1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

69 911 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 761,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bốicảnh đất nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng pháp chế xã hội chủnghĩa, các vụ án hình sự ngày càng gia tăng theo chiều hướng phức tạp với nhiềuthành phàn, tội phạm

Trang 1

Cần Thơ, tháng4/2009J -1

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DÃN

is.B3.ei

Trang 3

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

ìs^EQLeỉ’

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1 -Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 K ết cấu của đề tài 3

CHƯƠNGI LÝ LUẬN CHUNG VÈ THẨM PHÁN 4

I Lý luận chung về Thẩm phán ở Việt Nam 4

1.1 Khái niệm Thẩm phán 4

1.2 Lị ch sử hình thành và phát triển đội ngũ Thấm phán ở Viêt Nam 5

1.3 Đ iều kiện để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam 9

1.3.1 Tiêu chuẩn của một Thẩm phán 10

1.3.2 Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thẩm phán 11

1.3.3 Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán 11

1.4 N hững đóng góp của các Thẩm phán cho ngành Tòa án Việt Nam 12

II Tìm hiểu về Thẩm phán ở một số nước trên thế giói 14

2.1 T hẩm phán ở Hàn Quốc 14

2.2 Thẩm phán ở Malaysia 14

2.3 Thẩm phán Liêng Bang Nga 15

2.4 Thẩm phán nước Cộng Hòa Pháp 16

2.5 Thẩm phán ở nước Mỹ 16

CHƯƠNG II

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN

Trang 5

2.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm

các vụ án hình sự 21

2.2.2 Trách nhiệm của Thẩm phán ừong công tác xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự 22 2.3 Những trường họp Thẩm phán phải từ chối xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 24 2.4 V ai trò của Thầm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 26

hình sự 26

2.4.2 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 29

2.5 Vai trò của Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự 34

2.5.1 Thẩm phán xét xử độc lập với Hội thẩm nhân dân 36

2.5.2 Thẩm phán xét xử độc lập với Kiểm sát viên 38

2.5.3 Thẩm phán xét xử độc lập với Luật sư 39

2.6 Vai trò của Thẩm phán ừong việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 41

2.7 Vai trò của Thẩm phán trong việc xác định sự thật của vụ án 41

2.8 Vai trò của Thẩm phán trong nghị án và tuyên án sơ thẩm vụ án hình sự 42

2.8.1 Vai trò của Thẩm phán trong nghị án sơ thẩm vụ án hình sự 42

2.8.2 Vai trò của Thẩm phán trong tuyên án sơ thẩm vụ án hình sự 44

CHƯƠNG III THỰC TIỄN VÈ VAI TRÒ XÉT xử CỦA THẨM PHÁN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ Sơ THẨM HÌNH sự 47

I Thực tiễn về vai trò của Thẩm phán trong công tác xét xử Stf thẩm các vụ án hình sự 47

3.1 Những ưu điểm về vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử Sơ thẩm các vụ án Hình sự 47

3.1.1 Vai trò của Thẩm phán ừong hoạt động áp dụng pháp luật và giải thích pháp luật trong quá trình xét xử 47

3.1.2 Thẩm phán và vai trò giáo dục pháp luật cho người dân thông qua hoạt động xét xử Sơ thẩm các vụ án hình sự 48

3.2 Những kết quả đạt được từ công tác xét xử của Thẩm phán 50

Trang 6

3.3 Những hạn chế về vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự 513.4 Những thách thức của Thẩm phán trước tình hình hiện nay 56

II Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong xét xử Stf thẩm các vụ án hình sự 59 KÉT LUẬN 62

Trang 7

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

PHÀN MỞ ĐÀU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nói đến Tòa án là phải nhắc tới Thẩm phán Thẩm phán có một vai trò đặcbiệt quan trọng trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự Thẩm phán là ngườiđược biết đến như một biểu tượng của họat động xét xử, là người trực tiếp đưa ranhững phán quyết cuối cùng vụ án có nhanh chóng được làm sáng tỏ đi đến kếtluận cuối cùng thì vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng Thông qua việc xét

xử các vụ án hình sự vai trò quan trọng của Thẩm phán ngày càng thể hiện rõ nét,không chỉ xét xử đúng người, đứng tội mà Thẩm phán còn có một vai trò đặc biệtquan trọng khác nũa là vai trò giáo dục ý thức pháp luật của người dân thông quanhững phiên tòa xét xử lưu động Hiện nay, trong các phiên tòa xét xử vụ án hình

sự vai trò xét xử của các Thẩm phán đang rất được dư luận quan tâm Trong bốicảnh đất nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng pháp chế xã hội chủnghĩa, các vụ án hình sự ngày càng gia tăng theo chiều hướng phức tạp với nhiềuthành phàn, tội phạm gây án ngày một tinh vi, thủ đoạn hom trước, thời gian gầnđây còn xuất hiện tội phạm hình sự là người nước ngoài thì vai trò, trách nhiệmcủa Thẩm phán ngày một cao nhưng trên thực tế hiện nay vai trò của Thẩm phántrong phiên tòa sơ thẩm chưa được phát huy đúng mức để xảy ra oan sai, xét xửkhông đúng người, đúng tội bỏ lọt tội phạm, tình trạng án hủy, án bị sửa và phảixét xử lên cấp phúc thẩm vẫn còn bên cạnh đó năng lực chuyên môn của Thẩmphán còn chưa cao, tình trạng chạy án, nhận hối lộ có thể do lương không đủsống hay những vấn đề phát sinh khác trong cuộc sống của Thẩm phán Phảilàm thế nào để hoàn thiện được vai trò và tầm quan trọng theo đúng nghĩa củamột Thẩm phán trong hoạt động xét xử nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự nói riêng đang là yêu cầu trong quá trình cải cách tư pháp ởnước ta Chính vì lý do đó em đã chọn đề tài “Vai trò của Thẩm phán trong họatđộng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệpcủa mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự để từ đó thấy được các Thẩm phán có tầm quan trọng như thếnào trong họat động xét xử, qua những vai trò quan trọng đó để có được một cáinhìn sâu sắc hơn thực tế hơn thực trạng nền tư pháp của nước nhà, thấy được mặttích cực những đóng góp của Thẩm phán ừong công tác xét xử nói riêng và chonền tư pháp nói chung Qua việc nghiên cứu đề tài, với những kiến thức đã học

Trang 8

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

được ở trường và qua thực tế theo dõi công tác xét xử sơ thẩm tại một số Tòahình sự tại một số địa phương, em hy vọng sẽ đóng góp được một vài ý kiến vềvai hò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự hiện nay Mục đích chính

là nhằm nâng cao hơn nữa vai ừò xét xử độc lập của Thẩm phán, sự tôn trọng ýthức khi tham gia phiên tòa của người dân, ý kiến việc bảo vệ tính mạng và sứckhỏe của Thẩm phán một vấn đề đang rất đáng quan tâm hiện nay Một mặt nângcao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của Thẩm phán tránh để xảy ra tình trạng oansai khi xét xử, hoặc tránh để xảy ra tình hạng khi xét xử bản án sơ thẩm xong bịcáo tiếp tục kháng án lên các cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm làm tốnnhiều thời gian, lãng phí tiền bạc Mặt khác, các Tòa án cần quan tâm, nghiêmtúc kiếm điểm, rút kinh nghiệm trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho cácThẩm phán, phân tích nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Thẩm phán qua đó rút

ra bài học kinh nghiệm cho toàn ngành về công tác giáo dục chính trị, tư tưởngđối với cán bộ công chức ngành Tòa án

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúcphiên tòa cũng như những bất cập ừong quá trình xét xử hiện nay, năng lực điềuhành phiên tòa hình sự của Thẩm phán, vai trò độc lập trong khi xét xử của Thẩmphán với những người tiến hành tố tụng và một số sai phạm trong quá trình xét

xử của Thẩm phán để từ đó đề ra hướng khắc phục Do thời gian nghiên cứu cóhạn đến đầu tháng 4/2009 phải hoàn thành đề tài nên luận văn chỉ sử dụng những

số liệu đến hết năm 2008 tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu sẽ cố gắng cậpnhật những số liệu mới nhằm làm cho đề tài ngày càng phong phú, sâu sắc hơn

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích luật viết, từ các quy định của luậthiện hành, người viết đi phân tích một số quy định của pháp luật để làm một sốvấn đề liên quan đến việc nghiên cứu đè tài Phương pháp thống kê số liệu các vụ

án, các Thẩm phán thông qua các báo cáo hàng năm của ngành Tòa án góp phầndẫn chứng cụ thể những vấn đề mà người viết muốn đề cập Đề tài cũng sử dụngphương pháp quan sát thực tế, theo dõi diễn biến những vụ án xét xử diễn ra tạiphiên tòa sơ thẩm và trên các phương tiện thông tin đại chúng khác để từ đó thấyđược vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.Qua đó cho người viết rút ra kết luận thực tế Thẩm phán xét xử có công bằng,độc lập và tuân theo pháp luật hay không, thấy được trình độ năng lực của Thẩmphán để từ đó có những ý kiến góp phần làm cho đề tài ngày càng thiết thực và

có ý nghĩa thực tế hơn trong cuộc sống

Trang 9

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm có ba chương:

Chương I: Lý luận chung về Thẩm phán

Chương II: Quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạtđộng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Chương III: Thực tiễn về vai trò xét xử của Thẩm phán và một số giải phápnhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựhiện nay

Trang 10

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì Thẩm phán là

người chuyên làm công tác xét xử các vụ án.

Theo Điều 1 Pháp Lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 định

nghĩa “Thẩm phán là người được hổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm

công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thấm quyền của Toàán”.

Thẩm phán là những người làm việc tại Toà án, được quyền nhân danh Nhànước để xét xử các vụ án Công việc của Thẩm phán là một nghề đặc trưng Đây

là một vị trí rất cao trong ngành Luật, đòi hỏi bạn phải có tài năng thực sự vàkinh nghiệm lâu năm Quy chế Thẩm phán ở các nước trên thế giới hoàn toànkhông giống nhau tùy thuộc vào lịch sử phát triển của đất nước cũng như kinh tế,chế độ chính trị khác nhau mà chế định Thẩm phán ở mỗi nước cũng quy địnhkhác nhau nhưng nhìn chung pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩaquan trọng của việc phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọnnhẹ và nghề Thẩm phán là một ừong những nghề rất được xã hội trọng vọng vàpháp luật dành cho nhiều ưu đãi Một bộ phận cốt lõi của hệ thống tư phápcủa một quốc gia là cơ quan xét xử Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạtđộng hiệu quả khi có độ ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp,chí công, vô tư

Thẩm phán là người thực hiện chức năng xét xử các vụ án vì vậy nhữngphán quyết của Thẩm phán là hết sức quan trọng, thực tiễn xét xử cho thấy phán

Trang 11

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

quyết là khâu quan trọng, là biểu hiện sự cô đọng của thực tế áp dụng pháp luật,

có những phán quyết của các vị Thẩm phán hoàn toàn phù họp với pháp luật, phùhọp với đạo đức, cuộc sống nhưng cũng có những phán quyết, những bản án,quyết định tuy về mặt hình thức có vẻ là đứng pháp luật nhưng khi chúng ta nhìnvào bản chất sâu xa, cốt lõi của vấn đề, của việc vận dụng pháp luật thì thấy sựvận dụng đó có tính sơ cứng, pháp lý đơn thuần

Ở nước ta hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức từ cấp Trung ương đếnđịa phương và các Tòa quân sự chuyên trách được quy định cụ thể tại Điều 2Pháp Lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Gắn liền với mỗi cấp làchức danh Thẩm phán khác nhau Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước ta gồm có:

a) Tham phản Tòa án nhân dân toi cao;

b) Tham phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thắm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành pho trực thuộc trung ương;

b) Tham phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Tham phán Toà án nhân dân tỉnh, quận, thị xã, thành pho thuộc tỉnh;

d) Tham phán Toà án quân sự các cấp bao gồm thấm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Tham phán Toà án nhân dân toi cao; Tham phán Toà án quân sự cấp quân khu bao gom Tham phán Toà án quân sự quân khu và tương đương; Thâm phán Toà án quân sự khu vực.

Hiệu quả hoạt động của Toà án thể hiện cụ thể ở việc thực hiện nhiệm vụxét xử của Toà án Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán có trình độchuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng yêu cầu của côngtác xét xử đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển đội ngũ Thẩm phán ở Viêt Nam

Thực tiễn xét xử là toàn bộ hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình ápdụng pháp luật để đưa ra đường lối giải quyết các loại vụ án, trong đó ngườiThẩm phán là nhân vật có vai ừò quan trọng đóng góp vào thực tiễn xét xử mộtcách rõ ràng nhất, đó chính là các bản án, các quyết định Từ xa xưa cho đếnngày nay vai trò của người đứng ra phân xử trong các vụ án bao giờ cũng trở nênđặc biệt quan trọng, dưới thời phong kiến Việt Nam việc xét xử cũng rất đượcquan tâm, chú trọng đến

Dưới thời Đinh, phương pháp tập trung quyền lực tư pháp trong tay nhà vua

đã được áp dụng triệt để, nhà vua đích thân xem xét việc trừng phạt các vụ phạmpháp, và việc trừng phạt các can phạm được diễn ra ngay trước cung điện nhàvua, một việc mà ta không nhận thấy dưới các đời vua sau Đến thời Tiền Lêquyền Tư pháp trong tay nhà vua vẫn được áp dụng triệt để Thời Lý (1010-1225), thẩm cấp tố tụng đã được phân biệt, nhà vua tuy vẫn còn giữ lấy quyền xét

Trang 12

Nguyễn Minh Tuấn, Lịch sử và những vấn đề đương đại liên quan đến nhà nước và pháp luật - Sơ lươc

về vấn đề Toà án và xét xử thòi kỳ phong kiến, kin.html , cập nhật 11/03/2007

http://tuanhsl.blogspot.com/20Q7/ll/xt-x-thi-k-phong-Đe tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

xử các vụ kiện tụng trong nước như các vị vua đời trước, nhưng đã san sẻ bớtquyền này cho các quan địa phương Dưới triều Nguyễn kể từ năm 1802 trở đi đó

là Tiên chỉ, vị đệ nhất kì mục là người xét xử Hầu hết những vụ việc nhỏ thôngthường đều giải quyết ở xã, phạm vi thẩm quyền của xã trưởng hay Tiên chỉ khárộng lại thiếu cơ chế giám sát hiệu quả nên ở nhiều nơi nạn cường hào, ác bá nối

lên bắt nguồn từ đây về cơ bản mọi quyền lực vẫn tập trung vào tay nhà vua.

Vua vẫn là người có quyền xét xử tối cao.(1^

Ở thời kỳ này, nhà vua vẫn là người có quyền xét xử tối cao, quyền lựcnằm trong tay nhà vua, trong thời gian này ở nước ta không có một ngạch, hay cơquan Tư pháp riêng biệt nào ừong khi đó ở các nước Châu Âu họ đã rất chú trọngđến việc lập ra những ngạch Tư pháp riêng biệt nhằm giải quyết các vụ việc vềdân sự, hành chính, hình sự Và người đứng ra phân xử, giải quyết những án này

là Thẩm phán, vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng

Lịch sử ra đời của Thẩm phán nước ta gắn liền với sự hình thành và pháttriển của ngành Tòa án Cách đây 60 năm, sau khi tuyên bố bãi bỏ bộ máy và cácngạch quan chức hành chính, tư pháp của chế độ cũ, chính quyền cách mạng nontrẻ của chúng ta bắt tay vào xây dựng bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân Chínhtinh thần đại đoàn kết dân tộc và ngọn cờ pháp quyền nhân nghĩa của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã tạo thành sức mạnh thu hút, tập họp và dẫn dắt một đội ngũđông đảo các Luật sư, Luật gia, Thẩm phán, những bậc trí thức yêu nước đượcđào tạo từ chế độ cũ tự nguyện đứng vào hàng ngũ kháng chiến vì độc lập, tự docủa dân tộc và xây dựng một nền Tư pháp của chế độ mới với công lao đóng góp

to lớn của thế hệ cán bộ Tư pháp đầu tiên với những tên tuổi như Vũ TrọngKhánh, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Văn Hưởng, Trần Công Tường Theo chứcnăng, quyền hạn quy định tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945, Bộ Tư pháp chịutrách nhiệm quản lý toàn diện về tổ chức, cán bộ, hoạt động và cơ sở vật chất củacác cơ quan tư pháp Ngày 13/9/1945, Bộ Tư pháp trình Chính phủ ký ban hànhSắc lệnh số 33 thiết lập các Toà án quân sự đầu tiên ở một số thành phố để xét xử

mọi hành vi phương hại đến nền độc lập nước nhà Và chỉ bốn tháng sau đó, sẳc

lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã thiết lập các Toà án và các ngạch Thẩm phán

bao gồm cả các ngạch Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố, buộc tội trên toàn cõiViệt Nam Toà án tư pháp được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc dânchủ, tiến bộ

Trang 13

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Khi cuộc kháng chiến của dân tộc bắt đầu chuyển hướng sang tổng phản

công, Bộ Tư pháp đã trình Chủ tịch nước ký ban hành sẳc lệnh sổ 85/SL ngày

22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng tạo nên bước chuyển rất

quan trọng trong việc tăng cường tính chất nhân dân của nền tư pháp, dân chủhoá tố chức và hoạt động của hệ thống Toà án Các Toà án binh, Toà án đặc biệt,Toà án nhân dân vùng tạm bị địch chiếm được thành lập với những cách thức tổchức, hoạt động linh hoạt, phù họp hoàn cảnh của từng loại địa bàn, đưa tư pháp

về gần dân, huy động nhân dân tham gia vào công việc tư pháp một cách thiếtthực Cùng với công tác tổ chức, ngành tư pháp luôn chăm lo việc tuyển chọn,xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Công tố viên, Luật

sư, Hoạt động xét xử nghiêm minh của các Toà án đã tích cực góp phàn củng

cố chính quyền nhân dân, giữ vững đời sống yên lành ở hậu phương, tạo niềm tintrong chiến sĩ, cán bộ và nhân dân Nhiều phiên toà lưu động được mở ngay cạnhđồn bốt giặc với hàng nghìn quần chúng tham gia để tuyên truyền giáo dục nhândân và lôi kéo nguy binh trở về với chính nghĩa

Ở Việt Nam, việc đào tạo Thẩm phán bắt đầu thực hiện từ năm 1998 theoQuyết định số 34/1998/QĐ-TTg ngày 11 tháng 2 năm 1998 về việc thành lậptrường đào tạo các chức danh tư pháp Theo quyết định này, trường đào tạo cácchức danh tư pháp có chức năng đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán và các chức danh

tư pháp khác như Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Thư kí Toà án ,bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Toà án và quản lý công tác tư pháp cho các cán bộquản lý Toà án, nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học vào việc nâng caochất lượng đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp Thực hiện chức năng đó,Trường đã thành lập nên 2 khoa: Khoa Đào tạo và Khoa Bồi dưỡng, trong đóKhoa Đào tạo có chức năng đào tạo Thẩm phán

Với yêu cầu đổi mới và nâng cao công cuộc cải cách tư pháp trên cácphương diện chất lượng và số lượng đáp ứng được với sự đòi hỏi của tình hìnhmới, ngày 25/2/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số23/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Học viên Tư pháp Quyết định này chỉ rõThành lập Học viên Tư pháp trên cơ sở Trường Đào tạo các chức danh tư phápthuộc Bộ Tư pháp Nhờ đó, Khoa Đào tạo Thẩm phán cũng chính thức đượcthành lập theo Quyết đinh số 296/QĐ-GĐ ngày 22 tháng 9 năm 2004 của Giámđốc Học viện Tư pháp

Các Tòa án cấp tinh hiện có 921 Thẩm phán trong tổng số 1.118 tổng biênchế Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tình được duyệt Các Tòa án cấp huyện hiện

có 2.411 Thẩm phán trong tổng số 3.515 tổng biên chế Thẩm phán toà án nhân

dân cấp huyện được duyệt, về số lượng cán bộ, Thẩm phán, đến thời điểm tháng

Trang 14

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình, Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân

dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3 (139+140) tháng 1 năm 2009, tr.43

Đe tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

3/2008, Toà án nhân dân tối cao có 524/603 người, trong đó có 116/120 Thẩm

phán; Toà án nhân dân cấp tỉnh có 3264/3559 người, trong đó có 998/1118 Thẩm phán; 678 Toà án nhân dân cấp huyện có 7550/7822 người, trong đó có

3250/3690 Thẩm phán Bên cạnh đội ngũ Thẩm phán, trong hệ thống Tòa án

nhân dân hiện có 4538 Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án Như vậy, so với biên chế thì hiện tại các Toà án nhân dân địa phương vẫn còn thiếu khoảng 1.300 Thẩm phán Đen năm 2010, nếu tính theo mức tăng trưng bình số lượng vụ án

các loại thụ lý ở cấp sơ thẩm, dự báo các toà án nhân dân các cấp sẽ phải thụ lý

khoảng 450.000 vụ Nếu cứ mỗi Thẩm phán giải quyết được trung bình 5 vụ việc/tháng, thì đến năm 2010, số lượng Thẩm phán cần có để đảm bảo tiến độ và chất lượng xét xử sẽ vào khoảng 7.000 người, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

và lý luận chính trị, 100% Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ cử nhân luật; 90% Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 66% Thẩm phán cấp tinh và 20% Thẩm phán cấp huyện có trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị về phẩm chất đạo đức, 100% Thẩm phán

Toà án nhân dân các cấp là Đảng viên, đa số đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn vềphẩm chất đạo đức đối với người cán bộ, đảng viên theo quy định Trên thực tế,nếu tính theo định mức xét xử hiện nay quy định đối với Toà án cấp tỉnh, cấphuyện ừên các địa bàn và tổng số lượng án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng

án hàng năm là 15%, trong vòng 5 năm tới ngành Toà án nhân dân cần bổ sung mỗi năm khoảng 1000 người, trong đó có khoảng 500 Thẩm phán, thì mới đáp

ứng yêu cầu công tác xét xử.(2)Như vậy, từ nay đến năm 2010, ngành Toà án cần được bổ sung khoảng3.500 Thẩm phán để đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội chưa kể phải bổsung cán bộ để thay thế cho khoảng 600 Thẩm phán về hưu hoặc chuyển công táckhác Với số lượng học viên Thẩm phán mà Học viện Tư pháp đã đào tạo được

và chưa được bổ nhiệm, để đáp ứng nhu cầu gia tăng đội ngũ Thẩm phán thì hàngnăm Học viện phải đào tạo được ít nhất 500 học viên Thẩm phán Đến năm 2010hoạt động đào tạo Thẩm phán phải gia tăng đáng kể về số lượng Tuy nhiên, vấn

đề lo ngại không chỉ dừng ở việc thiếu số lượng mà vấn đề về trình độ, năng lựcchuyên môn của đội ngũ Thẩm phán cũng đang được đặt ra trước yêu cầu, đòihỏi ngày càng cao của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế do trình độ, năng lựccủa đội ngũ Thẩm phán về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn nhiều

Trang 15

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

hạn chế, trong khi đó đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án phức tạp cả về hình sự

có yếu tố nước ngoài

1.3 Điều kiện để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam

1.3.1 Tiêu chuẩn của một Thẩm phán

Theo Thông tư liên tịch số UBTVVMTTQVN ngày 01/4/2003 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng,

01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hànhmột số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm

2002 thì một số tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán được hiểu như sau:

Để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam thì công dân Việt Nam phải có nhữngtiêu chuẩn sau đây:

Thứ nhất, Công dân Việt Nam phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết

và trung thực, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợiích họp công dân, đom vị quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trìnhnghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụngvào thực tiễn, (xem Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dânnăm 2002)

Như vậy, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nướcCộng ho à xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết vàtrung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa phải là:

• Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ Xã hội chủ nghĩa và nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

• Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, các chủ trương của Đảng

và các chính sách của Nhà nước, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quytắc sinh hoạt công cộng;

• Kiên quyết đấu tranh chống lại những người, những hành vi có hại đếnĐảng, đến Tổ quốc và nhân dân;

• Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhândân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranhchống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền;

• Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo vệ công lý;

Cuối cùng là không làm những việc quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 và chưa bao giờ bị kết án (kể cả trườnghợp đã được xoá án tích)

Trang 16

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Thứ hai, Công dân Việt Nam phải có sức khoẻ tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao, là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết,ngoài ra còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởngtrực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán

Thứ ba, Đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm Hình sự hoặc đang bịxem xét xử lý kỷ luật, nhưng chưa có quyết định giải quyết cuối cùng của ngườihoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, thì chưa có đủ điều kiện để có thể được đềnghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán

Thứ tư, Công dân Việt Nam còn phải có tinh thần kiên quyết bảo vệ phápchế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật, có kiến thức pháp lý, đã được đàotạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tácxét xử theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dânnăm 2002, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán

• Có trình đô cử nhân luât là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên

ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo đại học vềchuyên ngành luật theo quy định cấp, nếu văn bằng tốt nghiệp đại học về chuyênngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì văn bằng đó phải được côngnhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam;

• Đã đuơc đào tao về nẹhiêp vu xét xử là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp

vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp, nếu làchứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhànước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận;

• Thời gian làm côns tác pháp ỉuât là thời gian công tác kể từ khi được xếp

vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hànhviên, Chuyên viên hoặc nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên,Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộpháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật Thời gian được bầu hoặc cử làm Hộithẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”;

• Có năns ỉuc làm côns tác xét xử là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét

xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấptương ứng mà người đó có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phántheo nhận xét, đánh giá của cơ quan đơn vị quản lý công chức hoặc có những bàiviết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặcđược áp dụng vào thực tiễn

Trang 17

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

1.3.2 Điểu kiện để được bể nhiệm làm Thẩm phán

Hiện nay ở Việt Nam, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồngThẩm phán tuyển chọn theo đề nghị của Chánh án Tòa án tối cao và trình Chủtịch nước quyết định, còn đối với Thẩm phán của các Tòa án địa phương do Hộiđồng tuyển chọn Thẩm phán lựa chọn theo đề nghị của Chánh án Tòa án Tỉnh vàtrình Chánh án Tòa án tối cao quyết định Thành phần của hội đồng tuyển chọnThẩm phán Tòa án tối cao gồm: Chánh án Tòa án tối cao (chủ tịch), đại diện lãnhđạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Ban chấp hành trung ương Hội Luật gia Việt Nam (ủy viên) Thành phần của Hộiđồng tuyển chọn Thẩm phán của các Tòa án địa phương gồm Chủ tịch hoặc phóChủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (chủ tịch) Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh,đại diện lãnh đạo Ban tổ chức chính quyền, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Ban chấp hành Hội Luật gia cấp tỉnh (ủy viên)

> Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thẩm phán ở Việt Nam như sau:

Công dân càn thực hiện đúng việc chuẩn bị nhân sự, chuẩn bị hồ sơ đối

với người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán (Phần III Thông

tư liên tịch số 0ỉ/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN ngày 01/4/2003 của Toà án nhân dân toi cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận To quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành một so quy định của Pháp lệnh Thấm phản và Hội thấm Toà án nhân dân).

Tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán của Toà án mỗi cấp, thủ tục tuyển chọn,

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán

do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định và phải được Hội đồng tuyển chọnThẩm phán có thẩm quyền tuyển chọn và đề nghị Chủ tịch nước bổ nhiệm (nếu làThẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Thẩm phán Toà án quân sự trung ương)hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm (nếu là Thẩm phán Toà ánnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thẩm phán Toà án nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thẩm phán Toà án quân sự quân khu

và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực) (Theo các Điều 26, 27 và

28 Pháp lệnh Tham phản và Hội thấm Toà án nhân dân).

1.3.3 Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán

Thẩm phán sẽ bị miễn nhiệm, cách chức chức danh của mình trong những

quy định sau đây:

a Miễn nhiệm Thẩm phản

Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán do sức khoẻ, dohoàn cảnh gia đình Thẩm phán và đương nhiên được miễn nhiệm chức danhThẩm phán khi nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn

Trang 18

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

thành nhiệm vụ được giao (khoản 1, 2 Điều 29 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội

thấm Toà án nhân dân năm 2002).

b Cách chức chức danh Tham phán

Thẩm phán sẽ đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội bằngbản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm,Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các

trường họp sau đây: (khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án

nhân dân năm 2002).

+ Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyềncủa Toà án;

+ Vi phạm quy định mà Thẩm phán không được làm như tư vấn cho bị can,

bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ ánhoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật; can thiệp hái phápluật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đếnngười có trách nhiệm giải quyết vụ án; đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ

vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sựđồng ý của người có thẩm quyền; hoặc tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc ngườitham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơiquy định;

+ Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệmtheo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

+ Vi phạm về phẩm chất, đạo đức;

+ Có hành vi vi phạm pháp luật khác

1.4 Những đóng góp của các Thẩm phán cho ngành Tòa án Việt Nam

Hệ thống Toà án của nước ta đã trải qua những cải cách về tổ chức và hoạtđộng qua các thời kỳ theo quy định của Hiến pháp năm 1946, sắc lệnh số 85/SLngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hiến pháp năm

1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, Hiến pháp năm 1980 và Luật

tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổsung năm 2001), các Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 và năm 2002

Từ khi thành lập cho đến nay, ngành Tòa án đã có nhiều đóng góp to lớncho ngành Tư pháp của nước nhà, trong đó có các cán bộ của ngành Tòa án làcác Thẩm phán nước ta Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi nềnkinh tế nước ta còn nhiều khó khăn bởi chiến tranh, tiền lương của cán bộ nhànước chỉ vẻn vẹn mấy chục đồng (tiền cũ) một tháng, thì đã có nhiều câu chuyệncảm động, những tấm gương liêm khiết của cán bộ ngành Toà án Người cán bộngày ấy thật thà liêm khiết đáng ca ngợi là Nguyễn Ngọc Thẩm - cán bộ Tòa án

Trang 19

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Xuân Phúc tỉnh Thái Bình, Vũ Thị Tâm, chánh

án Phạm Văn Phiêu và Thẩm phán Nguyễn Vãn Hanh của tỉnh Thái Bình CácThẩm phán của nước ta đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ xét xử các vụ

án mà pháp luật giao phó, đội ngũ Thẩm phán luôn luôn cận kẽ trong các côngtác xét xử nhằm đảm bảo chất lượng xét xử các vụ án, họ có kỹ năng nghề nghiệptốt, nhận thức được trách nhiệm nghề nghiệp của mình và thường xuyên trau dồiđạo đức nghề nghiệp, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Khi xét xử, các Thẩm phán luôn tuân theo các quy định của pháp luật, từngtrường họp phạm tội cụ thể, cân nhắc kỹ rồi soi chiếu vào các quy định của phápluật để có quyết định đúng đắn, có hướng giải quyết sao cho thấu tình đạt lýnhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi con người, thể hiện tính nghiêm minh và gópphần xây dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh Các Thẩm phán luôn nhậnthức một cách toàn diện và đầy đủ về vai trò, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn củamình trong công việc cũng như ừong phiên tòa xét xử các loại tội phạm Bêncạnh công tác xét xử là việc tuyên truyền phổ biến và giải thích các quy định củapháp luật cho nhân dân, sau mỗi phiên tòa xét xử là những bài học kinh nghiệm

từ việc xét xử để lại những lời khuyên, giáo dục ý thức mọi người trước hành viphạm pháp của người phạm tội Từ khi thành lập đến nay, ngành Tòa án nóichung và các Thẩm phán nói riêng đã có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước, giữvai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạomôi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Toà án nhân dân nói chung và Thẩm phán nói riêng luôn là chỗ dựacủa nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụhữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quảvới các loại tội phạm và vi phạm

Hàng năm xét xử hàng nghìn vụ phạm tội, từ sơ thẩm, phúc thẩm rồi đếnnhững quyết định giám đốc thấm, tái thấm Trong những năm qua, số lượng cácloại vụ án mà ngành Toà án nhân dân đã thụ lý, giải quyết năm sau thường caohơn năm trước, trong năm 2007 (số liệu tính từ 1/10/2006 đến 30/9/2007), tổngcác loại vụ án mà Tòa án nhân dân các cấp thụ lý, xét xử là 256.647 vụ, tăng23.806 vụ so với năm 2006 Trong đó Tòa án cấp huyện thụ lý, xét xử sơ thẩm204.563 vụ, Tòa án cấp tỉnh thụ lý xét xử 45.821 vụ (bao gồm sơ thẩm 18.683

vụ, phúc thẩm 26.739 vụ và giám đốc thẩm, tái thẩm 399 vụ), Tòa án nhân dântối cao thụ lý, xét xử 6.263 vụ (bao gồm phúc thẩm 5.747 vụ, giám đốc thẩm, táithẩm 516 vụ) và xem xét, xử lý 10.999 đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Quanghiên cứu thực tiễn cho thấy chất lượng xét xử ngày càng được nâng lên, tỷ lệcác bản án, quyết định bị huỷ, sửa năm sau thường thấp hơn năm trước Đặc biệt

Trang 20

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình, Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân

dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3 (139+140) tháng 1 năm 2009, tr.43

4/4/2008, http://www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/b2/04/9-054

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

các trường hợp kết án oan người vô tội đã giảm rõ rệt (năm 2000 có 53 trườnghợp, năm 2001 có 20 trường hợp, năm 2002 có 23 trường hợp, năm 2003 có 7trường hợp, năm 2004 có 5 trường hợp và 6 tháng đầu năm 2005 chỉ có 1 trườnghợp) Năm 2004, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là 1,16%, bị sửa là 4,21%

trong tổng số các vụ án mà toàn ngành Toà án đã giải quyết.(3)Đằng sau những con số về vụ án đưa ra xét xử là việc các Thẩm phán củanước ta đã giúp được những người vô tội minh oan, những người bị xâm hại, ápbức giành được lẽ công bằng, nhừng kẻ gây tội ác phải đền tội, không để oan chongười vô tội Đó là những gì mà pháp luật nước ta hướng đến và các Thẩm phánvới vai trò to lớn, cao cả đó trong hoạt động xét xử của mình đã góp phần đưanghành Tòa án nước ta đi lên và là nơi mà các quy định của pháp luật được ápdụng và thật sự đi vào cuộc sống

II Tìm hiểu về Thẩm phán ở một số nước trên thế giói 2.1 Thẩm phán ở Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, để trở thành Thẩm phán, các ứng viên phải qua kỳ thi chuyênmôn về tư pháp và hoàn thành chương trình đào tạo trong 2 năm ở Viện nghiêncứu và Đào tạo tư pháp Theo thống kê, từ năm 1949 đến năm 1990, ở Hàn Quốc

có trên 200 nghìn ứng cử viên tham dự kỳ thi chuyên môn tư pháp nhưng chỉ cótrên 4800 người đạt yêu cầu, như vậy, tỷ lệ số người đạt yêu cầu chỉ có 2,3%

Để đảm bảo cho các thẩm phán không bị lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nàokhác của Nhà nước, các Thẩm phán được đảm bảo về mặt pháp lý, quyền bất khảbãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán Thẩm phán được bảo vệ trước mọi sự đedoạ và tấn công khi làm nhiệm vụ Không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi

cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự Các Thẩmphán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ luật nếu chưa có Quyếtđịnh kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành lập tại Toà án tối cao Tuynhiên, Chánh án Toà án tối cao có thể ra quyết định buộc thôi việc đối với nhữngThẩm phán có hạn chế về sức khoẻ theo đề nghị của Hội đồng Thẩm phán Toà ántôi cao

2.2 Thẩm phán ở Malaysia

Ở Malaysia, các Thẩm phán phải đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, trừkhi bị sa thải do những hành vi sai trái Lương của Thẩm phán được quy địnhbằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Chánh án

Trang 21

Quy chế đối vói thẩm phán của một số nước trôn thế giói, Trang: Phụ trương pháp luật,

http://ww ty.haiphong gov.vn/sotuphap/vn/index.asp?menuid=534&parent menuid=421 &fuseaction=3 &a rticleid=2041- cập nhật Thứ sáu, 20/02/2009

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Toà án tối cao Chỉ có Thẩm phán mới có quyền tài phán Hiến pháp cho cácThẩm phán thẩm quyền khá rộng Với tính chất độc lập của mình, cơ quan Tưpháp không phải chịu một sự kiểm sát nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vậtchất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản lý Cơ quan hành thực nhiệm vụ xét xử củamình, cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào chuyên môn của cơ quan xét

xử Họ không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào trong khi thực hiện hoạt độngxét xử của mình Tuy nhiên, khi xét xử, Thẩm phán rất chú trọng tời lập luận củaLuật sư và Công tố viêc trước khi đưa ra những phán quyết cuối cùng theo quyđịnh của pháp luật Khi Thẩm phán nghi ngờ là có tội hay không có tội thì bị cáođược xem như là vô tội Trong trường hợp bị cáo có tội thì Thẩm phán cho bị cáonói lời sau cùng trước khi đưa ra quyết định của Toà án.(S)

2.3 Thẩm phán Liêng Bang Nga

Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việcphải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ Ở Cộng HoàLiên bang Nga, nghề Thẩm phán là một ừong những nghề rất được xã hội trọngvọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi Một bộ phận cốt lõi của hệ thống Tưpháp là cơ quan xét xử Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quảkhi có độ ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạtđộng xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như quyền lợi của họ Thẩm phán

có quyền bất khả bãi miễn quyền tài phán và quyền được bảo vệ, Thẩmphán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn được mở rộngđến nơi ở, nơi làm việc, phương tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bịtruy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật Thẩm phán có thểkhông bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phêchuẩn của Toà án Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ được

áp dụng khi Thẩm phán đương nhiệm mà còn cả khi họ về hưu, từ chức

Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán được hưởng lương, lương hưu vàphụ cấp tương xứng Thẩm phán được cấp nhà, được miễn hoặc ưu tiêntrong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như: được quyền sử dụng các phươngtiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, đượcquyền giữ chỗ trước, phục vụ ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụđiện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ vàđiều trị y tế không phải trả tiền Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm

Trang 22

Phương Yến, Chế độ ưu đãi đối vói Thẩm phán theo luật pháp liên bang Nga, cập nhật 25/02/2009

http://www.haiphong gov.vn/sotuphap/vn/index.asp?memiid=534&parent menuid^421 &fuseaction=3 &a rticleid=1730

(J> Phạm Liên, Quy chế đối vói thẩm phán của một số nước trên thế, cập nhật Thứ tư, 25/02/2009 http://ww w.haiphong gov.vn/sotuphap/vn/index.asp?menuid=515&parent menuid=421 &fuseaction=3 &a rticleid=1850-.

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình

Ở Cộng hoà Pháp, đội ngũ Thẩm phán bao gồm hai ngạch Thẩm phán;

Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội về nguyên tắc, các Thẩm phán công

tác tại cơ quan Bộ Tư pháp ngoài nhiệm vụ công tố, họ còn thực hiện các chứcnăng quản lý dân sự hoặc soạn thảo văn bản Vì vậy, ngoài quy chế Thẩm phánchung họ còn phải tuân theo quy chế riêng khá độc đáo Ở Pháp, Thẩm phánđược chia làm ba hạng: hạng nhất, hạng nhì và ngoại hạng, mỗi hạng Thẩm phánlại chia thành hai bậc là bậc một và bậc hai Muốn được bổ nhiệm vào chức vụThẩm phán hạng nhì bậc hai, phải có ít nhất bảy năm công tác trong cơ quan tưpháp Thẩm phán hạng nhì chỉ được nâng lên bậc Thẩm phán hạng nhất nếu cótên trong danh sách thăng thưởng và đã qua mười năm công tác ở cương vị Thẩmphán hạng nhì.(7)

2.5 Thẩm phán ở nước Mỹ

Ở Liên Bang Hoa Kỳ, quy trình tuyển chọn Thẩm phán rất nghiêm ngặt,khắt khe Trước hết phải được tham khảo ý kiến của đội ngũ nhân viên NhàTrắng, văn phòng Chưởng lý, một số thượng nghị sĩ và các nhà hoạt động chínhtrị khác Các phẩm chất và năng lực của ứng cử viên sẽ được bộ phận chuyênmôn của Hiệp hội luật sư Hoa kỳ đánh giá Tiếp theo là thủ tục kiểm tra an ninhcủa Cục điều tra Liên Bang (FBI), của bộ phận chuyên trách thuộc Bộ tư pháp

Tên của ứng cử viên sẽ được gửi tên Uỷ ban Tư Pháp Thượng viện Hoa kỳ Uỷban sẽ tiến hành một cuộc điều tra xem ứng cử viên có phù họp với vị trí này hay

Trang 23

Đỗ Xuân, Hiến pháp Hoa Kỳ và chế độ làm việc suốt đòi của các thẩm phán liên bang,

http://www.sinh vienluat.vn/news/modules.php?name=News&fĩle=save&sid=247 Cập nhật ngày

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

không Nếu mọi kết quả đều thuận lợi, việc bổ nhiệm ứng cử viên làm Thẩmphán sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện và tiến hành bỏphiếu thông qua hoặc phản đối do đa số quyết định

Các Thẩm phán Hoa kỳ chỉ ngừng thực hiện nhiệm vụ khi nghỉ hưu theonguyện vọng, do tình trạng sức khoẻ yếu kém hay qua đời hoặc khi họ phải kỷluật Tất cả các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm theo quy định của Điều IIIHiến pháp Hoa kỳ đều được giữ chức vụ đó “trong thời gian có hành vi chínhđáng”, có nghĩa là họ sẽ được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ muốnngừng lại Cách thức duy nhất buộc họ phải từ nhiệm là tiến hành luận tội tại Hạviện và kết tội tại Thượng viện Theo quy định của Hiến pháp (đối với các Thẩmphán Toà án tối cao) và các quy định về lập pháp (đối với Thẩm phán Toà phúcthẩm và sơ thẩm), chỉ tiến hành luận tội khi phạm các tội danh “phản quốc, nhậnhối lộ hoặc những trọng tội khác”.(8)

Từ khái niệm Thẩm phán và quy trình tuyển chọn Thẩm phán một số nướctrên thế giới có thể thấy rõ được tàm quan trọng và vai trò của Thẩm phán tùythuộc vào mỗi quốc gia có những chính sách và những ưu đãi khác nhau nhungtựu chung lại tất cả những chính sách và ưu đãi đó mục đích chính là tuyển chọn

ra những Thẩm phán thực sự có trách nhiệm và tận tụy với công việc của mình,

họ là những người cầm cán cân công lý mang lại sự công bằng cho xã hội

Nhìn chung, ở mỗi quốc gia đều có những quy định chung về chức danhThẩm phán ở nước mình Các quy chế đối với Thẩm phán là yếu tố quan trọngquyết định đến sự công bằng, chính xác trong việc xử án Với các nước khácnhau có những quy định về vấn đề này không giống nhau Mỗi quốc gia có mộtchế độ chính trị, nền kinh tế, văn hóa khác nhau nên những quy định về quy chếđào tạo, bổ nhiệm và có những ưu đãi cho Thẩm phán cũng khác nhau Khôngchỉ các nước trên thế giới mà Việt Nam cũng vậy, Thẩm phán là người có vai tròrất quan trọng trong Tòa án Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án thực hiệnchức năng xét xử, giải quyết các vụ án, đem lại chân lý, sự công bằng cho mọingười, giúp giải oan cho người vô tội và kẻ phạm tội phải chịu một hành phạttương ứng với tội danh mà họ phạm phải Đe hoạt động xét xử thật sự công bằng,việc giải quyết các vụ án đem lại kết quả cao thì bên cạnh Hội thẩm nhân dân,Kiểm sát viên, Luật sư còn phải có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực cóchuyên môn, lương tâm trong sáng, chí công vô tư Đội ngũ Thẩm phán ở nước

ta từ khi thành lập cho đến nay đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền Tư pháp

07.03.2008.

Trang 24

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

nước nhà, đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống Bên cạnh những quyđịnh về quy chế, hoạt động xét xử của Thẩm phán ở nước mình, chúng ta cần họchỏi kinh nghiệm xét xử, cách thức đào tạo của các nước khác trên thế giới để xâydựng đội ngũ Thẩm phán trong tương lai thật giỏi, liêm khiết, giải quyết đượcnhiều vụ án lớn, không để xảy ra oan sai, các vụ chạy án, góp phần xây dựng xãhội công bằng dân chủ văn minh

Trang 25

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ VAI TRÒ CỦA THẢM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT xử sơ THẢM

CÁC VỤ ÁN HÌNH Sự

Nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự trước tiên chúng ta đi vào nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn củaThẩm phán theo các quy định của pháp luật để từ đó thấy rõ vai trò quan trọngcủa người cầm cán cân công lý

2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn chung của Thẩm phán

Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và 12 Pháp lệnh Thấm phán và Hội thấm

nhân dân năm 2002 thì Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải

quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án, theo sự phân công củaChánh án Toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làmnhiệm vụ có thời hạn, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thihành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việckhác theo quy định của pháp luật, Thẩm phán được bồi dưỡng nghiệp vụ công tácxét xử

Bên cạnh những quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán, pháp luậtcòn quy định những việc mà cán bộ công chức không được làm trong đó có

Thẩm phán Theo quy định tại Điểu 15 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân

dân năm 2002 thì Thẩm phán không được làm những việc sau đây:

Thẩm phán không được tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc ngườitham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác khôngđúng quy định của pháp luật, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ ánhoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết

vụ án, đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếukhông vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩmquyền hay tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong

vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định Nhiệm vụ của cácThẩm phán là xét xử chính xác những vụ án được đem ra xét xử, không được ănhối lộ vị nể, vì sợ hãi vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bịcáo nào, công bằng xác định mọi việc, không được tiết lộ ra ngoài những điềubàn bạc trong lúc nghị án

Trang 26

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Công việc của Thẩm phán là thực hiện chức năng xét xử các vụ phạm tội.Thẩm phán có nghĩa vụ tôn trọng mọi chứng cứ và các sự thật khách quan Thẩmphán tham gia phiên tòa xét xử với tư cách một người thay mặt pháp luật bảo vệcông lý, đem lại công bằng ừong xã hội Vì vậy bản thân Thẩm phán không đượctùy tiện đem các tài liệu chứng cứ mà các các cơ quan chức năng, cơ quan phápluật đã qua một quá trình lâu dài điều tra mới thu thập được có liên quan đến vụ

án ra khỏi phiên tòa để vì mục đích tư lợi cá nhân không vì nhiệm vụ Như vậy là

vi phạm nghiêm trọng những điều pháp luật nước ta đã quy định

Khi đóng vai trò là người đứng ra xét xử vụ án nắm được tình tiết của vụ án,nhằm đảm bảo chí công vô tư, Thẩm phán không đựơc đem sự hiểu biết về phápluật của mình để tư vấn cho các bị can, bị cáo đó không phải là chức năng, nhiệm

vụ mà pháp luật cho phép Thẩm phán làm Những việc mà pháp luật quy địnhThẩm phán không được làm là hoàn toàn phù họp với đạo đức, các chuẩn mựctrong xã hội, tất cả là vì mục tiêu công bằng và dân chủ trong xã hội Vì ngày naytrong lĩnh vực tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng thường xảy ra tình trạngnhận hối lộ của các Thẩm phán Trong khoảng vài năm trở lại đây, việc một sốcán bộ ngành Tòa án vi phạm pháp luật công khai, trắng trợn đã và đang gây bứcxúc trong dư luận Hai vụ việc gàn đây là Thẩm phán Vũ Văn Lương (Tòa ánnhân dân Quận Hoàn Kiếm) và phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn(Ninh Bình), Vũ Đức Hùng bị bắt quả tang vì có hành vi nhận hối lộ tiền củađương sự, vi phạm đạo đức của người làm công tác bảo vệ pháp luật

Ngoài những công việc Thẩm phán không được làm thì trong một số trườnghọp Thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường

họp do pháp luật tố tụng quy định (Điều 16 Pháp lệnh TP và HTND năm 2002)

và Điều 14 của Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) năm 2003 Những trường

họp từ chối hoặc bị thay đổi này cũng là để đảm bảo sự công bằng, khách quantrong hoạt động xét xử của Tòa án Vì đa số các trường họp phải thay đổi là docác Thẩm phán có mối quan hệ nhân thân, quen biết, thân thuộc, gia đình với các

bị can, bị cáo Nếu trong một phiên tòa xét xử, Thẩm phán và bị cáo là anh emruột, hoặc Thẩm phán và bị cáo là cha con, hoặc vợ của Thẩm phán là nhân viêncủa bị cáo.v.v thì tất cả những gì diễn ra tại phiên tòa sẽ không đảm bảo đượcđày đủ tính khách quan và công bằng Thẩm phán sẽ xét xử theo tình cảm củamình không đảm bảo được sự chí công vô tư của người cầm cán cân công lý

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán có quyền liên hệvới cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thànhviên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhândân và công dân Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ

Trang 27

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán làm tốt nhiệm vụ

(khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh TP và HTND năm 2002).

2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của Thẩm phán trong công tác xét xử Stf thẩm các vụ án hình sự

2.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tổ tụng hình sự nãm 2003 (Bộ

luật TTHS) thì khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa: Nghiên cứu vụ án trướckhi mở phiên tòa là một khâu rất quan trọng trong quá trình xét xử Trong giaiđoạn này, người Thẩm phán phải nghiên cứu các tình tiết khả nghi, đáng chú ýcủa vụ án, xem xét kỹ các yếu tố nhân thân, động cơ thực hiện hành vi phạm tội,các yếu tố bên ngoài tác động vào bị cáo để từ đó có thể giúp cho hoạt động xét

xử có hiệu quả, khách quan, xử đứng người đứng tội

+ Tham gia xét xử các vụ án hình sự: Sau khi nghiên cứu thật kỹ hồ sơ vụ

án hình sự, tìm hiểu các tình tiết của vụ phạm tội thì Thẩm phán được phân cônggiải quyết, xét xử các vụ án hình sự sẽ trực tiếp tham gia xét xử tại phiên tòa sơThẩm và tiến hành thực hiện đúng các chức năng, nhiệm vụ của mình theo quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự

+ Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩmquyền của Hội đồng xét xử Đây là nhiệm vụ trọng tâm không kém phần quanhọng trong công tác xét xử sơ thẩm các vụ án của Thẩm phán ở nước ta Tiếnhành các hoạt động tố tụng, tranh luận tại phiên tòa, đưa ra những ý kiến và cónhững biểu quyết góp phần quan trọng trong việc tìm ra sự thật của vụ án để điđến các quyết định chính xác, giải quyết các vụ án đảm bảo tính khách quan,công bằng Đây là một khâu quan trọng trong công tác xét xử các vụ án Hình sự.Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, ngoài những nhiệm vụ,quyền hạn được quy định tại Khoản 1 Điều này còn có những nhiệm vụ và quyềnhạn sau đây:

+ Quyết định áp dụng, thay đối hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quyđịnh của Bộ luật TTHS năm 2003: sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán đượcphân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy

bỏ biện pháp ngăn chặn sau đây:

a) Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91 của Bộ luật TTHS năm 2003)

b) Bảo lĩnh (Điều 92 của Bộ luật TTHS năm 2003);

Trang 28

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

c) Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93 của Bộ luật TTHSnăm 2003);

+ Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: khi cần xem xét thêm nhữngchứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa thì Thẩmphán trả hồ sơ cho phía Viện kiểm sát điều tra bổ sung, hoặc khi có căn cứ để chorằng bị cáo phạm một trong những tội khác hoặc có đồng phạm khác, khi pháthiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụán: Sau khi xem xét, nghiên cứu các vấn đề Thẩm phán nếu xét thấy các tình tiếtbong hồ sơ đã đầy đủ, không rơi vào trường họp trả hồ sơ để điều tra bổ sung thìThẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong trường họp vụ án có nhiều bịcan, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án không liên quan đếntất cả các bị can, bị cáo thì Thẩm phán có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ ánđối với từng bị can, bị cáo

+ Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa: Căn cứ vàoquyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đếnphiên tòa

+ Tiến hành các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phâncông của Chánh án Tòa án

2.2.2 Trách nhiệm của Thẩm phán trong công tác xét xử sơ thẩm các vụ

án hình sự

Ngày nay, trình độ chuyên môn của Thẩm phán đóng vai trò rất quan trọngbong việc xét xử vụ án Thẩm phán có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệmdày dặn, có kiến thức về pháp luật sâu thì công việc giải quyết các vụ án sẽ thuậnlợi, dễ dàng Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập WTO, bên cạnh sự phát triển củanền kinh tế thì tình hình các tội phạm về hình sự cũng tăng dần và có tính chấtnguy hiểm, có cả một đường dây tổ chức như buôn lậu, ma túy, mại dâm Vìvậy, năng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp của Thẩm phán đang là một vấn

đề rất quan bọng bong thời buổi kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập của nhànước ta Vì vậy Thẩm phán phải có bách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà án của mình Bên cạnh việc học tập phải rènluyện đạo đức lương tâm nghề nghiệp bong việc xét xử các vụ án thì các Thẩmphán còn phải tôn bọng pháp luật và chịu sự giám sát của nhân dân, chịu báchnhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Nhữngbản án có đem lại sự thuyết phục cho nhân dân hay không là tùy thuộc vào bảnthân của người xét xử có công bằng, đúng pháp luật hay không Nhân dân là mộtlực lượng giám sát hùng hậu nhất từ trước tới nay, mọi việc làm của nhà nước

Trang 29

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

đều nhằm mục đích mang lại sự công bằng dân chủ cho nhân dân vì nhà nước ta

là nhà nước của dân do dân và vì dân Thẩm phán phải gưomg mẫu trong việcchấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắcsinh hoạt công cộng, tích cực tham gia tuyên truyền và phổ biến pháp luật, tuyệtđối phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật Neu vịThẩm phán nào có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ viphạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định củapháp

Khoản 4 Điều 39 Bộ luật TTHS năm 2003 còn quy định trong quá trình xét

xử Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyếtđịnh của mình Thẩm phán ừong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình màgây thiệt hại, thì Toà án nơi Thẩm phán đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải cótrách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàncho Toà án theo quy định của pháp luật

Theo Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của ủy

ban thường vụ Quốc hội về việc “Bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người

có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra” có quy định rõ trách nhiệm phảibồi thường thiệt hại cho người bị oan sai do lỗi của những người có thẩm quyềntrong hoạt động tố tụng gây ra mà cụ thể ở đây là các Thẩm phán, cách xác địnhmức bồi thường và quy định bồi thường được xác định như thế nào và trong thực

tế xét xử khi những người có thẩm quyền xét xử này gây ra oan sai cho ngườidân, thì người dân có thực sự được bồi thường theo đúng những quy định màNghị quyết đã ban hành hay không?

Theo Nghị quyết thì việc thiệt hại do tổn thất về tinh thần thì một ngày bịtạm giữ, tạm giam, người bị oan được bồi thường số tiền bằng ba ngày lương tínhtheo mức tối thiểu Một ngày tại ngoại chờ minh oan, được bồi thường bằng mộtngày lương tính theo mức tối thiểu Trường họp người bị oan chết do các hoạtđộng tố tụng gây ra, được lĩnh khoản tiền bằng 360 tháng lương tính theo mức tốithiểu Thiệt hại về vật chất người bị oan được bồi thường các khoản thiệt hại nhưsau: Chi phí họp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi sức khỏe

và chức năng bị mất, giảm sút của người bị oan Chi phí họp lý cho việc mai tángngười bị oan chết; chi phí họp lý cho người chăm sóc người bị oan trong thờigian điều trị, thu nhập ổn định thực tế của người bị oan trong thời gian bị tạmgiữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, thu nhập thực tế bị mất của người chămsóc người bị oan trong thời gian điều trị, thu nhập ổn định thực tế của người bịoan trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, thu nhập thực

tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị, chi phí cấp

Trang 30

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng,nếu trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, người bị oanchết hay mất khả năng lao động Đó là những quy định của Nghị quyết388/NQ-UBTVQH11 của ủy ban thường vụ Quốc hội về việc “Bồi thường thiệthại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra”.Trong khi làm nhiệm vụ người Thẩm phán phải bảo đảm được tính kháchquan, trung thực của một người cầm cán cân công lý, phải chí công, vô tư, thanhliêm, chính trực, không vụ lợi Phải bảo đảm tính khách quan khi được phâncông giải quyết, xét xử một vụ việc cụ thể Khi xét xử phải căn cứ vào các tài liệu

có bong hồ sơ vụ việc và kết quả tranh luận tại phiên toà, không được áp đặt ýchí chủ quan của người Thẩm phán Phải trung thực khi xét xử, không được làmsai lệch hồ sơ vụ án Phải áp dụng mọi biện pháp họp pháp để xác định sự thậtcủa vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

2.3 Những trường hạp Thẩm phán xét xử vụ án hình sự Stf thẩm phải

từ chối xét xử

Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm phải từchối xét xử hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường họp sau Theo

quy định tại Điều 42 Bộ luật TTHS năm 2003

+ Họ đồng thời là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án; là người đại diện họp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của

- Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Bị can, bị cáo

Trang 31

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sauđây với một trong những người này:

- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;

- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh một, chị một, em một;

- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây, là bác một, chúmột, cậu một, cô một, dì một; là cháu một mà họ là bác một, chú một, cậu một,

cô một, dì một

Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm

nhiệm vụ là ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 42

của Bộ luật TTHS năm 2003 thì trong các trường họp khác (như trong quan hệ

tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế ) có căn cứ rõràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô

tư trong khi làm nhiệm vụ

Ví dụ: Thẩm phán là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con

rể của bị cáo; người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làmviệc mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là bong cuộc sống giữa họ có mối quan

hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế

Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tưtrong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Kiểmsát viên, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án là người thân thích với nhau

được thể hiện ở Điều 46 Bộ luật TTHS năm 2003 Thẩm phán phải từ chối tham

gia xét xử hoặc bị thay đổi khi họ cùng trong Hội đồng xét xử và là người thânthích với nhau Nếu Thẩm phán và những người trong Hội đồng xét xử có mốiquan hệ thân thích với nhau thì sẽ không đảm bảo được sự vô tư, khách quan củangười cầm cân nảy mực trong việc đưa ra bản án

Các quy định trên mục đích nhằm tránh tình trạng xét xử không công tâmcủa Thẩm phán, nhưng trên thực tế thực tiễn xét xử rất ít trường hợp Thẩm phán

bị vi phạm những quy định trên

> Tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu vai trò của các Thẩm phán trong việc xét

xử sơ thẩm các vụ án hình sự, qua đó để thấy được tầm quan trọng của giai đoạnxét xử sơ thẳm Một bản án hình sự sơ thẩm chính xác, xét xử bảo đảm đúngngười, đúng tội thì sẽ tránh được việc bị cáo kháng án lên các cấp tiếp theo, mộtmặt tiêu tốn thời gian, tiền bạc mặt khác sẽ gây ảnh hưởng không tốt từ phía nhândân về cơ quan xét xử của nhà nước Bản án sơ thẩm có chính xác hay không phụthuộc vào nhiều yếu tố nhưng cơ bản nhất vẫn là phụ thuộc vào bản lĩnh, nănglực của Thẩm phán Nhận thức giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai

Trang 32

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình

sự

đoạn quan trọng các Thẩm phán phải không ngừng năng cao nghiệp vụ, năng lực

để đảm bảo mọi quyết định của mình đều chính xác đem lại sự công bằng cho xã

hội, long tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp của nhà nước

2.4 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử Stf thẩm vụ án hình

sự ở nước ta

Xét xử sơ thẩm là một khâu rất quan trọng trong hoạt động xét xử các vụ ánnói chung và xét xử các vụ án hình sự nói riêng, các phán quyết của Thẩm phántrong giai đoạn xét xử sơ thẩm có chính xác, công minh, xử đúng người đúng tộihay không? Là phụ thuộc vào năng lực, nghiệp vụ và bản lĩnh của Thẩm phán.Xét xử sơ thẩm có chính xác thì sẽ tránh tình trạng một bản án phải xét xử đi,xét xử lại nhiều làn, tránh được tâm lý bấy lâu nay cho rằng xét xử sơ thẩm chỉnhư là một bước, kế tiếp sau đó phải trải qua các cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm,tái thẩm Làm tốn thời gian, tiền bạc Qua đó có thể thấy được tầm quan trọngcủa giai đoạn này và vai trò của Thẩm phán

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm này đòi hỏi Thẩm phán phải thực sự vô tư khithực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trong quá trình xét xử không đượcthiên vị, vị nể dù bị cáo có là ai, như thế nào đi nữa Đồng thời trong quá trìnhxét xử nếu Thẩm phán phát hiện được những sai phạm của những người tham gia

tố tụng thì phải kiên quyết đấu tranh Ví dụ trong quá trình xét xử nếu Thư kíphiên tòa là người thân của bị cáo thì phải thay đổi Thư kí khác để đảm bảo tínhkhách quan của vụ án

2.4.1 Vai trò của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự

Chuẩn bị xét xử là bước đầu tiên của giai đoạn xét xử sơ thẩm Thời gianchuẩn bị xét xử là khoảng thời gian từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án đếntrước ngày mở phiên tòa Trong thời gian này, Tòa án có thẩm quyền phải tiếnhành những việc cần thiết để bảo đảm cho việc xét xử được kịp thời và đúngpháp luật Đây là một bước quan trọng và rất cần thiết tạo điều kiện để việc xét

xử của Thẩm phán được khách quan, chính xác và bảo đảm cho những ngườitham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong quátrình giải quyết vụ án

Thẩm phán nghiên cứu những nội dung trong hồ sơ như: Thẩm quyền xét

xử, Thủ tục tố tụng, việc áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, đã đầy đủchứng cứ để xét xử chưa, căn cứ để ra quyết định phù họp trong việc xét xử, đốichiếu các tài liệu có trong hồ sơ với danh mục thống kê taì liệu kèm theo hồ sơ ,kiểm tra các tài liệu về thủ tục tố tụng, sau đó lập kế hoạch xét hỏi nhằm đảm bảo

Trang 33

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

cho việc xét xử chính xác nhanh chóng, giúp cho Thẩm phán chủ động điềukhiển quá trình xét hỏi, xử lý đúng và kịp thời các tình huống

Theo Điều 176 Bộ Luật TTHS năm 2003, thì sau khi nhận hồ sơ vụ án,

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án, mục đích củaviệc nghiên cứu hồ sơ nhằm làm rõ việc hiếu và nắm vững bản chất, diễn biếncủa vụ án, xác định sự thật của vu án, xác định việc truy tố của Viện kiểm sát cóđúng hay không, nhằm xác định những mâu thuẫn giữa kết luận điều tra và bảncáo trạng, xem các hoạt động tố tụng có đúng quy định của pháp luật hay không?

và tùy thuộc vào những trường họp cụ thể mà Thẩm phán có thể quyết định: đưa

vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều ưa bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án khi càn xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổsung tại phiên tòa thì Thẩm phán trả hồ sơ cho phía Viện kiểm sát điều tra bổsung, hoặc khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một trong những tội khác hoặc

có đồng phạm khác quy định tại Khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTHS năm 2003.

Ví dụ: Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ

toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung vì chorằng cơ quan điều ưa không mời người chứng kiến tham dự hoạt động đối chất.Hoặc khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một ưong những tội khác hoặc cóđồng phạm khác, khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Ngoài ra tại điểm c Khoản 1 Điều luật ưên còn có quy định ưả hồ sơ để điều

ưa bổ sung khi phát hiện có vi phạm nghiêm ưọng thủ tục tố tụng Vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường họp Bộ luật TTHS quy định bắt buộc phảitiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục tố tụng đó, nhưng cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâm phạmnghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm choviệc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện

Ví dụ: Trường họp quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật TTHS

năm 2003 mà Cơ quan điều ưa, Viện kiểm sát hoặc Toà án không yêu cầu Đoànluật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc

đề nghị Uỷ ban Mặt ưận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt ưận cửngười bào chữa cho thành viên của tổ chức mình là vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng (trừ trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ đãmời người bào chữa hoặc đều từ chối người bào chữa)

Như vậy, đương nhiên Tòa án chỉ đưa vụ án ra xét xử khi có đủ điều kiệncần thiết, tức là khi Tòa án cho rằng có đủ sơ sở và chứng cứ để chứng minh tội

phạm Theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của BLTTHS năm 2003 thì chỉ được

Trang 34

Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần Do đó, trong quátrình nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu phát hiện thấy vấn đề cần điều tra bổ sung, thìvẫn phải tiếp tục nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án để xem xét có vấn đề nào kháccần điều tra bổ sung hay không

Khâu chuẩn bị xét xử vụ án là rất quan trọng Khi xét xử, cách thẩm vấn củaThẩm phán phải là xác định các tình tiết vụ án một cách khách quan, hoàn toànkhông được xét hỏi theo hướng truy bức, áp đặt, buộc tội Câu hỏi chỉ nên theohướng nêu vấn đề, phát hiện những mâu thuẫn bởi trách nhiệm chứng minh, bảo

vệ cáo trạng là của Viện kiểm sát Trên thực tế trong giai đoạn chuẩn bị xét xử,

có nhiều trường hợp Thẩm phán có sự chuẩn bị tốt, nghiên cứu các hồ sơ vụ án

kỹ trước khi tiến hành xét xử nên phát hiện được những vi phạm pháp luật củaquá trình điều tra Chính việc không đưa vụ án ra xét xử trong trường họp cầnphải trả hồ sơ góp phần tránh tình trạng phiên tòa lại phải yêu cầu điều tra bổsung, hoặc án tuyên không thuyết phục áp dụng pháp luật không đúng Mặt khácđối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trước khi mởphiên tòa, một trong số những người bị hại rút đơn yêu cầu hoặc trong trườnghọp tính nhầm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội đãphạm, tuy nhiên Thẩm phán vẫn không ra quyết định đình chỉ vụ án là đúng phápluật Thực tế còn nhiều bất cập, do chưa chú trọng đúng mức việc chuẩn bị xét

xử, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có thể không xử lý đúngnhững yêu cầu về thẩm quyền xét xử, yêu cầu về tách, nhập, chuyển vụ án hay ápdụng, thay đổi, hủy bỏ những biện pháp ngăn chặn Ke cả việc thành lập Hộiđồng xét xử đôi khi cũng chưa được chú trọng nên có khi xảy ra chuyện khi đượctriệu tập không đúng thành phần Chẳng hạn như việc xét xử vụ án hình sự màtrong đó trường họp bị cáo là người chưa thành niên Trong quá trình chuẩn bịxét xử các vụ án hình sự, nếu Thấm phán không xem xét, giải quyết việc áp dụngcác biện pháp ngăn chặn mà Thẩm phán có thể, để xảy ra tình trạng một số bị cáohết thời hạn bị tạm giam vẫn tiếp tục bị tạm giam chờ xét xử mà không có lệnh.Ngoài ra vi phạm pháp luật còn thể hiện qua một số quyết định đưa vụ án ra xét

xử chỉ ghi tên Thẩm phán, Thư ký mà không ghi những người tiến hành tố tụngkhác và những người tham gia tố tụng, hơn nữa việc tống đạt giấy tờ triệu tập cácquy định của Tòa án không đến nơi đến chốn, một nguyên nhân nữa làm cho việcgiải quyết vụ án gặp nhiều vướng mắc, kéo dài và kém hiệu quả là do cơ quantiến hành tố tụng xác định không chính xác, không đúng tư cách người tham gia

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 04/2004/NQ-HĐTP ngày5/l 1/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “ Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật TTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử sơ thẩm
9. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật TTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
1. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 Khác
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Khác
3. Luật Luật sư thông qua ngày 29/6/2006 có hiệu lực ngày 01/01/2007 Khác
4. Pháp lệnh Thẩm phán và kiểm sát viên năm 2002 Khác
5. Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 Khác
6. Quyết định 810 của Bộ công an Ban hành quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa và quy trình thi hành án tử hình Khác
7. Nghị quyết 08/NQ - TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w