Học thuyết kinh tế của Malthus về khủng hoảng kinh tế Malthus đã giải thích nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, đó là tiền lương của công nhân thấp hơn giá trị của hàng hóa nên họ không
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2
Chương I: Lý luận về khủng hoảng của các học thuyết kinh tế
- Lý luận về khủng hoảng của học thuyết kinh tế của Malthus.Trang 3
- Lý luận về khủng hoảng của học thuyết kinh tế của Sismodi.Trang 5
- Lý luận về khủng hoảng của chủ nghĩa Mác – Lê - nin.Trang 5
- Lời tiên đoán của Marx về sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bảnTrang 7
Chương II: Tìm hiểu về cuộc khủng hoảng năm 1929 – 1933.
Trang 10
Chương III: Chủ nghĩa tư bản hiện đại và nguyên nhân vì sao chủ nghĩa
tư bản vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay
- Tìm hiểu về chủ nghĩa tư bản hiện đại.Trang 14
- Giải thích nguyên nhân vì sao chủ nghĩa vẫn còn tồn tại.Trang 18
Chương IV: Ý nghĩa của việc nghiên cứu.
Trang 20
Trang 21
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế - một bộ phận vô cùng quan trọng, đóng vai trò như xương sống quyết định sự lớn mạnh của một quốc gia Ngày nay, khi nhìn nhận vị thế của một quốc gia, điều đầu tiên mà mọi người quan tâm đó chính là tình hình phát triển kinh tế của quốc gia đó Điều này đã tạo nên một cuộc chạy đua quyết liệt giữa các nước tư bản chủ nghĩa để giành được vị trí siêu cường Thế nhưng, trong cuộc chay đua ấy, lịch sử đã không ít lần chứng kiến những cuộc khủng hoảng kinh tế
và hậu quả để lại của nó là vô cùng trầm trọng
Mở đầu chuỗi khủng hoảng trên là cuộc đại khủng hoảng năm 1929 – 1933,
và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 Do đó việc nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế rất cần thiết bởi nó giúp chúng ta hiểu rõ được bản chất, nguyên nhân của khủng hoảng, từ đó đưa ra các chính sách, đường lối kinh tế thích hợp
Như chúng ta đã biết, năm 2007 được đánh dấu bằng sự kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ việc hàng loạt ngân hàng ở Mỹ tuyên bố phá sản Câu hỏi đặt ra cho các quốc gia lúc bấy giờ là làm sao để tối thiểu hóa thiệt hại và nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng Chính trong lúc này các học thuyết kinh tế
về khủng hoảng được các nước tư bản chủ nghĩa quay trở về tìm đọc Mà cụ thể hơn đó là học thuyết của Mác – Lê - nin Ngoài ra có thể điểm thêm vài tên tuổi như Ricardo, Mathus, Simondi… trong các học thuyết về khủng hoảng
Để tìm hiểu kĩ hơn về các học thuyết này cũng như tính ứng dụng của chúng trong nền kinh tế hiện đại nhóm chúng em đưa ra tiểu luận với đề tài
“Khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới góc nhìn của các học thuyết kinh tế
và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản cho đến ngày nay”
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nhóm chúng em không tránh khỏi những sai sót nhất định Vì vậy rất mong
Trang 3nhận được sự góp ý chân thành của Thầy và của tất cả các bạn để đề tài tiểu luận của nhóm được hoàn thiện hơn.
Xin cám ơn!
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ.
LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
TRONG HỌC THUYẾT CỦA MALTHUS.
1 Học thuyết kinh tế của Malthus về khủng hoảng kinh tế
Malthus đã giải thích nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, đó là tiền lương của công nhân thấp hơn giá trị của hàng hóa nên họ không thể mua hết số hàng hóa sản xuất ra.Đồng thời,tiêu dùng của nhà tư bản cũng sụt giảm do sự tiết khiệm quá mức bởi vì nhà tư bản quá ham muốn đầu tư.Tất cả những điều đó làm mức cầu sụt giảm, dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa
Theo ông, để khắc phục tình trạng khủng hoảng sản xuất thừa, cần phải có tầng lớp thứ ba ngoài giai cấp công nhân và nhà tư bản.Đó là tầng lớp không sản xuất như tăng lữ,quân đội, cảnh sát…Ông gọi lớp người này là “người thứ ba” để chống sự khủng hoảng sản xuất thừa
2 Lý luận về khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa theo học thuyết của Malthus.
Tuy những lý lẽ của Malthus phần lớn có biện hộ cho chế độ tư bản trong
xã hội, nhưng ông vẫn không mù quáng đến nỗi không thấy được mô hình này đang phát triển không đều và ông chính là người đầu tiên nhận thấy được nó đang đối mặt với một vấn đề tái diễn là thị trường đã quá tải và vấn đề những cơn khủng hoảng thừa, tức là xãy ra tình trạng thất nghiệp, sự suy sụp về tài chính, v.v.… Đối với những nhà kinh tế cổ điển cùng thời thì quan điểm này của ông bị xem như một quan điểm lập dị
Trang 4Như chúng ta đã biết qua với Adam Smith, tầm nhìn của các nhà kinh tế cổ điển chỉ trong phạm vi là thị trường và cơ cấu định giá của nó hoạt động nhằm mang đến sự phân bổ những nguồn tài nguyên và hàng hoá cho xã hội một cách trơn tru dễ dàng Có thể đây là tình trạng sụp đổ tạm thời hoặc giả chỉ đối với ngành mậu dịch, ví dụ như các nhà sản xuất các sản phẩm may mặc có thể ước lượng nhu cầu về mặt hàng của họ quá mức và do đó tạm thời "cung cấp quá mức" cho thị trường, nhưng trong trường hợp như vậy người ta sẽ tin rằng mức cung gia tăng liên quan đến mức cầu sẽ làm mức giá giảm xuống và cũng sớm làm cho cung liên kết trở lại với cầu Hoặc giả, giai đoạn tích luỹ quá nhanh có thể gia tăng mức lương trên mức bình thường, nhưng theo như Smith và Malthus, mức lương gia tăng như thế sớm muộn cũng dẫn đến tình trạng gia tăng nguồn cung lao động,
và từ đó lại đẩy mức lương giảm lại
Jean-Baptiste Say (1767-1832) là người thể hiện rõ tầm nhìn cổ điển này, ông cho rằng thị trường có thể loại bỏ tình trạng khủng hoảng, ông là một nhà kinh
tế học người Pháp và rất ngưỡng mộ Adam Smith Say đưa ra nhiều lập luận về
vấn đề này trong chương XV, quyển I của tác phẩm Trait d'economie politique của
ông:
"Chú ý rằng một sản phẩm sau khi làm ra sớm muộn cũng được tung ra thị trường mà trong đó đã đầy các sản phẩm khác Khi nhà sản xuất đó hoàn tất sản phẩm của mình, ông ta chỉ quan tâm đến việc làm sao để bán sản phẩm ra ngoài ngay lập tức để cho nó không bị mất giá nếu bị tồn kho Ông ta cũng không ít quan tâm đến việc dùng số tiền mà ông ta có để sản xuất ra nó; bởi vì giá trị của đồng tiền cũng sẽ bị giảm Nhưng cách duy nhất để tiêu thụ số tiền đó là mua món hàng khác Do vậy chỉ trong trường hợp tạo ra một sản phẩm sẽ lập tức mở ra một lối thoát cho những sản phẩm khác."
Những phát biểu như thế đã phổ biến đến tầm nhìn của thị trường và dẫn đến mọi người thườg xuyên tham khảo cái gọi là "Quy luật Say", nghĩa là "mức cung sẽ tự tạo ra mức cầu cho riêng nó" (supply creates its own demand) điều này như một chân lý hiển nhiên về hành vi của nền kinh tế thị trường nói chung nếu không phải nằm trong trường đặt biệt Mặt khác, Malthus xem xét đến thực tiễn vấn đề tư bản chủ nghĩa trong thời của ông ta và thấy được những vấn đề đang nổi cộm lên mà sau này những nhà kinh tế gọi là "chu kỳ kinh doanh" hay bằng một cái tên ít lạc quan hơn "những cơn khủng hoảng" Ông thấy rằng những chu kỳ hay cơn khủng hoảng như thế không có giới hạn trong một thị trường đặc biệt nào
cả, cũng như Smith, ông tin rằng nếu chúng xãy ra thường xuyên thì chính những người như công nhân, thương buôn, ngân hàng, v.v sẽ phải gánh hậu quả Ông lập luận rằng dù có phải như vậy hay không thì con người phải nhận thức được sự tồn tại về những gì đang tái diễn trở lại, những gì mà ông gọi là "khủng hoảng thừa phổ biến" và định nghĩa của nó như sau:
Trang 5"Khủng hoảng thừa được xem là phổ biến bắt nguồn từ nguồn cung thừa thải quá mức hay do mức cầu giảm đi, một lượng hàng hoá đáng kể bị giảm giá trị xuống thấp hơn cả chi phí cơ bản được bỏ ra để sản xuất ra nó"
Quan điểm của Malthus về "khủng hoảng thừa" gây nên một cuộc tranh luận giữa ông và những người bạn của ông cũng như với nhà kinh tế David Ricardo - đồng nghiệp của ông Như chúng ta thấy rằng đây không chỉ là vấn đề duy nhất mà ông và Ricardo không có cùng một quan điểm
name=News&file=article&sid=122)
LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG HỌC THUYẾT CỦA SISMODI
1 Lý luận thực tiễn và khủng hoảng kinh tế:
Theo Sismondi, điều kiện để thực hiện sản phẩm là sản xuất phải phù hợp tiêu dùng Nếu sản xuất vượt quá tiêu dùng tức “tiêu dùng không đầy đủ” thì có một bộ phận sản xuất thừa ra và gây khủng hoảng kinh tế
Ông cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế là lĩnh vực phân phối Khi chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì sản xuất càng mở rộng, mặt khác tiêu dùng càng giảm bớt, đó là nguyên nhân của khủng hoáng kinh tế
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thị trường trong nước bị thu hẹp
thường xuyên do công nhân bị thất nghiệp, thu nhập giảm sút còn bản thân nhà tư bản lại tích lũy một phần thu nhập Ngay người sản xuất nhỏ khi bị phá sản cũng mất khả năng tiêu dùng Con đường giải quyết nạn khủng hoảng kinh tế là củng cố lại sản xuất hàng hóa nhỏ của giai cấp tiểu tư sản
2 Hạn chế trong lý luận khủng hoảng của Sismondi:
Mặc dù cho ông đã phát hiện ra được nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng Tuy nhiên, học thuyết của ông vẫn còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, ông cho rằng không có khủng hoảng trêm phạm vi toàn bộ nền kinh tế, mà chỉ có khủng hoảng bộ phận trong các ngành sản xuất riêng lẻ
Thứ hai, chưa thấy được mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, cho nên ông cho rằng tiêu dùng lạc hậu hơn so với sản xuất
Thứ ba, ông cho rằng thu nhập quốc dân ngang bằng với sản phẩm hàng năm, toàn bộ sản phẩm bằng khối lượng thu nhập, chi dùng cho cá nhân, ông chưa thấy đc nguồn gốc của tích lũy
Thứ tư, ông chưa thấy được sự giàu có, tăng của cải của xã hội Do vậy mà ông khẳng định ngoại thương là lối thoát cho TBCN
LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG HỌC THUYẾT CỦA MALTHUS.
Trang 6Quan điểm của Marx về khủng hoảng kinh tế:
Trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác-Lênin, khủng hoảng kinh tế là
khoảng thời gian biến chuyển rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế
Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
Nối gót quan điểm của Malthus, Marx nhận thức khả năng "khủng hoảng chung" do tổng mức cầu không tương xứng Nhưng không giống như Malthus (giống Ricardo và John Maynard Keynes ở thế kỷ sau) Marx nhận thấy rằng mức cầu đối với hàng sản xuất bổ sung vào mức cầu cho hàng tiêu dùng để cấu thành tổng cầu Do vậy, những gì ông đồng tình với Malthus là khuynh hướng về những động lực phát triển của tư bản nhằm giữ nguyên mức lương phải trả cho công nhân
và gia tăng mức cầu cho hàng tiêu dùng Marx trình bày lại quan điểm đó như sau:
“sự gia tăng dân số không kiểm soát không phải là động lực chính mà là sự trái ngược nhau giữa một bên là mức lương giảm thiểu hành vi của nhà tư bản và mặt khác lợi nhuận làm tối đa hoá những nổ lực mở rộng sản xuất và thị trường của họ” Nói cách khác, Marx là một "người chỉ tiếp nhận một phần" vì ông thấy được
nhược điểm của giai cấp lao động và ưu điểm của giai cấp tư sản cũng như khuynh hướng sản xuất vượt nhu cầu tiêu thụ
Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận Marx là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không tự nhiên mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư
bản với vai trò là một hình thái xã hội Marx viết, “cản trở của nền sản xuất tư bản chính là tư bản”.
Những lý luận này bao gồm:
- Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng
chung của mức độ tập trung tư bản Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng
- Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh
giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung
Marx thấy rằng các cuộc cách mạng sẽ có thể xảy ra do những điều kiện công việc áp đặt quá khắc nghiệt trong suốt thời kỳ cắt giảm tiền lương, bóc lột lao động và tất cả những điều tồi tệ khác mà nó gây ra (giảm tiêu thụ, thậm chí gây ra nạn thiếu ăn và chết đói, bệnh tật,…) Vào thế kỷ 19, không biết đã có biết bao cuộc cách mạng nổi dậy trong những giai đoạn như thế
Trang 7Do vậy, đối với Marx, không có một vòng quay kinh tế nào đảm bảo được tính chu kỳ của nó, sẽ luôn có những mối nguy hiểm đối với công việc kinh doanh, cũng như những cơ hội cho người công nhân thực hiện thành công cuộc cách mạng và làm sụp đổ chế độ này.
Tuy nhiên, cũng có một giải pháp để đối phó với tình trạng khủng hoảng: ngừng hoặc giảm sản xuất và gia tăng thất nghiệp để giảm lương và lấy lại lợi nhuận Điều này nghĩa là kinh doanh sẽ biến khủng hoảng của chính nó thành khủng hoảng cho người công nhân và qua đó nó có thể chiếm lại vị trí ưu thế Lấy lại lợi nhuận sẽ có lại đầu tư mới, gia tăng tổng cầu và tạo ra vòng phát triển mới
- Sức ép lợi nhuận từ lao động: Trong những giai đoạn phát triển nhanh
(trong giai đoạn phát triển và bùng nổ của chu kỳ) Marx nhận thấy được tăng mức đầu tư sẽ dẫn đến nhu cầu cần lao động vượt xa so với sự phát triển của mức cung lao động và do đó se dẫn đến tăng lương vì thị trường lao động khan hiếm và người công nhân sẽ có nhiều quyền lực hơn so với chủ của họ Nếu mức lương tăng quá nhanh và cao hơn cả năng suất thì lợi nhuận sẽ bị giảm, đầu tư sẽ giảm và do đó sản xuất bị đình trệ vì tổng cầu
bị thu hẹp lại Nói cách khác, những điều kiện thích hợp trong đó người công nhân có nhiều quyền lợi là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế, đầu tiên là giảm tỷ suất lợi nhuận và sau đó là giảm phạm vi hoạt động
Bên cạnh đó, theo Marx, tiền tệ với chức năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán cũng là mầm móng dẫn đến khủng hoảng kinh tế:
- Phương tiện lưu thông: với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm
môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế
- Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để
trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cáchthanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi
hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một
Trang 8khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.
Dự báo của Marx về sự sụp đổ của Chủ nghĩa tư bản:
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay bắt đầu từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ sau đó lan ra nhiều nước Cuộc khủng hoảng này không phải do nguyên nhân từ bên ngoài mà nó nằm trong sâu thẳm của chính hệ thống kinh tế - chính trị của chủ nghĩa tư bản Các tập đoàn tài chính kếch xù, xuyên quốc gia, đa quốc gia của Mỹ và các nước tư bản đã thao túng, kiếm lợi riêng, thoát khỏi bàn tay kiểm soát của Nhà nước tư sản, đã đẩy nền kinh tế toàn cầu vào thảm họa Như vậy, Mỹ và các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã từng áp dụng học thuyết của Keynes, lý thuyết kinh tế hỗn hợp của Samuelson điều hòa mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường và tiếp đó là lý thuyết của Hayek "giảm thiểu vai trò của Nhà nước" (Nhà nước tối thiểu, thị trường tối đa), v.v nhưng tất cả những lý thuyết đó gần như đã sụp đổ, đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều ý kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra
- cái vẻ bề ngoài đó vẫn có thể được duy trì một cách yên ổn trong một thời gian dài, nhưng thực ra thì đã từ rất lâu, những khoản thu tiền về này chỉ được thực hiện một phần bằng cách đập vào lưng những người cho vay tiền bị lừa gạt, hay những người sản xuất bị lừa gạt Thành thử chính ngay trước khi bị phá sản, công việc kinh doanh luôn luôn có cái vẻ hầu như vẫn quá ư lành mạnh, cho tới khi đột nhiên bị phá sản” (Tư bản, quyển 111, chương XXX)
Ta có nhiều lý do để giải thích cho câu hỏi: “Vì sao người ta trở lại đọc C.Mác trong thời khủng hoảng kinh tế toàn cầu?”
- Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay đã cho thấy rõ: Chủ nghĩa tư bản tự do mới (tân cổ điển) với cả hệ thống lý luận và thực tiễn của nó đã sụp đổ Chủ nghĩa tư bản không phải là vĩnh hằng Khi chủ nghĩa tư bản đang thời kỳ bình minh ở đầu thế kỷ 19, nhà lý luận kinh tế học tư bản Ricardo tin rằng chủ nghĩa tư bản có khả năng tự điều chỉnh, tự cân bằng,
Trang 9không thể để xảy ra khủng hoảng Nhưng trên thực tế, chỉ hai năm sau ngày ông mất, cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới tư bản đã nổ ra (1825) Khi nghiên cứu một cách sâu sắc chủ nghĩa tư bản từ giữa đến nửa đầu cuối thế
kỷ 19, chính C.Mác đã phát hiện tính khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản (khủng hoảng tiêu điều, phục hồi, hưng thịnh rồi lại bước vào khủng hoảng mới, v.v.) Chủ nghĩa tư bản tìm mọi cách để thích ứng, tiếp tục phát triển thì tính chất, quy mô, thời gian, chu kỳ khủng hoảng càng về sau càng trầm trọng hơn mà thôi Nghiên cứu khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, người ta thấy rằng có rất nhiều vấn đề đã được C.Mác phân tích, dự báo trong bộ "Tư bản", đặc biệt trong lý luận "tái sản xuất tư bản xã hội" Có rất nhiều mối liên hệ giữa cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay với những phát hiện trong bộ "Tư bản" của C.Mác
- Giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở mọi quốc gia trên thế giới đều là những người bị tổn thất, mất mát nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng này Mỗi ngày, báo chí lại cập nhật thêm thông tin số lượng người lao động gia nhập đội quân thất nghiệp ngày càng tăng Những người thất nghiệp mà C.Mác đã dự báo gần hai thế kỷ trước, bây giờ đã lên đến con số hàng tỷ người
- Trong lý luận về tích lũy, C.Mác đã cảnh báo: Quá trình tích lũy tư bản đã dẫn đến kết quả hai mặt trái ngược: Tích lũy sự giàu sang về phía giai cấp
tư sản và tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp vô sản Càng bị bần cùng thì giai cấp vô sản càng phải chấp nhận điều kiện bị bóc lột nặng nề hơn Ðó chính là bản chất, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công, bất bình đẳng xã hội Trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu càng cho thấy sự chênh lệch ngày càng lớn giữa kẻ giàu và người nghèo Toàn cầu hóa tuy có những mặt tích cực, nhưng nó cũng đã đẻ ra sự phân hóa ghê gớm giữa giàu và nghèo
Marx không chỉ mô tả hiện tượng mà còn lý giải hết sức sâu sắc nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng, vì sao người ta lại không nhận biết được dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng sắp nổ ra, và rồi sau cuộc khủng hoảng mọi sự sẽ diễn biến tiếp như thế nào v.v
Ðể ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, thế giới đang cần tìm lời giải mới Vì thế người ta quay trở lại đọc Mác, tìm hiểu sâu sắc hơn về học thuyết Mác và hướng tới chủ nghĩa xã hội đích thực là hoàn toàn có cơ sở lý luận
và thực tiễn
Trong bối cảnh như hiện nay, chưa ai dám nói chủ nghĩa tư bản đã đến hồi cáo chung nhưng những gì Karl Marx từng cảnh báo thể hiện rằng ở một ý nghĩa nào đó, Marx đã đúng bởi cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy chủ nghĩa tư bản luôn tiềm tàng nguy cơ sụp đổ
Nguồn:
Trang 10CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929 –
1933.
Đại Suy thoái là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán phố Wall vào ngày 29 tháng 10 năm 1929(còn được biết đến
như Thứ Ba Đen tối) Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ sau đó nhanh chóng lan rộng ra toàn
Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển Thương mại quốc tê suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảm từ 40 đến 60 phần trăm Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước Nó bị coi là "đêm trước" của Thế chiến thứ hai
1 Nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng
Có nhiều cách giải thích về nguyên nhân gây ra cuộc Đại khủng hoảng
1929 -1933 Nhưng suy cho cùng, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh
tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng sản xuất “ thừa”, bởi vì sự sản xuất bừa bãi, ồ
ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản 1924-1929
đã dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu, hàng hoá ế thừa trước sức mua quá thấp của xã hội
Qua tìm hiểu của nhóm thuyết trình, những nguyên nhân được trình bày dưới đây là những nguyên nhân được phân tích dựa trên các trường phái kinh tế tư bản chủ nghĩa:
1 Theo trường phái Áo, nguyên nhân bắt nguồn từ sự can thiệp của Chính phủ vào thập kỷ 1920 Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy thị trường chứng khoán bùng nổ quá mức, ngân hàng cho vay quá nhiều, rủi ro quá mức không được quản lý Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản
nợ kém không đòi được
2 Theo trường phái Keynes, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được Dù lãi xuất giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá bi quan
Trang 113 Theo trường phái của kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự siết chặt quá mức của cung tiền năm 1930, và rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng nhẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cung tiền.
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_kh%E1%BB%A7ng_ho
%E1%BA%A3ng)
2 Diễn biến của cuộc Đại khủng hoảng
Giá cả tại thị trường chứng khoán bắt đầu giảm từ tháng 9/1929, nhưng khi
đó nhìn chung nhà đầu tư nói chung vẫn rất lạc quan Những nhà đầu cơ tiếp tục nhảy vào thị trường Ngày thứ hai, 21/10/1929, giá bắt đầu giảm nhanh Khối lượng giao dịch lớn khủng khiếp Nhà đầu tư vô cùng hoang mang và sợ hãi Nhận
ra rằng giá bẳt đầu"rơi", chứ không còn tính được giảm bao nhiêu, nhiều người lao
ra bán Điều này làm cho sự sụp đổ diễn ra nhanh hơn Giá có ổn định lại một chút vào ngày thứ ba và thứ tư, nhưng cho đến Ngày thứ Năm Đen Tối, 24/10/1929, mọi thứ đều vỡ tan Hầu hết những nhà đầu tư lớn đều mất niềm tin vào thị trường Tất cả nhà đầu tư đều đồng ý ở một điểm - đã hết tăng rồi Thị trường có hồi phục lại một chút vào thứ Sáu và thứ Bảy khi một nhóm các ngân hàng lớn tham gia tham gia vào với nỗ lực cố gắng chặn lại sự sụp đổ của thị trường Nhưng vào thứ hai tuần sau, ngày 28, giá tiếp tục giảm 13% Ngày hôm sau, Thứ Ba Đen Tối, khối lượng lên đến 16,4 triệu cổ phần đã được giao dịch Cổ phiếu giảm liên tục,