụ thể và trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại, tố cáo hoặc thắc mắc.

Căn cứ vào đoạn 2 Điểm b khoản 2 Điều 5 của thông tư liên tịch 37/2012 Riêng đối vớitrường hợp người khuyết tật đã có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa về khả năng tựphục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động trước ngày Nghị định số 28/2012/NĐ-CP củaChính phủ có hiệu lực, Hội đồng xác định mức độ khuyết tật căn cứ kết luận của Hội đồnggiám định y khoa để xác định mức độ khuyết tật theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số28/2012/NĐ-CP, cụ thể như sau: Người khuyết tật đặc biệt nặng khi được Hội đồng giám định ykhoa kết luận không cong khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;Người khuyết tật nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụ sinhhoạt nếu có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến80%; Người khuyết tật nhẹ khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụsinh hoạt hoặc suy giảm khả năng lao động dưới 61%

Đối với trường hợp do Hội đồng giám định y khoa xác định, kết luận về dạng khuyết tật vàmức độ khuyết tật: Căn cứ kết luận của Hội đồng Giám định y khoa về dạng khuyết tật vàmức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận khuyết tật

Bước 5: Nhận kết quả tại UBND cấp xã

2, Thực trạng về quy trình xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện và khuyến nghị cơ bản.

2.1 Thực trạng

Việc Pháp luật NKT quy định về việc xác định mức độ khuyết tật được thực hiện bởi Hộiđồng xác định cấp xã tạo điều kiện giúp NKT ở địa phương có thể hưởng những chính sáchtại địa phương đấy một cách thuận lợi Bên cạnh đó, khâu quản lý của Nhà nước đối vớiNKT cũng được thuận lợi hơn Việc thực hiện ngay tại địa phương NKT cư trú sẽ hạn chếđược chi phí đi lại tốn kém cho NKT, đối với trường hợp đi lại khó khăn cũng thuận lợi hơn.Trong năm 2014 Tại Hội đồng giám định y khoa TP.HCM đã giám định cho 88 trường hợpkhuyết tật và 9 tháng đầu năm 2015 đã giám định cho 62 ca khuyết tật( trong đó có 35 cadưới 18 tuổi, 8 ca từ 18-30 tuổi) Tất cả những ca này đều do hội đồng xác định mức độkhuyết tật ở các phường xã chuyển lên, do họ không đưa ra được kết luận về mức độ khuyếttật hoặc người dân khiếu nại với kết luận của hội đồng cấp xã Theo ông Nguyễn MinhChâu, việc xác định mức độ khuyết tật ở cấp phường, xã hiện nay gần như chỉ dựa vào trựcquan, chỉ nghe - nhìn rồi đánh giá, nên có hạn chế nhất định Vì vậy, ông Châu cho rằng, nếu

Trang 27

muốn có nhiều chuyên viên y tế tham gia xác định mức độ khuyết tật một cách toàn diện hơnthì cần phải tập trung theo cụm hoặc theo tuyến quận, huyện

Một số Hội đồng cấp xã còn lúng túng trong xác nhận dạng tật, mức độ khuyết tật, chưa vậndụng được những chứng bệnh thực tế của đối tượng vào các dạng khuyết tật để xác định mức

độ khuyết tật Đối với những dạng khuyết tật vận động thì bằng mắt thường có thể quan sát,đánh giá một cách tương đối chính xác, nhưng đối với những dạng tật như tâm thần phân liệthay tự kỉ… thì không thể đánh giá khách quan và chính xác bằng việc quan sát và dùng bộcâu hỏi

Trách nhiệm của từng thành viên trong Hội đồng chưa được phát huy, còn phụ thuộc khánhiều vào cán bộ y tế nên tiến độ thực hiện chậm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi được hưởngtrợ cấp xã hội hàng tháng của NKT Bên cạnh đó, một số địa phương chưa giải quyết dứtđiểm hồ sơ vì các Hội đồng chỉ tập trung xem xét, xác định dạng tật, mức độ khuyết tật vàcấp giấy chứng nhận đối với những trường hợp khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; nhiều địaphương cũng chưa cấp giấy xác nhận khuyết tật cho người khuyết tật dạng/mức độ nhẹ

2.2 Khuyến nghị

Về thành phần của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã ngoài chủ tịch UBND cấp

xã, trạm trưởng trạm y tế cấp xã, cán bộ lao động thương binh xã hội thì cần thêm một bác sĩchuyên ngành khác thuộc bệnh viện cấp huyện Khi nghiên cứu hồ sơ, chủ tịch UBND đãbiết được tình trạng của đối tượng cần xác định nên sẽ thông báo với bệnh viện huyện Đếnngày xác định thì bác sĩ đó sẽ về để tiến hành xác định

Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyếttheo đa số, khi có số phiếu biểu quyết ngang nhau thì quyết định thuộc về Chủ tịch Hội đồng

Để tránh việc lạm dụng quyền hạn, thiếu công khai minh bạch, Pháp luật NKT cần có quyđịnh rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng để đảm bảo quyền lợi cho NKT

Trang 28

của Liên hợp quốc phản ánh sự thay đổi về phương pháp tiếp cận trong đó các quyền củangười khuyết tật đã được đề cập vừa khái quát vừa toàn diện Trong nội dung của công ước

có đề cập đến 5 quyền cơ bản của người khuyết tật bao gồm:

1 quyền được sống và quyền được đối xử bình đẳng.

a Quyền được sống

Quyền này đượcquy định tại Điều 10 của Công ước về quyền của người khuyết tật.“Các quốc gia thành viên khẳng định một lần nữa rằng mọi người đều có quyền được sống và sẽ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm đảm cho người khuyết tật được hưởng một cách hiệu quả quyền này trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.

Một trong những quyền tự nhiên thiêng liêng nhất của con người là quyền được sống antoàn, trong hòa bình Quyền sống được đề cập đầu tiên tại Điều 3 của Tuyên ngônthế giới về

quyền con ngườinăm 1948 Điều này khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và

an toàn cá nhân” Như vậy, tất cả mọi ngườisinh ra đều cóquyền được sống không loại trừ việc

người đó có khuyết tật hay không Để đảm bảo quyền sống của người khuyết tật trong những tình

huống nguy hiểm và tình trạng khẩn cấp nhân đạo, tại Điều 11 của công ước quy định “các quốc gia thành viên phải tiến hành mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm sự bảo vệ và sự an toàn cho người khuyết tật trong các tình huống nguy hiểm, trong đó có chiến tranh, tình trạng khẩn cấp nhân đạo và thiên tai”.

b Quyền được thừa nhận bình đẳng

Quyền được thừa nhận bình đẳng được quy định tại Điều 12 của công ước Quyền bình đẳng củangười khuyết tật được phản ảnh ở nhiều khía cạnh, nhưng về cơ bản gồm 2 khía cạnh sau:

Đầu tiên là bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệc một cách bình đẳngnhư những người khác Pháp luật quốc tế khẳng định người khuyết tật có quyền được côngnhận ở tất cả mọi nơi là những con người trước pháp luật; năng lực pháp lí của người khuyếttật phải được công nhận trên cơ sở bình đẳng như những công dân khác, trong các mặt củađời sống sự bảo vệ này sẽ đảm bảo rằng người khuyết tật sẽ được tôn trọng quyền, khôngchịu sự phân biệt đối xử trong khi tham gia các quan hệ pháp luật

Tiếp theo là bình đẳng về cơ hội Trên thực tế, người khuyết tật khó được bình đẳng về

cơ hội như những người bình thường khác do định kiến của xã hội và do nhiều nguyên nhânkhác nhau Vì vậy, cần phải quy định người khuyết tật có quyền bình đẳng để tạo điều kiệncho người khuyết tật được tiếp cận và hòa nhập với xã hội

2 quyền được đảm bảo tự do cơ bản

a Quyền tự do và an toàn cá nhân

Trang 29

Quyền này được quy định tại Điều 15, Điều 16, Điều 17 công ước Theo đó người khuyết tậtđược hưởng quyền tự do cá nhân, không bị tước đoạt tùy tiện, bất hợp pháp và được bảo vệbởi pháp luật quốc tế Sự an toàn cá nhân của người khuyết tật được tôn trọng, bảo vệ toànvẹn cả về thể chất lẫn tinh thần.

b Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư

Quyền này được quy định tại Điều 22 của công ước Theo đó, người khuyết tật đượctôn trọng và bảo vệ trước sự can thiệp vào cuộc sống riêng, bí mật thông tin cá nhân, sứckhỏe, gia đình, thư tín, danh dự, uy tín… trên cơ sở bình đẳng với người không khuyết tật

c Quyền được sống độc lập và hòa nhập cộng đồng

Điều 19 công ước quy định người khuyết tật có cơ hội lựa chọn nơi sinh sống và ngườisống cùng, tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ tại nhà, tại nơi sinh sống cần thiết cho hòa nhập cộngđồng, có các dịch vụ hạ tầng cơ sở công cộng để tiếp cận bình đẳng

d Quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm

Điều 23 công ước quy định các quốc gia thành viên cần thực thi các biện pháp hữuhiệu và thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với người khuyết tật trong tất cả các vấn đềliên quan đến hôn nhân, gia đình, quyền làm cha mẹ và các mối quan hệ khác, trên cơ sởbình đẳng với những người khác Quyền này bao gồm các quyền như quyền kết hôn và tạolập gia đình trên cơ sở tự do và đồng thuận, được tự do quyết định và chịu trách nhiệm về sốcon, khoảng cách giữa các thời gian sinh con, được tiếp cận với các thông tin, chương trìnhgiáo dục về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình; được duy trì khả năng sinh sản của họ, quyền

và nghĩa vụ trong các vấn đề bảo vệ, giám hộ, ủy nhiệm, nhận con nuôi Các quốc gia thànhviên phải đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù hợp với người khuyết tật để họ thực thi tráchnhiệm nuôi dạy con cái

Ngoài ra, công ước quy định các quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm trẻ emkhuyết tật có quyền bình đẳng trong cuộc sống gia đình, ngăn chặn việc che giấu, ruồng bỏ,sao nhãng hoặc cô lập trẻ em khuyết tật; cung cấp cho các em thông tin, dịch vụ và sự hỗ trợsớm và toàn diện dành cho trẻ em khuyết tật và gia đình có trẻ em khuyết tật; không để trẻ

em bị chia tách khỏi bố mẹ chúng trái với ý nguyện của chúng, ngoại trừ trường hợp cơ quan

có thẩm quyền xem xét một quyết định của tòa án, phù hợp với quy trình và luật pháp, và sựchia tách đó là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của đứa trẻ Khi gia đình không thể trực tiếpchăm sóc được trẻ em khuyết tật, quốc gia thành viên phải đảm bảo cung cấp các hình thứcchăm sóc thay thế, trong một gia đình lớn hơn hoặc trong một cộng đồng được kết cấu theo

mô hình gia đình nếu không có gia đình như vậy

Trang 30

e Quyền tự do đi lại, tự do cư trú và tự do quốc tịch

Theo điều 18, điều 20 công ước các quốc gia thành viên phải công nhận quyền của ngườikhuyết tật được tự do đi lại, tự do chọn khu vực cư trú và quyền có quốc tịch, trên cơ sở bìnhđẳng với những người khác, bao gồm việc bảo đảm rằng người khuyết tật: Có quyền nhận vàthay đổi quốc tịch và không bị tước quốc tịch một cách tùy tiện hoặc trên cơ sở sự khuyết tật;không bị tước đoạt, một cách tùy tiện hoặc trên cơ sở sự khuyết tật, khả năng được cấp, sởhữu và sử dụng giấy tờ quốc tịch của họ hoặc giấy tờ căn cước khác, hoặc khả năng sử dụngnhững thủ tục thích hợp như thủ tục di trú có thể cần thiết để thực hiện quyền tự do đi lại mộtcách thuận lợi; tự do rời khỏi bất kỳ đất nước nào, kể cả đất nước của mình; không bị tướcđoạt, một cách tùy tiện hoặc trên cơ sở sự khuyết tật, quyền vào đất nước của chính mình.Trẻ em khuyết tật được khai sinh ngay sau khi ra đời và ngay từ khi ra đời, có quyền có tên

họ, quyền có quốc tịch và quyền được cha mẹ biết và chăm sóc, trong chừng mực tối đa cóthể Ngoài ra, các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp hiệu quả để bảo đảm chongười khuyết tật di chuyển cá nhân thuận tiện một cách độc lập tối đa có thể

f Quyền tự do biểu đạt, chính kiến và tiếp cận thông tin

Tại điều 21công ước quy định các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp thích hợp đểbảo đảm rằng người khuyết tật có thể thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do chính kiến,trong đó có tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý kiến trên cơ sở bình đẳngvới những người khác và bằng bất kỳ hình thức giao tiếp nào họ chọn

3 quyền được bảo vệ

a Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc áp dụng các hình phạt tàn nhẫn

Theo điều 15 công ước người khuyết tật được bảo vệ không bị ngược đãi hoặc giảm phẩmgiá, không bị coi là đối tượng thí nghiệm y tế, thí nghiệm khoa học mà không được sự đồngý

b Quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng

Điều 16 của công ước về quyền của người khuyết tật nêu ra những biện pháp cụ thể

mà quốc gia thành viên phải thực hiện để ngăn chặn những hành động bóc lột, bạo hành vàlạm dụng người khuyết tật kể cả trong môi trường gia đình và ngoài xã hội, trong đó baogồm việc tổ chức các hình thức hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp cho người khuyết tật; tuyên truyền,giáo dục, phòng ngừa; giám sát các chương trình phục vụ người khuyết tật; phục hồi và táihòa nhập cộng đồng cho những người khuyết tật là nạn nhân của bóc lột, bạo hành hay lạmdụng

Trang 31

4 quyền được tham gia

a Quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng đồng

Theo điều 29 công ướcn gười khuyết tật sẽ không vì yếu tố khuyết tật mà bị hạn chếkhông dược tham hia vào các hoạt động chính trị - xã hội Các quốc gia thành viên phải bảođảm cho người khuyết tật có các quyền chính trị và cơ hội hưởng các quyền đó trên cơ sởbình đẳng với những người khác; bảo đảm rằng người khuyết tật có thể tham gia hiệu quả vàtrọn vẹn vào đời sống chính trị công cộng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đạidiện do họ tự do lựa chọn; chủ động thúc đẩy một môi trường cho phép người khuyết tậttham gia một cách hiệu quả và trọn vẹn vào các hoạt động xã hội, một cách không phân biệtđối xử và trên cơ sở bình đẳng với những người khác, và khuyến khích họ tham gia vào cáchoạt động xã hội

b Quyền được tham gia các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí, thể thao

Quyền này được quy định tại điều 30 công ước trên quan điểm hỗ trợ người khuyết tậttham gia các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí và thể thao một cách bình đẳng với người khác, cácquốc gia thành viên của công ước phải thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích

và thúc đẩy tham gia ở mức tối đa của người khuyết tật trong các hoạt động thể thao chung ởcác cấp

5 quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính công việc do bản thân tự do lựa chọn

a Quyền được hưởng các dịch vụ y tế

Điều 25 công ướcquy định người khuyết tật có quyền hưởng tiêu chuẩn y tế cao nhất đãđạt được mà không có sự phân biệt nào trên cơ sở sự khuyết tật Các quốc gia thành viên tiếnhành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho người khuyết tật được tiếp cận dịch vụ y tếphù hợp với lứa tuổi, trong đó có phục hồi về y tế

b Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng (Điều 26 công ước)

Người khuyết tật cần được hỗ trợ và phục hồi chức năng nhằm tăng cường khả nănghòa nhập của họ vào đời sống xã hội Các quốc gia cần thực thi các biện pháp phù hợp và cóhiệu quả, bao gồm sự hỗ trợ đồng cảnh, giúp người khuyết tật đạt được và duy trì tối đa sựđộc lập, khả năng đầy đủ về thể chất, trí tuệ, xã hội và nghề nghiệp, sự hòa nhập và tham giađầy đủ vào mọi lĩnh vực của đời sống Để đạt được điều đó, các quốc gia thành viên sẽ tổchức, tăng cường và mở rộng dịch vụ, chương trình toàn diện về hỗ trợ chức năng và phụchồi chức năng, nhất là kĩnh vực y tế, việc làm, giáo dục và các dịch vụ xã hội Các quốc giathành viên thúc đẩy sự phát triển đào tạo từ đầu và bồi dưỡng tiếp đội ngũ cán bộ và nhân

Trang 32

viên chuyên môn về dịch vụ tập luyện và phục hồi, tăng cường số lượng, hiểu biết và sửdụng công nghệ và thiết bị trợ giúp dành riêng cho người khuyết tật liên quan đến tập luyện

và phục hồi

c Quyền được tiếp cận giáo dục (Điều 24công ước)

Quyền này cần được nhấn mạnh vì với tình trạng khuyết tật, khả năng tiếp cận giáo dụccủa người khuyết tật rất hạn chế do đó, người khuyết cần phải có hình thức giáo dục phù hợpvới đặc điểm khuyết tật của mình

d Quyền có cơ hội công việc và việc làm (Điều 27 công ước)

Công ước quy định quốc gia thành viên công nhận quyền lao động của người khuyết tậttrên cơ sở bình đẳng với những người khác; quyền này bao gồm cả quyền có cơ hội tự kiếmsống bằng hình thức lao động do người lao động chọn hoặc chấp nhận trên thị trường laođộng và trong môi trường lao động mở, dễ tiếp cận đối với người khuyết tật Quốc gia thànhviên bảo vệ và thúc đẩy việc biến quyền làm việc thành hiện thực, kể cả cho những người bịkhuyết tật trong quá trình lao động, bằng cách tiến hành các bước thích hợp; quốc gia thànhviên bảo đảm rằng người khuyết tật không phải làm nô dịch hoặc lao dịch, và được bảo vệkhỏi hình thức lao động cưỡng bức

KHUYẾT TẬT

2.1 Ban hành các quy định để bảo vệ quyền của người khuyết tật

Hiện nay ở Việt Nam, có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liênquan đến người khuyết tật Theo đó, các quy định của pháp luật về người khuyết tật ngàycàng được hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật Để bảo vệ quyền lợi choNgười khuyết tật, ngày 17/6/2010 Quốc hội đã ban hành Luật Người Khuyết tật gồm 53Điều, được chia thành 10 Chương Không chỉ dừng lại ở việc quy định trong Luật Ngườikhuyết tật năm 2010, trong Luật Lao động năm 2012 cũng dành cho người khuyết tật nhữngquy định riêng nhằm bảo vệ quyền của người khuyết tật khi họ tham gia vào quan hệ laođộng Các quy định này được cụ thể hóa tại Mục 4 chương XI Bộ Luật Lao động 2012 Theo

đó, quy định các chính sách của nhà nước đối với lao động là người khuyết tật (Điều 176);quy định đối với việc sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 177); Quy định về các hành

vi bị cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 178) Các quy định này nhằm bảo

vệ quyền lợi cho người lao động khi họ tham gia vào các quan hệ lao động

Cùng với đó, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm bảo

vệ quyền lợi cho người khuyết tật, có thể kể đến như: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định

Trang 33

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, Thông tư liên tịch số42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC quy định chính sách về giáo dục đối với ngườikhuyết tật…

2.1.1Quyền được sống và đối xử bình đẳng.

a Quyền được sống.

Hiến pháp 2013 tại điều 19 có quy định “Mọi người có quyền sống Tính mạng conngười được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Như vậy ngay tronghiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thừa nhận và quy định vềquyền sống, quyền con người

b Quyền được thừa nhận bình đẳng.

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm đảm bảo theo nội dung của côngước, theo quy định tại điều16 và điều 26 của Hiến pháp, mọi người đều bình đẳng trước phápluật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội;công dân nam nữ có quyền bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực Bổ sung vào dự thảo luậtNKT, Hiến pháp 1992 của Việt Nam tái khẳng định những nguyên tắc tôn trọng phẩm giá,bình đẳng và cấm phân biệt đối xử trong điều 52, nêu rằng “mọi công dân đều bình đẳngtrước pháp luật”, Điều 5 của bộ Luật dân sự, điều 8 của Luật tố tụng dân sự, điều 3 của Luật

Xử phạt, điều 5 của Luật tố tụng xử phạt, điều 5 của Luật Lao động và điều 2 của Luật Hônnhân và Gia đình cũng có nhũng quy định tương tự

2.1.2 Quyền được đảm bảo tự do cơ bản.

a Quyền tự do và an toàn cá nhân

Với tinh thần của công ước, pháp luật Việt Nam về cơ bản cũng đã đảm bảo được sựtương thích với quy định của điều ước Điều này được thể hiện ở việc tinh thần chung củaquyền mà công ước quy định đã được ghi nhận tại điều 14, điều 20, 23 và điều 25 về quyềncon người; quyền bất khả xâm phạm thân thể, được pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm,không bị tra tấn, bạo lực …; quyền tự do đi lại, cư trú và quyền tự do ngôn luận tự do báochí, tiếp cận thông tin của Hiến pháp 2013 – đạo luật có hiệu lực cao nhất của nướcCHXHCNVN Cụ thể hơn nữa tại các quy định chung tại mục 2 chương III của BLDS năm

2005 về quyền nhân thân của cá nhân,điển hình nhất tại các điều 32, 37, 47, 48, 50 và 51 ghinhận các quyền về đảm bảo an toàn, tính mạng, sức khỏe; quyền được bảo vệ nhân phẩm,danh dự và uy tín; các quyền tự do về tín ngưỡng tôn giáo; tự do đi lại, tự do cư trú; tự dokinh doanh; tự do nghiên cứu, sáng tạo Đây là những quyền của công dân và người khuyếttật bình đẳng như mọi công dân khác trong hưởng các quyền cơ bản của con người

Trang 34

b.Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư

Đối với quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư pháp luật Việt Nam cũng đã ghinhận tại điều 21, 22 của Hiến pháp 2013 với tinh thần đảm bảo bất khả xâm phạm về đờisống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình vàquyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Đồng thời BLDS năm 2005 cũng đã tiếp cận tại điều 38,

46 quy định quyền bí mật đời tư của cá nhân công dân và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.Các văn bản pháp luật và dưới luật trong hệ thống của pháp luật Việt Nam cơ bản cũng đãđảm bảo được quyền tôn trọng cuộc sống riêng tư của công dân, tuy nhiên mức độ đảm bảotại mỗi luật chuyên ngành là khác nhau và còn hạn chế Hơn nữa tại điều 14 Luật ngườikhuyết tật 2010 quy định hành vi bị nghiêm cầm đối với người khuyết tật, trong đó có hành

vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm hay lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng củangười khuyết tật để trục lợi, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

c.Quyền sống độc lập và hòa nhập cộng đồng

Chúng ta có thể nhận thấy quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Luật người khuyết tật là

“Luật dựa trên quyền”, do đó các quy định trong luật người khuyết tật 2010 dù trực tiếp haygián tiếp đều hướng tới việc đảm bảo quyền cho người khuyết tật ở mức độ cao nhất Cácquyền công dân nói chung mà bản thân người khuyết tật cũng được hưởng bình đẳng như vớimọi công dân khác được ghi nhận rõ tại chương II quyền con người của Hiến pháp 2013.Đồng Luật người khuyết tật đã quy định rõ tại khoản 1 điều 4 về quyền của người khuyết tật,trong đó quyền được sống độc lập, hòa nhập cộng đồng ghi nhận tại điểm b khoản 1 điềunày Bên cạnh đó, nhằm thực thi và đảm bảo hiệu quả quyền độc lập và hòa nhập cộng đồngthì luật người khuyết tật 2010 đã quy định rải rác tại các điều của luật này Việc giúp ngườikhuyết tật tiếp cận được với xã hội, cuộc sống của họ là điều đặc biệt quan trọng và có ýnghĩa vì thế với nhu cầu trợ giúp người khuyết tật cả về vật chất và tinh thần là cần thiết Đểlàm được điều này thì nhấn mạnh việc thực hiện xã hội hóa hoạt động trợ giúp người khuyếttật, thông qua đó Nhà nước một mặt đề cao và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, tàitrọ, về tài chính, kỹ thuật để thực hiện phục hồi chức năng, chăm sóc, giáo dục, dạy nghề…cho người khuyết tật; một mặt nhà nước cam kết thực hiện chính sách ưu đãi xã hội hóa chocác tổ chức, cá nhân đã đầu tư được thể hiện tại điều 6 luật người khuyết tật 2010

d.Quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm.

Để cụ thể hóa quyền này, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) tại Điều 36 đãkhẳng định: "1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến

bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau 2 Nhà nước bảo hộ hôn

Trang 35

nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em" Trên thực tế, nguyên tắc này đãđược ghi nhận trong các quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2000 (về chế độ hôn nhân

và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế

độ hôn nhân và gia đình Việt Nam); Bộ luật Hình sự (Chương XV - Các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình, từ các điều 146 đến 152); Bộ luật Dân sự (quy định về quyền kếthôn, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ dân sự, Quyền được hưởng sự chămsóc giữa các thành viên trong gia đình ); Luật Bình đẳng giới (quy định nguyên tắc bìnhđẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

e.Quyền tự do đi lại, tự do cứ trú và tự do quốc tịch.

Pháp luật Việt Nam đã quy định tại điều 68 Hiến pháp Việt Nam: “Công dân cóquyền tự do đi lại và cư trú trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nướctheo quy định của pháp luật”, như vậy, theo quy định này NKT được tự do đi lại, tự do cư trútrong lãnh thổ Việt Nam Được quyền rời khỏi lãnh thổ Việt Nam và được trở về nước màkhông bị cản trở, quy định nhằm giúp NKT dễ dàng, linh hoạt đối với việc dịch chuyển tronghoạt động thường ngày

f.Quyền tự do biểu đạt, chính kiến và tiếp cận thông tin.

Trong pháp luật Việt Nam, liên quan đến quyền tự do ngôn luận và biểu đạt, Điều 69Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền đượcthông tin” Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, Điều 2 Luật báo chí năm 1990 (được sửađổi năm 1999) quy định cá nhân công dân có quyền đăng tải trên các phương tiện thông tinđại chúng những ý kiến các nhân của mình không trái với chính sách pháp luật của nhà nước.Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự dongôn luận trên báo chí và không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhàbáo hoạt động Bên cạnh đó, theo điều 43 Luật NKT, nhà nước khuyến khích cơ quan tổchức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng và phát triển công nghệthông tin dành cho NKT, cơ quan thông tin địa chúng có trách nhiệm phản ánh đời sống vậtchất và tinh thần của NKT, đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực hiện chương trìnhphát song có phụ đề tiếng Việt và ngôn ngữ ký hiệu dành cho NKT…

2.1.3 Quyền được bảo vệ.

a.Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, bị đối xử, áp dụng các hình phạt tàn nhẫn.

Các văn bản điều chỉnh vấn đề quyền không bị tra tấn của pháp luật Việt Nam đã quyđịnh một cách thống nhất và đồng bộ từ văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiếnpháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001 và 2013) cho đến các văn bản cụ thể hóa các quy

Trang 36

định của Hiến pháp Cụ thể, Điều 20 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2013) quy định: “Mọingười (…) không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nàokhác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ( )Mọi người có quyềnhiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học,dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sựđồng ý của người được thử nghiệm” Các văn bản luật và dưới luật đã cụ thể hóa các quyđịnh của Hiến pháp như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thihành án hình sự Như Điều 32 và Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định quyền đượcbảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể và quyền được bảo vệ danh dự, nhânphẩm, uy tín của cá nhân con người Nội dung này được tái khẳng định tại Điều 6 Bộ luật Tốtụng hình sự: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình” Trong Chương XXII Bộluật Hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, các Tội dùng nhục hình (Điều 298) vàTội bức cung (Điều 299) có ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền không bị tra tấn vànhục hình trong hoạt động tố tụng Đây chính là nền tảng pháp lý để ngăn chặn và trừng trịnhững hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục Như vậy, cóthể thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam đã quy định thống nhất và đồng bộ về quyềnkhông bị tra tấn.

b Quyền không bị bóc lột, bảo hành.

Trong pháp luật Việt Nam, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm

là một trong những quyền hiến định, được ghi nhận tại điều 20 của Hiến pháp 1992 (sửa đổinăm 2013) Trên thực tế, để đảm bảo thực thi quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự,nhân phẩm, trong Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm đã dành chương XII để quy định về cáctội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Bên cạnh đó, Theoquy định tại Điều 7 của BLTTHS thì công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm

2.1.4 Quyền được tham gia

a Quyền được tham gia vào đời sống chính trị và cộng đồng:

Quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân tiếp tục đượckhẳng định xuyên suốt các bản Hiến pháp 1959 (tại điều 23), Hiến pháp 1980 (tại điều 57),Hiến pháp 1992 (tại điều 54), Hiến pháp 2013 (tại điều 27) Hiến pháp hiện hành của nước

ta quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổitrở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân” Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân 2003 đã ghi nhận lại những quy định này của Hiến pháp Quyền bầu cử và

Trang 37

ứng cử được hiểu quyền công dân được lựa chọn để bầu người xứng đáng, đại diện cho mình

ở các cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương mà không bị bất kỳ sự cản trở nào để tạođiều kiện cho mọi người dân, nhất là những người yếu thế khi tham gia bầu cử, ứng cử

b.Quyền được tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao:

Theo đó, pháp luật Việt Nam đã quy định về quyền được tham gia vào các hoạt độngvăn hóa, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao tại điều 4, luật NKT, các chính sách của Nhà nước hỗtrợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù hợp với đặc điểm của ngườikhuyết tật; tạo điều kiện để người khuyết tật được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giảitrí và du lịch, và điều 11 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật NKT: miễngiảm giá vé, giá dịch vụ thể thao, văn hóa, du lịch Vào ngày 25/3/2005, Thủ tướng ra quyếtđịnh số 65/2005/QĐ-TTg, đệ trình một kế hoạch “chăm sóc dựa vào cộng đồng trẻ em mồcôi vô gia cư, trẻ em bị bỏ rơi, TKT nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ emsống chung với HIV/AID cho giai đoạn 2005 – 2010, đây là một bước tích cực trong việcchuyển đổi sang hệ thống chăm sóc như gia đình có điều tiết công khai, được áp dụng cho tất

cả TKT và thực thi đầy đủ Trẻ em hiện nay đang sống trong các trại nên được hòa nhập trởlại vào xã hội mà không trì hoãn nữa

2.1.5 Quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính công việc do bản thân tự do lựa chọn.

a Quyền hưởng các dịch vụ y tế

Nhằm giúp NKT được hưởng những dịch vụ chăm sóc sức khỏe đạt tiêu chuẩn, phápluật Việt Nam đã có những quy định cụ thể sau, theo điều 22 Luật bảo hiểm y tế và điều 3,điều4, điều 7, điều 8 nghị định số 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một sốđiều của luật bảo hiểm y tế, qua đó NKT và đặc biệt nặng không có khả năng lao động hoặckhông có khả năng tự phục vụ được, nhà nước đảm bảo kinh phí đóng bảo hiểm y tế và đượcquỹ bảo hiểm y tế thanh toán 95% chi phí khám, chữa bệnh… Bên cạnh đó, theo điều 21, 22,

23 luật NKT, nhà nước, các cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm khám chữa bệnh, sử dụngcác dịch vụ y tế phù hợp cho NKT…

b.Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng

Để cụ thể hóa quyền trên, theo điều 26 luật NKT, nhà nước hỗ trợ kinh phí theo dự áncho tổ chức nghiên cứu khoa học về NKT, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên về chỉnh hình,phục hồi chức năng Cơ sở sản xuất dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chứcnăng, trợ giúp sinh hoạt học tập Dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chứcnăng cho NKT từ chương trình, dự án viện trợ không hoàn lạ, hoặc do tổ chức cá nhân nước

Trang 38

ngoài tặng Điều 24 luật NKT về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng nhằm chuyển giaokiến thức về vấn đề khuyết tật, gia đình của họ và cộng đồng nhằm tạo sự bình đẳng về cơhội và hòa nhập cộng đồng cho NKT

c.Quyền có mức sống thích đáng và bảo trợ xã hội đầy đủ

Ở Việt Nam , trên phương diện bảo trợ xã hội cho NKT đã có nhiều văn bản ra đờinhằm điều chỉnh vấn đè này như Nghị định số 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội,Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/04/2007 về chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xãhội, Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg tìm cách xóa đói giảm nghèo trong những cộng đồngnghèo và hộ gia đình nghèo có trẻ em và NKT Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 13/4/2007 đề

ra những chính sách hỗ trợ công tác bảo trợ xã hội cho những NKT nặng, đã nêu đại cương

về những khoản trợ cấp hàng tháng, và cung cấp thẻ bảo hiểm y tế

d.Quyền được tiếp cận giáo dục

Hiện nay, tại Việt Nam Quyết định số 23/2006/QD-BGDDT, khẳng định rằng NKTnên “được hưởng quyền giáo dục bình đẳng với bất cứ ai khác” và học tập trong nền giáodục chung, tham gia vào học nghề, được phục hồi chức năng, phát triển tiềm năng để hòanhập tốt hơn vào cộng đồng Quyết định số 9/2007/QD-BGDDT, ngày 29-8-2007, ủy quyềnđào tạo cho giáo viên và các nhà quản lý giáo dục cần phải có những kỹ năng cần thiết đểthực hiện giáo dục hòa nhập Chi tiết hóa quyền được giáo dục cho TKT, chính phủ ViệtNam đã thông qua Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Luật giáo dục 2005 vàPháp lệnh về NKT Để nâng cao tầm của giáo dục hòa nhập, Bộ GD&ĐT đã ban hành quyếtđịnh số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 5 năm 2006 sao cho NKT có thể (1) “đượchưởng quyền giáo dục bình đẳng với mọi người khác” và (2) học tập chung, tham gia vàođào tạo học nghề, được phục hồi chức năng và phát triển tiềm năng của mình để hòa nhập tốthơn vào cộng đồng Quyết định số 9/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 29 tháng 8 năm 2007 ủyquyền đào tạo cho giáo viên và các nhà quản lý giáo dục để họ học những kỹ năng cần thiếtnhằm thực hiện giáo dục hòa nhập

e.Quyền có cơ hội công việc và việc làm.

Tại Việt Nam, quyền này được thể hiện tại điều 32 luật NKT, đối với việc dạy nghềcho người khuyết tật, do đặc điểm đặc thù của đối tượng này nên mục tiêu của dạy nghềkhông chỉ dừng lại ở việc giúp họ có năng lực thực hành nghề nghiệp phù hợp với khả nănglao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm ổn định cuộc sống mà còn giúp

họ hòa nhập vào cộng đồng Điều 26 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 2013 bảo đảm quyền được trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với

Trang 39

người lao động nam và nữ làm công việc như nhau Điều 90 của Bộ luật Lao động đưa ranguyên tắc trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau và yêu cầu người sử dụnglao động trả lương bình đẳng cho tất cả người lao động không phân biệt giới tính ( Điều 13của Luật Bình đẳng giới) Theo quy định tại Điều 33 của Hiến pháp, mọi người đều có quyền

tự do kinh doanh trong các lĩnh vực và ngành nghề mà pháp luật không cấm Hiến pháp bảo

vệ quyền của người dân về quyền làm việc và lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làmviệc Điều 153-154 của Bộ luật Lao động bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động

nữ và khuyến khích sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ làm việc thuận lợi Tuynhiên, một thông tư từ năm 2011 nghiêm cấm việc sử dụng lao động nữ trong 79 ngànhnghề, trong đó 45 ngành áp dụng cho tất cả các lao động nữ và 34 ngành nghề/công việc cònlại được áp dụng cho lao động nữ mang thai và cho con bú

2.2 Khó khăn trong việc nội luật hóa các quy định của công ước về quyền của người

khuyết tật ở Việt Nam và hướng giải quyết.

a Những khó khăn

Khó khăn trước hết, đó là nhận thức chung của người khuyết tật, của xã hội về quyềncon người nói chung, về vấn đề khuyết tật và quyền của người khuyết tật (quan điểm tư duydựa trên quyền con người) vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, phần đông người Việt Nam chưaquen với quan điểm tiếp cận này, thậm chí cả chính người khuyết tật cũng chưa thật sự hiểubiết, nắm bắt và tự ý thức được các quyền của mình Tiếp đến, kiểu tư duy bao cấp vẫn còndai dẳng, nhiều người vẫn quan niệm mọi gánh nặng, các nguồn lực đổ dồn hết lên vai ngânsách nhà nước mà chưa thấy được tiềm năng to lớn ở ngay chính xã hội Chúng ta vẫn chưaquán triệt và hành động một cách thực chất bài học lấy dân làm gốc theo quan điểm tư tưởng

Hồ Chí Minh “đem sức ta để giải phóng cho ta” Từ cách tư duy như vậy, người ta dễ bịchoáng ngợp với những “quyền quá cao” so với điều kiện bảo đảm từ nguồn tài chính ngânsách nhà nước Cũng từ đó, nhà thiết kế chính sách pháp luật dễ từ chối việc bảo đảm quyềncho người khuyết tật theo tinh thần Công ước Thật ra, quyền là giá trị chung, không phụthuộc vào việc công nhận hay không công nhận nhưng việc thực thi bảo đảm quyền bằngpháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng, nếu không thì quyền của ngườikhuyết tật không thể được hiện thực hoá

Khó khăn không nhỏ đối với Việt Nam khi trở thành thành viên Công ước làviệc bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để khi triển khai thi hànhCông ước cũng còn những điểm chưa thể phù hợp và khả thi do điều kiện kinh tế xã hội,truyền thống văn hoá có những nét đặc thù Chẳng hạn, những vấn đề như khái niệm về

Trang 40

người khuyết tật, quan điểm về bảo đảm quyền tiếp cận của người khuyết tật trên các lĩnhvực chính trị, tham gia quản lý nhà nước, vai trò của người khuyết tật trong cộng đồng xãhội, quyền tiếp cận giáo dục, văn hoá, thể thao, công trình công cộng, tiếp cận tư pháp…

Về điều kiện kinh tế xã hội, đời sống người dân Việt Nam nói chung, đặc biệt là ngườikhuyết tật còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; bảnthân nhiều người khuyết tật cũng còn nặng tâm lý tự ti, nhận thức về xã hội và chính mìnhcòn nhiều hạn chế Công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền con người, quyền công dân, vềvấn đề khuyết tật ở Việt Nam chưa có hiệu quả cao, ảnh hưởng không nhỏ đến tính chủ độngtích cực của cộng đồng, các nhóm xã hội, cũng như các cá nhân Gần đây, Chính phủ đã banhành và triển khai thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 2020(7), trong

đó có nêu các mục tiêu và giải pháp tương ứng Tuy vậy, vì nhiều lý do khác nhau cả kháchquan lẫn chủ quan, đến nay đã sắp hết thời hạn của giai đoạn 1 (2012 2015) nhưng nhiềumục tiêu đề ra khó có thể đạt được như mong muốn(8) Điều đó cho thấy, việc thực hiệntrách nhiệm của Nhà nước để bảo đảm các quyền của người khuyết tật (hiện thực hoá cácquyền) còn là vấn đề có nhiều thách thức cam go Trong khi đó, với tư cách là thành viênchính thức của Liên hợp quốc, của Công ước về quyền của người khuyết tật Việt Nam phảituân thủ cơ chế đánh giá định kỳ của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc(9) và cơ chế giámsát thực thi Công ước(10) Thật sự đây cũng là sức ép rất lớn từ góc độ trách nhiệm thànhviên Công ước khi chúng ta đã chấp nhận sự ràng buộc đối với Công ước Tuy nhiên, trongvăn hoá chính trị pháp lý quốc tế hiện nay, cơ chế giám sát, thúc đẩy quyền con người vàquyền của người khuyết tật như vậy được coi là giá trị chung của cộng đồng nhân loại, mangtính tiến bộ, nhân văn cao cả

b Một số hướng giải quyết.

Để phát huy các yếu tố thuận lợi trong nước cũng như quốc tế, khắc phục những khókhăn nhằm hiện thực hoá quyền của người khuyết tật, khi Việt Nam trở thành thành viênCông ước, chúng ta cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, sớm hoàn thiện chính sách pháp luật người khuyết tật Việt Nam trên cơ sở quan

điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tinh thần Công ước về quyềncủa người khuyết tật Chính sách, pháp luật người khuyết tật là những chủ trương, nguyêntắc chủ đạo của Nhà nước về xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và các giảipháp thực hiện các chủ trương, nguyên tắc đó Vai trò của chính sách, pháp luật là cơ sởchính trị pháp lý để soạn thảo, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm phápluật nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật Chính sách, pháp luật người khuyết tật phải

Ngày đăng: 22/12/2015, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w