1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

36 630 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.... phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU

B PHẦN NỘI DUNG I Cơ sở lý luận

1 Các khái niệm

2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

II Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử

2 Việt Nam trong thời kỳ đầu đi lên chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986)

3 Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nước ta từ sau công cuộc đổi mới (1986) đến nay

3.1 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

3.2 Nội dung đường lối đổi mới của Đảng

3.3 Những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được

3.3.1 Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm có tốc độ cao

3.3.2 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ

3.3.3 Kiềm chế và đẩy lùi được lạm phát

3.3.4 Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh

3.3.5 Đời sống nhân dân được cải thiện

3.4 Những vấn đề còn tồn tại

3.5 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020

C PHẦN KẾT LUẬN

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra củacải vật chất mà trình độ phát triển của nó được biểu hiện chính bởi phương thức sảnxuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Từ khi con người mới xuất hiện trên hànhtinh đã trải qua năm phương thức sản xuất Đó là: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu

nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa Tư duy nhận thức của con ngườikhông dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, từ

đó kéo theo sự thay đổi phát triển trong sản xuất Lịch sử phát triển của sản xuấttrong xã hội loài người là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếpnhau Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sảnxuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất tương ứng với

nó Phương thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là động lực thúc đẩy và quyđinh mọi mặt của đời sống xã hội Không thể thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tếnếu không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có những biện pháp tối ưu tácđộng nhằm hoàn thiện phương thức sản xuất mà cụ thể chính là hoàn thiện mối quan

hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sảnxuất đã được Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng lựclượng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và ngược lại, có thểthúc đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Xã hội ngày càng pháttriển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là không thể táchrời, đây là quy luật chung của sự phát triển và là một trong những quy luật quan trọngquy định sự tồn tại, phát triển và tiến bộ xã hội Chính vì thế mà không phải ngẫunhiên việc nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ

Trang 3

phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của côngcuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành hôm nay.

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn pháttriển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, do

đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó cũng có những điểm khác

so với trước đây

Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của chủnghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến những thấtbại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô và các nước Đông

Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã dẫn đến tụt hậu về kinh tế

và khủng hoảng về chính trị

Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnhvực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đồngthời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá;trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chínhtrị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm

Thực tiễn hơn 20 năm đổi mớỉ nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhậntính đúng đắn của những quan điểm nêu trên Đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng

đã khẳng định “xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tưduy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chinhs sách đối nội đối ngoại.Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác”

Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về nhiệm vụ xây dựng CNXH trong

thời kỳ quá độ lên CNXH, tôi đã lựa chọn đề tài: "Vận dụng qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Trang 4

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với trithức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong cácyếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng làlực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dungkhái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn Các cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm chonăng suất lao động tăng lên gấp bội Năng suất lao động được xem như là tiêu chíquan trọng trọng nhất để đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và suycho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này đối vớimột trật tự xã hội khác

Trang 5

có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên vàmới có sản xuất.

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệgiữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người vớicon người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

- Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với conngười trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động chonhau

- Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con ngườitrong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác độngqua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyếtđịnh Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó

là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết địnhtính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giai cấp, tầnglớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vìbuộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng cótác động trở lại quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ

ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinhtế

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủquan của con người Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất

Trang 6

c) Phương thức sản xuất:

Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vậtchất (tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại và phát triểncủa xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xãhội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thứcsản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lựclượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

2 - Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

a) Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất:

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biệnchứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội)

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổiquan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi

đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phùhợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạngthái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất.Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cholực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết

Trang 7

hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sảnxuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm choquan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lựclượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sảnxuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triểnlực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sảnxuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lựclượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sảnxuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới

do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cáchgiả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sảnxuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển

Trang 8

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thaythế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếmhữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tươnglai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.

II Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế đang thực hiện nhữngcuộc cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế đó là việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựngquan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa, từng bước chuyểnnền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất nhỏ là chủ yếu lên nền kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế quá độ, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo vàcùng với kinh tế hợp tác làm nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốcdân theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện vai trò ấy, theo Nghị quyết Đạihội VIII, kinh tế nhà nước phải được tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả, nắmvững những vị trí then chốt, những lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế như kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sảnxuất và thương mại, dịch vụ quan trọng Các doanh nghiệp nhà nước phải có quy môvừa và lớn, phát huy được ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ, tạo nguồn thulớn cho ngân sách nhà nước

Trang 9

Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nướcthể hiện ở chỗ “làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn

đề xã hội, mở đường, hướng dẫn , hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển;làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô,tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”

1 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử

Từ khi hoà bình được lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta đã bước vào thời

kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Đặc điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạchậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bảnchủ nghĩa”

Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thốngnhất, cách mạng dân tộc - dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cảnước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng tanói rõ hơn thực trạng kinh tế và chính trị của đất nước: “Nước ta quá độ lên chủnghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến,lực lượng sản xuất rất thấp Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả đểlại còn nặng nề, những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều Các thế lực thù địchthường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc củanhân dân ta”

Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủnghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rấtphát triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao nhưng vẫncòn cần phải cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá mới

Trang 10

Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn,thời kỳ quá độ có thể diễn ra ngắn hơn Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạchậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải quamột thời kỳ quá độ lâu dài.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

là một thời lỳ lịch sử mà: “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựngnền tảng vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,…tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, cócông nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá, khoa học tiên tiến Trong quá trìnhcách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nềnkinh tế mới, mà trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”

Tuy vậy, sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bằng sự

nỗ lực sáng tạo của quần chúng, các ngành, các cấp, chúng ta đã vượt qua đượckhủng hoảng, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt động thựctiễn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị ổnđịnh, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tậndụng nguồn vốn và công nghệ, phát huy nội lực đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá; bộ mặt kinh tế - xã hội thay da đổi thịt hàng ngày, đời sống nhân dânđược cải thiện rõ rệt

Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõithuộc về đường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa

Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chínhsách: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý điều tiết của nhà nước

Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, gắn liền với xây dựng quan hệ sảnxuất mới cho phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối

Trang 11

2 Việt Nam trong thời kì đầu đi lên chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986)

Sau 30/4/1975 nước ta hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã đạt đượcnhiều thành tựu trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh Tuy nhiên nền kinh tếnước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc.Trang bị kỹ thuật và kết cấu xã hội yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cơ cấu kinh

tế tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề Nền kinh tế kém hiệuquả, năng suất lao động thấp, khủng hoảnh kinh tế kéo dài, các tệ nạn tham nhũng lan rộng Đảng cộng sản còn yếu kém trong việc quản lý và xây dựng nền kinh tế - xãhội mới, đội ngũ cán bộ còn yếu về năng lực, các thế lực đế quốc và phản động ráoriết thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình, phá hoại và bao vây kinh tế Nếp sốngvăn hoá, đạo đức bị xói mòn, lòng tin vào Đảng và nhà nước bị giảm sút

Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng trên phạm vi

cả nước Mặc dù có nỗ lực rất lớn trong xây dựng và phát triển kinh tế, Nhà nước đãđầu tư khá lớn nhưng vì trong chính sách có nhiều điểm duy ý chí nên trong 5 nămđầu (1976 - 1980) tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp chỉ đạt 0,4%/năm (kế hoạch

là 13 - 14%/năm) thậm chí có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng hoảng Biểu hiện

ở các mặt:

 Kinh tế tăng trưởng chậm, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần thứhai và ba không đạt được Tất cả 15 chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho năm 1976 - 1980 đềukhông đạt được, thậm chí tỉ lệ hoàn thành còn ở mức rất thấp Chỉ có 7 chỉ tiêu đạt 50

- 80% so với kế hoạch (điện, cơ khí, khai hoang, lương thực, chăn nuôi lợn, than, nhàở) còn 8 chỉ tiêu khác chỉ đạt 25 - 48% (trồng rừng, gỗ tròn, vải lụa, cá biẻn, giấy, ximăng, phân hoá học, thép)

 Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế Quốc dân còn yếu kém, thiếuđồng bộ, cũ nát, trình độ nói chung còn lạc hậu (phổ biến là trình độ kỹ thuật củanhững năm 1960 trở về trước) lại chỉ phát huy được công suất ở mức 50% là phổ biến

Trang 12

công nghiệp nặng còn xa mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu; công nghiệp nhẹ bịphụ thuộc 70 - 80% nguyên liệu nhập khẩu Do đó đa bộ phận lao động vẫn là laođộng thủ công, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ Phân công lao động xã hội kémphát triển, năng suất lao động xã hội rất thấp.

 Cơ cấu kinh tế chậm thay đổi, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng Sảnxuất phát triển chậm, không tương xứng vưói sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra Sảnxuất không đủ tiêu dùng, làm không đủ ăn, phải dựa vào nguồn bên nogài ngày cànglớn Toàn bộ qũy tích luỹ (rất nhỏ bé) và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồnnước ngoài (riêng lương thực phải nhập 5,6 triệu tấn trong thời gian 1976 - 1980.Năm 1985 nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỉ Rup - USD cái hố ngăn cách giữa nhu cầuvànăng lực sản xuất ngày càng sâu

 Phân phối lưu thông bị rối ren Thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định.Ngân sách Nhà nước liên tục bị bội chi và ngày càng lớn năm 1980 là 18,1%, 1985 là36,6% dẫn đến bội chi tiền mặt Năm 1976, trên phạm vi cả nước, lạm phát đã xuấthiện và ngày càng nghiêm trọng giá cả tăng nhanh Đời sống nhân dân ngày càng khókhăn, do đó tiêu cực và bất công xã hội tăng lên Trật tự xã hội bị giảm sút Nhữngđiều đó chứng tỏ trong giai đoạn này nước ta bị khủng hoảng kinh tế chính trị, xã hội

Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả của nhiềunăm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, viphạm các quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong tién hành côngnghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh tế đặc biệt là không có sự phù hợp giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất Chúng ta đã quên mất điều cơ bản là nước ta quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa Chúng ta đã thiết lậpchế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể Đồng nhấtchế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thểhoá Chúng ta đã ra sức vận động gần như cưỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở

Trang 13

rộng phát triển quy mô nông trường quốc doanh, các nhà máy, xí nghiệp lớn màkhông tính đến trình độ lực lượng sản xuất đang còn thời kỳ quá thấp kém Chúng ta

đã tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận là đã có “quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”

và còn nói rằng: mỗi bước cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuấtmới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng sản xuất mới Quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa có khả năng “vượt trước” “mở đường” cho sự phát triển củalực lượng sản xuất Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh quan điểm đó là sai lầmbởi quan hệ sản xuất bị thúc đẩy lên quá cao, quá xa một cách giả tạo đã làm cho nótách rời với trình độ thấp kém của lực lượng sản xuất

Phải thấy rằng quan hệ sở hữu thể hiện trong việc xoá bỏ tất cả chế

độ tư hữu, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn làxong Nhưng dẫu có làm được thì cũng không phải là mục tiêu trước mắt của nước takhi mà chế độ công hữu này chưa thể phù hợp với lực lượng sản xuất hiện có Chúng

ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã phát hiện ra mâuthuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủnghĩa Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sựvận động phát triển của xã hội tư bản Từ đó các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế

độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu Việc thay thế ấy, theoquan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trìnhlâu dài Tuy nhiên lúc đó các ông vẫn chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.Sau đó, khi vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mac và Ăng-ghen vào điềukiện cụ thể của nước Nga, V.I.Lenin cũng khẳng định con đường tiến lên chủ nghĩa

xã hội đối với các nước lạc hậu chưa qua tư bản phải trải qua nhiều khâu trung gian,nhiều bước quá độ khác nhau Ông đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vộimuốn xác lập ngay chế độ công hữu, khi mà những thành phần kinh tế khác vẫn cònnhiều khả năng góp phần làm cho sản xuất phát triển Chúng ta phải thừa nhận một

Trang 14

trong những sai lầm cơ bản mà chúng ta đã vấp phải là xoá bỏ quá sớm quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của chúng ta còn chưa đủ sứcthay thế Điều đó ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và đãlàm mất một khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội Cũng vậy, chúng ta xoásạch tiểu thương khi hệ thống thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán của

ta chưa làm nổi vai trò “người nội trợ cho xã hội ” gây nhiều khó khăn ách tắc cholưu thông hàng hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho nhân dân

Trước tình hình đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã khởi xướng lãnh đạo thựchiện công cuộc đổi mới

3 Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nước ta từ sau công cuộc đổi mới (1986) đến nay

3.1 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

Sau độc lập, nền kinh tế nước ta còn gặp vô vàn khó khăn do thói quen laođộng tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ lẻ, trình độ khoa học kém phát triển, đời sống

xã hội vô cùng khó khăn… Với hoàn cảnh mới, đất nước tiến lên CNXH, đòi hỏinước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần

Thời gian qua, chúng ta quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất, cho rằng cóthể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường san đất, thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển Quan niệm ấy là sai lầm, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thờigian qua là minh chứng cho điều ấy và do đó gây ra sự mâu thuẫn giữa yêu cầu pháttriển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quantrên đất nước ta Mối mâu thuẫn ấy đã đem theo nhiều hậu quả ngoài ý muốn: Kinh tếkém phát triển, xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, trình độ quản lý yếu kém…yêu cầu cấp thiết là phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất -quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế - xã hội

Trang 15

Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những bước đi phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao Đó là sựcho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản, buôn bán tự do rộng rãi, nâng caođời sống xã hội,… Như lời của đồng chí Lê Khả Phiêu nói: "… không chất nhận ViệtNam theo con đường chủ quan của tư bản nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đấtnước Việt Nam và vẫn quan hệ với CNTB trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậycho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt" Hay quan điểm từ Đạihội Đảng VI cũng khẳng định: không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tưnhân và kinh tế cá thể mà còn phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách củaĐảng và Nhà nước Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thànhphần kinh tế nhà nước trong thời kì quá độ.

Tại Đại hội Đảng VI (tháng 12 / 1986) đã xem lại một cách căn bản về vấn đềcải tạo XHCN và đưa ra quan điểm về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và coi

nó là nhiệm vụ cơ bản cho quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế Vậy nền kinh tếthị trường theo định hướng XHCN thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướngXHCN

Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản vàđến nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩakhông chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiều thànhphần kinh tế khác nhau Qua quá trình phát triển nhận thức, cũng như tư duy lý luận

về các thành phần kinh tế ngày một hoàn chỉnh, đến Đại hội X của Đảng, nền kinh tếnước ta được xác lập gồm 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư hữu tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài(*) Sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng không chỉ dừng lại

ở việc xác định số lượng các thành phần kinh tế tồn tại trong nền kinh tế, mà còn xác

Trang 16

lập đúng vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Có thểnói, sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng về các thành phần kinh tế có tầm quan trọngđặc biệt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho mọi cá nhân, tổ chức trong toàn xã hội pháthuy mọi tiềm năng, sáng tạo, tạo ra sức mạnh to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế,

xã hội của đất nước, đồng thời nó là động lực to lớn cho chúng ta phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới tư duy kinh tế về phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần còn góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua tính dân chủ trong hoạt động kinh tế, mọi cánhân đều có quyền tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách bình đẳng theopháp luật

3.2 Nội dung đường lối đổi mới của Đảng

Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời kỳquá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từng phần, lắngnghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địa phương và cơ sở,Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã hoạchđịnh đường lối đổi mới Trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối đổi mới do Đạihội VI đề ra, nhiều Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và đặc biệtĐại hội VII (6-1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, Đại hội VIII (6-1996) và Đại hội IX (4-2001) đã không ngừng bổ sung,phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễncủa công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở Việt Nam Có thể thấy rõ những nộidung đổi mới quan trọng và chủ yếu cả về nhận thức, tư duy lý luận và cả về lãnhđạo, chỉ đạo thực tiễn suốt 20 năm qua

Thứ nhất, đó là đổi mới tư duy lý luận mà thực chất là nắm vững và vận dụng

đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí.Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã nhận thức rằng, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã

Trang 17

hội phải trải qua một thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ

đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước “Thời kỳ quá độ ởnước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn”1 Đại hội IX(4-2001) tổng kết 15 năm đổi mới, khẳng định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực

là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dàivới nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới

và cái cũ” Trong hàng loạt các quy luật khách quan, Đảng Cộng sản Việt Nam đãnhận thức rõ hơn quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất, sửa chữa sai lầm trước đó là là đã đưa quan hệ sản xuất đi quánhanh, quá xa trong khi lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu, tập trung phát triển mạnh

mẽ lực lượng sản xuất thông qua thực hiện cách mạng khoa học - công nghệ, đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, từ đó điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp.Các quy luật vận động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là các quy luậtkinh tế đã từng bước nhận thức và vận dụng đúng đắn và có hiệu quả hơn Khi quyếtđịnh đường lối đổi mới ở Đại hội VI Đảng ta đã nghiêm túc chỉ ra rằng, cuộc sốngcho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái quy luật

Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng quyết định đổi mới

cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời

kỳ quá độ Đại hội VI đã vận dụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh tế nhiềuthành phần Chính Lênin cũng cho rằng tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là đểkhẳng định hướng tiến lên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàntoàn là kinh tế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phầnkinh tế phát triển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan Đại hội VI

Trang 18

khẳng định nước ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vựcquốc doanh và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp Đại hội IX bổ sung thêm mộtthành phần nữa là kinh tế 100% vốn nước ngoài Trong quá trình đổi mới, 20 nămqua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Thực tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiềuthành phần kinh tế đương nhiên là có nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở

Cùng với đổi mới cơ cấu kinh tế, Đảng chủ trương đổi mới cơ chế quản lý dứt khoát

bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển sang hạch toán,kinh doanh và từng bước đưa nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản

lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó chính là nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sởvật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lựclượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả

ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức

năng quản lý điều hành của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa Đảng Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị Đại hội VI của Đảng đặt rayêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền, tăngcường sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn, đổi mới phongcách làm việc, đi sâu, đi sát thực tế, sát cơ sở, gắn bó với nhân dân Nâng cao trình độtrí tuệ, nắm bắt và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, hiểu biết sâu sắc những

Ngày đăng: 22/12/2015, 20:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w