Là một trong những nước phương Đông có truyền thống văn hóa hàng nghìn năm, Việt nam được biết đến với nhiều làng nghề truyền thống.Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổng hợp từ báo cáo chính thức của Ủy ban nhân dân (UBND), Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến tháng 7 năm 2011,tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng, trong đó có 1.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037 làng có nghề chưa được công nhận. Đi kèm với sự nâng cao thu nhập cho người dân, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, cải thiện cuộc sống cho nông dân thì kéo theo đó là sự xuống cấp của môi trường nước trầm trọng do nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến không qua xử lý. Mặc dù các ngành, các cấp đã có nhiều văn bản chính sách quản lý để bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm môi trường nước nhưng hiện trạng môi trường nước mặt quanh làng nghề ngày càng ô nhiễm do việc xả thải nước thải trực tiếp mà không qua một hệ thống xử lý nước thải. Vì vậy đòi hỏi sự quan tâm của các chức năng tổ chức cộng đồng để có chính sách phù hợp với từng làng nghề. Hưng Yên với tổng số 66 làng nghề trong đó UBND tỉnh ra quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề là 32. Theo kết quả khảo sát môi trường làng nghề tỉnh Hưng Yên ( năm 2012 – Trần Duy Khánh ) nước thải từ làng nghề tái chế nhựa Minh Khai thì BOD5 vượt TCCP 1.5 lần, nước thải có màu xám đen, Cadimi vượt 2,87 lần. Môi trường nước tại làng nghề chạm bạc Huệ Lai đã bị ô nhiễm, tổng chất rắn hòa tan (TDS) vượt TCCP tới 7 lần, BOD vượt 1,5 lần. Từ đó ta thấy môi trường làng nghề của tỉnh Hưng Yên đang có nguy cơ ô nhiễm trầm trọng. Làng nghề chế biến bột dong riềng tại xã Tứ Dân là một trong những làng nghề phát triển khá lâu. Các cơ sở sản xuất trong làng nghề hầu như chưa có hệ thống xử lý nước thải nên xuất hiện tình trạng nước thải chưa qua xử lý thải thẳng ra ao hồ, kênh mương xung quanh. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, sức khỏe và đời sống của nhân dân cảnh quan nông thôn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sinh viên tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý, xử lý nước thải chế biến bột dong tại xã Tứ Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên”.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ,
XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHẾ BIẾN BỘT DONG TẠI XÃ TỨ DÂN
HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
Người thực hiện : Đỗ Thị Huyền
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Hoàng Thái Đại
Địa điểm thực tập :xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu,tỉnh Hưng Yên
Hà Nội – 2015
Trang 2Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Hoàng Thái Đại người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi tận tình về phương pháp nghiên cứu và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài.
-Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ và người dân làng nghề xã Tứ Dân, Khoái Châu, Hưng Yên đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thực tập, cung cấp thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài này Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia
sẻ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Học Viện Nông nghiệp Hà Nội.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính và trình
độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng năm 2015
SV.Đỗ THị Huyền
Trang 3Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những nước phương Đông có truyền thống văn hóa hàngnghìn năm, Việt nam được biết đến với nhiều làng nghề truyền thống.Theo sốliệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổng hợp từ báo cáochính thức của Ủy ban nhân dân (UBND), Sở Tài nguyên và Môi trường(TN&MT) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến tháng 7 năm2011,tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng, trong đó
có 1.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037 làng có nghề chưa đượccông nhận Đi kèm với sự nâng cao thu nhập cho người dân, giải quyết công
ăn việc làm cho xã hội, cải thiện cuộc sống cho nông dân thì kéo theo đó là
sự xuống cấp của môi trường nước trầm trọng do nước thải từ hoạt động sảnxuất, chế biến không qua xử lý
Mặc dù các ngành, các cấp đã có nhiều văn bản chính sách quản lý đểbảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm môi trường nước nhưng hiện trạng môitrường nước mặt quanh làng nghề ngày càng ô nhiễm do việc xả thải nướcthải trực tiếp mà không qua một hệ thống xử lý nước thải Vì vậy đòi hỏi sựquan tâm của các chức năng tổ chức cộng đồng để có chính sách phù hợp vớitừng làng nghề
Hưng Yên với tổng số 66 làng nghề trong đó UBND tỉnh ra quyếtđịnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề là 32 Theo kết quả khảo sát môitrường làng nghề tỉnh Hưng Yên ( năm 2012 – Trần Duy Khánh ) nước thải
từ làng nghề tái chế nhựa Minh Khai thì BOD5 vượt TCCP 1.5 lần, nướcthải có màu xám đen, Cadimi vượt 2,87 lần Môi trường nước tại làng nghềchạm bạc Huệ Lai đã bị ô nhiễm, tổng chất rắn hòa tan (TDS) vượt TCCP tới
Trang 47 lần, BOD vượt 1,5 lần Từ đó ta thấy môi trường làng nghề của tỉnh HưngYên đang có nguy cơ ô nhiễm trầm trọng
Làng nghề chế biến bột dong riềng tại xã Tứ Dân là một trong nhữnglàng nghề phát triển khá lâu Các cơ sở sản xuất trong làng nghề hầu nhưchưa có hệ thống xử lý nước thải nên xuất hiện tình trạng nước thải chưaqua xử lý thải thẳng ra ao hồ, kênh mương xung quanh Vấn đề ô nhiễm môitrường nước tại làng nghề ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng rất lớnđến môi trường sinh thái, sức khỏe và đời sống của nhân dân cảnh quan nôngthôn
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sinh viên tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý, xử lý nước thải chế biến bột dong tại xã Tứ Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá hiện trạng xả thải của hoạt động sản xuất chế biến củ dong và đềxuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý nước thải tại làng nghề xã TứDân
Trang 5PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam
Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởihai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong
đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủcông, giữa họ có mối lên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa
Làng nghề Việt Nam có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt
Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về
số lao động và thu nhập so với nghề nông”[Đặng Kim Chi, 2005].
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làngnghề gồm có 3 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt độngngành nghề nông thôn
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thờiđiểm đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước[www.isge.monre.gov.vn]
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ côngcũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việcphụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hànghóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông Đa số các làng nghề đã trải qua
Trang 6lịch sử phát triển hàng trăm năm Ví dụ, như làng đúc đồng Đại Bái (BắcNinh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần
500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc
đá mỹ nghệ Non Nước (Thành phố Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây
hơn 400 năm, … (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).
Lời người xưa dạy: “Phi công bất phú, phi thương bất hoạt và phi
nông bất ổn” càng trở nên rõ ràng cộng với nhiều chủ trương chính sách mới
của Ðảng đã được vận dụng một cách nhanh chóng và sáng tạo hơn trên mặttrận nông nghiệp đã góp phần làm thay đổi bộ mặt làng quê
Tuy làng nghề phát triển theo xu hướng tất yếu của thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, bộ mặt mới của làng quê ngày một thay đổi, sựphân bố và phát triển các làng nghề trên cả nước không đồng đểu, có mộtthực tế là đã và đang có sự pha tạp giữa làng nghề thực sự mang tính chấtthủ công, truyền thống và làng nghề mà thực chất là sự phát triển côngnghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, tạo nên một bức tranh hỗn độn của làngnghề Việt Nam
2.1.2.Phân loại làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một sốdạng như sau:
Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu
Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mụcđích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Trên cơ sở tiếp cận vấn đề
Trang 7môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sảnphẩm là phù hợp hơn cả, gồm 6 nhóm ngành chính (Hình 2.1 )
Th công mỹ ủ công mỹ nghệ 39%
Ch bi n ế biến ế biến
l ương thực, ng th c, ực,
th c ph m, ực, ẩm, chăn nuôi, gi t ế biến mổ 20%
Tái ch ph ế biến ế biến
li u ệ 4%
D t nhu m, ệ ộm,
m t , thu c
ương thực, ơng thực, ộm,
da 17%
Các ngh khác ề khác 15%
V t li u xây ật liệu xây ệ
d ng, khai ực, thác đá 5%
Nguồn: Tổng cục Môi trường , 2008
Hình 2.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Làng nghề chế biền lương thực thực phẩm chăn nuôi và giết mổ phân bố kháđều trên cả nước, phần nhiểu sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầutrình độ cao, hình thức sản xuất thủ công, ít thay đổi qui trình so với thờiđiểm hình thành nghề
2.1.3.Những đóng góp tích cực của làng nghề tới kinh tế- xã hội
Cơ cấu các ngành nghề cũng đa dạng hơn, có sự chuyển dịch đáng kể,tăng tỷ trọng các ngành chế biến lương thực, thực phẩm và cơ khí, giảm tỷtrọng các ngành sản xuất vật liệu Các sản phẩm đã và đang dần bám sát nhucầu và thị hiếu của thị trường Nhiều làng nghề mới được thành lập, nhiềulàng nghề cũ đã đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề… Do đó giá trịsản lượng cũng như chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên, dần xâmnhập các thị trường khó tính trên thế giới
Trang 8(1) Chủ trương phỏt triển làng nghề
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2006 - 2015 của bộ
NN&PTNT là thực hiện chơng trình “Mỗi một làng nghề”, với mục tiêu khôi
phục và phát triển làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi nôngnghiệp với các hoạt động nh: hỗ trợ phát triển làng nghề nông thôn, khuyếnkhích các hộ gia đình, t nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đào tạo nghề và
hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xây dựng cơ chếquản lý chất thải làng nghề
(2) Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợphát triển các làng nghề Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mụctiêu nâng cao chất lợng cuộc sống của ngời dân, tạo việc làm, xoá đói giảmnghèo ở nớc ta thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề.Ngợc lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộmặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây
(3) Làng nghề và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phơng, tỷ trọng ngành công nghiệp
và dịch vụ đạt 60 - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 - 40% Trong nhữngnăm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lênvới tốc độ bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩmlàng nghề không ngừng gia tăng (biểu đồ 2.3) Chính vì vậy, có thể thấy, làngnghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm cho ngời lao động
(Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu t, 2010)
Trang 9trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lợng cuộc sống chongời lao động ở khu vực nông thôn.
(Nguồn: Bộ NN&PTNT - 2010) Hỡnh 2.3: Kim ngạch giỏ trị xuất khẩu cỏc sản phẩm của làng nghề
(4) Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Nhận thức đợc tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần giatăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp hoặc dịch vụ ở địa phơng, đồng thờităng thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu vàbán sản phẩm truyền thống, nâng cao đời sống của ngời dân thông qua các dịch
vụ phụ trợ , điển hình nh các tỉnh Hà Tây (trớc đây), Hoà Bình, Bắc Ninh,Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng , đã và đang phát triển mạnh mẽ loại hình du lịchlàng nghề Đây là điểm đến của nhiều tuyến du lịch lữ hành của khách thamquan trong nớc đồng thời thu hút nhiều khách du lịch
2.2.Hiện trạng ụ nhiễm mụi trường tại cỏc làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
2.2.1.ễ nhiễm mụi trường tại cỏc làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
Việt Nam cú 197 làng nghề chế biến nụng sản thực phẩm, chủ yếu tậptrung ở miền Bắc là 142 làng, miền Trung 42 làng và 21 làng ở miền Nam.Cỏc hộ gia đỡnh thường cú tõm lý và thúi quen sản xuất trờn quy mụ nhỏ,khộp kớn, tự phỏt nờn hạn chế đầu tư trang thiết bị, đổi mới cụng nghệ dẫnđến hiệu quả sản xuất khụng cao, tiờu tốn nguồn nhiờn liệu đồng thời thải ramụi trường lương lớn chất thải đặc biệt là chất thải hữu cơ Đối với mụi
Đơn vị tính: triệu USD
Trang 10trường không khí, đặc trưng nhất là mùi hôi thối của nguyên vật liệu tồn đọnglâu ngày và do sự phân huỷ của các hợp chất hưu cơ trong chất thải rắn vàchất thải từ cống rãnh kênh mương.
Ô nhiễm môi trường nước
Theo kết quả phân tích của Viện Khoa Học Công Nghệ Môi Trường(Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, 2010) thì 100% nước thải từ các làng nghềđều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ônhiễm Ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm nước thải làng nghềnày có đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học Ví dụnước thải của sản xuất tinh bột sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao, COD =13.300 - 20.000 (mg/l), BOD5 = 5.500- 125.000 (mg/l)
Bảng 2.1 : Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến
lương thực thực phẩm
Chỉ tiêu
Tiêuchuẩncho phép
Tinh bộtBìnhMinh
BúnPhúĐô
NướcmắmHảiThanh
RượuTânĐô
ĐậuphụQuangBình
Trang 11SP(mg/l) 6 27,5 2,79 0,034 44,2 23
Nguồn: Báo cáo môi trường, 2008
Lưu lượng nước thải các làng nghề CBLTTP khá lớn, ví dụ làng nghềCBLTTP Yên Viên – Gia Lâm toàn thôn thải ra một lượng nước thải là800m3/ngày, có một số làng nghề lượng nước thải lên tới 7000 m3/ngày.Nước ngầm ở tầng nông tại các làng nghề CBLTTP đều có dấu hiệu ô nhiễmvới hàm lượng COD, TS, NH4+…làng nghề sản xuất tinh bột Dương Liễuhàm lượng NH+
4 trong nước lên tới 18,46 mg/l, làng nghề Tân Phú Đông –Đồng Tháp hàm lượng NH4+ lên tới 28,40 mg/l
Nguồn nước mặt bị ô nhiễm trầm trọng, có hàm lượng BOD5, COD, lượng
SS, Nitots , Photpho ts rất cao Đặc biệt nước thải từ khâu tách bã, tách bột củaquá trình sản xuất tinh bột sắn và dong có pH thấp, BOD5, COD có thể vượtTCVN 5945 – 2005 mức B trên 200 lần ( Tổng cục môi trường, 2008) Làngnghề bún Phong Lộc – Nam Định, nước cống của làng nghề đều có hàmlượng Colifrom lên tới 370.000MPN/100ml Nước ngâm gạo ít ô nhiễm hơnnhưng COD vẫn cao (COD = 1.000 –2.000mg/l) [ Trần Duy Khánh, 2012]
Ô nhiễm môi trường không khí
Đặc trưng nhất đối với môi trường không khí là mùi hôi thối của nguyên vậtliệu tồn đọng lâu ngày và do sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ trong chấtthải rắn và chất thải từ cống rãnh kênh mương Quá trình phân giải yếm khícác chất hữu cơ sinh ra khí độc như CH4, NH3+ , H2S ảnh hưởng rất xấu đếnsức khỏe của người dân Hay ô nhiễm tại “làng xương” ở xã Hoà Bình,Thường Tín, Hà Tây: mỗi ngày làng nhập về khoảng 30 tấn xương các loạisau đó thải hàng tấn mẩu phế thải ra bờ mương hoặc ngoài đồng vì chưa cóbãi tập kết gây mùi hôi thối trên toàn xã
Trang 12Không những vậy việc sử dụng các chất đốt, nhiên liệu (than củi) trong quátrình sản xuất phát sinh các khí SO2, NOx, CH4+ gây ô nhiễm không khí cùngvới mùi hôi tanh, khó chịu từ các nghề phơi cá, sản xuất nước mắm( làngmắm Diễn Vạn, Diễn Ngọc – Nghệ An)
Một nguồn gây ô nhiễm không khí đó là bụi nguyên liệu, việc phát tán bụitrong không gây không ít bệnh cho con người Bụi trà tại các làng chế biếntrà hương, bụi tinh bột sắn, củ dong riềng trong quá trình sản xuất gây rabệnh về hô hấp, về mắt
Ô nhiễm do chất thải rắn
Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để,nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác động xấu tới cảnh quan môi trường,gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất Đối với các làng nghề chếbiến lương thực, thực phẩm, chất thải rắn giàu chất hữu cơ dễ bị phân hủysinh học gây mùi xú uế Do sản xuất manh mún, hầu hết việc xử lý chất thảirắn chưa được quan tâm, phần không được tận thu được đổ tràn lan trên cáckênh mương, bãi đất trống, là nơi phát sinh ruồi muỗi, bốc mùi hôi thốikhó chịu, môi trường sống cho các sinh vật có hại, mất cảnh quan văn hóalàng nghề Bên cạnh đó một số làng nghề đổ thải trực tiếp chất thải rắn trêncác lề đường gây ảnh hưởng tới giao thông
Các làng nghề CBLTTP có nhu cầu nhiên liệu rất cao, nên lượng xỉ than đổ
ra môi trường là rất lớn
Bảng 2.2: Nhu cầu nhiên liệu và lượng xỉ của một số ngành nghề chế biến
lương thực thực phẩm (đơn vị : tấn/năm)
Trang 13Bún Ninh Hồng 4.380 5.500 1.100
( Tổng cục môi trường, 2008)
Sản xuất tinh bột sắn, dong riềng tạo ra khối lượng lớn chất thải rắn bã thải
có độ ẩm cao và chiếm tới 50% nguyên liệu, chưa chủ yếu là xơ với 10%,tinh bột khoảng 4- 5% Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghềDương Liễu phát sinh tới 105.768 tấn bã thải, phần không nhỏ cuốn theonước thải gây bồi lắng hệ thống thu gom, các ao hồ trong khu vực và gây ônhiễm nghiêm trọng nước mặt, nước dưới đất Ngoài ra, việc đốt than làmnhiên liệu cũng tạo ra lượng lớn xỉ [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008]
2.2.1.Những tồn tại trong phát triển làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu tồn tại ở quy mô hộ gia đình
Qui mô sản hộ gia đình chủ yếu tận dụng mặt bằng tại nơi ở làm nơi sản xuấtnên diện tích còn chật hẹp, sự xen kẽ với khu vực sinh hoạt nên hoạt độngsản xuất khó phát triển
- Nếp sống của chủ sản xuất vẫn còn nét dân giã đã ảnh hưởng tới sản xuất làng nghề, tăng mức độ ô nhiễm môi trường
Nếp sống còn mang nét cổ truyền, xa xưa nên có phần bảo thủ chưa nhậnthức được tác hại của ô nhiễm, chỉ quan tâm tới lợi nhuận trước mắt Bêncạnh đo một số cơ sở sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi thế cạnhtranh, tăng lợi nhuận mà sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại.Không có sự đầu tư trang bị an toàn lao động, làm việc ở môi trường ônhiễm
- Quan hệ gia đình mang tính truyền thống gia đình, dòng tộc, làng xã
Các làng nghề chế biến truyền thống, sử dụng lao động có tính truyền thống
“cha truyền con nối ”, giữ bí mật trong dòng họ để có được sản phẩm thươnghiệu mang riêng mình nên cản trở về việc áp dụng các kỹ thuật mới, khôngkhuyến khích sáng tạo mang tính bảo vệ môi trường
Trang 14- Công nghệ sản xuất và thiết bị mang tính cổ truyền, còn lạc hậu, chắp vá
Công nghệ sản xuất còn cũ, lạc hậu chưa có sự đổi mới, kiến thức tay nghềkhông toàn diện Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề còn chủ yếu là thủ công,bán cơ khí, chưa có làng nghề nào áp dụng tự động hóa
- Vốn dầu tư cho các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn thấp, khó có điều kiện phát triển thay đổi công nghệ hiện đại thân thiện với môi trường
Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài,nguồn kinh phí hộ giađình tự cung tự cấp nên còn eo hẹp, khó có điều kiện để đầu tư, đổi mới cáctrang, thiết bị cho sản xuất lại càng không thể đầu tư cho xử lý môi trường
- Trình đô lao động chủ yếu là thủ công , văn hóa còn thấp, nhận thức trong việc bảo vệ môi trường còn chưa cao
Nhận thấy lao động có trình độ học vấn không cao, chủ yếu mới tốt nghiệpcấp I và cấp II (chiếm trên 60%) mặt khác có nguồn gốc nông dân nên chỉcần có công ăn việc làm ổn định, thu nhập cao hoặc bổ sung nguồn thu nhậptrong lúc nông nhàn nên ngại học hỏi, không quan tâm tới môi trường
- Giá trị kinh tế của sản phẩm còn chưa cao, sản xuất mang tính mùa vụ
CBLTTP mang tính mùa vụ chỉ sản xuất nguyên liệu theo mùa vụ nên việc
áp dụng các ký thuật công nghệ mới không được thực hiện, việc xử lý ônhiễm không được chú ý đến
2.2.2.Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam đến đời sống
Ảnh hưởng tới sức khỏe
Yếu tố gây bệnh tại các làng nghề này là bức xạ nhiệt, vi sinh vật gây bệnh,bụi, hơi hóa chất độc hại, đặc biệt là nước thải có chứa một lượng lớn chấthữu cơ, và mật độ vi khuẩn coliform cao, chính vì vậy các bệnh phổ biếnlàng nghề này là bệnh ngoài da, viên mạc, bệnh về đường hô hấp Theo kếtquả điều tra bệnh ngoài da chủ yếu là bệnh viêm quanh móng, nấm kẽ, nấmmóng, dày sừng gan bàn chân, viêm chân tóc, viêm nang lông
Trang 15Làng nghề chế biến lương thực xã Dương Liễu - Hà Tây: Bệnh hay gặp nhất
là toét chân tay chiếm 19,7%, ngoài da các bệnh về đường tieu hóa 1,62%chủ yếu là rối loạn tiêu hóa, đau bụng, bệnh hô hấp chiếm 9,43%, về mắtchiếm 0,86% Bệnh mãn tính thường gặp là bệnh tiêu hóa chiếm tỷ lệ caonhất 4,28% (bệnh về loét dạ dày tá tràng, sau đó là bệnh đại tràng)
Vào mùa mưa lụt lội thường xuất hiện các bệnh sốt xuất huyết, đau mắt đỏ,
đa mắt hột, viêm đường ruột, và một số dịch sốt không rõ nguyên nhân Ví dụlàng nghề bánh đa nem Vân Hà- Bắc Giang và làng nghề Phúc Lâm – BắcGiang Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da làng nghề Vân Hà 68,5%, bệnh đường ruột
là 58,8% Tại làng nghề Phúc Lâm, từ năm 2003 – 2005 cả thôn có 19 ca tửvong, trong đó có 13 trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo chủ yếu là ung thưphổi, bệnh về máu
Bên cạnh đó, viêc không đảm bảo an toàn lao động trong sản xuất đã dẫn tớicác tai nạn lao động đáng tiếc xảy ra Tại làng nghề Vũ Hội – Thái Bình tainạn trong sản xuất là 70% , tai nạn chủ yếu là bỏng
Kéo theo đó là tăng chi phí khám chữa bệnh, làm giảm năng suất lao động,mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau
Ảnh hưởng tới môi trường và nông nghiệp
Không những gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà nước thải , chất thảirắn gây ảnh hưởng nhỏ tới môi trường sống của sinh vật trong tự nhiên Nướcthải không xử lý đổ trực tiếp ra ao, kênh mương, sông gây ô nhiễm nước,chết các loài sinh vật, cá, tôm,ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản Hàm lượngchất hữu cơ lớn gây hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, nước có mầu đen và
có mùi hôi Việc đổ tràn lan bã thải tại bãi đất trống làm ảnh hưởng tới sinhvật sống trong đất đặc biệt các sinh vật có ích trong đất( giun đất), thay đổicấu trúc vật lý hóa học của đất, làm bạc màu, thoái hóa đất, ảnh hưởng tớitrồng trọt, giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng tới nông nghiệp Khí thải từ
Trang 16các lò nung gạch ngói, nung vôi thủ công làm giảm năng suất nông nghiệp,vườn tược xung quanh, nhất là trong thời kỳ ra hoa, kết quả.
Ô nhiễm môi trường làm giảm sức thu hút du lịch, giảm khách du lịch làngnghề dẫn tới các thiệt hại kinh tế
2.3.Hiện trạng công tác quản lý chất thải tại các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm của Việt Nam
2.3.1.Các văn bản có liên quan đến công tác quản lý chất thải làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
Hiện tại chưa có văn bản cụ thể nào đối với việc quản lý và xử lý chất thảilàng nghề chế biến lương thực thực phẩm, việc ban hành các văn bản được sửdụng chung cho các làng nghề trên cả nước hiện nay
2.3.1.1.Các văn bản cấp trung ương
Cùng với việc gia tăng phát triển cả về số lượng làng nghề và loại ngànhnghề, ô nhiễm môi trường cũng ngày càng tăng, nhiều nơi vượt quá tầm kiểmsoát của các cấp chính quyền Nhận thức được vấn đề đó, bảo vệ môi trườnglàng nghề đã được đề cập tại nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, ví dụ như:Điều 38 Luật BVMT năm 2005 đã quy định về BVMT làng nghề như sau:
“Việc quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn liềnBVNT; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thống kê, đánh giámức độ ô nhiễm của các làng nghề trên địa bàn và có kế hoạch giải quyết tìnhtrạng ô nhiễm môi trường của làng nghề; Cơ sở sản xuất trong các KCN,CCN và làng nghề phải thực hiện các yêu cầu về BVMT: xử lý nước thải; thugom và vận chuyển chất thải rắn; quản lý chất thải nguy hại và đóng góp kinhphí xây dựng kết cấu hạ tầng về BVMT, nộp đầy đủ các phí BVMT”
Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT: Đến nay, các văn bản hướngdẫn thực hiện Luật BVMT đã được xây dựng để áp dụng cho mọi đối tượngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không phân biệt nằm trong khu vực nông thôn,làng nghề, khu đô thị, công nghiệp hay các khu vực khác
Trang 17Các văn bản có liên quan:
Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định
số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghềnông thôn
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày20/12/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hộ trợphát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày07/07/2006 của Chính phủ trong đó có quy định một trong các nội dung đượchưởng hỗ trợ
Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làngnghề
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ TN&MTquy định về quản lý chất thải nguy hại
Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2030.Ngày 2/9/2012 Phó Thủ tường Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định
số 1206/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ônhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015: Chính phủ đã quyếtđịnh dành 5.863 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ônhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn 2012 – 2015 Trong đó, 2.420
tỷ đồng dành cho dự án khắc phục ô nhiễm ở 47 làng nghề (ngân sách trungương chi 1.420 tỷ đồng, ngân sách địa phương đóng góp 700 tỷ đồng, huy
Trang 18Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 27 tháng 01 năm 2011 của UBND thànhphố Hà Nội phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nộigiai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.
Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02 tháng 5 năm 2008 của UBNDthành phố Hà Nội ban hành “Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triểnnghề và làng nghề Hà Nội”
Quyết định 03/2008/QĐ- UBND ngày 16/1/2008 về quy định bảo vệ môitrường trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trong giải pháp giải quyết ô nhiễm môitrường các khu vực làng nghề
Quy chế BVMT làng nghề tỉnh Bắc Ninh và đề án giảm thiểu ô nhiễm môitrường làng nghề tỉnh Bắc Ninh
Quyết định 58/2006/ QĐ – UBND ngày 19/9/2006 về quy hoạch phát triểncông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, trong đó có quyhoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp- làng nghề tơi năm 2020
2.3.2.Các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý chất thải làng nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
Chức năng quản lý nhà nước về phát triển làng nghề có 2 bộ được Chính Phủ
phân công là Bộ NN&PTNT (Cục chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản
và Nghề Muối, và Bộ Công Thương (Cục công nghiệp địa phương ) quản lý cụng công nghiệp ở huyện và địa phương Quản lý môi trường tổng thể có Bộ TNMT (Tổng cục môi trường)
Nghị định số 66/2006/NĐCP quy định: Bộ NN &PTNT xây dựng quy hoạchtổng thể phát triển ngành nghề nông htoon tòn quốc từ nay đến năm 2020.Nghị định số 189/ 2007/ NĐCP ngày 27/ 12/ 2007 qui định : Bộ CôngThương”quản lý các cụm, điểm công nghiệp ở cấp huyện và các doanhnghiệp công nghiệp địa phương’’
Quyết định số 132/ 2008/ QĐ – TTG ngày 30/9/2008 quy định nhiệm vụ củaTổng cục môi trường (thuộc BTNMT ) về kiểm soát ô nhiễm “kiểm soát chất
Trang 19lượng môi trường tại các đô thị, nông thôn, miền núi, lưu vực sông và vùngven biển, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế,cụm công nghiệp, làng nghề theo qui định pháp luật.
Tình trạng chồng chéo trong quản lý, trách nhiệm trong vấn đề BVMT làngnghề giữa các Bộ/ngành và giữa Bộ/ngành với địa phương chưa được cụ thểhoá dẫn đến việc thiếu các hướng dẫn, định hướng và hỗ trợ trong sản xuấttại các làng nghề theo hướng thân thiện môi trường Thiếu sự phối hợp chặtchẽ từ cấp Trung ương tới địa phương nên các giải pháp phòng ngừa, xử lý ônhiễm cũng như BVMT làng nghề khó thực thi và đạt hiệu quả mong muốntới cấp cơ sở
2.4.Hiện trạng công tác xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề.
2.4.1.Tổng quan hệ thống xử lý nước thải tập trung tại làng nghề chế biến nông sản thực phẩm
- Đặc điểm của nước thải làng nghề chế biến lương thực là thường chứa cáctạp chất hữu cơ ở dạng hòa tan hoặc lơ lửng, trong đó chủ yếu là các hợp chấthydrat cácbon như tinh bột, đường, các loại axit hữu cơ (lactic) có khả năngphân hủy sinh học Bằng phương pháp sinh học có thể xử lý nước thải làngnghề chế biến lương thực thực phẩm đạt qui chuẩn và được phép xả thải vàodòng thải chung
Trên thực tế 1 số làng nghề đã áp dụng các biện pháp xử lý sinh học với nha
Vì vậy hạn chế được nhược điểm của từng biện pháp riêng lẻ mà đạt tiêuchuẩn qui định
Hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước
Trang 20Hình 2.4: Hệ thống xử lý bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước
- Nước thải sẽ được lắng sơ bộ ở bể lắng (1) trước khi bơm vào cột kỵkhí
- Cột kỵ khí: nước thải sẽ từ từ dâng lên ngập lớp vật liệu lọc và tiếp xúcvới lớp vật liệu lọc mang vi sinh vật kị khí, các tạp chất hữu cơ có trong nướcthải sẽ bị phân hủy, phần bùn cặn được lắng xuống đáy cột
- Cột lọc hiếu khí từ phía dưới lên theo nguyên tắc bình thông nhau Ởđây nước thải được trộn với dòng không khí thổi cùng chiều từ dưới lên bởimáy thổi khí qua dàn phân phối khí Khi đó quá trình phân hủy sinh học hiếukhí các tạp chất hữu cơ xảy ra, phần bùn được lắng xuống đáy cột
- Nếu chưa đạt các chỉ tiêu cho phép của nước thải công nghiệp theo tiêuchuẩn Việt Nam (TCVN 5945 - 1995) thì lại cho chảy tuần hoàn trở lại qua(2) cột lọc kị khí và hiếu khí như trên cho đến khi đạt tiêu chuẩn cho phép vềnước thải công nghiệp
Bảng 2.3: Kết quả xử lý nước thải sản xuất bún bằng
phương pháp lọc sinh học:
Trang 22Hình 2.5: Mô hình xử lý nước thải bằng bể lọc kị khí
kết hợp đĩa quay sinh học.
+ Mô hình bể lọc kị khí
- Vật liệu lọc: xỉ than là vật liệu được lựa chọn trong quá trình nghiên cứu
- Mô hình bể lọc kị khí: cấu tạo của bể lọc kị khí là thùng nhựa dung tích
V = 50 lít được đậy kín, bên trong chứa vật liệu lọc, bên dưới có một tấm đỡvật liệu lọc Nước thải được đi vào bể lọc kị khí theo đường ống dẫn từ trên
bể cao vị xuống Nước thải sau khi được lọc tại bể kị khí được dẫn sang bểđĩa quay sinh học theo đường ống dẫn phía dưới đáy của bể kị khí
+ Mô hình thiết bị đĩa quay sinh học
- Các đĩa quay sinh học: diện tích bề mặt lớn và độ nhám để vi sinh vật có thểbám dính trong quá trình phân hủy chất hữu cơ
- Trục quay: các đĩa được lắp trên trục quay
- Bể xử lý: làm bằng tôn được sơn chống gỉ, với dung tích 60lít
- Hệ thống động cơ: động cơ được sử dụng trong mô hình là động cơ giảmtốc Hệ thống bánh đai truyền động được sử dụng để giảm giảm tốc độ xuốngkhoảng 3 vòng/phút (tỉ lệ khoảng 1:5)
NH4+ lần lượt là 97.48; 91.35 và 92.33% Nước thải sản xuất bún sau khi xử
lý 2 giai đoạn kết hợp thì các chỉ tiêu SS và NH4+ đạt tiêu chuẩn nước thảicông nghiệp loại A, chỉ tiêu COD đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại
B theo QCVN 40/2011-BTNMT
Ưu điểm:
- Tự động vận hành không yêu cầu lao động có trình độ cao
Trang 23- Không gây mùi, thiết kế theo đơn nguyên.
- Tiết kiệm sử dụng mặt bằng, không yêu cầu tuần hoàn bùn
- Thiết bị làm việc đạt hiêu quả xử lý chất hữu cơ trên 90%, chất dinh dưỡng
N, P đạt 35%
- Không yêu cầu cấp khí cưỡng bức
- Hoạt động ổn định, ít nhạy cảm với sự biến đổi lưu lượng đột ngột và tácnhân độc với sinh vật
- Thời gian xử lý diễn ra nhanh hơn, các chất ô nhiễm được phân hủy triệt để,
có thể xử lý được một khối lượng lớn nước thải với nồng độ chất ô nhiễm caoNhược điểm:
- Chi phí xây dựng, lắp đặt thiết bị và vận hành cao
2.4.2.Đánh giá công tác xử lý nước thải làng nghề chế biến nông sản thực phẩm
- Dù trong những năm gần đây môi trường làng nghề được nhiều nghiên cứukhoa học quan tâm, nhiều ban, bộ ngành, đã có những hướng nghiên cứu,chuyển giao kỹ thuật và một số biện pháp mở rông trong xử lý ô chất thảilàng nghề nhưng các công nghệ xử lý nước thải tại các làng nghề còn phụthuộc vào từng loại, qui mô sản xuất, điều kiện củ vùng sản xuất mà áp dụng.Việc áp dụng công nghệ xử lý nước thải ở các làng nghề còn gặp nhiều khókhăn :
- Hầu hết các cơ sở sản xuất đều ở qui mô hộ gia đình, sản xuất nhỏ lẻ manhmún không tập trung, xen kẽ với các khu dân cư nên việc xử lý gặp nhiều khókhăn
- Lực lượng cán bộ môi trường còn chưa có kinh nghiệm và trình độ Theo sốliệu, BTN và MT có khoẳng 1200 công chức, trong đó có 8% là trình độ tiến
sỹ, 23% thạc sỹ, 61% đại học Độ ngũ công chức ngành MT khoẳng 34.000,trung cấp chuyên nghiệp chiếm 48,1%, đại học và sau đại học là 15%, chưaqua đào tạo 26,1%
Trang 24- Các hệ thống xử lý đều đắt tiền, chi phí vận hành cao, đòi hỏi trình độ, việcxây dựng lại khó khăn nên không có nguồn kinh phí xây dựng, hơn nữa một
số công nghệ xử lý không hiệu quả cao mà đắt đỏ
- Các biện pháp xử lý chỉ mang tính tạm thời, không xử lý triệt để
2.5.Tổng quan về môi trường làng nghề truyền thống tỉnh Hưng Yên
2.5.1.Tình hình phát triển các làng nghề truyền thống tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên với tổng số 66 làng nghề trong đó UBND tỉnh ra quyết định côngnhận đạt tiêu chuẩn làng nghề là 32, 2 làng nghề được UBND tỉnh công nhận
là ngừng hoạt động [báo cáo môi trường tỉnh hưng yên, 2012]
Các làng nghề ở hưng yên sản xuất các loại sản phẩm khác nhau được phântheo bốn nhóm : làng nghề chế biến nông lâm thủy sản với 21 làng nghề tậptrung ở các huyện Văn Lâm, Tiên Lữ, Khoái Châu Nghề sản xuất vật liệuxây dựng, cơ khí nhỏ dệt may, với 9 làng nghề tập trung Văn Lâm, Phù Cừ,Yên Mỹ Sản xuất thủ công mỹ nghệ có 25 làng nghề tập trung ở KhoáiChâu, Tiên Lữ , Mỹ Hào Còn lại là làng nghề vận tải và các dịch vụ khác[ báo Nhân Dân - 2014] Một số làng nghề sản phẩm đã có thương hiệu lớntrên thị trường được tiêu thụ rộng : tương Bần, long Nhãn, hương thônCao Một số làng nghề trên địa bàn huyện Khoái Châu như chế biến mứt táo,quất, long nhãn ở Bình Minh , thêu ren ở Bình Kiều chưa được công nhậnnhưng hoạt động ổn định và có hiệu quả kinh tế cao, giải quyết công ăn việclàm cho hàng trăm lao động
Giá trị sản phẩm của làng nghề khá cao so với giá trị sản phẩm nông nghiệp.Theo báo cáo của huyện khoái châu giá trị sản xuất trên 53 tỷ đồng, giảiquyết trên 2000 lao động, tạo thu nhập 2 triệu đồng/ tháng
Tuy nhiên nhiều làng nghề ở Hưng Yên đang gặp khó khăn về mặt bằng sảnxuất, ô nhiễm môi trường
Trang 252.5.2.Thực trạng môi trường làng nghề chế biến lương thực thực phẩm tỉnh Hưng Yên
Vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởngrất lớn đến môi trường sinh thái sức khỏe và đời sống của nhân dân Các cơ
sở sản xuất trong làng nghề hầu như chưa có hệ thống xử lý nước thải, khíthải và thu gom, xử lý chất thải rắn; nên xuất hiện tình trạng nước thải chưaqua xử lý thải thẳng ra ao hồ, kênh mương xung quanh; chất thải rắn đổ trànlan, không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường và cảnh quan nôngthôn Trong những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước, UBND tỉnhHưng Yên đã đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp, khuyến khích di dời cáclàng nghề vào các khu công nghiệp để tập trung phát triển bền vững, giảm tácđộng của các làng nghề tới môi trường và con người
Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm Xuân Lôi, Đình Dù Kết quảbáocáo cho thấy,trong môi trường nước Coliform vượt TCCP xấp xỉ 1,4 lần;TDS vượt 8,0 lần; BOD5 vượt 1,3 lần; COD vượt 1,2 lần Kết quả phân tíchchất lượng môi trường không khí làng nghề chế biến lương thực Xuân Lôi
có hàm lượng khí NO2- vượt quá giới hạn cho phép xấp xỉ 3 lần, hàm lượngbụi PM10 vượt 1,4 lần
2.5.3.Những tồn tại cần giải quyết trong công tác quản lý chất thải làng nghề chế biến lương thực thực phẩm tại tỉnh Hưng Yên
- Nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động quản lý làng nghề còn hạn chế, nhất là
trong đầu tư nguyên liệu máy móc sản xuất và các công trình xử lý bảo vệmôi trường
- Chuyển dịch lao động nông thôn vào các khu công nghiệp nên chưa có taynghề cao, kỹ thuật công nghệ đang sử dụng tại các làng nghề còn cổ truyền ,mức độ cơ giới hóa thấp
Trang 26- Năng lực kinh nghiệm trong quản lý sản xuất, kinh doanh của các chủ hộ,
cơ sở sản xuất, trình độ ý thức, tay nghề của người lao động trong các làngnghề còn hạn chế
- Môi trường một số làng nghề đang bị ô nhiễm do sự tự phát triển và sửdụng những công nghệ sản xuất lạc hậu Bên cạnh đó nguồn chất thải vànước thải ra trong quá trình sản xuất hầu như không được qua xử lý, có tìnhtrạng ô nhiễm nặng nề ở một số khu vực sản xuất tập trung dân cư
- Chi phí cho sự khắc phục ô nhiễm làng nghề là một vấn đề đặt ra, các cơ sởsản xuất thủ công, cơ khí lạc hậu và trình độ khoa học công nghệ thấp sẽ dẫntới ô nhiễm môi trường, chi phí khắc phục là khá tốn kém, làm tăng giá thành
và giảm khả năng cạnh tranh
Trang 27PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng nước thải sản xuất chế biến củ dong trên địa bàn xã Tứ Dân –Khoái Châu –Hưng Yên
3.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Làng nghề chế biến bột dong xã Tứ Dân huyện KhoáiChâu tỉnh Hưng Yên
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: 1/1/2015 – 30/5/2015
- Giới hạn nội dung: Nước thải sản xuất củ dong tại làng nghề
3.3.Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, tài nguyên thiênnhiên
- Đặc điểm kinh tế – xã hội: Thu nhập và cơ cấu kinh tế, dân số và lao động,giao thông, y tế và giáo dục, công tác thông tin tuyên truyền
- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý rácthải sinh hoạt trên địa bàn xã Tứ Dân
3.3.2 Đặc trưng hoạt động sản xuất của làng nghề truyền thống chế biến dong riềng xã Tứ Dân
- Đặc điểm về qui mô và qui trình sản xuất của các hộ gia đình chế biến bộtdong trên địa bàn xã
- Đặc điểm chung hoạt động của làng nghề chế biến bột dong riềng trên địabàn xã
3.3.3.Đánh giá hiện trạng quản lý nước thải sản xuất tại xã Tứ Dân
- Hiện trạng phát sinh nước thải và khối lượng trong hoạt động sản xuất
- Hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề
Trang 28- Hiện trạng về công tác quản lý của các cán bộ thôn, xã với các hoạt độngsản xuất.
- Ảnh hưởng của sản xuất tới đời sống con người và môi trường
3.3.4 Đề xuất biện pháp bảo vệ cải thiện môi trường làng nghề.
- Những tồn tại trong sản xuất và công tác quản lý, xử lý nước thải của các
hộ sản xuất và cán bộ môi trường thôn
- Đề xuất các giải pháp thực hiện trong quá trình sản xuất và quản lý của cán
bộ thôn
- Mức độ khả thi của các biện pháp với từng giải pháp
3.4.Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan tại:
Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Khoái Châu , UBND xã Tứ Dân Thu thập và thống kê các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước liên quantới quản lý môi trường làng nghề bằng mạng internet nhằm:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tứ Dân
- Tìm hiểu những đặc trưng, qui mô trong sản xuất của làng nghề
- Công tác quản lý, xử lý nước thải sản xuất của làng nghề
3.4.2.Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành các cuộc khảo sát kỹ lưỡng trên địa bàn làng nghề chế biến bộtdong Tứ Dân và các hộ sản xuất chế biến bột dong nhằm quan sát quá trìnhsản xuất, phát hiện các nguồn phát sinh nước thải, ghi chép và đo đạc cácnguồn nước thải
Trong quá trình khảo sát kết hợp chụp ảnh, thu thập thông tin để làm tư liệuviết báo cáo
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Trang 29- Cán bộ làng nghề:
Tiền hành lập phiếu điều tra phỏng vấn đối với cán bộ làng nghề nhằmthu thập các thông tin tổng hợp về tình hình sản xuất, quản lý rác thải tại làngnghề, được tiến hành phỏng vấn 3 cán bộ môi trường xã
- Hộ sản xuất:
Tiến hành lập phiếu điều tra phỏng vấn đối với các hộ sản xuất nhằmthu thập các thông tin về quy trình sản xuất, mức độ tiêu thụ nước, quá trìnhphát sinh nước thải và đặc điểm nước thải chế chế biến bột dong riềng Quátrình điều tra được tiến hành với 29 hộ tham gia sản xuất tại làng nghề Quátrình đo lưu lượng xả thải được tiến hành đo ở 3 hộ tham gia sản xuất
3.4.3.Phương pháp lấy mẫu và phân tích
- Phương pháp lấy mẫu:
Mẫu nước thải theo từng công đoạn
M1 - công đoạn rửa
M2 - công đoạn khoắng bột
M3 - công đoạn lắng bột
M4 - công đoạn rửa tinh bột
Mẫu nước mặt tại các vị trí :
Trang 30Hình 3.1 : Sơ đồ lấy mẫu nước mặt tại làng nghề xã Tứ Dân
mẫu
Ký hiệumẫu
2 Mương chứa nước thải tập trung của xóm
Đường
3 Trước ao nhà ông Văn Khắc Hiếu 20/3/2015 M3
4 Trước điểm xả tập trung của các hộ sản
xuất ven kênh
5 Tại điểm xả tập trung của các hộ sản xuất
gần ven kênh
6 Sau điểm xả tập trung của các hộ sản
xuất ven kênh
Trang 31Lấy mẫu hỗn hợp ngẫu nhiên ở 5 vị trí ở độ sâu 20 cm, và mỗi mẫu đơn cách nhau 5m Trộn mẫu lấy ở 5 vị trí vào được 1 mẫu tổ hợp đại diện cho giá trị trung bình của thành phần nước.
Mẫu M1 lấy gần khu sản xuất, mẫu M2 lấy xa khu sản xuất Đánh giá mức
độ tác động ảnh hưởng của sản xuất với môi trường nước mặt là có hay không và ảnh hưởng mức độ nào
Mẫu M4, M5, M6: Mẫu lấy xác định ảnh hưởng của nước thải làng nghề tới diễn biến môi trường nước tại kênh dẫn nước
- Phương pháp phân tích:
Các thông số còn lại được phân tích trong phòng thí nghiệm bộ môn Hóa Họccủa Học Viện Nông Nghệp Việt Nam, theo các thủ tục quy định hiện hànhtheo bảng 1:
Bảng 3.1: Các phương pháp phân tích chất lương nước:
STT Thông số Phương pháp phân tích
1 pH Phương pháp đo pH bằng máy đo pH meter
2 DO Phương pháp đo DO bằng máy đo DO meter
Trang 323.4.5.Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Số liệu của đề tài được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel
Trang 33PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1.Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Tứ Dân là xã phía tây nằm ở phía tây huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên,Việt Nam và nằm triền đê tả ngạn sông hồng thuộc huyện Khoái Châu tỉnhHưng Yên Việt Nam.Tứ Dân cách trung tâm thủ đô Hà Nội 22 km về phíaĐông Nam,cách thành phố Hưng Yên 30 km về phía Tây Bắc, cách thị trấnKhoái Châu 6,5 km về phía tây Vị trí địa lý của xã Tứ Dân rất thuận lợi choviệc buôn bán, giao thương với các trung tâm kinh tế xã hội lớn
Hình 4.1 Sơ đồ xã Tứ Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng yên
- Phía Đông Bắc giáp xã Hàm Tử
- Phía Tây và Tây Bắc giáp các xã Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội
- Phía Đông Nam và Nam giáp xã Đông Kết
Trang 34- Phía Tây Nam giáp xã Tân Châu
Điểm Trung tâm xã Tứ Dân - Trường Trung Học Cơ Sở Xã Tứ Dân
Địa hình
Tứ dân có địa hình khá phức tạp, cao thấp xen kẽ nhau dốc dần từ dải caoven bồi xuống vùng trũng ven đê Vùng nội đồng nhìn chung có hướng dốctheo hướng từ bắc xuống nam và tây sang đông Thôn nằm ngoài đê : NămMẫu, còn lại nằm trong đê sông Hồng Tứ Dân là điểm đầu của hệ thống bồiven sông Hồng của huyện Khoái Châu qua các xã Tân Châu, Đông Ninh, ĐạiTập và một phần xã Chí Dân Tứ Dân có 3km tuyến bồi ven sông ngăn nướcbảo vệ các xã trông đê và bãi trồng trọt
Khí Hậu
Tứ Dân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõrệt (xuân, hạ, thu, đông) Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàngnăm.Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.450 – 1.650 mm
- Nhiệt độ trung bình: 23,2°C
- Số giờ nắng trong năm: 1.519 giờ
- Độ ẩm tương đối trung bình: 85 – 87%
Tình hình sử dụng đất đai trồng trọt của xã Tứ Dân
Tổng diện tích gieo trồng của cả năm xã là 1.182 mẫu ( bằng 1,26 lần diệntích canh tác ) trong đó diện tích gieo trồng vụ mùa là 941 mẫu, diện tích vụđông là 241 mẫu Diện tích củ dong hiện chỉ còn 12% tổng diện tích canh tác
Trang 35Bảng 4.1 phân tích số liệu lĩnh vực trồng trọt
TT Loại cây trồng Năng suất Giá tiền Diện tích Thành tiền
Nguồn: UBND xã Tứ Dân, 2014 4.1.2.Đặc điểm kinh tế xã hội
Tình hình biến động dân số xã tứ dân
Bảng 4.2: Tình hình biến dộng dân số Tứ Dân ( Nguồn: UBND xã )
Trang 36 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Bảng 4.3: Cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt và sản xuất của xã
ĐVT Số lượng ĐVT Số lượng
I Giao thông
2 Đường liên thôn xã Km 3,4
II Công trình lưới điện
2 Đường dây cao thế Km 3,4
3 Đường dây hạ thế Km 10
III Công trình thủy lợi
Hệ thông kênh mương Km 5,7
IV Công trình phúc lợi
Trang 373 Nhà trẻ – mẫu giáo Chiếc 6 Phòng 7
V Thông tin liên lạc
Loa truyền thanh cái 36
Nguồn : UBND xã Tứ Dân, 2014
Toàn xã có 5 biến cung cấp điện cho các hoạt động dân sinh kinh tế khác.Trên 100% dân số trong xã dùng nước giếng khoan Tứ Dân có đường bộ,đường sông, đường đê, trong đó đường đê 195 và đường liên xã và các dốcMạn Xuyên, Mạn Trù, Phương Trù, Xóm Đường Xã Tứ Dân có một đoạn đê
195 sông Hồng dài gần 4 km đi qua trên đoạn Km 93 đến Km 98 từ đoạn tiếpgiáp xã Hàm Tử đến Đông Kết 100% số thôn trong xã có đường rải bằng vậtliệu cứng đảm bảo ô tô đi vào trung tâm xã Tứ Dân nằm giữa 2 cảng đườngsông Vạn Điểm và Hồng Vân của Thường Tín của thủ đô Hà Nội Bến đòvận chuyển khách và các phương tiện giao thông sang bến Chương Dương vàbến Lê Lợi thuộc huyện Thường Tín - Hà Nội
Nhận xét chung:
Qua bảng (4.2) ta thấy các hộ nông nghiệp có xu hướng giảm qua cácnăm trái ngược lại hộ phi nông nghiệp Hộ nông nghiệp giảm nhưng nhânkhẩu nông nghiệp và phi nông nghiệp đều tăng qua các năm Xu hướng biếnđộng này ảnh hưởng một phần tới nông nghiệp, cây nông sản (củ dong) vàlao động nông nghiệp
Các đường trong xã và liên tỉnh đa số được dải nhựa, thuận lợi chogiao thông đi lại buôn bán sản phẩm tinh bột dong của làng nghề
Trang 38 Các công trình điện lưới đảm bảo cung cấp điện đầy đủ cho hoạt độngsản xuất của các hộ sản xuất.
Hệ thống thủy lợi có vai trò quan trọng với làng nghề, đảm bảo sự lưuthông dòng chảy, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu nông nghiệp và chất lượngmôi trường nước
Sự nghiệp giáo dục mang lại cho con người văn hóa và đạo đức, vì vậy
có thể gáp dụng giảng dạy ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinhngay trên ghế nhà trường
Các trung tâm y tế có trách nhiệm về sức khỏe của người dân, có thểtuyên truyền được những vấn đề gặp phải về sức khỏe trong quá trình sảnxuất của làng nghề
Nhà văn hóa và loa truyền thanh là công cụ tuyên truyền, truyền thôngcông cộng hữu hiệu nhất trong quá trình sản xuất thông qua các buổi sinhhoạt cộng đồng hay các chương trình phát thanh xã
Bảng 4.4 :Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Tứ Dân
hoạch năm 1-Thu nhập bình quân đầu
Trang 39Tổng thu nhập kinh tế quốc dân xã
7- Tiểu thủ công nghệp Đồng 62.031.000.000 Đạt 120,31 % 8- Thương mại dịch vụ Đồng 73.826.000.000 Đạt 122,21% 9- Lương hưu, trợ cấp xã
hôi, BHYT
Đồng 17.028.755.000 Đạt 94,7%
Tổng thu nhập quốc dân 270.494.255.000 Đạt 105,67 %
Nguồn: UBND xã Tứ Dân, 2014
***Kết quả sản xuất kinh doanh
Cơ cấu kinh tế chia theo các ngành:
- Nông nghiệp chiếm 28,67%
- Tiểu thủ công nghiệp 25,69%
- Dịch vụ - thương mại 30,74%
=> Cơ cấu kinh tế khá đồng đều, nông nghiệp và thủ công nghiệp vẫnchiếm tỷ trọng khá lớn Kinh tế có bắt đầu bước chuyển biến sangthương mại dịch vụ khi thương mại dịch vụ vẫn cao hơn
4.2.Tình hình sản xuất của làng nghề
4.2.1 Qui mô sản xuất
Trong những năm gần đây diện tích trồng củ dong có xu hướng giảm mạnh
do chính sách của UBND xã, sản lượng cung cấp cho hoạt động sản xuấtkhông lớn, khiến các hộ sản xuất gián đoạn không liên tục
Trang 40Bảng 4.5 Diện tích và sản lượng củ dong qua các năm
Năm 2009 Năm 2011 Năm 2014
Dây buộc, bao
Nước Thải
Rửa ( Máy rửa 2 lồng)
Nghiền –sát (máy nghiền)
Khoắng, tách bã (Máy khoắng tinh bột)