Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là làm rõ một số vấn đề lý luận và thựctiễn của chế định NLC ở Việt Nam bao gồm: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò, ý nghĩ
Trang 1Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÀN THƠ
- Cha mẹ, anh chị em trong gia đình và những người thân luôn nhắc nhở vàđộng viên em trong suốt quá trình học tập
- Quý thầy cô bộ môn luật Tư pháp cũng như tất cả các giáo viên của khoa Luật
trường Đại học cần Thơ đã tận tình truyền đạt cho em những kiến thức chuyên mônsâu sắc
- Các bạn sinh viên trường Đại học cần Thơ đặc biệt là các bạn lóp Luật
Thương Mại n, K34 đã quan tâm giúp đỡ trong học tập cũng như trong cuộc sống.
- Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô Mạc Giáng Châu, bộ môn Tư pháp,trường Đại Học cần Thơ đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ emtrong suốt quá trình nghiên cứu, để em có thể thực hiện tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓIĐẰU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG 5
1.1. Khái quát chung về ngưòi làm chứng 5
1.1.1. Định nghĩa người làm chứng 5
1.1.2. Đặc điểm 6
1.1.3. Phân loại 10
1.2. Cơ sở lý luận của chế định NLC trong TTHS Việt Nam 12
1.2.1. Bản chất pháp lý của việc làm chứng 12
1.2.2. Vai trò của của lời khai của NLC trong TTHS 15
1.2.2.1. Lời khai NLC là một nguồn chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn VAHS 15
1.2.2.2 Lời khai NLC trong nghĩa vụ chứng minh 16
a) Lời khai của NLC đối với việc làm sáng tỏ sự thật vụán 17
b) Lời khai của NLC đối với việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ những quyền cơ bản của công dân 19
c) Vai trò lời khai của NLC trong nghĩa vụ chứng minh đối với công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm 20
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA vụ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG 22
2.1 Quyề
Trang 5Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
2.2.2. Nghĩa vụ khai báo trung thực 31
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BÁT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NGƯỜI LÀM CHỨNG 33
3.1. Tồn tại về mặt pháp lý 33
3.1.1. Quy định quyền làm chứng của NLC 33
3.1.2. Quy định đối tượng không được trở thành NLC 35
3.1.3. về đảm bảo quyền công dân của NLC 36
3.1.4 về đảm bảo quyền tố tụng của NLC 38
3.1.5. Vấn đề đãi ngộ NLC 41
3.1.6. Quy định trách nhiệm của CQTHTT và người tiến hành tố tụng 44 3.1.7. Quy định về quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản, quyền và lọi ích khác của NLC và người thân của NLC 45
3.1.8. về quyền khiếu nại của NLC 47
3.2. Vấn đề thực tiễn 49
3.2.1. Quy định về NLC là trẻ em 49
3.2.2. Quy định về quyền miễn trừ làm chứng 51
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
l.Tính cấp thiết của đề tài
Đi đôi với quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một xã hội
có những thiết chế pháp luật chặt chẽ và cụ thể, theo đó chế định “người làm chứng”phải được quy định cụ thể đảm bảo tính phù hợp với thực tế khách quan và đảm bảotính thi hành Chế định “người làm chứng” được quy định trong BLTTHS Việt Nam là
cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ NLC, là chủ thể góp phần xác định rõ sự thật kháchquan của vụ án Là một trong những chế định lâu đời trong hệ thống pháp luật nước tacũng như nhiều nước trên thế giới, xuất phát từ lời khai của NLC là một trong nhữngchứng cứ có vai trò rất quan trọng giúp vụ án được sáng tỏ Cùng với quá trình hộinhập, sự hoàn thiện chế định pháp luật NLC và sự bảo đảm của nhà nước về địa vịpháp lý của NLC sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi của con người,quyền lợi của toàn xã hội nói chung cũng như quyền lợi của NLC nói riêng; góp phầncủng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, của Nhà nước và đồngthời góp phần quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa vữngmạnh
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - chính trị xã hội thì vấn đề tội phạmcũng ngày càng tinh vi và nguy hiểm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức Hoạt động xét xử
ở nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới hiện nay đang gặp phải trở ngại to lớn
là sự tác động của giới tội phạm đối với những NLC và người thân của họ Các hìnhthức cưỡng bức NLC để họ không họp tác với CQTHTT thông qua việc trình bày lờikhai gian dối, phản cung, không khai báo ngày càng tinh vi và phức tạp hơn Do điềukiện khách quan cũng như chủ quan, nên việc ban hành chế định NLC trong BLTHHSnăm 2003 còn có nhiều bất cập, công tác áp dụng pháp luật vào thực tiễn thì còn chưanghiêm chỉnh Đòi hỏi cấp thiết đặt ra là cần phải xây dựng một chế định NLC hoànthiện hơn, cụ thể hơn Đồng thời cũng cần có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về
đề tài này hơn nữa để đáp ứng được tình hình mới là một trong những yêu cầu rất cấpthiết được đặt ra
Việc bất cập trong pháp luật cũng như trong thực tiễn về NLC, dẫn đến thựctrạng NLC không nhiệt tình trong khi hợp tác với CQTHTT, nhiệm vụ của hoạt động
Trang 7Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
Đồng thời cũng gây hoang mang trong dư luận, là một “mảng” để các phàn tử phảnđộng lợi dụng chống phá Đảng và Chính quyền nhà nước
Các chế định về NLC ở nước ta đã trải qua những thăng trầm nhất định Hiệnnay, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi ngày càng hoàn thiện chế định NLC trongBLTTHS Theo đó, chế định NLC đã được thay đổi theo hướng mở rộng quyền của họ
và những biện pháp bảo đảm tố tụng cho các quyền đó Tuy nhiên, những quy định vềNLC trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa tạo cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khíchNLC tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đấutranh phòng chống tội phạm và xác minh sự thật khách quan của vụ án - chưa thực sựbảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của NLC Trong khi đó, hoạt động của tộiphạm thì lại ngày càng nguy hiểm và táo tợn hơn trong việc trả thù, đe dọa hành hung,hành hung NLC Hiện nay, những quy định về NLC trong pháp luật hiện hành còn khánhiều những bất cập trong nội dung cũng như chưa có cơ chế giải quyết
Từ những vấn đề trên, NLC trong VAHS nhất là trong các vụ án lớn NLCthường ít ra làm chứng, từ chối làm chứng, khi khai báo thì lại chịu tác động của nhiềuyếu tố khách quan và chủ quan chi phối gây ra thiệt hại lớn cho nhà nước và xã hội.Cùng với việc đẩy mạnh hội nhập phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước tacũng đã tiến hành cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, phù hợpvới quá trình hội nhập quốc tế, trong đó chế định về NLC là một dẫn chứng cụ thể
Qua những phân tích trên, nhiệm vụ tìm hiểu và hoàn thiện chế định về NLCtrong BLTTHS là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay Từ những lý do trên, cùng vớimong muốn tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NLC ở Việt Nam
trong thời gian qua, sinh viên đã mạnh dạn chọn đề tài: “C/zê định người làm chứng trong bộ luật tổ tụng hình sự Việt nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2 Phạm vỉ nghiên cứu đề tài
Vì thòi gian có hạn nên sinh viên chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tất cả cácquy định về NLC, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NLC được quy địnhtrong BLTTHS năm 2003 Việt Nam bao gồm đặc điểm, quyền và nghĩa vụ củaNLC từ đó thấy được những bất cập trong quy định của Luật cũng như trong thựctiền áp dụng, mà không đi sâu phân tích trình tự thủ tục triệu tập NLC, quá trình tham
Trang 8gia tố tụng của NLC Vì sinh viên muốn tập trung nghiên cứu những quy định cơ bảncủa BLTTHS năm 2003 về NLC để có cái nhìn tổng quát và rút ra những kết luận làmcăn cứ trong việc bảo vệ quyền con người của NLC, nâng cao tính thực thi của phápluật trong vấn đề bảo vệ NLC cũng như những ưu đãi cho họ để góp phần nâng caohiệu quả tố tụng.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là làm rõ một số vấn đề lý luận và thựctiễn của chế định NLC ở Việt Nam bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò, ý nghĩa cũng như quyền và nghĩa vụ củachế định NLC theo quy định của BLTTHS năm 2003;
- Phân tích, đánh giá tính khả thi của pháp luật về chế đinh NLC trong thực tiễn,
từ đó nêu lên những bất cập tồn tại trong quy định của Luật cũng như trong quá trình
áp dụng luật;
- Tìm hiểu đề ra những giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy định phápluật và việc áp dụng thống nhất pháp luật của chế định này, nhất là vấn đề tạo cơ sởpháp lý vững chắc trong hoạt động bảo vệ NLC;
- Góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho mọi người nhất là cho NLC, giúp
họ ra tố giác tội phạm và ra làm chứng bảo vệ công lý một cách mạnh dạn hơn;
- Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, lý luận của bản thân về vấn đề này
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đe có được kết quả trình bày trong đề tài, trên cơ sở những kiến thức đã đượctrang bị trong quá trình học tập tại trường, sinh viên đã sử dụng các phương phápnghiên cứu sau: phương pháp phân tích, so sánh các quy định hiện hành của Luật: đây
là các phương pháp quan trọng và được sinh viên sử dụng chủ yếu trong quá trình thựchiện đề tài của mình; thu thập, tổng hợp, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, tàiliệu có liên quan đến chế định NLC; nghiên cứu thực tiễn như sưu tầm và phân tích cácbất cập trong các vụ án có NLC kết hợp chứng minh làm rõ vấn đề làm rõ chế địnhnày
Trang 9Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
6. Bổ cục của đề tài
Đe tài nghiên cứu của sinh viên ngoài những viết tắt, lời nói đầu, kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm các phần sau:
Chưcmg 1 Lý luận chung về người làm chứng
Chương 2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền vànghĩa vụ của người làm chứng
Chương 3 Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện chế định người làm
chứng
Hy vọng rằng bằng lòng nhiệt huyết, sức trẻ và những kiến thức đã và đangđược trang bị, tích lũy trên ghế nhà trường, cùng sự với sự giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình củatập thể các thầy cô giáo Trường Đại Học cần Thơ, nhất là Thạc sỹ Mạc Giáng Châu -
bộ môn Tư pháp, Khoa Luật, trường Đại Học cần Thơ, đã tạo điều kiện để em có thể
đi sâu phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận mang tính khoa học, thực tế nhằmgóp phần hoàn thiện địa vị pháp lý của NLC đã hình thành và tồn tại trong quy địnhcủa pháp luật
Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứukhoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết cógiới hạn Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết hay sai lầm trong đề tài nghiên cứunày là điều không thể tránh khỏi Sinh viên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếnđánh giá, phê bình của thầy cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên
Trang 10Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa thốngnhất về NLC, và mặc dù BLTTHS năm 2003 không nêu một cách cụ thể khái niệm về
NLC nhưng căn cứ vào quy định tại Điều 55 là “người nào biết được những tình tiết liên quan đến VAHS đểu có thể được triệu tập đến làm chứng” thì theo đó NLC được
hiểu là người biết được những tình tiết có liên quan đến VAHS chẳng hạn như thờigian, địa điểm xảy ra vụ án, động cơ, mục đích, người thực hiện tội phạm và đượcCQTHTT như CQĐT, VKS, TA triệu tập đến để làm chứng, khai báo thành thật tất cảnhững gì mình biết có liên quan tới vụ án với cơ quan có thẩm quyền để góp phần làmsáng tỏ vụ án đó
Thuật ngữ “người làm chứng” trong dân gian thường gọi là “nhân chứng” thì chỉ
đơn thuần là người mà theo đó bằng mắt thấy tai nghe, họ chứng kiến hay nghe đượcmột hoặc một số tình tiết liên quan đến VAHS hoặc do một số nguồn thông tin kháccung cấp mà biết
Nói tóm lại, NLC là người biết được những tình tiết có liên quan đến VAHShoặc những tình tiết có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ vụ án đó và tham gia vào quátrình tố tụng để cùng với CQTHTT tìm ra sự thật khách quan của VAHS trên cơ sởtriệu tập của của những cơ quan có thẳm quyền
Trang 111 “ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm
tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lôi hay không có lôi, do cổ ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm
phải được triệu tập bỏi CQTHTT Trước hết, NLC phải là người biết những tình tiết
cần phải chứng minh, làm sáng tỏ trong VAHS,1 vì xuất phát từ mục đích của sự có
mặt của NLC, vai trò của NLC trong TTHS, mà yêu cầu NLC phải biết được các tình
tiết cần được chứng minh, cần được làm sáng tỏ trong VAHS là yếu tố bắt buộc NLC
cùng với CQTHTT, người THTT và những người tham gia tố tụng khác cùng nhau đi
tìm sự thật khách quan của VAHS, do đó NLC khi tham gia vào quá trình tố tụng, phải
là người biết được những tình tiết có liên quan tới VAHS, bằng việc cung cấp lời khai
một cách cụ thể và thành thật, mới có thể tham gia vào quá trình làm sáng tỏ VAHS,
đạt được mục đích tố tụng và yêu cầu của BLTTHS đặt ra Thứ hai, người đó phải
được CQTHTT triệu tập đến để tham gia vào quá trình điều tra, hợp tác và khai báo về
những tình tiết cần xác minh, làm sáng tỏ trong VAHS mà mình biết, NLC tham gia
vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của CQTHTT Chỉ được trở thành NLC trong
TTHS nếu được CQTHTT triệu tập bởi vì BLTTHS chỉ coi việc làm chứng là nghĩa vụ
phải làm của công dân, chứ không phải là quyền mà công dân được hưởng, trên cơ sở
xác định và triệu tập của CQTHTT Những cơ quan có thẩm quyền đó nhân danh Nhà
Nước, để triệu tập NLC đến và giao cho họ nhiệm vụ làm chứng trên cơ sở xác định họ
có đầy đủ điều kiện để trở thành NLC hoặc có khả năng làm tròn nghĩa vụ của NLC
hay không, chứ bản thân họ không tự có được quyền này Ngoài ra, việc triệu tập NLC
phải tuân theo một trình tự thủ tục nhất định của BLTTHS để đảm bảo áp dụng thống
Trang 12nhất, đồng bộ và đạt được hiệu quả cao Sở dĩ có quy định này là vì đảm bảo tính cầnthiết của việc lấy lời khai NLC CQTHTT là cơ quan chuyên môn trong việc điều tra,giải quyết VAHS trên cơ sở nghiệp vụ, kinh nghiệm và khả ngăn phân tích sẽ đánh giáđược mức độ cần thiết và tầm quan trọng như thể nào trong việc lấy lời khai của NLCnày mà không phải là người khác, giả sử nếu như ai biết được tình tiết có liên quan đến
vụ án đang được điều tra cũng đều đến khai báo với CQTHTT mà không cần thông quaviệc triệu tập của CQTHTT thì dẫn đến hiện tượng mất trật tự, không có hệ thống trongviệc lấy lời khai NLC, chưa kể đến việc làm mất thời gian, công sức và tiền bạc củaNgân sách nhà nước khi bố trí nhân lực cho việc lấy lời khai của NLC nếu như nhữngngười đó cung cẩp lòi khai không có giá trị chứng minh trong vụ án Thêm vào đó, việcnày rất dễ xây ra tình trạng xuyên tạc, vu khống, cho lời khai giả nhằm làm mất danh
dự, uy tín của người khác Từ đó, nhận thấy rằng, cả hai yêu cầu trên hên quan mậtthiết và bổ sung cho nhau Biết những tình tiết có liên quan đến vụ án, những tình tiết
có tác dụng chứng minh, làm sáng tỏ trong VAHS là điều kiện về mặt nội dung để cóthể trở thành NLC, đó cũng là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết làm tiền đề đảm bảoNLC có thể thực hiện vai trò tố tụng với tư cách NLC Bên cạnh đó, sự triệu tập củaCQTHTT lại là điều kiện đủ và là điều kiện về mặt hình thức để hợp thức hóa vai tròNLC trong TTHS
Thứ 3, về chủ thể là NLC, theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì
những đối tượng sau đây không được trở thành NLC “Người bào chữa của bị can, bị cáo; Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn’'’ (Khoản 2 Điều 55 BLTTHS) Theo đó người bào chữa có thể là “Luật sư; Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân” (Điều 35 BLTTHS 2003) với vai trò tố tụng của mình là “Người bào chữa trong to tụng hình sự là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người
bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.2 Việc quy
định không cho người bào chữa của bị can, bị cáo được trở thành NLC vì hai lý do sau
2
ThS Trân Văn Bảy, Người bào chữa trong tô tụng hình sự, tạp chí khoa
hoc pháp lý, Trường Đại Học
Trang 133 “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người trong trường hợp
khẩn cấp và Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia to
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
Thứ nhất là để bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo Do đặc thù công việc, người bào
chữa tham gia tố tụng từ rất sớm,3 nên họ dễ dàng tiếp xúc với bị can, bị cáo và tìm
hiểu kỹ VAHS ngay từ đầu, họ biết rõ và thu thập được nhiều những thông tin, tình tiết
của vụ án có lọi hoặc có hại cho bị can, bị cáo Thế nên nếu được làm chứng rất có thể
người bào chữa sẽ đưa ra những chứng cứ mà người bào chữa đã thu thập được trong
quá trình tìm hiểu vụ án mà đó có thể gây bất lợi hoặc là căn cứ để khởi tố bị can hoặc
là căn cứ buộc tội bị cáo, tình tiết tăng nặng, hoặc định khung hình phạt Thêm vào
đó thì người bào chữa cũng đã làm trái đi nghĩa vụ của mình là “làm sáng tỏ những
tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý
nhằm bảo vệ quyển Vữ lợi ích hợp pháp của họ; Không được tiết lộ bí mật điểu tra mà
mình biết được khỉ thực hiện việc bào chữa” (Khoản 3 Điều 58 BLTTHS 2003) và họ
đã vi phạm vào một trong những quy định về hành vi bi nghiêm cấm “Tiết lộ thông tin
về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp
được khách hàng đong ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác’’ (Điểm c
Khoản 1 Điều 9 Luật Luật Sư 2006) Quy định cấm người bào chữa tham gia vào tố
tụng với tư cách là NLC cũng nhằm đảm bảo cho họ có thời gian để tập trung sức lực,
chuyên tâm thực hiện tốt vai trò bào chữa của mình, giúp bị can, bị cáo trong việc
chứng minh mình vô tội hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của
pháp luật, hỗ trợ cần thiết về mặt pháp lý cho bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng
Thứ hai, là để đảm bảo tính khách quan trong lời khai của NLC, như đã phân tích thì
người bào chữa là người biết rõ nhiều thông tin, tình tiết của vụ án, người bào chữa lại
tiếp xúc và có nhiều mối liên hệ chẳng hạn về vật chất, tinh thần với bị can, bị cáo, thế
nên nếu được làm chứng thì lòi khai của người bào chữa sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố
và không còn khách quan nữa, điều đó thì hoàn toàn đi ngược lại những gì mà
BLTTHS đang hướng tới, chẳng hạn để đảm bảo yếu tố khách quan trong lời khai của
NLC mà BLTTHS 2003 có quy định “Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án,
chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp để cho những người làm chứng
Trang 14không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan Trong trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng” (Khoản 2 Điều 204 BLTTHS 2003) Loại người thứ hai không được luật cho phép làm NLC đó là “Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn” (Điểm b Khoản 2 Điều 55 BLTTHS 2003) Việc hạn chế quyền tố
tụng của loại người này trong việc trở thành NLC là điều dễ hiểu bởi khi tham gia tốtụng với tư cách là NLC thì họ chẳng nhận thức được hoặc khai báo đúng đắn được sựviệc mà họ đã thấy hoặc nghe, tác dụng chứng minh và làm sáng tỏ vụ án từ lời khaicủa họ không có, mục đích của TTHS không đạt được, thì việc hạn chế đó là điều hợplý
Thứ 4, về quyền pháp lý mà pháp luật TTHS trang bị cho NLC Không phụthuộc vào chức vụ, trình độ học vấn, công sức đóng góp làm sáng tỏ VAHS khi thamgia vào quá trình tố tụng thì NLC đều được hưởng một số quyền và một số nghĩa vụnhất định mà BLTTHS năm 2003 quy định Điều 55 BLTTHS 2003 quy định NLC có
quyền “Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; Khiếu nại quyết định, hành vi tổ tụng của cơ quan, người có thẩm quyển tiến hành tổ tụng; Được
cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật’ NLC có nghĩa vụ “Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vẳng mặt của họ gây trở ngại cho việc điểu tra, truy tổ, xét xử thì có thể bị dẫn giải; Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án” BLTTHS 2003 tiến
bộ đã trao cho NLC một số quyền khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình thể hiện
tính nhân đạo của Nhà Nước trong việc tôn trọng “quyển con người” được quy định trong Hiến Pháp 1992 và nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” được thừa nhận tại Điều 4 BLTTHS 2003 Nhung cần nhận thấy rằng BLTTHS
2003 đã trao cho NLC một số quyền nhất định chỉ là để đảm bảo cho NLC thực hiệnnghĩa vụ làm chứng của họ, hay chỉ để đề phòng, khắc phục những hậu quả, bù đắpnhững mất mát của việc làm chứng gây ra, chứ ngoài ra NLC không có một quyền lợivất chất hay quyền lợi cá nhân nào từ những quy định về quyền của NLC
Trang 15Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
1.1.3. Phân loại
Việc phân loại NLC thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào một hoặc một sốđiểm chung như ngôn ngữ, tuổi tác hay quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc hình thành những quy định của pháp luật để điều chỉnh từng loại đối tượng, hoặc
có những phương pháp điều chỉnh, nghiệp vụ linh hoạt, thích hợp hơn cho từng loại đối
tượng cụ thể về cơ bản, có thể phân loại NLC thành những nhóm chính sau:
a) Căn cứ vào độ tuổi, có thể chia NLC thành hai loại
NLC là người đã thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và
chưa thành niên có quy đinh cụ thể “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên” theo đó NLC là người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên NLC loại này là
người đã trưởng thành về mặt tâm lý và sinh lý, họ có đầy đủ khả năng tự mình thựchiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Pháp luật TTHS quy định tươngđối đầy đủ về nghĩa vụ mà một NLC thành niên phải thực hiện
NLC là người chưa thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và
chưa thành niên có quy định cụ thể “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành
niên” theo đó NLC là người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi BLTTHS 2003
quy định NLC là người không thể thay thế trong tố tụng, tức là không thể tham gia tốtụng thông qua chế định ủy quyền mà phải tham gia tố tụng để trực tiếp khai báo choCQTHTT về những điều mình biết hên quan đến vụ án và, khi cần thiết thì tham giađối chất với NBH, với các NLC khác khi có mâu thuẫn trong lời khai, hoặc tham giathực nghiệm điều tra để giúp làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án thêm vào đó thì Luậtkhông khống chế độ tuổi để được trở thành NLC nên bất cứ người nào kể cả trẻ em,người tàn tật, người bị hạn chế về thể chất nhưng chưa đến nỗi bị mất khả năng nhậnthức thì họ sẽ được CQTHTT triệu tập để khai báo về những gì mà họ biết, thế nênrất khó để bảo đảm cho họ các quyền mà luật chuyên ngành quy định hoặc có các quyđịnh không thống nhất giữa BLTTHS và Luật chuyên ngành điều chỉnh cho đối tượng
đó vì BLTTHS chưa phân loại NLC theo một tiêu chí cụ thể nào
Một đối tượng đặt biệt trong nhóm này là NLC là trẻ em - loại NLC này là chủthể được bảo vệ bởi các văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
Trang 16xã hội mà người lớn thường mắc phải, nên việc lấy lời khai của đối tượng này thu đượcgiá trị chứng minh cao trong VAHS Cũng chính vì thế mà quá trình tố tụng đối với trẻ
em sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tâm hồn và nhận thức thơ ngây của trẻ Thế nên, nếukhông có một quy định riêng về trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng trong việc lấy lờikhai của NLC là trẻ em thì sẽ mang lại những ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý của loạiđối tượng này
b) Căn cứ vào quốc tịch, có thể chia NLC thành hai loại
NLC là người việt nam: Tại khoản 1 điều 5 Luật Quốc Tịch Việt Nam 2008 có
quy định “Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam” Vì thế NLC là người
Việt Nam có nghĩa là NLC có quốc tịch việt Nam
NLC là người nước ngoài: Người nước ngoài là người không có quốc tịch ViệtNam bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài mà không có quốc tịch Việt Nam vàngười không quốc tịch Như vậy NLC loại này bao gồm NLC không có quốc tịch ViệtNam và NLC không có quốc tịch của bất cứ một quốc gia nào Khi tiến hành tố tụngvới loại đối tượng này phải được tiến hành thông qua cơ quan tư pháp ở nước mà NLCnày có quốc tịch và phải được sự hỗ trợ, hợp tác của cơ quan này
c) Căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ, có thể chia NLC thành hai loại
NLC nói được tiếng Việt: là NLC có thể giao tiếp được bằng tiếng Việt Quátrình tố tụng với loại đối tượng này rất dễ trong việc giao tiếp và lấy lời khai, trao đổithông tin trực tiếp mà không cần phải thông qua một người trung gian - người phiêndịch
NLC không nói được tiếng Việt: là người không giao tiếp được bằng tiếng Việt.Thông thường đối tượng này bao gồm người nước ngoài và người dân tộc thiểu số, họkhông biết, không thể giao tiếp hoặc biết mà không diễn đạt ý mình muốn nói bằngtiếng việt một cách trọn vẹn và đầy đủ Quá trình tố tụng đối với đối tượng này khôngthể thực hiện một cách trực tiếp mà phải thông qua người phiên dịch BLTTHS năm
2003 không trao cho NLC quyền được lựa chọn người phiên dịch, điều đó không chỉ viphạm quyền tố tụng của NLC mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình tố tụng
Trang 17Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
d) Căn cứ vào lời khai của NLC có thể chia NLC thành hai loại
về bản chất thì tác dụng chính của lời khai của NLC chỉ là ở giá trị chứng minh
sự thật cho VAHS, mặc dù có những đối trọng với nhau trong lời khai NLC nhưngchung quy tất cả những lời khai đều có tác dụng chứng minh, làm sáng tỏ các tình tiếttrong VAHS, nhưng thông thường thì lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợicho bị can, bị cáo hoặc NBH, nên khi căn cứ vào đặc điểm này có thể chia NLC thànhhai loại sau
NLC có lòi khai có giá trị bảo vệ người bị tình nghi: là loại NLC mà lời khai của
họ có lợi cho bên bị can, bị cáo Lòi khai của NLC loại này thì có vai trò bào chữa theohướng chứng minh những tình tiết trong VAHS giúp bị can, bị cáo trong việc chứngminh mình vô tội hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật
NLC có lời khai buộc tội: Lời khai của NLC loại này thì trình bày những tìnhtiết buộc tội, tăng nặng tội cho bị can, bị cáo Tác dụng chứng minh tội phạm thể hiện
rõ gàng trong lời khai của NLC loại này Tuy nhiên, trong một trường hợp đặc biệt lờikhai của NLC chẳng những bất lợi có bị can hoặc bị cáo mà còn trở thành một trongnhững căn cứ để chống lại chính NLC - là một căn cứ khởi tố bị can đối với chínhNLCđó
Ngoài ra, còn rất nhiều cách phân loại NLC khác nữa như căn cứ vào giới tính,trình độ học vấn Nhưng chung quy lại, thì tác dụng chính của việc phân loại chủ yếu
là xây dựng những quy định phù hợp và phương pháp nghiệp vụ điều chỉnh thích hợpcho từng loại đối tượng NLC, giúp cho chế định NLC ngày càng phát huy vai trò tốthơn trong TTHS
1.2. Cơ sở lý luận của chế định NLC trong TTHS Việt Nam
Mỗi chế định trong BLTTHS đều có một địa vị pháp lý nhất định Tìm hiểu vịtrí pháp lý của NLC sẽ thấy được vai trò và tầm quan trọng của chế định NLC trongBLTTHS
Trang 18Địa vị pháp lý của NLC trong lý luận TTHS không được định nghĩa một cách cụ
thể, nên đôi khi có sự nhầm lẫn hay những cách hiểu không thống nhất về bản chấtpháp lý của NLC NLC là chủ thể tham gia tố tụng chỉ với tư cách là người phối hợpvới CQTHTT trong quá trình giải quyết và làm sáng tỏ vụ án, với mong muốn duy nhất
là tìm ra sự thật khách quan của VAHS Nhìn chung, khi tham gia vào TTHS, NLC làchủ thể không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án Lý do tham gia của NLCtrong TTHS không phải lợi ích cá nhân của họ, mà là lợi ích của bị can, bị cáo, NBH,của CQTHTT và lợi ích chung của xã hội: đó là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án, NLC hoàn toàn không được bất cứ quyền lợi về mặt vật chất nào từ việc làmchứng Sự tham gia của họ góp phần vào việc chứng minh, làm sáng tỏ sự thật kháchquan của VAHS Khi so sánh vai trò, chức năng tố tụng của NLC với NBH và bị can,
bị cáo sẽ nhận thấy rõ sự khác biệt về tư cách tố tụng của NLC với các chủ thể kháctrong TTHS Theo đó NBH tham gia tố tụng vói tư cách là chủ thể buộc tội, thực hiệnquyền công dân và quyền tố tụng, cùng với CQTHTT xác định có tội phạm xảy ra, bảo
vệ quyền lợi của mình Cũng giống NBH, bị can, bị cáo tham gia vào tố tụng với tưcách chủ thể rõ ràng là vì lợi ích cá nhân của mình Trong khi đó, NLC tham gia tốtụng chỉ với tư cách là người phối hợp với CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án,tham gia tố tụng không vì lợi ích cá nhân Bằng việc cung cấp lời khai mà mình biết cóhên quan vói VAHS, NLC làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết trong quá trình điềutra, chứng minh tội phạm Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khaitrung thực tất cả những gì mà mình biết không những là quyền và nghĩa vụ công dân
mà là nghĩa vụ tố tụng của họ Còn đối với nhà nước thì NLC chính là những ngườiphối họp với nhà nước, với CQTHTT và thật sự Nhà nước cần đến sự họp tác đó trongcông cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Chức năng chính của NLC là hỗ trợ tư pháp Sẽ dễ dàng nhận thấy được chứcnăng TTHS của NLC hoặc sự khác biệt giữa chức năng TTHS của NLC với nhữngngười tham gia tố tụng khác khi so sánh với vai trò TTHS của NBH Theo đó, NBH lànạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lòi khai của họ có thể phản ánh đậm néthơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan về các tình tiết của vụ án so với lời khai của
NLC “Lời khai NBH không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đong thời còn là quyền tổ tụng của
Trang 194 Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ NLC và quyền miễn trừ làm chửng trong tổ tụng hình sự, tạp chí khoa học
pháp lý, Trường Đại Học Luật Thành phổ Hồ Chí Minh, số 3 (40), năm 2007.
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
NBH”.4 Ở góc độ này NBH được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội.
Còn NLC là người trợ giúp cho CQTHTT trong quá trình điều tra, chứng minh có hay
không có hành vi phạm tội, là chủ thể của chức năng hỗ trợ tư pháp - chức năng không
cơ bản trong TTHS Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiều trong khoa học TTHS
ở nước ta Sự hạn chế về lý luận khoa học này chính là nguyên nhân chậm thay đổi
trong tư duy lập pháp khi sửa đổi BLTTHS 2003 và thái độ đối xử không công bằng
với NLC trong thực tiễn tố tụng
Lời khai NLC là loại chứng cứ được cung cấp và thể hiện bởi con người - tính
cá biệt cao Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của
những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính
cách và nhân cách Thêm vào đó, thì thông thường lời khai của NLC có thể bất lợi
hoặc có thể có lợi cho bị can, bị cáo hoặc NBH, nhưng về bản chất thì NLC là chủ thể
tham gia tố tụng không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án, mà chỉ là làm
sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án NLC không có bất cứ một lợi ích vật chất nào
trong quá trình tham gia tố tụng Dù lời khai của NLC có lợi cho bên nào thì đứng ở
góc độ của NLC đều có sự quan tâm duy nhất là sự thật khách quan của vụ án phải
được làm sáng tỏ và sự tham gia của họ góp phần cho nhiệm vụ đó
Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực về tất cảnhững gì mà mình biết vừa là quyền và nghĩa vụ công dân vừa là nghĩa vụ tố tụng của
họ Bằng việc tham gia vào TTHS, tham gia vào việc khai báo đúng đắn những gì đã
biết có liên quan đến VAHS, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, NLC đã
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc “phái hiện, to giác
hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chong tội phạm, góp phần bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1 Điều
25 BLTTHS 2003) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, việc thực
hiện đầy đủ những yêu cầu mà BLTTHS quy định tại Khoản 4 Điều 55 BLTTHS 2003
“Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Toà án; Khai trung
thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án”, NLC cũng đã thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tố tụng của mình, góp phần vào công cuộc phòng ngừa và phát hiện tội phạm
Trang 201.2.2. Vai trò của của lời khai của NLC trong TTHS
đúng đắn VAHS
Một VAHS xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết và những dấu vết đó được thểhiện dưới những hình thức khác nhau, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúngđắn VAHS, nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội Các CQTHTT sẽ căn cứvào những dấu vết đã thu thập được để khỏi tố, truy tố hay xét xử một người đã có
hành vi phạm tội Những dấu vết đó được gọi là chứng cứ “Chứng cứ là nhũng gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, VKS và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (Khoản 1 Điều 64 BLTTHS 2003) Bên cạnh các chứng cứ là “vật chứng, lời khai của NBH, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Ket luận giám định, Biên bản về hoạt động điểu tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác ” (Khoản 2
Điều 64 BLTTHS năm 2003), thì lời khai của NLC là một nguồn chứng cứ rất quantrọng cho việc giải quyết đúng đắn VAHS bởi lẽ NLC nắm được diễn biến hoặc mộthoặc một số tình tiết của VAHS, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội,NBH sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho CQTHTT trong việc chứng minh, làm sáng
tỏ vụ án Thêm vào đó thì NLC tham gia tố tụng với tư cách là người vì lợi ích chung,lợi ích xã hội, không có bất cứ lợi ích cá nhân, với mong muốn duy nhất là làm sáng tỏ
vụ án, nên lời khai không phiến diện như lòi khai của NBH, bị can, bị cáo chính vìvậy lời khai của NLC có tác dụng chứng minh càng cao
Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền củacác bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì lời khaiNLC càng quan trọng và được sử dụng phổ biến bấy nhiêu Lời khai NLC là loại chứng
cứ mà được cung cấp và thể hiện qua những con người cụ thể Cho nên lời khai sinhđộng, dễ hiểu và cụ thể hơn vật chứng, nó luôn phản ánh đúng đắn những gì mà NLCmuốn biểu hiện, lời khai NLC luôn được hiểu một cách trực tiếp hơn là vật chứng -phải phân tích, làm rõ và tổng hợp với các tình tiết khác mới hiểu được vật chứng đó
Trang 215Từ điển tiếng Việt NXB Đà Nang năm 2003 Tr 192
6 “Khi tham gia tố tụng dân sự, đương sự có các quyển và nghĩa vụ sau đây: Cung cấp chứng cứ, chứng
BLTTDS năm 2004
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
mình, luôn luôn bị ràng buộc về trách nhiệm pháp lý với những gì mình nói, “NLC
phải cam đoan không khai gian doi” (Điều 204, BLTTHS 2003) nên tính chính xác,
xác minh càng cao
Có thể nói là trong tương lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa,
dù máy móc tự động có thể thay thế hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác
nhau đi chăng nữa thì lời khai NLC vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động xét xử Sự
phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ
dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai NLC nhưng không
thể thay thế được lời khai của NLC Lòi khai NLC vẫn là một trong những công cụ
không thể thiếu được trong quá trình chứng minh, làm sáng tỏ sự thật khách quan của
vụ án
Chứng minh được hiểu “là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ”.5 Theo đó, chứng minh trong TTHS là một dạng của hoạt động chứng
minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp
lý được điều chỉnh bởi luật TTHS và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ
thể có quyền, quá trình chứng minh có hay không có tội phạm đó là nghĩa vụ bắt buộc
của những cơ quan có chức năng như CQĐT, VKS, TA “Trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không
buộc phải chứng minh là mình vô lội” (Đoạn 2 Điều 10 BLTTHS 2003), chứ không
phải thuộc về đương sự như trong tố tụng dân sự 6 và kết quả của hoạt động này sẽ là
một bản án, quyết định của TA mang tính chất cưỡng chế thi hành Đó công cụ để TA
có thể nhận thức được chính xác vụ việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để đưa ra
phán quyết cho vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan
Trang 22a) Lời khai của NLC đổi với việc lầm sáng tỏ sự thật vụ án
Như đã phân tích, thì về bản chất NLC tham gia TTHS với tư cách là người hỗtrợ tư pháp, là người cộng tác với CQTHTT trong quá trình chứng minh, làm sáng tỏVAHS, chỉ với mong muốn duy nhất là tìm ra sự thật khách quan của vụ án, cho nêntác dụng chính của lời khai của NLC là chứng minh, làm sáng tỏ vụ án, tìm ra sự thậtkhách quan của vụ án như đúng như bản chất của NLC
Quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án trong TTHS là nghĩa vụ thuộc về
CQTHTT “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng”
(Điều 10 BLTTHS năm 2003), trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án thì nghĩa vụchứng minh làm sáng tỏ VAHS là quan trọng nhất và luôn luôn tồn tại trong các giaiđoạn của quá trình tố tụng Từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử CQTHTT luôn luôn cố
gắng chứng minh “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cổ ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” (Điều 63 BLTTHS 2003) và
trong hầu hết các giai đoạn của quá trình tố tụng, thì CQTHTT luôn cần đến sự cộngtác của NLC Bằng việc cung cấp lời khai cho CQTHTT thì khi đó vai trò lời khai củaNLC trong việc hỗ trợ CQTHTT trong quá trình chứng minh làm sáng tỏ VAHS đượctận dụng triệt để và phát huy tác dụng tối đa
Vì lời khai của NLC chứa đựng những yếu tố mà “họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH ” (Điều 67 khoản 1 BLTTHS), nên khi
vụ án đó làm căn cứ cho phán quyết của TA Giống như các chứng cứ khác thì lời khaicủa NLC luôn chứa đựng những yếu tố có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ VAHS Bên
Trang 23Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
cạnh đó, lòi khai của NLC khác với vật chứng ở chỗ là luôn luôn phản ánh đúng đắn vàsinh động những gì mà NLC muốn thể hiện hơn là vật chứng vì đó là sự phản ánh củamột con người thật, qua lời nói và hành động của mình Đặc biệt, trong trường hợp đốivói những vụ án không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai của NLC, thì khi đó đểgiải quyết loại án này, CQTHTT chỉ duy nhất căn cứ vào lời khai của NLC mà vẫn cóthể chứng minh, làm sáng tỏ vụ án một cách nhanh chóng và chính xác Thì khi đó tácdụng chứng minh đối với VAHS được thể hiện rõ nét
Ví dụ như liên quan đến vụ án cứu người bị nạn, hai cảnh sát giao thông bị nghioan” như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh ngày 29-11-2011 Vào khoảng hơn 20 giờngày 26-11, hai CSGT là Thiếu úy Nguyễn Thanh Tùng và Thiếu úy Đào Minh Lâm(Đội cảnh sát giao thông An Lạc, Phòng cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt,Công an TP.HCM) đang làm nhiệm vụ trên quốc lộ 1A (đoạn qua phường Bình HưngHòa B, quận Bình Tân) thì được người dân thông báo có một vụ tai nạn gần đó, người
bị nạn là ông Phạm Viết Hưng (51 tuổi, ngụ quận Bình Tân) trong tình trạng nguy kịch
Do đó, hai cảnh sát giao thông đó đến tìm cách đưa đi cấp cứu Tuy nhiên, sau đó lạixảy ra va chạm lần hai trên đường đi cấp cứu, và vì chậm trễ nên ông Hưng đã chết.Khi thấy ông Hưng nằm chết trên xe ba gác và cạnh đó xe của hai cảnh sát giao thông
bị ngã bên đường nên nhiều người dân hiếu kỳ đã kéo đến xem rất đông, tưởng nhầmhai cảnh sát giao thông gây tai nạn nên có những lời lẽ thóa mạ, xúc phạm hai cảnh sátgiao thông
Hiện CQĐT Công an quận Bình Tân kêu gọi những nhân chứng có mặt tại hiệntrường như ngưòi đến báo tin tai nạn, người đàn ông tự nguyện điều khiển xe ba gácchở nạn nhân từ trạm xá đến bệnh viện cấp cứu và xảy ra va chạm sớm đến làm việc đểphục vụ công tác điều tra
Sau khi Công an quận Bình Tân tiến hành điều tra và xác minh sự việc trên cơ
sở lời khai của NLC, thì xác định nguyên nhân dẫn đến tử vong của nạn nhân là hoàntoàn không liên quan đến hai cảnh sát giao thông, mà họ chỉ cứu giúp người bị nạn 7
http://phapluattp.vn/201 hai-csst-bi-nshi-oan-keu-soi-nsuoi-lam-
11128112038809p0cl027/vu-cuu-nsuoi-bi-nan-chune.htm [23-3-2012]
Trang 24Trong trường hợp NLC cho lời khai không khách quan, không chính xác, lờikhai không đúng như những gì NLC biết được, thì điều đó không những làm cho quátrình tố tụng trở nên khó khăn, phức tạp hơn mà đôi khi làm cho hướng điều tra bị sailệch, quá trình điều tra kéo dài, hao phí tiền của ngân sách nhà nước, thậm chí còn dẫnđến oan sai, thiệt hại về công lý Đặc biệt, lọi dụng sự ảnh hưởng của lòi khai NLCđến quá trình tố tụng, phán quyết của TA một số đối tượng đã mua chuộc NLC cholời khai không đúng, không khách quan, nhằm để che dấu hành vi tội phạm hoặc gâykhó khăn trong quá trình tố tụng cho CQTHTT, bằng lợi ích về vật chất hoặc đe dọatính mạng, sức khỏe, danh dự NLC hoặc người thân của họ Từ đó, thấy được vai tròquan trọng và sức ảnh hưởng vô cùng lớn của lời khai của NLC đối với việc làm sáng
tỏ sự thật của VAHS Lời khai của NLC có thể giúp CQĐT định hướng được quá trìnhđiều tra, có thể là căn cứ cho VKS ra quyết định khởi tố, truy tố và có thể là cơ sở cho
TA ra phán quyết cuối cùng để giải quyết VAHS Khi lời khai của NLC không kháchquan, không chính xác cũng có thể làm cho quá trình tố tụng khó khăn, kéo dài, thậmchí gây oan sai, thiệt hại về người và tiền của
b) Lời khai của NLC đối với việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ những quyển cơ bản của công dân
Trong quy định về nhiệm vụ của BLTTHS năm 2003, thì một trong những
nhiệm vụ cơ bản đó là “không bỏ lọt tội phạm” và “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”
(Điều 1 BLTTHS năm 2003) được coi là kim chỉ nam cho phương hướng hoạt độngtrong TTHS Theo đó, NLC cũng như các chủ thể khác trong quá trình tố tụng luôn cốgắng chứng minh tội phạm, không để có người bị oan, không để cho những người lợidụng pháp luật làm những điều sai trái, hoặc những người vi phạm pháp luật sốngngoài vòng pháp luật, thì đó cũng là một trong những cách bảo vệ pháp luật hữu hiệunhất Bằng sự tham gia đóng góp vào quá trình chứng minh tội phạm, lời khai của NLC
luôn chứng minh có hay không có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, tìm ra tội phạm
để trừng trị theo đúng như những quy định của pháp luật hình sự, làm cho những quyđịnh của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS được thực thi trên thực tế thể hiện trên quacác mặt Thứ nhất, pháp luật TTHS đã trừng trị những hành vi phạm tội, giáo dục đượccông dân, phòng chống những kẻ xấu lợi dụng “khe hở” của pháp luật để xuyên tạc,chống phá pháp luật nước ta Như vậy, trong quá trình thực hiện theo những quy địnhcủa pháp luật, góp phần tuyên truyền pháp luật trong xã hội thì NLC đã thực hiện chức
Trang 25Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
năng bảo vệ pháp luật trên thực tế Thứ hai, việc thực hiện đúng những quy định củapháp luật tố tụng, tham gia cộng tác vói CQTHTT, cho lời khai một cách chính xác,
thành thật và cụ thể góp phần làm sáng tỏ vụ án, NLC đã góp phần “đảm bảo pháp chế
xã hội chủ nghĩa” trong TTHS, góp phần bảo vệ pháp luật TTHS.
BLTTHS coi việc đảm bảo các quyền của công dân là một trong những nguyêntắc cơ bản của hoạt động TTHS Điều này thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủnghĩa luôn đề cao và tôn trọng các quyền của con người vì lợi ích của con người baogồm cả quyền Hiến định và luật định Khi NLC tham gia tố tụng, cung cấp lời khai, hỗtrợ tư pháp thì cũng đồng nghĩa với NLC đang thực hiện quyền của mình - quyền côngdân, một trong những quyền rất cơ bản của công dân được pháp luật khuyến khích và
tôn trọng trong công cuộc “đẩu tranh phòng ngừa và chổng tội phạm” được long trọng tuyên bố tại Điều 25 BLTTHS “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện,
tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1
Điều 25 BLTTHS năm 2003) Làm tốt vai trò của một NLC đồng nghĩa với việc bảo vệquyền lợi của mình - bảo vệ quyền công cơ bản công dân Ngoài ra, NLC cung cấp lờikhai làm sáng tỏ vụ án cũng có nghĩa là NLC đang bảo vệ bị can, bị cáo tránh khỏinhững hàm oan, trả lại sự trong sáng và khôi phục danh dự cho họ trong thời gian bịtạm giam, tạm giữ trong trường hợp họ không thực hiện tội phạm hoặc làm cho sáng
tỏ vụ án, trả lại sự công bằng cho NBH, bù dấp những mất mát do những hành vi do tộiphạm gây ra, thì lúc đó lòi khai NLC đã có tác dụng bảo vệ cho NBH Lúc đó thìnhững quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, quyền công bằng đã đượcbảo vệ, Do đó, lời khai của NLC chẳng những có tác dụng làm sáng tỏ vụ án, bảo vệcông lý, bảo vệ pháp luật mà còn phát huy tác dụng trong việc bảo vệ quyền con người
c) Vai trò lời khai của NLC trong nghĩa vụ chứng minh đối với công cuộc đấu tranh phòng chong tội phạm
Mọi công dân trong xã hội dù ở vị trí nào thì cũng đều bị chi phối bởi pháp luật,tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự điều chỉnh của những quy định củapháp luật, không ai có quyền cho mình “đứng trên pháp luật” Nhiệm vụ của công dântrong xã hội là tuân theo pháp luật, biểu hiện cụ thể của quá trình này là tuân thủ theonhững quy định của pháp luật Nhiệm vụ chính của TTHS không những là phát hiện tất
Trang 26cả hành vi phạm tội đã diễn ra trên thực tế mà còn hạn chế tói mức thấp nhất trên thực
tế những hành vi đó NLC là một chủ thể của quá trình tố tụng tuân thủ theo những quyđịnh của pháp luật về TTHS về trình tự, thủ tục và tính minh bạch, cung cấp lời khaicho CQTHTT trong quá trình minh làm sáng tỏ vụ án, với mong muốn tìm ra ngườiphạm tội, mục đích, động cơ của hành vi và quá trình thực hiện tội phạm như thế nào
Từ đó những người thực thi pháp luật sẽ có cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn vềnhững hành vi phạm tội mà có phương hướng và phương pháp cụ thể có hiệu quả đểphòng chống tội phạm xảy ra
Trang 27Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự HIỆN
HÀNH YỀ QUYỀN YÀ NGHĨA vụ CỦA NGƯỜI LÀM CHỬNG
2.1. Quyền của NLC
Khác với quy định của BLTTHS năm 1988 là NLC không được hưởng bất kỳmột quyền dân sự nào trong khi phần lớn những chủ thể tham gia tố tụng khác tùy theomức độ đều được Bộ luật quy định quyền và những bảo đảm cho việc thực hiện quyềncủa họ trong TTHS Trong khi Bộ luật quy định họ phải thực hiện một loạt các nghĩa
vụ như: phải có mặt khi được CQTHTT triệu tập và phải khai đúng sự thật, nếu khaibáo gian dối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thểphải chịu chế tài hình sự và bị xử lý theo pháp luật Sự không tương xứng giữa quyền
và nghĩa vụ này trái với nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” quy định tại Điều 3 BLTTHS năm 1988 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 4
BLTTHS năm 2003 - một trong những nguyên tắc quan trọng trong TTHS nhằm đềcao và tôn trọng các quyền của con người theo nghĩa rộng trong mọi hoạt động tố tụng.Theo đó, BLTTHS năm 2003 đã được sửa đổi theo hướng bổ sung một số quyền cànthiết cho NLC khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình
Việc bổ sung một loạt quyền của NLC quy định tại khoản 3 Điều 55 bao gồm cảquyền hiến định và quyền luật định - điều mà không thể tìm thấy trong BLTTHS năm
1988 bao gồm các quyền: quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản; quyền đượckhiếu nại; Quyền được thanh toán chi phí khi đi làm chứng, là một điểm tiến bộ so vớiBLTTHS năm 1988 Thể hiện sự hoàn thiện của pháp luật nước ta và đó là cơ sở đểtiếp tục hoàn thiện chế định NLC trong pháp luật TTHS Ngoài ra, những sửa đổi bổsung tiến bộ về bảo đảm quyền của NLC trong TTHS hiện hành đã quan tâm đếnquyền con người theo nghĩa rộng; cụ thể là đã bảo đảm một số quyền hiến định và luậtđịnh cho NLC
Khác với BLTTHS 1988 không hề trao cho NLC bất cứ quyền lợi nào khi thamgia tố tụng, NLC tham gia vào hoạt động TTHS, trước hết với tư cách là một con
Trang 28người, với tư cách là một công dân đầy đủ và đồng thời là người tham gia đảm bảocông lý, một điều cần khẳng định ở đây là lí do mà họ tham gia vào VAHS không phải
là vì lợi ích cá nhân của riêng họ mà vì lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần làmsáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, một việc làm đáng được tuyên dương và hoannghênh Vì vậy, họ có quyền được hưởng và xứng đáng được hưởng các quyền dân sựđầy đủ, xứng đáng được hưởng các quyền về nhân thân và tài sản và các quyền đókhông những được long trọng thừa nhận trong Hiến Pháp năm 1992 - một văn bản luật
tối cao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyển công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50 Hiến Pháp năm 1992) mà còn phải được quy định trong BLTTHS năm
2003 - văn bản chủ đạo trong quá trình tố tụng tôn trọng và đảm bảo thực thi trên thực
tế để “bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác” (Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003).
Theo nghĩa rộng, quyền con người của NLC trong TTHS là khả năng đượchưởng, được làm trong TTHS Còn theo nghĩa hẹp là quyền của NLC được làm những
gì mà BLTTHS quy định Xuất phát nguyên tắc có tính chất hiến định “ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyển công dân và được quy định trong Hiến pháp và luậr (điều 50 Hiến pháp năm 1992), nên phàn lớn các quyền của NLC
quy định tại điều 55 BLTTHS năm 2003 được cụ thể hóa từ các quyền hiến định củacông dân quy định trong đạo luật cơ bản của Nhà nước cụ thể:
Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định một tập hợp các quyền
của NLC được “Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyển, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tổ tụng” Điều luật này là sự cụ thể hóa một số quyền cơ bản của công dân thuộc nhóm
quyền về dân sự và kinh tế được Hiến pháp năm 1992 long trọng tuyên bố như: Quyềnđược pháp luật bảo hộ về tính mạng, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, quyền
được pháp luật bảo hộ về danh dự, quyền được pháp luật bảo hộ về nhân phẩm “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71 Hiến Pháp năm 1992); Quyền được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu đối với tài sản, thu nhập hợp pháp “Công dân có quyển sở hữu
Trang 29Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn
và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đổi với đẩt được Nhà nước giao sử dụng; Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa
kế của công dân” (Điều 58 Hiến Pháp năm 1992).
Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 còn là sự cụ thể hóa một trongnhững nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS - nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, được quy định tại Điều 7 BLTTHS
năm 2003 như sau: “Công dân có quyển được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản;Mọỉ hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản đểu bị xử lý theo pháp luật; NBH, NLC và người tham gia tổ tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” Việc
BLTTHS lần này xác định rõ quyền của NLC được yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp kháccủa mình khi tham gia tố tụng và CQTHTT có thẩm quyền có trách nhiệm phải ápdụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật là một đòi hỏikhách quan, thể hiện thái độ trách nhiệm của Nhà nước đối với dân để nhân dân có thểtin tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm Đây là một trong nhữngquy định mang tính thời sự và cấp thiết bởi trong quá trình làm chứng, NLC đã đang tựmình đứng ra để vạch trần tội ác, bảo vệ pháp luật, thế nhưng trong quá trình thực hànhquyền và nghĩa vụ đó thì NLC luôn đứng trước những khó khăn và nguy hiểm bởi sựrình rập trả thù của những người phạm tội, thân nhân của người phạm tội nhất là trongnhững vụ án lớn, những vụ án có tội phạm xuyên quốc gia, những tên đầu sỏ thì vấn đềbảo vệ NLC luôn được quan tâm sâu sắc, điều này chẳng những khuyến khích, tạo điềukiện cho NLC tham gia tố tụng nhiệt tình và chủ động hơn, mặt khác còn thể hiện tínhnhân đạo sâu sắc của Nhà Nước ta Đây còn là sự đánh dấu lần đầu tiên trong hoạtđộng TTHS vấn đề bảo vệ NLC được quy định trong luật, đó còn là dấu hiệu thể hiệnpháp luật TTHS Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện hơn trong lĩnh vực này
Vấn đề bảo vệ của nhà nước đối với NLC vì lý do hợp tác của họ với CQTHTT
là vấn đề cực kỳ quan trọng và có tính thời sự ở nhiều nước trên thế giới Các quy địnhcủa luật về bảo vệ NLC là một trong những yếu tố nâng cao đáng kể tính xác thực và
Trang 30pháp Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003năm GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu 1992)
giá tri chứng minh cho lời khai của chủ thể này trong vụ án vì nó loại trừ được nguyên
nhân chủ yếu của hiện tượng khai gian dối, phủ nhận lời khai ban đầu của NLC - tâm
lý sợ bị trả thù Đồng thời cũng tác động tích cực đến hoạt động tố tụng của các cơ
quan bảo vệ pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm
“Khiếu nại quyết định, hành vi tổ tụng của cơ quan, người có thẩm quyển tiến hành tố tụng” (Điểm b Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003) là một trong những quy
định tiến bộ của BLTTHS năm 2003 về NLC Theo tinh thần sửa đổi của bộ luật mới
nên Nhà Nước trao cho NLC ngày càng nhiều những quyền công dân trong đó đáng
chú ý là quyền tố tụng thế hiện rõ rệt là quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của cơ quan, người có thẩm quyển tiến hành tổ tụng” (Điểm b Khoản 3 Điều 55
BLTTHS năm 2003) Việc trao cho NLC quyền khiếu nại là cần thiết và hợp lý bởi vì
NLC là người tham gia tố tụng với tư cách đầy đủ của một người công dân nên việc
pháp luật quy định họ có “quyền khiếu nại” là hoàn toàn hợp lý xuất phát từ nguyên tắc
hiến định.8 NLC rất cần Nhà Nước đảm bảo cho họ quyền khiếu nại để họ có thể tham
quá trình tố tụng một cách dân chủ, có thể phát huy tích cực vai trò NLC của mình
Hơn thế, việc bảo đảm quyền tố tụng cho NLC đặc biệt là “quyền khiếu nại” sẽgóp phần giúp cho quá trình xác minh sự thật của VAHS một cách khách quan, toàn
diện, đầy đủ hơn, vì qua việc xem xét các khiếu nại của NLC về quyết định hoặc hành
vi mà NLC cho rằng chưa thỏa đáng hoặc trái pháp luật sẽ giúp CQTHTT hoặc người
tiến hành tố tụng có cơ hội xem xét về hành vi và quyết định của mình một lần nữa mà
từ đó thấy được những sai trái của mình trong khi thi hành nhiệm vụ, giải quyết vụ án
hoặc có thể rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình tố tụng, làm cho quá trình
tố
tụng đạt hiệu quả cao nhất, góp phần bảo đảm pháp chế, hoặc là cơ hội để cho
CQTHTT, người tiến hành tố tụng giải thích, phân tích cho NLC biết được những
quyết định, hành vi tống tụng đúng đắn của mình một cách cụ thể hơn, trình bày cụ thể
tính hợp lý, căn cứ pháp lý của quyết định hoặc hành vi của họ, góp phần tuyên truyền
pháp luật trong nhân dân
Trang 31Chế định người lăm chứng trong BLTTHS 2003 GVHD: Th.s Mạc Giâng Chđu
Cũng tương tự quyền được bảo vệ nhđn thđn vă tăi sản của NLC, xuất phât từ
nguyín tắc có tính chất hiến đinh “Quyển của công dđn không tâch rời nghĩa vụ của công dđn; Nhă nước bảo đảm câc quyển của công dđn; công dđn phải lăm tròn nghĩa
vụ của mình đoi với Nhă nước vă xê hộr (Điều 51 Hiến Phâp 1992), theo đó, NLC
tham gia tố tụng vói việc trình băy tất cả những gì mình biết về vụ ân để giúpCQTHTT, người tiến hănh tố tụng xâc định sự thật khâch quan VAHS lă đê lăm trònnghĩa vụ tố tụng của mình với Nhă nước, cho nín theo nguyín tắc níu trín Nhă nướccần thiết phải đảm bảo cho NLC quyền tố tụng mă nổi bật lă quyền khiếu nại nhằm
giúp NLC thực hiện tốt vai trò của mình Cụ thể lă quyền “khiếu nại quyết định,hănh vi
tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyển tổ tụng” quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều
55 lă sự cụ thể hóa một trong những quyền hiến định cơ bản của công dđn thuộc nhóm
quyền về chính trị quy định tại điều 74 Hiến phâp năm 1992 lă công dđn có: “Quyển khiếu nại với cơ quan nhă nước có thẩm quyền về những việc lăm trâi phâp luật của cơ
quan nhă nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xê hội, đơn vị vũ trang nhđn dđn hoặc bất cứ
câ nhđn nẳ” Cho thấy Nhă Nước ta đê đảm bảo cho NLC quyền khiếu nại theo đúng
quy tắc Hiến định khi họ thực hiện vai trò tố tụng của mình
Ngoăi việc cụ thể hóa một số nguyín tắc cơ bản của công dđn được quy địnhtrong Hiến Phâp năm 1992, BLTTHS năm 2003 còn trao cho NLC một quyền nữa lă:
“Được cơ quan triệu tập thanh toân chi phí đi lại vă những chi phí khâc theo quy định của phấp luật' (Điểm c Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003).
Điều đó lă hoăn toăn hợp lý bởi, khi NLC được triệu tập tham gia tố tụng thì họphải hoên lại công việc riíng của mình để có mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT văhoăn thănh đầy đủ nhiệm vụ của một NLC, việc ra lăm chứng ảnh hưởng rất nhiều đếnthời gian vă trình tự công việc hăng ngăy của NLC, chưa kể đến những mất mât về tăichính mă NLC phải gânh chịu, nín họ có quyền được bù đắp vă hoăn toăn xứng đâng
có được quyền năy, lă yíu cầu CQTHTT bù đắp cho những thiệt thòi về tăi chính măNLC phải chịu trong quâ trình thực hiện nhiệm vụ tố tụng
Quy định năy được coi lă một “đặc quyền” của NLC mă những người tham gia