1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ của các cơ QUAN TRỰC THUỘC QUỐC hội TRONG VIỆC bảo đảm TÍNH THỐNG NHẤT của PHÁP LUẬT

77 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 919,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

■ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củanhà nước, nhằm đảm bảo những quy định của hiến pháp và pháp luật được thi hànhtriệt để và thống nhất, bộ máy nhà

Trang 1

Giáo viên hướne dẫn:

TIẾN Sĩ PHAN TRUNG HIỀN

Bộ MÔN: LUẬT HÀNH CHÍNH

Sinh viên thưc hiên:

BÙI QUỐC THÀNHMSSV: 5054924Lớp:Luật thương mại 2-k.31

_QXI

Cần Thơ 04/2009

Trang 3

LỜI NÓIĐẰU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Ph ạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cơ cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VÈ CÁC cơ QUAN TRựC THUỘC QUỐC HỘI 4

1.1 Sơ lược về lịch sử của Quốc hội 4

1.2 Vị trí, vai trò của Quốc hội 6

1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội 9

1.3.1 Lập hiến và lập pháp 9

1.3.2 Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước 10

1.3.3 Quyền giám sát tối cao 11

1.4 Tổng thể về các cơ quan trực thuộc của Quốc hội 12

1.4.1 Vị trí và vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội 12

1.4.1.1 Vị trí của ủy ban thường vụ Quốc hội 12

1.4.1.2 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội 12

1.4.2 Vị trí của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội 12

1.4.3 Vai trò của Hội đồng dân tộc 13

1.4.4 Vai trò của các ủy ban của Quốc hội 13

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA CÁC cơ QUAN TRựC THUỘC QUÓC HỘI TRONG VIỆC BẢO ĐẢM TÍNH THÓNG NHẮT CỦA PHÁP LUẬT 15

2.1 Tính thống nhất của pháp luật 15

2.2 Yêu cầu của tính thống nhất của pháp luật 17

2.2.1 Quan niệm về quyền lực nhà nước là thống nhất 18 2.2.2 Quan niệm về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp

Trang 4

2.3 Các cơ quan tham gia vào tính thống nhất của pháp luật 22

2.4 Vai trò chung của các Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của pháp luật 23

2.4.1 về tổ chức của Quốc hội 24

2.4.2 v

quyền lập pháp 25

2.4.3 về quy mô các đạo luật 25

2.3.4 về vấn đề kiểm soát của Quốc hội đối vói các quan hệ quyền lực và việc thực hiện quyền lực nhà nước 26

2.5 Vai trò của từng Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của pháp luật 27

2.6 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội 27

2.6.1 Chức năng của ủy ban thường vụ Quốc hội 27

2.6.2 Các ban của ủy ban thường vụ Quốc hội 29

2.6.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban thường vụ Quốc hội 32

2.6.4 Nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực của ủy ban thường vụ Quốc hội 33

2.7 Vai trò của Hội đồng dân tộc 38

2.8 Vai trò của các ủy ban của Quốc hội 40

2.8.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của các ủy ban của Quốc hội 40

2.8.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của từng ủy ban 41

2.8.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban pháp luật 41

2.8.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban tư pháp 42

2.8.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban kinh tế 42

2.8.2.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban tài chính, ngân sách 43

2.8.2.5 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban quốc phòng và an ninh 43

2.8.2.6 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng 44

2.8.2.7 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban về các vấn đề xã hội 44

2.8.2.8 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường 45

2.8.2.9 Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban đối ngoại 45

Trang 5

3.1 Thực tiễn của các Ctf quan trực thuộc của Quốc hội trong việc bảo đảm tính

thống nhất của pháp luật 47

3.1.1 Quốc hội - mô hình sáng tạo tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu nhà nước pháp quyền 48

3.1.2 Hoạt động của Quốc hội vói yêu cầu đổi mói 49

3.2 Thực tiễn trong việc đảm bảo tính thống nhất pháp luật của từng Ctf quan trực thuộc Quốc hội 54

3.2.1 ủy ban thường vụ Quốc hội 54

3.2.2 Hội đồng dân tộc 55

3.2.3 Các ủy ban của Quốc hội 56

3.3 Hướng hoàn thiện 57

3.3.1 Bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội vói yêu cầu hoàn thiện nhà nước pháp quyền 57

3.3.2 Các yếu tố bảo đảm để đổi mói và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu nhà nước pháp quyền 58

3.3.3 Nhà nước pháp quyền những yêu cầu Ctf bản đối vói hệ thống pháp luật 62

3.3.4 Những yêu Cầu Ctf bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 65

3.3.4.I Những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành 65

3.3.4.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhìn từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN 67 PHẦN KẾT LUẬN

Trang 6

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

LỜI NÓI ĐẦU

eíCQ

6 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, hội nhập khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực khácnhau của đời sống, đặc biệt về kinh tế là một xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia nhằmthúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển của đất nước Việt Nam cũng không nằm ngoài xuthế nói trên Quá trình hội nhập khu vực và thế giới tạo ra tiền đề cho sự ra đời mộtkhung pháp lý chung của cộng đồng trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, thương mại,đầu tư, sở hữu, Quá trình này đòi hỏi mỗi quốc gia phải đạt được những vấn đề sau:tham gia đày đủ và toàn diện các công ước và hiệp ước đa phương, thể chế hoá nộidung các công ước, hiệp định quốc tế vào nội luật, xây dựng và hoàn thiện các luật vàchế định tương đương với nước khác, xây dựng và tăng cường hệ thống thực thi phápluật Như vậy, việc tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực có ảnh hưởng nhấtđịnh đến hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật của mỗi quốc gia Các quốc gia khiban hành các đạo luật điều chỉnh về một lĩnh vực nào đó thì không thể không tính đếnnhững quy định pháp luật trong các lĩnh vực này ở các quốc gia có liên quan

Hoạt động họp tác khu vực và quốc tế là cơ sở cho việc điều chỉnh pháp luật.Nhưng với tư cách là bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật cũng có nhữngảnh hưởng, tác động nhất định đến các hoạt động kinh tế, hợp tác trong một quốc gianói riêng và giữa các quốc gia trong cộng đồng nói chung Pháp luật tạo ra một “hànhlang pháp lý” cho mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Có thể nóipháp luật là một công cụ không thể thiếu trong việc duy trì một trật tự pháp luật theođúng ý chí cuả nhà làm luật Pháp luật là một công cụ bảo vệ quyền lợi của các doanhnghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, phòng ngừa mọi hành vi vi phạm

Trong những năm qua, chúng ta đã có những cố gắng to lớn trong việc hoànthiện hệ thống pháp luật theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế Việc tham giangày càng nhiều của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế cũng như ký và gia nhập với sốlượng ngày càng tăng các điều ước quốc tế song phương và đa phương thể hiện mongmuốn của Việt Nam muốn hợp tác với tất cả các quốc gia Chẳng hạn, chúng ta đã cónhững nỗ lực to lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật vềđầu tư nước ngoài nói riêng, trong đó phải kể đến lần sửa đổi, bổ sung của luật đầu tưnước ngoài năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp luật về đầu tư nướcngoài của Việt Nam nhìn chung được đánh giá là khá thông thoáng, hấp dẫn, tiếp cậngần với thông lệ và tập quán quốc tế trong lĩnh vực này Luật đầu tư nước ngoài sửađổi, bổ sung năm 2000 đã có một số quy định nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn,

Trang 7

vướng mắc và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của các doanh nghiệp liên doanh cóvốn đàu tư nước ngoài, mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức, quản lý, kinh doanh củadoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Với những yêu cầu mang tính cấp thiết phải thay đổi và phát huy hom nữa vềmọi mặt của đất nước Nhưng điều quan trọng hàng đầu, mang tính quyết định đó làphải có bộ máy nhà nước chặt chẽ với những chính sách phù hợp Việt Nam có được

vị thế hiện nay trên trường quốc tế là do quá trinh phát triển không ngừng về tất cả cáclĩnh vực Trong đó điểm quan trọng nhất đó là sự thay đổi đường lối lãnh đạo củaĐảng, bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt là những hoạt động của Quốc hội đã có nhiềuthay đổi về chất lẫn về lượng, từ tổ chức hoạt động cho đến bình thức hoạt động gópphần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh”

“Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Muốn tìm hiểu vềpháp luật của một đất nước nhất là những nước theo chế độ chủ nghĩa xã hội như nước

ta thì trước tiên phải am hiểu được cách thức tổ chức cũng như hoạt động của Quốchội (chủ thể quan trọng nhất có quyền điều hành mọi hoạt động của đất nước)

Trong quá trình vận động đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa thìđất nước ta đã thông qua bốn bản Hiến pháp và cũng đồng nghĩa với bốn cách thức tổchức và hoạt động khác nhau của Quốc hội Nghiên cứu về tính thống nhất pháp luậtcủa các cơ quan trực thuộc Quốc hội là nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tínhthống nhất giữa các cơ quan của Quốc hội về lĩnh vực pháp luật

Việc nghiên cứu để thấy rõ vấn đề đảm bảo tính thống nhất pháp luật giữa các

cơ quan trực thuộc Quốc hội là một điều cần thiết và giúp cho chúng ta có cách nhìnđúng đắn hơn nữa nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạnhội nhập và phát triển, phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam

7 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là Quốc hội_với tư cách là cơ quan quyềnlực cao nhất của bộ máy nhà nước, bao gồm các cơ quan chuyên môn trong Quốc hộinhư: ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, đạibiểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội Ngoài ra còn nghiên cứu về mối quan hệtương hỗ lẫn nhau giữa các cơ quan này với nhau

8 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu các quy định trong Hiến pháp về cơ cấu tổ chức của Quốc hội,các cơ quan trực thuộc bao gồm ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, cácGVHD: TS PHAN TRUNG HIỀN ^2~- SVTH: BÙI QUỐC THÀNH

Trang 8

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ủy ban của Quốc hội Ngoài ra còn tìm hiểu các bình luận, bài viết của các nhà nghiêncứu về pháp luật và các hội thảo về pháp luật

9 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài nghiên cứu này thì phưomg pháp thích hợp nhất là phương phápsưu tầm và phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau Ngoài ra kênh thông tin quantrọng nhất phục vụ cho hoạt động nghiên cứu là thực tế tổ chức và hoạt động củaQuốc hội nước ta hiện nay Ngoài ra em còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu,dẫn chứng phân tích những quy định cụ thể từ luật và tìm hiểu trích lọc các ý kiếnphân tích từ tạp chí, các chuyên đề nghiên cứu có liên quan

10 Ctf cấu luận văn:

Luận vãn được chia làm 3 phần: lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Phầnnội dung bao gồm ba chương, trong đó:

Chương 1 Giới thiệu chung về các cơ quan trực thuộc Quốc hội

Chương 2 Vai trò của các cơ quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tínhthống nhất của pháp luật

Chương 3 Thực tiễn của việc bảo đảm tính thống nhất của pháp luật trong các

cơ quan trực thuộc Quốc hội

Sau cùng em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của thầy Phan Trung Hiền đãgiúp em hoàn thành đề tài luận văn và mong được sự đóng góp để hoàn thiện đề tài này

từ quý thầy cô, các bạn sinh viên và những người có cùng mối quan tâm đến vấn đề đảmbảo tính thống nhất pháp luật của các cơ quan trực thuộc Quốc hội

Xin chân thành cảm ơn!

3

Trang 9

CHƯƠNG1 GIỚI THIỆU CHUNG VÈ CÁC cơ QUAN TRựC THUỘC QUÓC HỘI

1.3 Stf lược về lịch sử của Quốc hội

Việt Nam là một nước văn hiến từ ngàn xa Nhân dân Việt Nam vốn có truyềnthống đấu tranh anh hùng bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Từ giữa thế kỷ XIXtrở đi, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đứng dậy đấu tranh chống lại ách thống trịcủa thực dân Pháp Trong cao trào giải phóng dân tộc, ngày 16/8/1945 Đại hội đại biểuquốc dân họp tại Tân Trào Đại hội là hình ảnh tiêu biểu của khối đoàn kết dân tộc, đãhiệu triệu toàn dân nổi dậy giành chính quyền dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạngTháng Tám 1945 Ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọcbản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà Ngày 3-9, trongphiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chínhphủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.Ngày 06/01/1946, tất cả công dân Việt Nam không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dântộc, tôn giáo, chính kiến, v.v , từ 18 tuổi trở lên đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử, tự

do lựa chọn người đại diện cho mình vào Quốc hội, cơ quan "quyền lực tối cao" để ấnđịnh cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ Cộng hoà

Sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà và Quốc hội đã lập raChính phủ liên hiệp kháng chiến, thông qua bản Hiến pháp (1946) là thành quả củacuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam gần 9 thập kỷ, trực tiếp là

15 năm đấu tranh dưới ngọn cờ Độc lập Tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh do ĐảngCộng sản Đông Dương (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) lãnh đạo là hiện thực sinhđộng về thể chế Nhà nước Cộng hoà dân chủ, một loại hình Nhà nước Pháp quyềncách mạng của nhân dân Việt Nam

Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) vốn là một Quốc hội lậphiến Song do hoàn cảnh cách mạng và kháng chiến nên Hiến pháp năm 1946 chưađược ban hành Quốc hội đã giao cho Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội căn cứvào các nguyên tắc đã định của Hiến pháp để thực thi việc lập pháp Với tư cách là cơquan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội đã giải quyếtmọi vấn đề của toàn quốc, lập hiến và lập pháp, biểu quyết ngân sách, chuẩn y cáchiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài, Quốc hội khoá I đã hoàn thành trách nhiệmcủa mình đối với một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước

Mười bốn năm hoạt động ừong hoàn cảnh kháng chiến cực kỳ khó khăn gian

Trang 10

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

(khoá I), Quốc hội vì dân, vì nước, Quốc hội thống nhất toàn quốc, Quốc hội khángchiến và kiến quốc, Quốc hội dân tộc dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây

là bản chất và là đặc điểm độc đáo xuyên suốt của Quốc hội, hàm chứa nhiều bài họcquý về tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân Việt Nam

Trong bốn nhiệm kỳ: Quốc hội khóa II (1960 - 1964), khóa III (1964 - 1972),khóa IV (1972 - 1975) và khóa V (1975 - 1976), đặc biệt Quốc hội khóa V tuy làQuốc hội có nhiệm kỳ ngắn nhất, từ tháng 4/1975 đến tháng 4/1976, nhưng là Quốchội đầu tiên nhân dân ta hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình, bước vào kỷ nguyênmới - kỷ nguyên cả nước thống nhất tiến lên Chủ nghĩa xã hội Đã thể hiện đầy đủ bảnchất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòngcốt là liên minh công nông Trong điều kiện đất nước thống nhất, sự kiện lịch sử có ýnghĩa trọng đại là tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cảnước - Quốc hội khóa VI (1976 - 1981) là Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu chobước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước Quốc hội đã có những đónggóp tích cực vào việc xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyềntrong điều kiện hòa bình, xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Tại kỳhọp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1980

Được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1980, Quốc hội khóa VII(1981 - 1987), Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992) là Quốc hội của thời kỳ bắt đầucông cuộc đổi mới và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước đã đẩy mạnhcông tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quantrọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước Tại kỳ họp lần thứ 11(tháng 4/1992), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳđổi mới, phù họp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ của thời đại trên cơ sở điềukiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam

Hiến pháp năm 1992 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, là cơ sở tổ chức vàhoạt động của các khóa Quốc hội khóa IX (1992 - 1997), khóa X (1992 - 2002), khóa

XI (2002 - 2007) và khóa XII Quốc hội vừa qua đã đạt được những thành tựu rất đáng

kể, tạo mọi điều kiện pháp lý thuận lợi cho quá trình đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầuhội nhập kinh tế quốc tế Với vai trò là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp được củng

cố qua việc giảm dần ban hành pháp lệnh, tăng cường ban hành luật Cộng thêm việccác cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội có thể đề xuất, thực hiện việc soạnthảo và trình dự án luật Thành công trong việc áp dụng kỹ thuật lập pháp mới, là banhành một luật để sửa đổi, bổ sung đồng thời các quy định trong các đạo luật khác cóliên quan Trong hoạt động giám sát có bước tiến triển mới, với những kết quả thiết

Trang 11

thực, kiểm soát tất cả các hoạt động, vẫn giữ và tiếp tục tạo mối quan hệ đối ngoại tốtđẹp với tất cả các nước trên thế giới Nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Được tổ chức bầu cử ngày 20/5/2007 thành công tốtđẹp Quốc hội khóa XII đưa nước ta cùng hòa nhịp phát triển với quốc tế Tạo dựng vàgiữ vững mối quan hệ tốt đẹp trên thế giới Qua đó khẳng định vị trí của Việt Nam trêntrường quốc tế, đáp ứng được niềm hy vọng của nhân dân.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang tiến hành sự nghiệp đổimới toàn diện để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phát triển kinh tế, vănhoá, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước hoàn thiện nền dân chủ, làm cho dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Trong sự nghiệp đổi mới, Quốc hội đangphát huy vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, từng bước hoàn thiện việcxây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, tăng cường phápchế và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước Truyền thống yêu nước, cách mạng vànhững kinh nghiệm hoạt động của Quốc hội khoá 1 dưới ánh sáng tư tưởng Hồ ChíMinh đang tiếp tục khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cho Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vươn lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựngNhà nước pháp quyền mang đậm bản sắc Việt Nam và dấu ấn của thời đại

1.4 Vị trí, vai trò của Quốc hội

Vị trí pháp lý là một thuật ngữ chuyên ngành của khoa học pháp lý có nguồngốc latinh “Legal stataus” dùng để khái quát hóa vị trí, mô hình của một cơ quan nhànước nào đỏ trong hệ thống các cơ quan nhà nước thông qua các quy định của phápluật Hay nói một cách khác, thông qua các quy định của pháp luật, chúng ta xác địnhđược vị trí của Quốc hội đứng ở vị trí nào và hình dáng ra sao trong hệ thống các cơquan nhà nước

Điều 83, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực caonhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất cóquyền lập hiến và lập pháp

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụkinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu của tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của côngdân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộmáy nhà nước”

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quanduy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra Trong hệ thống các cơ quan nhà nước, nhân

Trang 12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

dân còn trực tiếp bầu ra các đại biểu hội đồng nhân dân các cấp Nhưng, Hội đồngnhân dân chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân từng địaphương bầu ra Chính việc Quốc hội do khối đại cử tri toàn quốc bầu ra từ những đạidiện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước tạo ra choQuốc hội ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước

Vị trí pháp lý của Quốc hội còn thể hiện rõ trong các mối quan hệ được phápluật quy định giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác Trước hết phải kể đếnmối quan hệ giữa Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất với Chính phủ - cơ quanchấp hành cao nhất của nhà nước Việt Nam Theo tiến trình của bốn bản Hiến pháp, cơquan hành pháp ngày càng được xác định rõ hơn là cơ quan chấp hành của Quốc hội.Neu như Hiến pháp 1946 quy định Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhànước (Điều 43, 44) thì Hiến pháp năm 1959 và năm 1980 ngoài việc quy định Hộiđồng Chính phủ (Hội đồng bộ trưởng) là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước,còn xác định rõ là cơ quan chấp hành cao nhất và cơ quan quyền lực nhà nước caonhất (Điều 79 Hiến pháp 1959 và Điều 104 Hiến pháp 1980) Hiến pháp năm 1992 quyđịnh: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (Điều 109) Chính phủ phải trựcthuộc Quốc hội và phải báo cáo trước Quốc hội

Đối với các cơ quan nhà nước khác ở trung ương: Tòa án nhân dân tối cao vàViện kiệm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội thành lập bằng cách bầu ra nhữngngười đứng đàu hai cơ quan nhà nước này Và cũng như Chính phủ, Chánh án Tòa ánnhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực thuộc Quốc hội vàđều phải báo cáo trước Quốc hội

Việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không theo nguyên tắc phânquyền, mà theo nguyên tắc tập quyền (quyền lực nhà nước không phân chia thànhquyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực xét xử tư pháp) là cơ sở đểQuốc hội trở thành cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam

Với vị trí, tính chất như thế nên chức năng của Quốc hội bao gồm nhữngphương diện lớn như sau:

■ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp;

■ Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, những nguyêntắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ của xã hội vàhoạt động của công dân

■ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củanhà nước, nhằm đảm bảo những quy định của hiến pháp và pháp luật được thi hànhtriệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả.GVHD: TS PHAN TRUNG HIỀN ~^T- SVTH: BÙI QUỐC THÀNH

Trang 13

Quốc hội nước ta có vị trí và vai trò rất quan trọng trong Nhà nước pháp quyềnXHCN Quốc hội đã trải qua một chặng đường dài phát triển, đã khẳng định vai trò, vịtrí của mình là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất Hoạt động của Quốc hội về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn

đề quan trọng của đất nước ngày càng được tăng cường Bước đường trưởng thành củaQuốc hội là bằng chứng của việc thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng khôngngừng củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta, Nhà nước pháp quyền XHCN củadân, do dân và vì dân

> Vai trò của Quốc hội trong hoạt động lập pháp

Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cho ý chí,nguyện vọng của nhân dân, Quốc hội đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạchđịnh đường lối chính sách, xây dựng pháp luật, quyết định về những vấn đề quan trọngcủa đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan nhànước Trong số các thẩm quyền được Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy Nhànước quy định thì thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội là quan trọng nhất Thôngqua hoạt động này mà các đại biểu Quốc hội biến ý chí, nguyện vọng của nhân dânthành các quy định của pháp luật, tạo ra cơ sở để mọi chủ thể (cơ quan, tổ chức, cánhân ) hoạt động theo

Đe hoạt động của các chủ thể trong xã hội theo đúng ý định của các nhà làmluật thì trước hết chất lượng của các luật được Quốc hội ban hành phải được đặc biệttrú trọng về nội dung và sự thực thi Các luật được thông qua phải thể hiện được cácquy luật khách quan của sự phát triển xã hội, phải chứa đựng trong đó những giá trị màdân tộc, nhân loại thừa nhận như sự công bằng, bình đẳng,

Một đạo luật được đánh giá là có chất lượng thì trước hết ngôn ngữ của nó phải

dễ hiểu, trong sáng để ai đọc lên cũng có thể hiểu và áp dụng được Một quy định củaluật mà có thể hiểu theo nghĩa này trong ngữ cảnh này, trong ngữ cảnh khác thì hành

xử khác thì không thể nói đó là một luật có chất lượng Hơn nữa, yêu cầu đối với chấtlượng hoạt động lập pháp của Quốc hội trong một Nhà nước pháp quyền của dân, dodân, vì dân được đặt ra hết sức cấp thiết

Trên cơ sở những đạo luật, bộ luật do Quốc hội thông qua mà các cơ quan quản

lý nhà nước ban hành những văn bản hướng dẫn thi hành đối với mọi hoạt động trong

xã hội

Như vậy, chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội ảnh hưởng trực tiếp tớihoạt động ban hành các văn bản pháp quy dưới luật của các cơ quan quản lý nhà nước,tới hoạt động thực thi và áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức và của mọi côngdân trong xã hội Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội là góp phần

Trang 14

Xem thêm Điều 84, hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

khẳng định vị trí và vai trò của Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất củaNhà nước ta

> Vai trò của Quốc hội trong nhà nước pháp quyềnVói chức năng của mình là lập hiến, lập pháp, thành lập nên các cơ quan nhànước, giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội có vaitrò quan trọng trong việc thực hiện các yêu cầu của nhà nước pháp quyền Nhà nướcpháp quyền có những yêu càu riêng khác với một Nhà nước không phải là Nhà nướcpháp quyền Khi chúng ta đã khẳng định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở ViệtNam thì Nhà nước của chúng ta phải đứng trước những yêu cầu mới

Do vậy, nếu như pháp luật của Nhà nước pháp quyền có những tiêu chí riêng thì

cơ quan lập pháp là Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền cũng phải có những yêu cầuđổi mới Khi chúng ta đã khẳng định trong Hiến pháp việc xây dựng Nhà nước phápquyền ở Việt Nam thì cũng có nghĩa là Quốc hội của chúng ta cũng phải được đổi mới

để đáp ứng các yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Pháp luật trong Nhànước pháp quyền phải có những tiêu chí riêng như tính công bằng, nhân đạo, vì quyềncon người, tính công khai, minh bạch, khả năng thực thi cao Những tiêu chí đó đòihỏi pháp luật của Quốc hội cũng phải thích ứng trước những yêu cầu mới trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

Trong tất cả các yếu tố (các chế định pháp luật) tạo thành vị trí pháp lý củaQuốc hội, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội đóng một vai trò rất quan trọng VìQuốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao trong bộ máy nhà nước, do vậy nhiệm

vụ quyền hạn của Quốc hội chỉ quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhấtcủa nhà nước, tức là trong Hiến pháp của nhà nước

1.3.1 Lập hiến và lập pháp

Từ Hiến pháp năm 1946 đến nay, chúng ta đều dùng thuật ngữ “nhiệm vụ vàquyền hạn “ để nói lên thẩm quyền của Quốc hội Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hộiđược Hiến pháp mới sửa đổi năm 2001 quy định tại Điều 84 gồm 14 điểm1 Quốc hội

là cơ quan duy nhất có quyền thông qua Hiến pháp, thay đổi Hiến pháp; thông qua luật

và thay đổi các đạo luật Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất có hiệu lực pháp lý tối caoquy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, Với tínhchất đặc biệt nghiêm trọng như vậy của các quy định Hiến pháp, do đó việc thông qua

Trang 15

Hiến pháp không thể thuộc thẩm quyền của một cơ quan nào khác trong bộ máy nhànước ngoài Quốc hội2.

Làm luật và làm hiến pháp là nhiệm vụ quan trọng nhất của Quốc hội Quốc hộihoạt động có hiệu quả chỉ khi nào Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ lập hiến và lậppháp Chính vì lẽ đó, có nhiều người cho rằng Quốc hội có chức năng quan trọng nhất

là làm luật

Có thể nói nhiệm vụ lập pháp là khá quan trọng Các đạo luật có tác dụng sẽđiều tiết mọi hoạt động của xã hội, định hướng cho xã hội phát triển Chính vì lẽ đó, ởnước ta những năm của thời kỳ đối mới, Quốc hội phải chỉnh lý lại một loạt các vănbản luật đã được thông qua ở thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, cho phù họp với tinhthần của hiến pháp mới Bên cạnh đó phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới đang cầnthiết cho việc quản lý xã hội hiện nay theo yêu cầu của công cuộc đổi mới quản lý kinh

tế, từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp, sang cơ chế thị trường và đổi mới hệ thốngchính trị Khi đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiệm

vụ lập pháp của Quốc hội càng nặng nề hơn, vì hệ thống pháp luật của Việt Namkhông những chỉ phản ánh yêu cầu của Việt Nam, mà còn phải phù họp với hệ thốngcủa pháp luật quốc tế, đặc biệt là pháp luật thương mại, kinh tế

1.3.4 Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao, đứng đầu toàn bộ các cơ quan họpthành bộ máy nhà nước, Quốc hội phải thay mặt nhân dân quyết định những vấn đềquan trọng thuộc về sinh mệnh của đất nước Đó là những vấn đề liên quan đến chiếntranh và hòa bình, các biện pháp đặc biệt nhằm đảm bảo quốc phòng và an ninh quốcgia Quốc hội phải thay mặt nhân dân cả nước quyết những đường hướng phát triểncủa đất nước Đó là việc Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;

quyết định dự toán ngân sách tài chính, tiền tệ quốc gia Quốc hội phải quyết địnhnhững vấn đề có liên quan đến cơ cấu lãnh thổ quốc gia Đó là việc nhập, chia, điềuchỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vịhành chính kinh tế đặc biệt

Thể hiện quyền lực tối cao của mình, không những chỉ tập trung quyết địnhnhững vấn đề cơ bản thuộc về chức năng đối nội của nhà nước, Quốc hội còn phảiquyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, bằng cách quy định những nguyên tắc cơbản của chính sách đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các Điều ước quốc tế đã ký kếthoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước

Trang 16

Xem Điều 83, Hiến pháp năm 1992.

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

1.3.5 Quyền giám sát tối cao

Xét cho cùng hiến pháp, luật và các nghị quyết khác của Quốc hội đều là nhữngquyết định của Quốc hội Tính quyền lực nhà nước tối cao của Quốc hội còn được thểhiện ở chỗ Quốc hội thể hiện giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, củacác tổ chức xã hội và mọi công dân có liên quan Quyền giám sát này được hiến phápgọi là quyền giám sát tối cao3 Khác với quyền giám sát của Nghị viện các nước pháttriển, Quốc hội Việt Nam có cả quyền giám sát đối với hoạt động của nguyên thủ quốcgia - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động của các cơ quan

tư pháp và cả các hoạt động của mọi công dân

Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ hiến pháp và pháp luật là một việc rất quantrọng, góp phần tạo nên sự ổn định trật tự an toàn và kỷ cương xã hội Kiểm tra, giámsát việc thi hành pháp luật được pháp luật giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm Ví dụnhư các Viện kiểm sát nhân dân, các ban thanh tra nhân dân và các thanh tra nhànước, để tránh sự chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ này, theo tinh thần của hiếnpháp, Quốc hội chỉ tập trung giám sát hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và các nghịquyết của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước trung ương: Chủ tịch nước, Phó Chủtịch nước, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chính việc tập trung giám sát hoạtđộng của các cơ quan nhà nước trung ương là cơ sở tạo nên chức năng giám sát tối caocủa Quốc hội Và cũng chính thông qua hoạt động giám sát đó, Quốc hội thực hiệnđược sự giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói trên, Quốc hội làm việc theo chế độ hộinghị, các vấn đề được thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số

Tóm lại, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền quyết địnhnhững vấn đề quan trọng nhất thuộc chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước ViệtNam Quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội có thể tập trung vào bốn nhóm sau đây:

> Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp;

> Quốc hội có quyền thành lập các cơ quan nhà nước trung ương, quy định nhữngnguyên tắc cơ bản trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước;

> Quốc hội quyết định những biện pháp quan trọng nhằm xây dựng, phát triển,bảo vệ đất nước: thông qua kế hoạch phát triển xã hội, dự toán và quyết toán ngân sáchnhà nước, chiến tranh hòa bình;

> Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của toàn bộ bộmáy nhà nước

Trang 17

1.4 Tổng thể về các Ctf quan trực thuộc của Quốc hội

1.4.1 Vị trí và vai trò của ủy ban thường yụ Quốc hội

1.4.1.1 Vị trí của ủy ban thường vụ Quốc hội

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội Uỷ banThường vụ Quốc hội bao gồm một Chủ tịch, các Phó Chủ tịch (hiện tại có 5 Phó Chủtịch) và các uỷ viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hộilàm các Phó Chủ tịch, số Phó Chủ tịch Quốc hội và số ủy viên ủy ban thường vụQuốc hội do Quốc hội quyết định Tổng số các uỷ viên thường vụ Quốc hội trongnhiệm kỳ hiện tại là 15 người Các uỷ viên thường vụ Quốc hội là các đại biểu chuyêntrách và không tham gia vào Chính phủ

1.4.1.2 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội

Theo Hiến pháp năm 1992 quy định, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có 12 quyền

và nghĩa vụ, trong đó có quyền thông báo, triệu tập và chủ toạ các kỳ họp của Quốchội, giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh, và ban hành pháp lệnh về những vấn đềđược Quốc hội phân công Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giám sát và chỉ đạo hoạt độngcủa Hội đồng nhân dân, chỉ đạo, điều chỉnh và phối họp hoạt động của Hội đồng dântộc và các Uỷ ban của Quốc hội

Thành viên ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viênChính phủ, làm việc theo chế độ chuyên trách

ủy ban thường vụ Quốc hội mỗi khóa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhcho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra ủy ban thường vụ Quốc hội mới

1.4.2 Vị trí của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội

Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội,làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số Nhiệm kỳ của Hội đồng dân tộc

và các ủy ban của Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội

Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật,kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra những báo cáo đượcQuốc hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, ủy ban thường vụQuốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát;kiến nghị với ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội có quyền kiến nghị ủy ban thường

vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữcác chức vụ do Quốc hội bàu hoặc phê chuẩn

Trang 18

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo côngtác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước ủyban thường vụ Quốc hội

1.4.3 Vai trò của Hội đồng dân tộc

Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên, số PhóChủ tịch và số ủyy viên Hội đồng dân tộc do Quốc hội quyết định

Thành viên Hội đồng dân tộc do Quốc hội bàu trong số các đại biểu Quốc hội

Số thành viên hoạt động chuyên trách do ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định

Chủ tịch Hội đồng dân tộc có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

> Điều hành công việc của Hội đồng dân tộc;

> Triệu tập và chủ trì các phiên họp của Hội đồng dân tộc;

> Giữ mối liên hệ thường xuyên với các thành viên của Hội đồng dân tộc;

> Được tham dự các phiên họp của ủy ban thường vụ Quốc hội; được mời tham

dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc;

> Thay mặt Hội đồng dân tộc giữ mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;

> Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ủy ban thường vụ Quốc hội giao

Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc giúp Chủ tịch Hội đồng dân tộc thực hiện nhiệm

vụ theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng dân tộc Khi Chủ tịch Hội đồng dân tộcvắng mặt thì một Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạncủa Chủ tịch

Tất cả các thành viên trong Hội đồng dân tộc đều là người dân tộc thiểu số Hộiđồng dân tộc nghiên cứu và đề xuất các hoạt động của Quốc hội về vấn đề dân tộc,giám sát việc thực thi các chính sách dân tộc, đề xuất các chương trình phát triển kinh

tế xã hội ở các vùng miền núi và những vùng có đồng bào dân tộc sinh sống

1.4.4 Vai trò của các ủy ban của Quốc hội

ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các ủy viên

Số Phó Chủ nhiệm và số ủy viên ủy ban do Quốc hội quyết định

Thành viên ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốchội Số thành viên hoạt động chuyên trách do ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định

Chủ nhiệm ủy ban của Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

> Điều hành công việc của ủy ban;

> Triệu tập và chủ trì các phiên họp của ủy ban;

> Giữ mối liên hệ thường xuyên với các thành viên của ủy ban;

> Thay mặt ủy ban giữ mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;

> Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ủy ban thường vụ Quốc hội giao

Trang 19

Phó Chủ nhiệm ủy ban giúp Chủ nhiệm ủy ban thực hiện nhiệm vụ theo sựphân công của Chủ nhiệm ủy ban Khi Chủ nhiệm ủy ban vắng mặt thì một Phó Chủnhiệm được Chủ nhiệm ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ nhiệm.

Các uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu và xem xét các dự luật, các sáng kiến xâydựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo pháp lệnh cũng như dự thảo các văn bảnluật khác và các báo cáo theo sự phân công của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốchội Các uỷ ban này góp ý cho Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về chưomgtrình lập pháp Các uỷ ban này tiến hành giám sát, điều tra trong thẩm quyền của mình

và thực thi các quyền được pháp luật quy định Các uỷ ban này cũng đưa ra các đềxuất về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình

Hiện nay Quốc hội có 9 uỷ ban:

• Uỷ ban pháp luật;

• ủy ban tư pháp;

• ủy ban kinh tế;

• ủy ban tài chính, ngân sách;

• Uỷ ban Quốc phòng và An ninh;

• Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh thiếu niên và nhi đồng;

• Uỷ ban các vấn đề xã hội;

• Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường;

• Uỷ ban đối ngoại

Tóm lại, việc nghiên cứu vị trí, vai trò của Quốc hội và các cơ quan trực thuộcQuốc hội giúp ta hiểu rõ và hoàn thiện hơn nữa việc thống nhất pháp luật giữa các cơquan đó với nhau, từ khi hình thành trong lịch sử đến giai đoạn hiện nay Quốc hội vẫnluôn giữ vai trò chủ đạo của mình về thực hiện các chức năng, quyền hạn đảm bảo chonhà nước có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và góp phần cho đất nước tangày càng phát triển hơn trong thời kỳ hội nhập

Trang 20

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA CÁC Cơ QUAN TRựC THUỘC QUÓC HỘI TRONG VIỆC

BẢO ĐẢM TÍNH THÓNG NHẤT CỦA PHÁP LUẬT

^rCSìs,

Để làm rõ hơn các vấn đề về đảm bảo tính thống nhất pháp luật của các cơ quantrực thuộc Quốc hội, tiếp theo tác giả nghiên cứu về tính thống nhất pháp luật, các cơquan tham gia vào tính thống nhất, vai trò chung của các cơ quan và của từng cơ quantrực thuộc Quốc hội trong việc thống nhất pháp luật với nhau

2.1 Tính thống nhất của pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xãhội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiệnbằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luậttương ứng Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phongkiến, pháp luật tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật hoàn toàn không phải làsản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự nhiên phi giai cấp của con người nhưhọc thuyết pháp luật tự nhiên quan niệm Pháp luật, như Mác - Ăng - ghen phân tích,chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bản chất củapháp luật thể hiện ở tính giai cấp của Nhà nước Tuy nhiên, pháp luật cũng mang tính

xã hội, bởi vì ở mức độ nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm những yêu cầu chungcủa xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trường sống về mặt này, pháp luật xã hội chủnghĩa có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội

Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội Nó do

cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng Nếu phápluật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội, nhất là các quyluật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội.Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó

Theo Lênin, “một đạo luật là một biện pháp chính trị” Trong lịch sử, bất cứgiai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị củagiai cấp mình Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp chính trị củagiai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện quyền lực của Nhà nước thực hiệnnhững yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó Do đó, Nhà nước nào, pháp luật

ấy Những thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy phạm, tính cưỡng chế, tínhkhách quan, tính Nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn định

Trang 21

Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhànước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luậtmột cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.

Pháp chế và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng không đồng nhất.Pháp chế là một phạm trù thể hiện sự đòi hỏi và những yêu cầu đối với các chủ thểpháp luật, phải triệt đế tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật trong đời sống

xã hội

Một nền pháp chế thống nhất, vững chắc là cơ sở cần thiết cho hệ thống phápluật điều chỉnh cỏ hiệu quả các quan hệ xã hội, phát huy được hiệu lực của mình; mặtkhác, chỉ khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù họp và được sửa đổi,điều chỉnh, bổ sung kịp thời khi cần thiết, thì nền pháp chế mới được củng cố và tăngcường

Pháp chế càn được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máyNhà nước Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải được tiếnhành theo đúng quy định của pháp luật; mọi công chức Nhà nước phải nghiêm chỉnh

và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi viphạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh Các tổ chức, chính trị, xã hội cũng cónghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế là cơ sởbảo đảm cho bộ máy Nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệulực của mình và bảo đảm công bằng xã hội Điều 12 Hiến pháp 1992 của nước ta quyđịnh “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa”

Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi bộ máy Nhà nước, cácđịa phương và mọi công dân trong cả nước phải nhận thức và thực hiện giống nhau đốivới toàn bộ hệ thống pháp luật đã ban hành Nó không cho phép mỗi nơi có luật lệriêng, duy trì tình trạng “phép vua thua lệ làng”, thực hiện pháp luật của nhà nước theocách “vận dụng” riêng của mình Nó chống lại thói cục bộ, địa phương Bảo đảm tínhthống nhất của pháp chế là điều kiện không thể thiếu để thực hiện dân chủ đối với mọicông dân và quyền lực của nhà nước

Bộ luật và luật đều là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụthể hóa Hiến pháp nhằm điều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạtđộng của xã hội Các Bộ luật và luật này có giá trị pháp lý cao (chỉ sau Hiến pháp) và

có phạm vi tác động rộng lớn đến đông đảo các tầng lớp nhân dân Vì vậy khi xâydựng các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong các vănbản Bộ luật và luật, không được trái với các quy định đó Các Bộ luật và luật thường

Trang 22

4 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mói (ĐH VI, vn, VIII, IX) NXB Chính trị QG H.2005, tr.328.

5 Vãn kiện Đại hội Đảng thòi kỳ đổi mói (ĐH VI, vn, VIII, IX) NXB Chính trị QG H.2005, tr.510.

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

được ban hành theo một trình tự hết sức chặt chẽ, gồm 4 giai đoạn : soạn thảo dự ánluật, thảo luận dự án luật, thông qua luật, và công bố luật

Tuy nhiên cần phân biệt giữa Bộ luật và luật Bộ luật là một văn bản quy phạmpháp luật do Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh và tác động rộng rãi đến các quan hệ

xã hội trong một lĩnh vục hoạt động nào đó của xã hội (ví dụ : Bộ luật hình sự, Bộ luật

tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự ) Còn luật cũng là một văn bản quyphạm pháp luật do Quốc hội ban hành, trình tự ban hành và hiệu lực giống Bộ luật,song phạm vi các quan hệ xã hội cần điều chỉnh hẹp hom, chỉ trong một lĩnh vực hoạtđộng, một ngành hoặc một giới (ví dụ : Luật Cty, Luật đất đai, Luật thuế, Luật đầu tưnước ngoài, Luật xây dựng, Luật nhà ở)

2.2 Yêu cầu của tính thống nhất của pháp luật

Trong mục rv Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, khi đề cập đếnvấn đề nhà nước, Cưomg lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (năm 1991) viết:

“Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phâncông rành mạch ba quyền đó”4 Tiếp tục tổng kết thực tiễn, hoàn thiện và phát triểnquan điểm nói trên của Cưomg lĩnh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ vincủa Đảng khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phốihọp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp”5 Đến năm 2001, với sáng kiến lập pháp của Ban chấp hành trung ương Đảngkhóa IX, Quốc hội khỏa X đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến phápnăm 1992, trong đó đã thể chế các quan điểm nói trên của Đảng thành một trongnhững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam Đây là một trong những quan điểm và là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộccải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới; thể hiện sự phát triểnmới về nhận thức lý luận của Đảng và nhà nước ta trong quá trình tổ chức và thực hiệnquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Tuy nhiên, là nguyên tắc mới, nên ý nghĩa và nội dung của nó không phải đãđược nhận thức thống nhất, vận dụng đầy đủ và đúng đắn vào thực tiễn tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước Để góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận nguyêntắc hiến định nói trên, trong bài viết này, xin bàn về hai vấn đề:

- Một là: Quan niệm về quyền lực nhà nước là thống nhất;

- Hai là: Tại sao phải có sự phân công giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp; ý nghĩa và nội dung của phân công, phối họp ba quyền như thế nào?

Trang 23

2.2.1 Quan niệm về quyền lực nhà nước là thống nhất

về vấn đề này, cho đến nay, trong nhận thức lý luận ở nước ta mới chỉ dừng lại

ở quan niệm rằng, quyền lực nhà nước thuộc về một giai cấp hoặc liên minh giai cấp.Xét về bản chất giai cấp thì quyền lực nhà nước bao giờ cũng thống nhất trong tay giaicấp cầm quyền, ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhândân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, về cơ bản lợi ích giữa các giai cấp là phù họpvới nhau Vì vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia Nhấn manh tínhthống nhất của quyền lực nhà nước là để khẳng định trong nhà nước ta không có sựphân chia quyền lực nhà nước; là để phủ nhận và đối lập với nguyên tắc phân quyềntrong các nhà nước tư sản

Tuy nhiên, đây là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần phải đi sâu tìmhiểu và vận dụng nó một cách đầy đủ và nhất quán trong thực tiễn tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước Các khía cạnh của vấn đề về quyền lực nhà nước là thốngnhất như: Thế nào là thống nhất quyền lực nhà nước? Quyền lực nhà nước thống nhất

ở đâu? ý nghĩa của quyền lực nhà nước là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước như thế nào? Các khía cạnh này đều cần được làm sáng tỏ vềphương diện lý luận và nhận thức Hiện nay, đang có các nhận thức khác nhau trên cáckhía cạnh này

- Có một số người cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng sự thốngnhất đó tập trung vào Quốc hội Bởi vì nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước,nhưng lại không thực hiện được quyền lực nhà nước một cách trực tiếp, nên đã traoquyền cho cơ quan đại diện cao nhất do mình bầu ra là Quốc hội Do vậy, Quốc hộiđược Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Và, với vị trí pháp

lý đỏ, những người này đã ngộ nhận rằng Quốc hội là cơ quan có toàn quyền, là cơquan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp Thật ra, đây là quan điểm tậpquyền đã trở thành nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung quan liêu bao cấp, mà thể hiện rõ nét nhất trong các quy định của Hiếnpháp năm 1980 Nguyên tắc này có ưu điểm là bảo đảm cho quyền lực nhà nước tậptrung, quyết định và thực thi quyền lực nhanh chóng, thống nhất Tuy nhiên, nguyêntắc này cũng bộc lộ nhiều hạn chế Đó là thiếu sự phân đỊnh phạm vi quyền lực nhànước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thiếu sự kiểm soát quyền lực nhànước giữa các cơ quan nhà nước, nhất là thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà nước đốivới quyền lập pháp Hơn nữa, nguyên tắc này phủ nhận tính độc lập tương đối giữa cácquyền nên đã hạn chế tính năng động, hiệu quả và trách nhiệm của mỗi quyền Nhândân và xã hội không có cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của quyền lực nhànước Do vậy, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tập quyền tiềm

Trang 24

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước từ phía các cơ quan nhà nước được nhân dântrao quyền

- Một số khác lại cho rằng, trong nhà nước kiểu mới như nhà nước ta, giai cấpcông nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của một đảng, ngày càng thống nhất

về lợi ích, trong nội bộ không có sự phân chia thành phe phái đối lập như trong nhànước tư sản, nên thống nhất quyền lực nhà nước là yếu tố duy nhất giữ vai trò quyếtđịnh trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Quan niệm này đề cao tínhthống nhất của quyền lực nhà nước, phủ nhận, xem thường hoặc hạ thấp vai trò củaphân công, phân nhiệm rành mạch quyền lực nhà nước Thực chất quan niệm này cũngkhông khác gì quan điểm nói trên Hậu quả của nó cũng là thủ tiêu trách nhiệm tronglao động quyền lực nhà nước, hạ thấp vai trò của dân chủ và vô hiệu hóa chức nănggiám sát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước, là mảnh đất màu mỡ cho lạm dụngquyền lực nhà nước của nhân dân

- Quan niệm đúng đắn hơn cả là quyền lực nhà nước thống nhất nơi nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao của quyềnlực nhà nước Nhân dân trao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chínhphủ và cho các cơ quan tư pháp Chứ không phải nhân dân trao hết thảy quyền lực nhànước của mình cho Quốc hội, rồi đến lượt mình, Quốc hội lại trao quyền cho Chínhphủ và các cơ quan tư pháp Theo Điều 84 của Hiến pháp năm 1992, nhân dân chỉ traocho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến,lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nhiệm vụ về quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của đất nước Quan niệm đó hoàn toàn phù họp với dânchủ XHCN Bởi vì, dân chủ XHCN đòi hỏi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nướckhông chỉ bằng hình thức dân chủ đại diện mà còn bằng cả dân chủ trực tiếp, trong đó

có trưng cầu ý dân, có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức Như vậy, thống nhấtquyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tậptrung thống nhất ở nhân dân chứ không phải thuộc về Quốc hội Quan niệm đó có ýnghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Trước hết, điều đó chỉ ra rằng, quyền lực nhànước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốcthống nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền Do vậy, nói quyền lựcnhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chínhtrị của nhà nước Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung

là xây dựng một nhà nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh” như Đảng ta đã chỉ ra

Trang 25

Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất như nói trên là cách thức tổ chứcquyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lạitrong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền Đó cũng là cơ

sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan

hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp Đồng thời, đócũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng vàhiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như

từ bên ngoài là nhân dân

Tóm lại, quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất và tập trung ở nhân dân,chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước là quan niệm đúng, có ý nghĩa chỉđạo tổ chức quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN của dân, do dân và vì dân Mọi biểu hiện xa rời quan điểm quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân đều dẫn đến tổ chức quyền lực nhà nước kém hiệu quả

2.2.2 Quan niệm về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp

Như đã nói ở phần trên, trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhànước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủyquyền, nhân dân giao quyền Vì quyền lực nhà nước là của nhân dân, nhưng nhân dânlại không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mà lại giao cho người khác

là nhà nước, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyềnlực nhà nước Mặt khác, khi ủy quyền cho nhà nước, quyền lực nhà nước lại thườngvận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc banđầu (từ của nhân dân là số đông chuyển thành số ít của một nhóm người hoặc của mộtngười) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước Quyền lựcnhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, suy cho cùng, là giao chonhững con người cụ thể thực thi Mà con người thì “luôn luôn chịu sự ảnh hưởng củacác loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con người Điều cũng khiếncho lý tính đôi khi bị chìm khuất”6 Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dụcvọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm ừọng việc thực thi quyền lực nhànước càng lớn Hơn nữa, với bản tính vị kỷ, con người thường “bị điều khiển bởi khátvọng, trong đó khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để đạt các khátvọng khác”7 Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủyquyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền Vì vậy, kiểm

Trang 26

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối vớingười được ủy quyền Hom thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng

có thể cân, đong, đo, đếm được một cách rạch ròi, vì nó là một thể thống nhất, như nói

ở phần trên Điều đó lại càng đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sựlộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực thiquyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thiquyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền

Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan nói trên, quyền lực nhà nước thường đượclượng hỏa, phân định thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Sự lượng hóanày là để giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt nhân dân thực hiện.Trong thực tiễn ở nước ta, cũng như các nước, quyền lập pháp được giao cho Quốc hộihay Nghị viện, quyền hành pháp được giao Chính phủ, quyền tư pháp được giao choTòa án Sự phân đỊnh các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để nhân dân giao quyền

mà không bị lạm quyền, nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quảthực hiện các quyền mà mình đã giao Đồng thời, cũng là để cho các cơ quan tươngứng được giao quyền đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tựkiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao của mình

Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốcgia Những người được nhân dân trao cho quyền này là những người do phổ thông đầuphiếu bầu ra họp thành cơ quan gọi là Quốc hội hay Nghị viện Thuộc tính cơ bản,xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chíchung của nhân dân và được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhấtđược nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật Quyền biểu quyết thông qua luật

là quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội Vìvậy, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật Đồng thời, là người thaymặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước, nhất là hoạt động thựchiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà nhân dân giao cho các cơquan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa

Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chínhphủ đảm trách Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lýnhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tố chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh,

an toàn và phát triển xã hội Không có một Chính phủ quản lý nhà nước hữu hiệukhông thể có một nhà nước giàu có, phát triển ổn định cả về mặt kinh tế lẫn mặt xãhội Thực hiện quyền này đòi hỏi Chính phủ và các thành viên của Chính phủ phảinhanh nhạy, quyết đoán kịp thời và quyền uy tập trung thống nhất

Trang 27

Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho tòa án Độc lập và chỉtuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyềnnày, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xửcủa Tòa án Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xửcác hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước Vìvậy, bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân là trách nhiệm hàng đầu của quyền

tư pháp Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tínhpháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án

Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành

ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan Ngày nay, xu hướng phân định rànhmạch ba quyền đó ngày càng được coi trọng trong tổ chức quyền lực nhà nước Bởi vì,

xã hội càng phát triển, phân công lao động càng phải chuyên môn hóa cao để phát huyhiệu quả Đồng thời, thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta chỉ rarằng, việc phân định rành mạch ba quyền là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò củanhà nước trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong nhà nước ta quyền lực nhà nước là thốngnhất Đó là sự thống nhất về mục tiêu chính trị chung Vì vậy, việc phân định quyềnlực nhà nước không chứa đựng và bao quát cả việc phân lập mục tiêu chính trị chungcủa quyền lực nhà nước Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau mà “ràng buộc lẫnnhau”, phối họp với nhau, hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủnhiệm vụ quyền hạn mà nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp - đạo luật gốccủa nhà nước và xã hội quy định Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là

để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước vàphát huy dân chủ XHCN, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhànước giữa các quyền, ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phân địnhnhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trọng bộ máy nhà nước, để nhà nước hoạtđộng có hiệu lực và hiệu quả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực củanhân dân

2.3 Các cơ quan tham gia vào tính thống nhất của pháp luật

Quốc hội chúng ta ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình, các cơ quan trựcthuộc của Quốc hội cũng ngày càng thống nhất với nhau về các phương diện lập pháp,thực thi pháp luật và phối họp hỗ trợ với các cơ quan nhà nước khác để cho hệ thốngpháp luật của ta ngày càng hoàn thiện hơn Các cơ quan tham gia vào tính thống nhấtpháp luật của Quốc hội gồm:

• ủy ban thường vụ Quốc hội;

Trang 28

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

• Hội đồng dân tộc;

• Các ủy ban của Quốc hội

2.4 Vai trò chung của các Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của pháp luật

Hiến pháp năm 1992 đã xác định mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theonguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối họp giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Tổ chức

bộ máy nhà nước đã từng bước phù họp với các mục tiêu của quá trình chuyển đổi nềnkinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và phù họp với các mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Cơ chế tổ chức và vận hành của các thiết chế quyền lực ở cấptrung ương từ Quốc hội, Chính phủ đến tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện sự kế thừa sâu sắc tính chất tiến bộ củanhà nước kiểu mới được khẳng định trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 Đồng thờiHiến pháp năm 1992 cũng khẳng định những cải cách mạnh mẽ với mục tiêu xây dựng

bộ máy nhà nước thật sự có hiệu quả, thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội của thời

kỳ đối mới

Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ khi có Hiếnpháp năm 1992 cho thấy, giữa các quy định Hiến pháp về cơ cấu tổ chức, quyền hạn,trách nhiệm và mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực với thực tiễn vận hành của cơchế quyền lực nhà nước vẫn tồn tại một khoảng cách

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992 thểhiện rõ mong muốn tổ chức theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của kinh tế thịtrường và trở thành một công cụ có hiệu quả để tiến hành cải cách Tuy nhiên các quyđịnh của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng lớncủa các quy định Hiến pháp năm 1980 và thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước trongmấy chục năm qua về phía Quốc hội, với tính chất là cơ quan đại biểu cao nhất củanhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Quốc hội được xác định là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; thực hiệnquyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước và quyết định nhữngvấn đề quan trọng của đất nước Nhưng tổ chức và hoạt động của Quốc hội vẫn bị tácđộng và ảnh hưởng bởi các yếu tố chưa họp lý trong tổ chức bộ máy nhà nước; mặc dù

đã có cải cách, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Có thể thấy

bộ máy nhà nước được tổ chức trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1992 vẫnchưa đủ khả năng để giải quyết được các mâu thuẫn như: mâu thuẫn giữa quy địnhHiến pháp về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và thực tiễn quan liêu của tổ chức

Trang 29

bộ máy nhà nước; mâu thuẫn giữa thẩm quyền hiến định và quyền lực trên thực tế củaQuốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ; mâu thuẫn giữa tính không thường xuyên củahoạt động Quốc hội, tính không chuyên nghiệp của đa số đại biểu Quốc hội với nhucầu xây dựng pháp luật và thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội; mâu thuẫngiữa thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội và quyền ra Pháp lệnh của Uỷ banThường vụ Quốc hội; mâu thuẫn giữa địa vị phụ thuộc của Chính phủ trong mối quan

hệ với Quốc hội và nhu càu xây dựng một nền hành chính hiệu quả và phát triển Những mâu thuẫn này là không thể tránh khỏi trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh

tế từ tập trung kế hoạch hoá bao cấp sang kinh tế thị trường Bởi lẽ mô hình kinh tế cũchưa thật sự bị loại bỏ, mô hình kinh tế mới đang từng bước được khẳng định trongcuộc đấu tranh gay go và phức tạp Vì vậy có thể nói Hiến pháp năm 1992, tuy khôngtiếp tục quy định mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đã tồn tại trong thời kỳ kinh tế tậptrung, bao cấp theo mô hình tổ chức bộ máy của một số nước xã hội chủ nghĩa trướcđây, nhưng chưa thể đưa ra một mô hình tổ chức bộ máy nhà nước mới - bộ máy nhànước của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù họp với những đặctrưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc

tế và trong xu thế toàn cầu hóa

Đối với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phốihọp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp, như đã phân tích ở phần trên, cần phải nhìn nhận lại ý kiến cho rằng toàn bộquyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội Các Hiến pháp của nước ta từ 1946 đếnnay đã chỉ rõ là ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, toàn bộ quyền lực nhànước thuộc về nhân dân Như vậy, nhân dân là chủ thể duy nhất và tối cao của quyềnlực nhà nước và nếu ở một giai đoạn lịch sử nhất định đã tồn tại nguyên tắc tập quyền,thì đó là sự biểu đạt của tư tưởng: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chứkhông thể toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Quốc hội như đã từng được quanniệm Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng không phải là cơ quantoàn quyền Quốc hội nhận quyền lực nhà nước từ nhân dân và như vậy, không thể uỷquyền tiếp cho các cơ quan nhà nước khác Do đó, không thể tồn tại một Quốc hộinắm toàn bộ quyền lực nhà nước Nhìn nhận nhà nước trong một thế giới đang chuyểnđổi với những yếu tố khách quan, cần có cách nhìn thực tế hơn về chức năng của Quốchội, để từ đó đưa ra các quy định phù họp hơn về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

2.4.1 về tổ chức của Quốc hội

Cần cải tổ cơ cấu tổ chức của Quốc hội, xác định lại mối quan hệ giữa Quốchội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với các Hội đồng, các Uỷ ban của Quốc hội Việcquy định chức năng, quyền hạn của Quốc hội không những phải gắn liền với việc xác

Trang 30

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

định cơ cấu tổ chức mà còn gắn liền YỚi các phương thức thực hiện các quyền ấy.Phương thức hoạt động của Quốc hội phải dựa trên hai yếu tố cơ bản là các đại biểuQuốc hội và các Uỷ ban của Quốc hội Ngoài ra, các nghị quyết của Quốc hội vềnhững vấn đề quan trọng của đất nước cần được luật hóa dưới hình thức một đạo luật;thay Nghị quyết về ngân sách nhà nước bằng Luật về ngân sách hàng năm Hiện nay,theo chúng tôi, đã có các điều kiện cần thiết để chuyển dần phương thức hoạt động củaQuốc hội từ một Quốc hội tham luận sang một Quốc hội tranh luận, từ một Quốc hộihoạt động theo Đoàn đại biểu sang một Quốc hội với hoạt động của tùng đại biểuQuốc hội, một Quốc hội hướng tới hoạt động thường xuyên với một bộ phận quantrọng các đại biểu chuyên nghiệp Xuất phát từ bản chất của Quốc hội với tư cách là cơquan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân nêntrong cơ cấu bộ máy nhà nước, Quốc hội phải có vị trí khác với cơ quan hành pháp và

cơ quan tư pháp Quyền lực của Quốc hội phải là quyền lực có tính chi phối đối vớicác lĩnh vực quyền lực nhà nước khác Tức là xét trên phương diện thẩm quyền, Quốchội cần nắm giữ những quyền hạn mà việc thực thi chúng có ý nghĩa quyết định đốivới toàn bộ hoạt động nhà nước

2.4.2 về quyền lập pháp

Quốc hội là một cơ quan thực hiện quyền lập pháp Do vậy quyền làm luật làthẩm quyền cơ bản nhất của Quốc hội Để thực hiện quyền này, đảm bảo vai trò quyếtđịnh của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động lập pháp Quốc hội cần đổi mới công tác

Ke hoạch hỏa xây dựng pháp luật theo hướng Quốc hội sẽ chỉ thông qua các sáng kiếnpháp luật Những cơ quan, cá nhân có quyền nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệmlập luận về sự cần thiết ban hành các đạo luật, sau đó, Quốc hội sẽ thông qua Chươngtrình xây dựng pháp luật và giao trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức soạn thảo Bêncạnh đó, cần có công đoạn xây dựng chính sách trước khi bắt tay vào soạn thảo một dự

án luật

2.4.3 về quy mô các đạo luật

Cần đi theo hướng xây dựng các đạo luật có phạm vi và quy mô điều chỉnhhẹp, ít điều khoản để thuận tiện khi áp dụng đồng thời giảm dần việc ban hành các vănbản dưới luật, cần thực hiện biện pháp dùng một đạo luật mới để sửa đổi, bổ sungnhiều đạo luật cùng lúc Trong chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước, cần chú trọng đến chức năng quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia,quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê duyệtquyết toán ngân sách nhà nước

Trang 31

2.4.4 về vấn đề kiểm soát của Quốc hội đối vói các quan hệ quyền lực và việc thực hiện quyền lực nhà nước

Trên thực tế, cần nhấn manh rằng Quốc hội trong quan hệ phân công quyền lực

là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, nhưng về vị trí lại là cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất và là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Do vậy, Quốc hội có quyềnkiểm soát toàn bộ quá trình thực thi quyền lực nhà nước, kể cả quyền hành pháp vàquyền tư pháp

Trong số các cơ quan của Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội là những cơ quanđặc trách từng lĩnh vực hoạt động của Quốc hội và là các Uỷ ban hoạt động thườngxuyên Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, số lượng các Uỷ ban phải được tăng lênnhiều lần và tương ứng với số lượng các Uỷ ban ấy là số đại biểu chuyên trách phảigia tăng kể cả số lượng và chất lượng Thực hiện chế độ luân phiên chuyên trách đốivới đại biểu Quốc hội trong một nhiệm kỳ

Ngoài các Uỷ ban, Quốc hội cần thành lập các tiểu ban, các tổ công tác để giúpQuốc hội giải quyết các nhiệm vụ cụ thể nảy sinh trong hoạt động Quốc hội liên quanđến trách nhiệm, thẩm quyền của Quốc hội

Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội cũng là vấn đề rất đáng quan tâm cầnhoàn thiện cơ chế giới thiệu, lựa chọn và bầu cử đại biểu Quốc hội theo hướng khắcphục tính chất vùng, miền mà ít chú ý đến giới, ngành, lĩnh vực Tổ chức kê khai tàisản của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội, từng bước đòi hỏi ứng cử viên đại biểuQuốc hội phải trình bày chương trình hành động và đối thoại với cử tri

Tóm lại cần tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hộitheo hướng để Quốc hội thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đắn tất cả các quyền hạn,nhiệm vụ do Hiến pháp và luật quy định Trong mối quan hệ giữa Quốc hội và Uỷ banthường vụ Quốc hội, cần phải coi Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trựccủa Quốc hội chứ không phải là một cấp của Quốc hội Đó là cơ sở để tiến tới sẽkhông giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Pháp lệnh nữa Trước hết cần nâng caochất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện các chức năng của Quốc hội: lập pháp, quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát việc thi hành pháp luật theo hướngtập trung vào giám sát ngân sách và nhân sự Đồng thời xác định 1Õ phạm vi, nội dung,

cơ chế giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo hướng tập trung giámsát cơ quan hành pháp cao nhất, phân biệt rạch ròi hoạt động giám sát với các hoạtđộng khác Cần sớm thiết lập một cơ chế bảo vệ Hiến pháp (Uỷ ban bảo hiến hoặc Tòa

án Hiến pháp) để xét xử các văn bản, các hành vi trái với Hiến pháp, bảo đảm tính tốithượng của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền Thứ hai, phát huy vai trò, tráchnhiệm và nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội cần tăng dần số đại biểu Quốc hội

Trang 32

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

chuyên trách tới 50% hoặc cao hơn để thực hiện tốt các nhiệm vụ của Quốc hội Thứ

ba, kiện toàn các cơ quan của Quốc hội, bảo đảm cho Hội đồng dân tộc và các Uỷ bancủa Quốc hội thực sự là những cơ quan hoạt động thường xuyên; Thứ tư, xác định rõ

và cụ thể hơn phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội; tăng cường đội ngũcán bộ có trình độ cao cho các cơ quan của Quốc hội, tăng cường cơ sở vật chất - kỹthuật hiện đại, tiên tiến phục vụ cho hoạt động của Quốc hội

2.5 Vai trò của từng Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của pháp luật

Đảm bảo tính thống nhất pháp luật của từng cơ quan trực thuộc Quốc hội ở đâynêu lên vai trò của ba cơ quan chính đó là;

• ủy ban thường vụ Quốc hội;

• Hội đồng dân tộc;

• Các ủy ban của Quốc hội

2.6 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội

2.6.1 Chức năng của ủy ban thường vụ Quốc hội

ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ quan đặc biệt của bộ máy nhà nướcCHXHCN Việt Nam

Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, ủy ban thường vụ Quốc hội có một vị trírất đặc biệt Sự đặc biệt này do cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của ủy ban thường vụQuốc hội tạo nên Sự hiện diện này của ủy ban thường vụ Quốc hội gần giống như củaĐoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô cũ

Sự hiện diện của ủy ban thường vụ Quốc hội do vị trí, vai trò và cách thức hoạtđộng của Quốc hội chúng ta quyết định:

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhànước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quanduy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đấtnước, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội, vì vậy thể hiện tínhđại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước cao nhất trong tổ chức và hoạt động củatoàn bộ bộ máy nhà nước

Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắcphổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đại biểu Quốc hội là lựa chọn củanhân dân cả nước Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân,cho các vùng lãnh thổ Quốc hội là sự thể hiện rõ nhất khối đại đoàn kết dân tộc ởnước ta, đại diện cho trí tuệ của đất nước Vì vậy, hình thức hoạt động quan trọng bậcnhất của Quốc hội là các kỳ họp

Trang 33

Với tính chất là cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống các cơ quan nhànước của Nhà nước ta, Quốc hội là cơ quan được Hiến pháp dành cho vị trí trang trọngnhất, cơ quan đầu tiên trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước được Hiến phápquy định Điều 38 là điều nói rõ nhất vị trí pháp lý của Quốc hội:

“Quốc hội là cơ quan đại biấ4 cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất cùa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiếnlập pháp.

Quốc hội quyết định những chỉnh sách cơ bản về đoi nội và đoi ngoại, nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tẳc chủ yếu về tổ chứchoạt động của bộ mảy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân”.

Nhưng Quốc hội lại bao gồm các đại biểu hoạt động không thường xuyên,không chuyên trách, trong khi quyền hạn rất lớn, buộc Quốc hội phải thành lập ra các

tổ chức để giúp Quốc hội đảm nhận các hoạt động có tính chất thường xuyên của Quốchội và điều phối hoạt động của Quốc hội giữa hai kỳ họp

Tổ chức Quốc hội là một trong những yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động củaQuốc hội Việc xây dựng tổ chức của Quốc hội theo tinh thần Hiến pháp 1992 đượcđặt ra với yêu cầu bảo đảm hoạt động quyền lực tối cao thực sự của Quốc hội, nhưngkhông làm thay đổi Quốc hội Theo tinh thần đó, Tổ chức của Quốc hội đã được quyđịnh gồm có: ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng và các ủy ban của Quốc hội

Trước đây, trong tổ chức của Quốc hội đã có ủy ban thường vụ của Quốc hộicủa Hiến pháp 1959 Nhưng theo quy định của Hiến pháp 1980, ủy ban thường vụQuốc hội đã được thay thế bằng Hội đồng Nhà nước Hội đồng nhà nước theo quyđịnh của Hiến pháp 1980, là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội,đồng thời là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ủy ban thường vụ Quốc hội được sinh ra từ Hiến pháp 1959, vì vậy việc hiểuquá trình thảo luận của Ban soạn thảo cũng có thể góp phần cho việc hiểu về vị trí vaitrò của ủy ban thường vụ Quốc hội Ban thường vụ của Quốc hội có quyền thay thếQuốc hội tạm thời định ra những quy định có giá trị như Luật (sắc luật) hay không?

Xoay quanh vấn đề này trong Ban soạn thảo cũng có một số ý kiến trái ngượcnhau: Người thì cho rằng sắc luật là văn bản ngang với luật nên không thể giao cho ủyban thường vụ Quốc hội ban hành; một số ý kiến khác lại đồng ý vì sắc luật có giá trịnhư luật, nhưng không thể sửa đổi được luật Việc giao cho ủy ban thường vụ Quốchội ban hành văn bản này là vì Quốc hội không họp thường xuyên, nên giữa hai kỳhọp có những vấn đề cần quy định gấp, không thể triệu tập được Quốc hội thì phải chophép Úy ban thường vụ Quốc hội ban hành, sau đó sẽ báo cáo lại với Quốc hội trong

Trang 34

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

kỳ họp gần nhất Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của vấn đề và để tìm ra giải phápchung giữa lý luận và thực tiễn, cuối cùng trong Điều 53 Hiến pháp 1959, ủy banthường vụ Quốc hội đã được giao quyền “Ra pháp lệnh

Mặc dù không tuân theo nguyên tắc phân quyền nhưng trong tổ chức hoạt độngcủa bộ máy nhà nước ta vẫn phải có sự phân công phân nhiệm rõ ràng giữa 3 quyền:lập pháp, hành pháp và tư pháp, nên một trong những điếm rất mới của Hiến pháp

1992, so với các bản Hiến pháp trước đây là sự phân tách Hội đồng Nhà nước thànhhai chế định: Chủ tịch nước và ủy ban thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước đảm nhiệmchức năng Nguyên thủ quốc gia ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trựccủa Quốc hội

Vì vậy, so với các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống pháp luật của Nhànước ta, cũng như với các cơ quan của nhà nước phát triển khác, ủy ban thường vụQuốc hội của chúng ta có một vị trí, vai trò rất đặc biệt

Điều 90 Hiến pháp 1992 quy định: "Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quanthường trực của Quốc hội

Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có:

- Chủ tịch Quốc hội

- Các Phó chủ tịch Quốc hội

- Các uỷ viên, số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyếtđịnh Thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách

và không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ

Nhiệm kỳ của Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội KhiQuốc hội hết nhiệm kỳ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khiQuốc hội khoá mới bầu ra Uỷ ban thường vụ mới."

2.6.2 Các ban của ủy ban thường vụ Quốc hội

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn các Ban của ủy ban thường vụ Quốc hội:

Đe phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về công tác xây dựng pháp luật theo quy định của pháp luật Ngày 01 tháng 10 năm 2002, UBTVQH đã ban hành các nghị quyết về việc thành lập Ban công tác lập pháp, Ban công tác đại biểu và Ban dân nguyên.

Ban công tác lập pháp:

Ban công tác lập pháp là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụQuốc hội, có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷban của Quốc hội về công tác xây dựng pháp luật

Ban công tác lập pháp có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

Trang 35

1 Chủ trì trong việc phối họp với các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụQuốc hội xây dựng dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật,pháp lệnh nhiệm kỳ và hàng năm để trình Quốc hội; phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốchội trong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2 Chủ trì trong việc phối họp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án,

Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản đối với dự thảo luật,

dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết sau khi các văn bản này đã được Quốc hội, Uỷban thường vụ Quốc hội cho ý kiến;

3 Phối họp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữuquan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dựthảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội đế trình Quốc hội xem xét, thông qua;

4 Phối họp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữuquan chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghịquyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để cơ quan chủ trì thẩm tra trình Uỷ ban thường

vụ Quốc hội xem xét, thông qua;

5 Chủ trì việc rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản đối với các luật, pháplệnh, nghị quyết đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua để trìnhChủ tịch Quốc hội ký chứng thực;

6 Chủ trì trong việc phối họp với các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụQuốc hội chuẩn bị báo cáo, tờ trình về dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyếttrình cấp có thẩm quyền;

7 Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong công tác giải thích Hiến pháp, luật,pháp lệnh, nghị quyết;

8 Thực hiện những nhiệm vụ khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao

Ban công tác đại biểu:

Ban công tác đại biểu là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụQuốc hội, có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác đại biểu

Ban công tác đại biểu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốchội, thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội, bầu, phê chuẩn các chức danh lãnh đạo cấpcao của Nhà nước, trình Quốc hội xem xét tư cách đại biểu Quốc hội, bãi nhiệm, chothôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, xem xét, quyết định các vấn đề liên quan đếnviệc bắt giam, khám xét, truy tố, cách chức, buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội

và xem xét, xử lý khiếu nại, tố cáo liên quan đến đại biểu Quốc hội; nghiên cứu, thammưu về thủ tục trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm nhữngngười giữ các chức vụ do Quốc hội bầu, phê chuẩn;

Trang 36

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

2 Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn hoạt động của đại biểu Quốchội; phối hợp với Văn phòng Quốc hội trong việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động củaVăn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội; giúp Chủ tịch Quốc hội giữ mối liên hệ với cácđại biểu Quốc hội;

3 Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghiên cứu, đề xuất các chế độ, chínhsách và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với đại biểu Quốc hội; quản lý hồ

sơ và các tài liệu liên quan đến đại biểu Quốc hội theo phan cấp quản lý cán bộ;

4 Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giám sát, hướng dẫn hoạt độngcủa Hội đồng nhân dân, phối họp với các cơ quan hữu quan tổ chức bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân các cấp;

5 Thực hiện những nhiệm vụ khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao

Ban dân nguyện:

Ban dân nguyện là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội,

có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác dân nguyện

Ban dân nguyện có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụQuốc hội; phối họp với các cơ quan hữu quan, các Đoàn đại biểu Quốc hội tiếp côngdân đến kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trongcác kỳ họp Quốc hội;

2 Tiếp nhận, xử lý, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáocủa công dân gửi đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giúp Uỷ ban thường vụQuốc hội giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo;

3 Giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối họp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tốquốc Việt Nam tổng họp ý kiến, kiến nghị của cử tri thông qua hoạt động tiếp xúc cửtri của đại biểu Quốc hội Tổng họp báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội kết quảviệc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội, kết quả thực hiệnnhững vấn đề mà người bị chất vấn đã hứa xem xét, giải quyết;

4 Tống họp tình hình đơn thư và kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị,khiếu nại, tố cáo, định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo Quy chế hoạt độngcủa Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Nội quy kỳ họp Quốc hội;

5 Giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn đại biểu Quốc hội và Đoàn đạibiểu Quốc hội thực hiện công tác dân nguyện; nghiên cứu, đề xuất với Uỷ ban thường

vụ Quốc hội những vấn đề liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng

và Nhà nước thông qua công tác dân nguyện;

6 Thực hiện những nhiệm vụ khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao

Trang 37

Ngoài ra, nội dung biểu hiện sự đặc biệt của ủy ban thường vụ Quốc hội đượcbiểu hiện bằng rất nhiều điểm Nhưng điểm có tính chất quan trọng nhất là các quyđịnh về nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban thường vụ Quốc hội trong Hiến pháp và Luật

tổ chức Quốc hội

2.6.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban thường vụ Quốc hội

Điều 91 Hiến pháp 1992 quy định: "Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội có nhữngnhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau:

Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;

1 Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

2 Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh;

3 Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao;

4 Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bảncủa Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiếm sát nhân dân tối cao trái với Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các vănbản đó huỷ bỏ các vãn bản của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

5 Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyếtsai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giải tán Hộiđồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường họp Hội đồng nhândân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

6 Chỉ đạo, điều hoà, phối họp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban củaQuốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động cho các đại biểu Quốc hội;

7 Trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chínhphủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thànhviên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

8 Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiếntranh khi nước nhà bị xâm lược và trình Quốc hội phê chuẩn quyết định đó tại kỳ họpgần nhất của Quốc hội;

9 Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ ban bố tình trạng khẩn cấptrong cả nước hoặc ở từng địa phương;

10 Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

11 Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội."

Trang 38

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hộigiao cho Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội chuẩn bịcác vấn đề trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định

2.6.4 Nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực của ủy ban thường vụ Quốc hội

Những nhiệm vụ, quyền hạn này có thể được phân tích thành 6 lĩnh vực sauđây:

Thứ nhất, những nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng thường trực tổchức cho Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu Đại biểu Quốc hội, tổ chức việc chuẩn

bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa, phối họp hoạt động củaHội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạtđộng của Đại biểu Quốc hội, thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội

Ở nhà nước tư bản hiện đại thường ấn định rõ ngày bầu cử, ngày tiến hành khóahọp của Quốc hội trong Luật, còn lại những phần việc khác có liên quan đến phục vụkhóa họp thường là những phần việc mang tính chất kỹ thuật đom thuần có thể do các

bộ phận giúp việc, ví dụ như Văn phòng Quốc hội đảm nhiệm Trong tưomg lai vấn đềbầu cử phải được pháp luật quy định như thế nào để thể hiện tính khách quan của việcứng cử mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ cơ quan tổ chức nào

Thứ hai, những nhiệm vụ, quyền hạn thay Quốc hội giải quyết các nhiệm vụcủa Quốc hội giữa hai kỳ họp: phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về việc bổ nhiệm,miễn nhiệm các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyếtđịnh việc tuyên bố tình trạng đất nước có chiến tranh Những nhiệm vụ, quyền hạn nàyphải trình Quốc hội phê chuẩn tại kỳ họp gần nhất Những nhiệm vụ này ở nhà nước tưbản do Quốc hội của họ hoạt động thường xuyên, nên không phải giao cho một cơquan nào khác đảm nhiệm Hiện nay số lượng kỳ họp và thời gian họp của Quốc hộiViệt Nam có xu hướng ngày càng tăng, nên những nhiệm vụ này của ủy ban thường

vụ Quốc hội, ngày càng có xu hướng chuyển về cho Quốc hội

Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa việc thực hiện thẩm quyền đích thực củaQuốc hội, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã bỏ quy định bổ nhiệm, miễn nhiệm cácquan chức cao cấp của nhà nước của ủy ban thường vụ Quốc hội và chuyển thẩmquyền này lại cho Quốc hội Chỉ còn lại một nhiệm vụ có tính chất cấp bách là quyếtđịnh tình trạng chiến tranh

Thứ ba, nhưng nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban thường vụ Quốc hội trong việcban hành các văn bản quy phạm pháp luật - pháp lệnh Có thể nói đây là nhiệm vụquan trọng bậc nhất của ủy ban thường vụ Quốc hội Nhiệm vụ này rất gần với Quốchội (lập pháp) Neu như Quốc hội là lập pháp, được phép làm luật, thì ủy ban thường

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Khác
2. Giáo trình luật Hiến pháp, Đại học luật Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
3. Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật Việt Nam, Đại học luật Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
4. Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Khác
10. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
11. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
12. Jon Mills, Luận về tự do, NXB chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Khác
13. Lê Đình Chân, Luật Hiến pháp-khuôn mẫu dân chủ, cuốn 2. Sài gòn, 1975 Khác
14. Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 Khác
15. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997; sửa đổi, bổ sung năm 2001 - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2008 Khác
16. Luật tổ chức Quốc hội năm 2001; sửa đổi, bổ sung năm 2007 - NXB Chính trị Quốc gia-Hà Nội-2008 Khác
17. Nghị quyết 368/2003UBTVQH11 ngày 17-3-2003 của Uỷban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Ban Công tác đại biểu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w