1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong thương mại quốc tế

62 666 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 918,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với tác dụng làm bảo vệ hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế thìviệc phát triển của vận tải đặc biệt là lực lượng tàu buôn dân tộc có tác dụng tăngnguồn thu ngoại tệ thông qua v

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐÀU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi và mục đích nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Kết cấu đề tài 2

CHÚ THÍCH 3

CHƯƠNG 1 -VẬN TẢI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4

1.1 Giói thiệu chung về vận tải: 4

1.1.1 Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kỉnh tế 4

1.1.2 Các yếu tố cấu thành trong sản xuất vận tải 5

1.1.2.1 Công cụ vận tải 5

1.1.2.2 Đối tượng chuyên chở 5

1.1.2.3 Kh oảng cách và thòi gian trong vận tải 6

1.2 Vận tải quốc tế trong thương mại quốc tế 7

1.2.1 Vài nét sơ lược về vận tải quốc tế 7

1.2.2 Phân chia trách nhiệm về vận tải trong họp đồng mua bán ngoại thương 9

1.2.2.1 Quyền về vận tải 9

1.2.2.2 Phân chia trách nhiệm về vận tải 10

1.3 Chuyên chở hàng hoá thưong mại quốc tế bằng phương thức vận tải biển 11

1.3.1 Vài nét sơ lược về phương thức vận tải biển 11

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật của phương thức vận tải biển 14

1.3.2.1 Tuyến đường vận tải 14

1.3.2.2 Tàu buôn 15

1.3.3 Nghiệp vụ thuê tàu 15

1.3.3.1 Thị trường thuê tàu và giá cước thuê tàu 16

Trang 4

2.1.2 Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất

nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 25

2.1.2.1 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 25

2.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 26

2.2 Nội dung Ctf bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 27

2.2.1 Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển 27

2.2.1.1 Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển 27

2.2.1.2 Trách nhiệm của các bên liên quan 28

2.2.2 Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 30

2.2.2.1 Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 30

2.2.2.2 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 31

2.3 Điều kiện bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 32

2.3.1 Điều kiện bảo hiểm c (ICC- C) 33

2.3.2 Điều kiện bảo hiểm B (ICC- B) 34

2.3.3 Điều kiện bảo hiểm A (ICC- A) 36

2.4 Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 38

2.4.1 Các loại họp đồng 38

2.4.2 Nội dung của họp đồng bảo hiểm 40

2.5 Khiếu nại đòi bồi thường trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận huyền bằng đường biển 40

2.5.1 Nghĩa vụ của ngưòi được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất 40

2.5.2 Thủ tục khiếu nại đòi bồi thường 41

2.6 Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 43

Trang 5

2.6.1 Giám định tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá

xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 43

2.6.2 Bồi thường tổn thất 43

2.6.3 Miễn giảm bồi thường 44

CHƯƠNG 3 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 45

3.1 Vài nét về vận tải đường biển và thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhâp khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam 45

3.2 Thực trạng hoạt động của vận tải biển và bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam 49

3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải biển và bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam 52

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời kỳ hiện đại, tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa đang là một

xu hướng tất yếu và nổi bật của nền kinh tế thế giới Cùng với xu hướng này,kinh tế Việt Nam cũng đang trên tiến trình hội nhập và phát triển, nhu cầu muabán hàng hóa qua lại giữa các nước với nhau đòi hỏi phải có phương tiện vận tải

để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, từ đó đã đặt ra vấn đề Việt Nam chúng

ta phải hoàn thiện hệ thống vận tải để có thể đáp ứng được nhu cầu đó của cácthương nhân và cạnh tranh với các nước khác Trong đó, ngành vận tải đườngbiển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn được đặc biệt chú trọng pháttriển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Những biến đổi của kinh tế quốc tế và trongnước đã đặt ngành thương mại hàng hải Việt Nam đứng trước những vận hội lớn

và những thách thức thực sự cam go

Bên cạnh nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển giữa các nước đang trong tình ừạng tăng nhanh và phổ biến do

ưu điểm của loại hình này, thi bên cạnh đó cũng không thể tránh khỏi những rủi

ro ừong quá trình vận chuyển vi vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải chọn chomình một biện pháp nhằm bù đắp kịp thời về mặt tài chính trong việc khắc phụchậu quả do các rủi ro đó gây ra đó là bảo hiểm hàng hóa Từ đó, việc phát triển

và hoàn thiện các vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗidoanh nghiệp bảo hiếm nói riêng và toàn ngành bảo hiếm Việt Nam nói chung,nhất là trong điều kiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh gay gắtnhư hiện nay

Từ những cơ hội và thách thức trên, đế có những thành công mới đòi hỏichúng ta phải tích cực chủ động hội nhập và tìm hiểu sâu hơn những vấn đề vềvận tải mà đặc biệt là vận tải đường biển và những loại hình bảo hiểm phù họpnhằm khắc phục những rủi ro Từ đó, tạo cơ sở để thúc đẩy hoạt động xuất nhậpkhẩu phát triển lên một tầm cao mới, tự chủ về hoạt động vận tải hàng hóa quốc

tế bằng đường biển và vươn ra xuất khẩu sản phẩm vận tải hàng hóa quốc tế bằngđường biển trên thị trường quốc tế

2 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Trao đổi buôn bán hàng hóa xuất nhập khẩu hiện nay vẫn được vậnchuyển chủ yếu bằng đường biển (khoảng 80% khối lượng hàng hóa) do ưu điểm

Trang 7

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

của loại hình vận chuyển này cũng như tính phức tạp trong việc lựa chọn loạihình bảo hiếm phù hợp với phương thức vận chuyển này Mặt khác do thời hạn

và kiến thức còn hạn chế, vì vậy, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đềchung về phương thức vận tải và bảo hiểm vận tải bằng đường biển trong thươngmại quốc tế Đồng thời trên cơ sở phân tích những vấn đề trên, đối chiếu với thựctiễn của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó tìm ra nhữnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải biển và bảo hiểm hàng hóaxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam một cách tốt nhất

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là nền tảng cơ bản để xây dựng đề tài với nộidung và hình thức một cách logic và khoa học, để giải quyết các vấn đề mà đề tàiđặt ra

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “vận tải và bảo hiểm vận tải trong

thương mại quốc tế” - chủ yếu là nghiên cứu đối với phương thức vận tải bằng

đường biển, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp sưu tầm tài liệu, phân tíchtài liệu, tổng họp các vấn đề dựa trên những tài liệu thu thập được như: sách, báo,tạp chí, trang web, của các chuyên gia trong lĩnh vực hàng hải và liên hệ vớihoạt động thực tiễn tại Việt Nam hiện nay

4 Kết cấu đề tài

Kết cấu đề tài ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm có 3 chương:

Chương 1: Vận tải trong thương mại quốc tếChương 2: Bảo hiểm vận tải trong thương mại quốc tếChương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Trong phạm vi nghiên cứu những vấn đề về vận tải và bảo hiểm vận tảibằng đường biển trong thương mại quốc tế, tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề

mà tác giả cho là quan trọng và đưa ra những kiến nghị mang tính chất cá nhân;bên cạnh đó, do thời gian nghiên cứu đề tài và kiến thức sinh viên còn hạn chếcho nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ýkiến của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Và cũng xin gởi lời cám ơn đến Ths Bùi Thị Mỹ Hương - Cô đã hướngdẫn tôi trong quá trình lảm Luận văn; đến toàn thể quý thầy cô khoa Luật và cácbạn sinh viên đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu

Trang 8

CHÚ THÍCH

EXW: Ex Works - giao tại xưởng

FCA: Free Carrier - giao cho người chuyên chở

FAS: Free Along side Ship - giao dọc mạn tàu

FOB: Free On Board - giao lên tàu

CFR: Cost Freight - tiền hàng và cước phí

CIF: Cost Insurance Freight - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí.CPT: Carriage Paid To - cước phí trả tới

CIP: Carriage Insurance Paid To - cước phí và bảo hiểm trả tới

DAF: Delivered At Frontire - giao tại biên giới

DES: Delivered Ex Ship -giao tại tàu

DEQ: Delivered Ex Quay - giao tại cầu cảng

DDU: Delivered Duty Unpaid - giao hàng trả trước

DDP: Delivered Duty Paid - giao hàng thuế chưa trả

BOT: Built-Operation-Transfer - Xây dựng-Vận hành-Chuyển giaoDWT: Deadvveight Tonnage - tải trọng tổng cộng, là tải trọng của tất

cả những thứ ở trên tàu (hàng, dự trữ, nhiên liệu, ) cộng với trọng lượng củachính con tàu đó (đo bằng tấn) Ví dụ: 20.000DWT: tàu có tổng tải trọng 20.000tấn

TEU: Twenty-foot equivalent unit - TEU thường được dùng để mô tả sức chứa của tàu Container hoặc cảng xếp dỡ (1 TEU = 01 Container 20 feet)

GDP: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm nội địa: là giá trị tínhbằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm

vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

VND: Đon vị đồng Việt Nam

Trang 9

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

CHƯƠNG 1 VẬN TẢI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TÉ

1.1 Giói thiệu chung về vận tải:

1.1.1 Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kỉnh tế

Trong xã hội chúng ta sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sản phẩmlao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu và chỉ có ngành sản xuấtvận tải mới thỏa mãn được nhu cầu này do đó nếu đứng về mặt kinh tế người tahiểu vận tải là một hoạt động có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí củahàng hỏa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiệnvận tải Căn cứ vào phạm vi sử dụng, vận tải được chia làm hai loại: vận tải côngcộng và và vận tải nội bộ Trong đó vận tải công cộng là một ngành sản xuất vậtchất độc lập, chuyên kinh doanh về vận tải, tạo ra sản phẩm riêng biệt Ở nước ta

hệ thống vận tải công cộng bao gồm hai lực lượng vận tải là lực lượng vận tảitrung ương và lực lượng vận tải địa phương Lực lượng vận tải trung ương gồm

có các chuyên ngành như vận tải sắt, sông, ôtô, biển và vận tải hàng không thuộc

Bộ Giao Thông Vận Tải, được tổ chức thành các hình thức Liên hiệp các xínghiệp trực thuộc Bộ Trong các chuyên ngành vận tải này chỉ có vận tải sắt làquản lý đường xá, còn các chuyên ngành khác thì không, cho nên giá thành vậntải sắt thường cao bởi vì có tính đến chi phí đường xá Ngoài ra từ năm 1985 ởnước ta còn có các hình thức vận tải sông pha biến, làm nhiệm vụ vận tải sôngbiển trên các tuyến Bắc Nam Đối với lực lượng vận tải địa phương thì do các

Sở Giao Thông công chánh quản lý bao gồm các Xí nghiệp vận tải đường sông

và ôtô Vận tải nội bộ chỉ phục vụ cho một ngành sản xuất nào đó, ví dụ vận tảithan ừong xí nghiệp khai thác than, vận tải sợi trong nhà máy dệt, và sản phẩmcủa vận tải nội bộ là một bộ phận của vận tải toàn ngành

Nhờ có vận tải mà con người chúng ta đã chinh phục được khoảng cáchkhông gian, tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa và thỏamãn nhu cầu đi lại của con người Do đó, vận tải đóng vai trò quan trọng và cótác dụng hết sức to lớn trong nền kinh tế Vận tải không những là một bộ phậnkhông thể thiếu được của nền kinh tế mà còn thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội,nếu ta xét toàn bộ nền kinh tế như một hệ thống thì hệ thống này chứa đựng hàngloạt các hệ thống con như: nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng các hệthống con này quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tổng thể thống nhất lảm ra

Trang 10

nền kinh tế” Thật vậy, các ngành sản xuất trong nền kinh tế sẽ không hoạt độngđược bình thường nếu như thiếu vận tải Khi nói đến vận tải, nhất thiết chúng taphải đề cập tới hai vấn đề: khối lượng vận chuyển (tấn hàng hóa, số lượng hànhkhách) và số sản phẩm vận tải (lượng luân chuyển hàng hóa hoặc hành khách).Trong hai chỉ tiêu này thì khối lượng vận chuyến có ý nghĩa quan trọng hom vì nóthể hiện sự đáp ứng của vận tải đối với nhu càu vận chuyển của ngành sản xuấttrong nền kinh tế và sự thỏa mãn nhu cầu đi lại của con người Trong đời sốngkinh tế xã hội hiện đại, vai trò vận tải không ngừng nâng cao, đó là khuynhhướng phát triển chung của vận tải.

1.1.2 Các yếu tố cấu thành trong sản xuất vận tải

Sức lao động của con người thông qua công cụ vận tải để tác động lên đốitượng chuyên chở, tạo ra sản phẩm vận tải Đe thực hiện quá trình sản xuất nàyđòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố về tổ chức, kỹ thuật, kinh tế Đó là các yếu tốcấu thành của quá trình sản xuất vận tải, bao gồm công cụ vận tải, đối tượngchuyên chở, khoảng cách vận tải, chi phí vận tải Sau đây ta sẽ xem xét từng yếutố

1.1.2.1 Công cụ vận tải

Công cụ vận tải là công cụ lao động chủ yếu trong sản xuất vận tải, nó là

cơ sở để đánh giá năng lực của một đơn vị vận tải Công cụ vận tải của mỗiphương thức vận tải có kết cấu, đặc trưng và hình thức chuyển động khác nhau,nhưng về cơ bản công cụ vận tải bao gồm hai khối: sức kéo và sức chở Trong

đỏ, sức kéo theo nguồn động lực người ta phân thành 4 loại: động lực tự nhiên(giỏ, súc vật kéo, xe ngựa kéo, xe bò kéo); động cơ hơi nước; động cơ đốt trong(động cơ xăng); động cơ điện (dùng trong vận tải đường bộ đòi hỏi mạng điệnngầm hoặc treo để cung cấp năng lượng, loại động cơ này dùng cho vận tải thànhphố) Còn sức chở là nơi để chứa hàng (hoặc chỗ ngồi của hành khách) Cácphương tiện chở khách và chở hàng có thiết kế, chế tạo đặc biệt, trang bị rất khácnhau, công cụ chở khách có yêu cầu cao về mặt an toàn và tiện nghi cho hànhkhách trong chuyến đi, còn công cụ chở hàng có yêu cầu bảo đảm an toàn chohàng hoá, tránh mất mát, biến chất, hư hỏng

1.1.2.2 Đối tượng chuyên chở

Đối tượng chuyên chở của vận tải là hàng hóa và hành khách: từ giác độvận tải, hàng hóa được phân thành các loại khác nhau Việc phân loại hàng hoá

có ý nghĩa trong việc xây dựng chế độ cước phí, sử dụng công cụ vận tải, phươngtiện xếp dỡ Từ đó người ta đã đặc biệt chú ý đến việc phân loại hàng hóa và đểphân loại người ta căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, chẳng hạn nếu căn cứ vào

Trang 11

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

tính chất của hàng hóa thì người ta chia làm hai loại là hàng khô và hàng lỏng.Trong đó, hàng khô (Dry Cargo) bao gồm tất cả hàng hóa ở thể rắn, được chuyênchở dưới dạng bao bì hoặc không có bao bì Đối với hàng lỏng (Liquid Cargo)bao gồm tất cả các loại hàng hóa ở thể lỏng được chuyên chở dưới dạng không

có bao bì và bằng những công cụ vận tải chuyên dùng (Lưu ý: hàng hóa ở thếlỏng đóng trong chai, thùng đối với vận tải được xem là hàng khô) Neu căn cứvào bao bi hàng hoá thì người ta chia làm hai loại là hàng rời và hàng đóng gói.Nếu căn cứ vào đặc điểm chuyên chở và xếp dỡ thì cũng được chia làm hai loại

là hàng có khối lượng lớn (Bulk Cargo) là những hàng có khối lượng lớn đượcchuyên chở dưới dạng không bao bì và hàng bách hóa (General Cargo) là nhữngthành phẩm, bán thành phẩm có giá trị cao thường được chuyên chở dưới dạng

có bao bì (hàng có khối lượng lớn mà đóng vào bao: xi măng đóng bao, ngũ cốcđóng bao trong vận tải vẫn xếp là hàng bách hóa) Neu căn cứ vào kích thước củahàng hóa thì cũng có hai loại: là hàng ừọng lượng (hoặc hàng nặng: DeadweightCargo) và hàng cồng kềnh (hoặc hàng nhẹ: Measurement Cargo) Nếu căn cứ vàokhả năng thích ứng đối với vận tải thì chia làm 3 loại: khả năng thích ứng tựnhiên đối với vận tải: căn cứ vào tính chất vật lý, hoá, sinh của hàng hoá Cácloại hàng hóa mau hỏng, nguy hiếm, dễ vỡ, dễ cháy có khă năng thích ứng tựnhiên đối với vận tải kém hơn so với các loại hàng hoá khác Khả năng thích ứng

kỹ thuật đối với vận tải: rút ra từ hình dáng, kích thước của hàng hoá Các kiệnhàng quá lớn, quá dài, các loại hàng cồng kềnh có khả năng thích ứng kỹ thuậtđối với vận tải kém hom các loại hàng hoá khác và cuối cùng là khả năng thíchứng kinh tế đối với vận tải: rút ra từ giá trị của hàng hoá, hàng hoá có giá trị caothì khả năng thích ứng càng nhỏ vì yêu cầu bảo vệ, chăm sóc đặc biệt hơn trongquá trình chuyên chở

1.1.2.3 Khoảng cách và thòi gian trong vận tải

Quá trình chuyên chở được bắt đầu tại điểm gởi hàng và kết thúc tại địađiểm nhận hàng, giữa hai khoảng đó hình thành một khoảng cách nhất định Đó

là khoảng cách không gian, khoảng cách chuyên chở, khoảng cách thời gian vàkhoảng cách kinh tế Trong đó, khoảng cách không gian là khoảng cách ngắnnhất (đường thẳng không gian) của hai điểm vận tải, khoảng cách chuyên chở làchiều dài của tuyến đường được hình thành giữa hai điểm vận tải (đo bằng kmhoặc mile), khoảng cách thời gian là thời gian cần thiết để chuyên chở hàng hoágiữa hai điểm vận tải và cuối cùng là khoảng cách kinh tế chính là chi phí cànthiết bỏ ra để tiến hành chuyên chở hàng hoá giữa hai địa điểm vận tải

Trang 12

Bên cạnh những yếu tố về khoảng cách thì yếu tố thời gian trong vận tải

có thể nghiên cứu dưới hai dạng khái niệm khác nhau, đối với người chuyên chở

đó là thời gian quay vòng của công cụ vận tải, đối với chủ hàng đó là thời giangiao hàng

Thời gian quay vòng của một công cụ vận tải bao gồm: thời gian chuyênchở hàng hoá bên đường, thời gian công cụ vận tải dừng tại các điểm vận tải đểxếp dỡ hoặc để thực hiện các nghiệp vụ khác, thời gian công cụ vận tải chạykhông hàng Đối với thời gian chuyên chở hàng hoá bên đường thì phụ thuộc vàotốc độ (Vk) của công cụ vận tải, chiều dài tuyến đường (L) Đối với thời giancông cụ vận tải dừng tại các điểm vận tải để xếp dỡ hoặc để thực hiện các nghiệp

vụ khác thì phụ thuộc năng suất của phương tiện xếp dỡ, chất lượng phục vụ tạicác điểm vận tải và trình độ tổ chức của người chuyên chở Và cuối cùng là thờigian công cụ vận tải chạy không hàng thì phụ thuộc trình độ tổ chức của ngườilảm công tác vận tải Việc rút ngắn thời gian quay vòng của công cụ vận tải thựcchất là giảm bớt mọi thời gian hao phí phi sản xuất và tăng tốc độ của công cụvận tải Tức là đồng thời rút ngắn các yếu tố thời gian chuyên chở hàng hóa trênđường, sử dụng phương tiện xếp dỡ có năng suất cao, kết họp hàng hai chiều

Thời gian giao hàng (forwarding Time, Tf): thời gian giao hàng được tính

từ khi bắt đầu xếp hàng lần đầu tiên lên công cụ vận tải cho đến khi kết thúc việc

dỡ hàng và giao cho người nhận, thời gian giao hàng bao gồm: Thời gian xếphàng lên công cụ vận tải, thời gian chuyên chở hàng hoá, thời gian dỡ hàng khỏicông cụ vận tải, thời gian công cụ vận tải dừng lại các điểm vận tải không kể đếnthời gian xếp dỡ, thời gian hàng hóa chờ đợi công cụ vận tải ở điểm gởi hàng đầutiên Việc rút ngắn thời gian giao hàng có lợi cho chủ hàng, góp phần giảm haohụt, đưa hàng vào tiêu thụ kịp thời, thu tiền nhanh, quay vòng vốn nhanh, giảmlãi suất ngân hàng, tạo điều kiện giành thị trường tiêu thụ Việc rút ngắn thờigian giao hàng phụ thuộc vào đặc điểm của phương thức vận tải được sử dụng vàtrình độ tổ chức giao hàng của chủ hàng

1.2 Vận tải quốc tế trong thương mại quốc tế

1.2.1 Vài nét Stf lược về vận tải quốc tế

Vận tải không những là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tếquốc dân mà nó còn đóng góp vai trò to lớn trong thương mại quốc tế, nó làphương tiện nối liền quan hệ thương mại giữa các nước với nhau Việc chuyênchở hàng hoá giữa các nước trong thương mại quốc tế được gọi là “Vận tải quốctế” Như vậy vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá giữa hai hay nhiềunước, tức là điểm đầu và điểm cuối của quá trình vận tải nằm ở hai nước khác

Trang 13

1 Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,

trang 37, 39, 40.

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

nhau, điều này cho ta biết rằng việc vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế đãvượt ra khỏi phạm vi một nước, vị trí của hàng hóa được thay đổi từ nước ngườibán sang nước người mua Vận tải quốc tế không những thúc đẩy phát triển sảnxuất và lưu thông hàng hoá mà còn có tác dụng làm bảo vệ hay làm xấu đi cáncân thanh toán quốc tế Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hànghoá lưu chuyển giữa các nước là khả năng vận tải giữa các nước đó Sự phụthuộc này được mô tả như sau: “khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước

tỷ lệ nghịch với khoảng cách vận tải”, khoảng cách vận tải ở đây chúng ta phảihiểu là khoảng cách kinh tế, tức là lượng lao động nhất định phải bỏ ra để thựchiện quá trình chuyên chở giữa hai điểm vận tải và đối với người gởi hàng đóchính là cước phí Cước phí chuyên chở càng rẻ thì dung lượng hàng hóa hên thịtrường càng lớn, bởi vì cước phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn trong giá cả hànghóa Khi khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, năng suất lao động tăng, giá thànhsản phẩm hạ, cước phí vận tải giảm xuống, đó là yếu tố quan trọng góp phần tăngnhanh khối lượng hàng hóa lưu chuyển trong thương mại quốc tế Trước đây khikhoa học còn yếu kém, công cụ vận tải thô sơ, trọng tải nhỏ, cước phí vận tải cao

đã hạn chế việc buôn bán nhiều mặt hàng, đặc biệt là mặt hàng nguyên, nhiên vậtliệu, bởi vì cước phí chiếm tỷ trọng cao bong giá cả của những loại hàng này.Cho nên thương mại quốc tế chỉ tập trung ở những mặt hàng thành phẩm và bánthành phẩm Cho đến khi các công cụ vận tải hiện đại ra đời, trọng tải lớn, có cấutạo thuận tiện cho việc chuyên chở và cho phép hạ giá thành vận tải đã tạo điềukiện mở rộng chủng loại mặt hàng Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa thể hiện rỏ nétnhất là việc mở rộng buôn bán mặt hàng lỏng Vào những năm 1937 tỷ trọng củanhóm hàng lỏng chỉ chiếm 24% tổng khối lượng hàng hóa thương mại quốc tế,nhưng đến thời gian sau này tỷ trọng nhỏm hàng này phát triển nhanh và thườngchiếm tương đương 50% tổng khối lượng hàng hóa thương mại Mặc khác khi

mà vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao thì thị trường tiêu thụ thường ởgần nơi sản xuất Cho đến khi vận tải phát triển đã tạo điều kiện mở rộng thịtrường buôn bán Tức là những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩmcủa mình ngay cả trên những thị trường xa xôi và các nước nhập khẩu có điềukiện lựa chọn thị trường cung cấp hơn Điều này được thể hiện qua cự ly vậnchuyển ừung bình tăng nhanh qua các năm Ngày nay cự ly vận chuyển trungbình của các loại hàng hóa xuất nhập khẩu thường lớn hơn ổOOOkm1

Trang 14

Đối với tác dụng làm bảo vệ hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế thìviệc phát triển của vận tải đặc biệt là lực lượng tàu buôn dân tộc có tác dụng tăngnguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu sản phẩm vận tải hay tiết kiệm chingoại tệ thông qua việc chống nhập khẩu sản phẩm vận tải, tức là mua theo điềukiện FOB (Free on Board) - giao lên tàu, bán CIF (Cost & Insurance & Freight)

- tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí và sử dụng công cụ vận tải trong nước.Ngược lại, nếu công cụ vận tải không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hànghóa trong thương mại quốc tế thì bắt buộc một quốc gia phải chi ra một lượngngoại tệ lớn để nhập khẩu sản phẩm vận tải tức là thuê tàu nước ngoài để chuyênchở hàng hóa hay mua hàng hóa theo điều kiện CIF (Cost & Insurance &Freight) - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí và bán theo FOB (Free on Board)

- giao lên tàu

Tóm lại, qua những tác dụng trên đây, chúng ta thấy rằng vận tải là mộtyếu tố không thể tách rời thương mại quốc tế, nó là một công cụ quan trọng củathương mại quốc tế đồng thời khi chúng ta nói đến thương mại là phải nói đếnvận tải; thương mại có nghĩa là hàng hoá được thay đổi người sở hữu, còn vận tải

là làm cho hàng hoá thay đổi vị trí

1.2.2 Phân chia trách nhiệm về vận tải trong hợp đồng mua bán ngoại thưong

1.2.2.1 Quyền về vận tải

Trong họp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương bao gồm nhiều điềukhoản, ừong đỏ cỏ các điều khoản về vận tải Các điều khoản này trực tiếp haygián tiếp quy định trách nhiệm của người bán và người mua trong việc thanh toáncước phí đối với người chuyên chở và trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóatrên quãng đường chuyên chở Vì vậy trong thương mại quốc tế người ta đã đưa

ra khái niệm vận tải quốc tế là: bên nào có trách nhiệm trực tiếp thanh toán cướcphí vận tải, có trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa được gọi là bên có

“quyền về vận tải” Tức là khi bên mua giành được “quyền về vận tải” thì ngườimua sẽ phải chỉ trả cho người bán giá cả hàng hóa tại nơi người bán, còn cướcphí vận tải người mua sẽ trả cho người chuyên chở đồng thời thực hiện việc tổchức chuyên chở từ nước người bán về nước mình

Còn khi người bán giành được “quyền về vận tải” thì người mua sẽ phảitrả cho người bán giá hàng hóa bao gồm giá cước phí vận tải và khi đó người bánphải chịu trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa đến địa điểm giao hàng thuộclãnh thổ của nước người mua

Trang 15

http:/Avww saga.vn/Luatkinhdoanh/Luatquocte/6423.saga

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

I.2.2.2 Phân chia trách nhiệm về vận tải

Viêc phân chia trách nhiệm về vận tải giữa người bán và người mua phụthuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng được lựa chọn trong họp đồng mua bán hànghóa ngoại thương Trong thương mại người ta áp dụng rất nhiều điều kiện cơ sởgiao hàng, tuỳ thuộc vào những điều kiện cơ sở giao hàng này mà trách nhiệmhai bên được phân chia rõ ràng Đứng về góc độ vận tải, các điều kiện cơ sở giaohàng quy định trong thuật ngữ thương mại quốc tế “Incoterms 2000” được chiathành các nhóm sau:2

* Nhóm E: EXW (Ex Works)- giao tại xưởng; nghĩa là người bán giaohàng cho người mua tại nơi sản xuất của mình

* Nhóm F: FCA (Free Carrier) - giao cho người chuyên chở, FAS (FreeAlong side Ship) - giao dọc mạn tàu, FOB (Free On Board) - giao lên tàu Theonhóm F này thì người bán giao hàng cho người vận tải do người mua chỉ định

* Nhóm C: CFR (Cost Freight) - tiền hàng và cước phí, CIF (CostInsurance Freight) - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí, CPT (Carriage PaidTo) - cước phí trả tới, CIP (Carriage Insurance Paid To) - cước phí và bảo hiểmtrả tới Theo nhóm c thì người bán phải ký họp đồng vận tải nhưng không chịurủi ro tổn thất về hàng hóa hoặc những chi phí khác xảy ra sau khi hàng đã bốclên tàu

* Nhóm D: DAF (Delivered At Frontire) - giao tại biên giới, DES(Delivered Ex Ship) - giao tại tàu, DEQ (Delivered Ex Quay) - giao tại cầu cảng,DDP (Delivered Duty Paid) - giao hàng thuế chưa trả, DDU (Delivered DutyUnpaid) - giao hàng trả trước Theo nhỏm này người bán phải chịu tất cả phí tổn,rủi ro cho đến khi hàng đến cảng đích

Việc phân chia trách nhiệm về vận tải hay nói cách khác việc phân chia

“quyền về vận tải” giữa người bán với người mua tuỳ thuộc vào điều kiện cơ sởgiao hàng và các điều kiện quy định về vận tải trong họp đồng mua bán hàng hoángoại thương Thông thường người nhập khẩu giành được quyền này khi muahàng gàn nơi sản xuất nhất Ngược lại, người xuất khẩu giành được quyền nàykhi bán hàng ở gần nơi tiêu thụ nhất Các điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm

c, “quyền về vận tải” được chia đều giữa người bán và người mua nên được sửdụng rộng rãi nhất, tức là theo các điều kiện cơ sở giao hàng ở nhóm này, ngườibán phải ký họp đồng vận tải và thanh toán cước phí, còn người mua phải chịutrách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa về tới nước mình

Trang 16

Còn trong các điều kiện thuộc nhóm E và F thì người bán giao hàng chongười mua tại nơi mình sản xuất hoặc giao cho người vận tải do người mua chỉđịnh, còn người mua phải thanh toán cước phí và tổ chức chuyên chở hàng hóa từnước người bán về nước mình, do đó “quyền về vận tải” thuộc về người mua vàcác điều kiện cơ sở giao hàng thuộc điều kiện nhóm D thì người bán phải chịutrách nhiệm chuyên chở hàng hóa và giao cho người mua tại cảng đích thuộclãnh thổ của nước người mua Do đó, “Quyền vận tải” thuộc người bán.

1.3 Chuyên chở hàng hoá thưong mại quốc tế bằng phương thức vận tải biển

1.3.1 Vài nét Stf lược về phương thức vận tải biển

Vận tải biển là một trong những phương thức vận tải ra đời từ rất sớm, khi

mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển tới trình độ cao, khi mà con người chưa cókhả năng chế tạo ra những chiếc tàu biển hiện đại có trọng tải lớn và tốc độnhanh như những tàu biển đang được sử dụng để chuyên chở hàng hóa trongthương mại quốc tế hiện nay, thì những ưu thế của đại dương cũng đã được conngười tận dụng để thực hiện việc chuyên chở hàng hóa và hành khách giữa cácquốc gia trên thế giới với nhau bằng các công cụ vận tải thô sơ như tàu, thuyềnbuồm, tàu biển nhỏ chạy bằng động cơ hơi nước sử dụng khí đốt là than, củi Chỉ

từ khi phương thức sản xuất chủ nghĩa ra đời, quan hệ buôn bán quốc tế giữa cácquốc gia trên thế giới tăng lên, dung lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nướctăng lên và tất yếu nhu cầu chuyên chở hàng hóa và hành khách tăng lên thìphương thức vận tải biển mới phát triển nhanh chóng, về đặc điểm kỹ thuật thìphương thức vận tải biển có những ưu điểm nổi bật như sau:

* Thứ nhất, trong phương thức vận tải biển các tuyến đường hàng hảiđược hình thành một cách hoàn toàn tự nhiên Cho nên, trừ việc đầu tư xây dựngcác hải cảng và một số kênh đào quốc tế, đối với phương thức vận tải này người

ta không phải tốn nhiều chi phí để xây dựng và bảo quản các tuyến đường Đây

là một ưu thế đáng kể của phương thức vận tải biển so với nhiều phương thứcvận tải khác, ví dụ đối với vận tải sắt, muốn thực hiện việc chuyên chở hàng hóagiữa hai điểm vận tải A và B nào đó, người ta bắt buộc phải xây dựng một tuyếnđường sắt (đòi hỏi rất nhiều thời gian và vốn) nối liền hai điểm vận tải này, vàchỉ có thể thực hiện được việc chuyên chở theo một chiều (tuyến đơn), muốnthực hiện việc chuyên chở hàng hoá trên cả hai chiều, người ta phải xây dựnggiữa hai điểm vận tải này một tuyến đường sắt đôi và như vậy chi phí sẽ tăng lênrất nhiều Ưu thế này là một trong những yếu tố làm cho giá thành sản xuất vậntải biển thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác

Trang 17

Triệu Hồng cẩm — Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn — năm 2006,

trang 70.

%ADn-t%El%BA%A3i-hang-hoa-b%El %BA %Blng-d%C6%B0%El %BB%9Dng-bi%El %BB%83n/

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

* Thứ hai, năng lực chuyên chở của phương thức vận tải lớn hơn nhiều sovới các phương thức vận tải khác nhờ vào 2 yếu tố: yếu tố thứ nhất là trọng tảicủa tàu biển rất lớn, trọng tải trung bình của tàu biển hiện nay là từ 15.000 đến20.000 DWT đối với tàu kinh doanh theo hình thức tàu chợ, đối với tàu chở hàngkhô và tàu chở dầu, trọng tải trung bình còn lớn hơn rất nhiều (30.000 - 40.000DWT đối với tàu chở dầu khô, 50.000 - 70.000 DWT đối với tàu chở dầu) Yếu

tố thứ hai là việc tổ chức chuyên chở không bị hạn chế vì trên cùng một tuyếnđường hàng hải người ta có thể tổ chức chuyên chở nhiều tuyến trong cùng mộtlúc cho cả lượt đi lẫn lượt về, chính nhờ ưu thế này mà trong sản xuất vận tảibiển, năng suất lao động cao đã góp phần làm cho giá thành vận tải thấp

* Thứ ba, ưu thế nổi bật nhất là giá cước vận tải thấp, giá cước vận tảibiển thấp hơn rất nhiều so với các phương thức vận tải khác (bằng 1/6 so với giácước vận tải hàng không, 1/3 so với vận tải giá cước sắt, 1/2 so với giá cước vậntải ôtô) Đây cũng chính là đặc điểm khiến cho phương thức vận tải biển đượcchú trọng nhất trong thương mại giữa các quốc gia và trở thành phương thức vậntải chủ đạo trong hệ thống vận tải quốc tế.3

Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm nổi bật trên, phương thức vận tảibiển cũng còn một số hạn chế hay nhược điểm nhất định

* Thứ nhất, là tốc độ của tàu biển chậm, chậm hơn rất nhiều so với xe lửa

và đương nhiên không thể sánh được so với máy bay Vì vậy, trong nhiều trườnghọp vận tải không thể đáp ứng khi hàng hóa nhu cầu vận chuyển nhanh

* Thứ hai, là vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thờitiết Điều này cỏ thể rất dễ nhận biết vì môi trường hoạt động của tàu biển là lênhđênh ngoài khơi, xa đất liền cho nên mỗi biến động dù rất nhỏ của thiên nhiêncũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hành trình đi biển4 Chính vì vậy, trong quátrinh chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, các rủi ro và tai nạn thường rất hayxảy ra Người ta đã thống kê được rằng trên thế giới cứ 90 phút thì xảy ra một tainạn đường biển, trong đó tai nạn đâm va (Collision) chiếm tới 50%, và khi tainạn xảy ra thì thiệt hại rất lớn (vì bản thân tài biển và hàng hoá chuyên chở trêntàu là những tài sản có giá trị rất lớn) Tuy nhiên, sự tiến bộ của khoa học kỹthuật, sự ra đời của những chiếc tàu biển hiện đại có khả năng chinh phục thiênnhiên , cũng phần nào hạn chế được các tai nạn đường biển, nhưng không thể làtuyệt đối Bởi vậy, trong thương mại quốc tế, nhằm đảm bảm an toàn kinh doanh,

Trang 18

đi đôi với nghiệp vụ thuê tàu biển để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, còn

có một nghiệp vụ đặc biệt và cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là mua bảohiểm

Trên thế giới diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất, một cáchhoàn toàn tự nhiên, tạo nên một hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế nối liềnphàn lớn các quốc gia trên thế giới Đặc điểm này cùng với những ưu thế vừa kểtrên của phương thức vận tải biển đã đưa phương thức này lên vị trí số một trong

hệ thống vận tải quốc tế Vận tải biển đảm nhận trên 80% tổng khối lượng hànghóa lưu chuyển giữa các nước có mối quan hệ giữa vận tải quốc tế và thương mạiquốc tế, sự bùng nổ và mở cửa kinh tế của các nước đang phát triển trên thế giới,

xu thế toàn càu hóa đã dẫn đến nhu càu chuyên chở hàng hóa bằng đường biểntrong thương mại quốc tế tăng với tốc độ đáng kể Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào vị tríđịa lý, chính sách và đặc điểm kinh tế của mỗi nước khác nhau mà vai trò củaphương thức vận tải biển có khác nhau Chẳng hạn những quốc gia đã phát triển

và quàn đảo như Anh và Nhật, hầu như gần 100% khối lượng hàng hóa trongthương mại quốc tế của những quốc gia này là được đảm nhận bằng phương thứcvận tải biển Hay là ở những nước công nghiệp mới về chính sách cũng như vị tríđịa lý thuân lợi như Singapore thì phần lớn khối lượng hàng hoá ngoại thươngcủa nước này cũng được chuyên chở bằng phương thức vận tải biển, hơn thế nữa,những ngành công nghiệp dịch vụ vận tải biển (môi giới hàng hóa, bảo hiểm )cũng rất phát triển ở quốc gia bé nhỏ và sạch đẹp này, đóng góp tích cực đối với

sự thặng dư trong cán cân thương mại của Singapore Những nước có bờ biểnnhư Việt Nam (trên 3.200 km từ biển chạy dọc từ Bắc xuống Nam) cũng có rấtnhiều điều kiện thuận lợi để phát triển phương thức vận tải này Trong nhữngnăm gần đây, nhờ chính sách đổi mới và tăng cường quan hệ họp tác kinh tế quốc

tế với rất nhiều quốc gia trên thế giới, khối lượng hàng hóa trong thương mạiquốc tế của Việt Nam tăng lên rất nhanh và cũng đã khẳng định vị trí của phươngthức vận tải biển trong hệ thống vận tải quốc tế của Việt Nam Và ngay cả nhữngquốc gia có vị trí địa lý không mấy thuận lợi cho việc phát triển phương thức vậntải biển như Lào, Campuchia thì vận tải biển vẫn giữ vị trí chủ đạo trong việcchuyên chở hàng hóa thương mại quốc tế của những quốc gia này (Lào vàCampuchia vẫn phải thuê cảng biển của Việt Nam để thực hiện việc chuyên chởhàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển).5

Trang 19

Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,

trang 74.

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

Với những đặc điểm kể trên, vận tải biển rất thích hợp với việc chuyênchở hàng hoá có khối lượng lớn, cự ly vận chuyển trưng bình và dài Vận tải biểnthích hợp với chuyên chở hàng hóa ngoại thưomg nhờ ưu thế tuyệt đối đó là cướcphí vận tải thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác Như chúng ta đãbiết, tỷ ừọng của cước phí vận tải trong giá cả hàng hóa ảnh hưởng mạnh đếnthương mại quốc tế và vận tải biển đã góp phàn làm tăng nhanh chóng khốilượng hàng hóa trong thương mại quốc tế

1.3.2 Ctf sở vật chất kỹ thuật của phương thức vận tải biển

Đối với vận tải biển hay bất kỳ một phương thức vận tải nào khác, cơ sởvật chất kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm của những ngànhsản xuất vận tải này Đe quá trinh sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường, cơ

sở vật chất kỹ thuật bao gồm rất nhiều yếu tố, ở đây chúng ta sẽ bàn luận về 2yếu tố thiết yếu nhất đối với tất cả các phương thức vận tải, đó là: tuyến đườngvận tải, tàu buôn

1.3.2.1, Tuyến đường vận tải

Trong phương thức vận tải biển, tuyến đường vận tải được gọi là tuyếnđường hàng hải và được định nghĩa là tuyến đường được hình thành giữa hai haynhiều cảng, trên đó tàu biển qua lại để chuyên chở hàng hóa và hành khách Nhưvậy trong hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế, có rất nhiều loại tuyến đườnghàng hải, ở đây chúng ta tiến hành phân loại tuyến đường hàng hải theo hai cách.Cách thứ nhất là căn cứ vào phạm vi hoạt động: người ta chia tuyến đường hànghải thành 2 loại; loại thứ nhất được gọi là tuyến đường hàng hải nội địa bao gồmnhững tuyến đường dành cho các tàu hoạt động trong phạm vi một quốc gia vàloại thứ hai là tuyến đường hàng hải quốc tế bao gồm những tuyến đường hànghải dành cho các tàu hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của nhiều quốc gia Cáchthứ hai là phân loại căn cứ vào công dụng, tuyến đường hàng hải được chia thành

3 loại; loại thứ nhất là tuyến đường hàng hải định kỳ dành cho các tàu kinh doanhtheo hình thức tàu chợ, loại thứ hai là tuyến đường hàng hải không định kỳ dànhcho các tàu kinh doanh theo hình thức tàu chạy rông, loại thứ ba là tuyến đườnghàng hải đặc biệt dành cho các tàu kinh doanh vì những mục đích đặc biệt tronghàng hải.6

Trong hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế, với mục đích hoặc mởrộng, hoặc rút ngắn khoảng cách vận chuyển, người ta đã đầu tư xây dựng thêmmột số kênh đào, trong đó hai kênh đào lớn và nổi tiếng nhất là kênh đào Suez

Trang 20

được xây dựng từ năm 1859 đến năm 1869, kênh đào này đã rút ngắn được tuyếnđường thông thưomg giữa Châu Âu và Châu Á hom 400 miles, và kênh đàoPanama, được xây dựng từ năm 1879 đến năm 1914, con kênh này nối liền ĐạiTây Dưomg đến Thái Bình Dưcrng ngang qua Trung Mỹ Ngoài ra còn có kênhđào tên Kiel, được xây dựng từ năm 1815 đến năm 1907, việc xây dựng con kênhnày ban đàu chỉ nhằm mục đích quân sự, dành cho các tàu nhỏ hơn 10.000 tấn,

có hai đập ở hai đầu Theo luật hàng hải quốc tế, những nước có tuyến đườnghàng hải quốc tế đi qua phải có nhiệm vụ bảo quản hệ thống đèn hiệu và bảodưỡng kênh đào.7

1.3.2.2 Tàu buôn

Trên thực tế, ta gặp rất nhiều loại tàu buôn tuy nhiên mỗi loại tàu buônđều có chức năng riêng Ở đây, tàu buôn được hiểu là tàu chở hàng hóa hoặchành khách vì mục đích thương mại trong hàng hải Do tính phức tạp đó màngười ta đã phân loại tàu buôn theo nhiều phương pháp khác nhau Chẳng hạnkhi căn cứ vào cấu trúc của tàu người ta phân chia tàu thành 2 loại là tàu 1 boong

và tàu nhiều boong, nếu căn cứ theo công dụng người ta phân chia tàu ra làm 3loại là tàu chở hàng (Cargo Ship), tàu chở khách (Passenger Ship) và tàu vừa chởhàng vừa chở khách (Mixed Ship), nếu căn cứ theo phương pháp kinh doanh thì

có 2 loại tàu là tàu chợ và tàu chạy rông, căn cứ theo động cơ gồm tàu máy hơinước và tàu máy tua bin hơi, tàu nguyên tử, căn cứ theo cờ tàu gồm có tàu treo cờbình thường, tức là tàu mang quốc tịch nước nào thì mang cờ nước đó và tàu treo

cờ phương tiện tức là treo cờ của nước ngoài nhằm mục đích cạnh tranh và tránhnhững quy định nghiêm ngặt của một số nước Ngoài ra còn một số tàu đặc biệtnhư tàu chở hàng đông lạnh, tàu chở ôtô, tàu chở hàng đông lạnh và ôtô

1.3.3 Nghiệp vụ thuê tàu

Các tổ chức kinh doanh ngoại thương là người có hàng nhưng không cócông cụ vận tải để chuyên chở cho nên khi giành được “Quyền thuê tàu” họ phải

đi thuê các tổ chức vận tải biển để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, vì vậynảy sinh nghiệp vụ thuê tàu Từ đó ta hiểu nghiệp vụ thuê tàu là mối quan hệgiữa các tổ chức kinh doanh ngoại thương với các tổ chức vận tải biển trong việcthuê và cho thuê tàu gọi là nghiệp vụ thuê tàu

Nghiệp vụ thuê tàu là một nghiệp vụ mua bán sản phẩm vận tải biển vềmặt vật chất Trong đó chủ hàng là người thuê tàu, tự mình đứng hoặc thông quangười thứ ba gọi là người môi giới liên lạc với chủ tàu hoặc người chuyên chở

Trang 21

Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,

trang 89.

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

đường biển yêu cầu thuê một phần hay cả chiếc tàu để chở hàng hóa từ một haynhiều cảng này đến một hay nhiều cảng khác (người môi giới được nhận hoahồng từ đại lý, thường do chủ tàu ừả) Trong nghiệp vụ thuê tàu có thuê tàu trongnước, thuê tàu nước ngoài và cho nước ngoài thuê tàu Đối với thuê tàu nướcngoài để chở hàng hóa xuất nhập khẩu là nghiệp vụ nhập khẩu sản phẩm vận tảiđường biển Còn đối với nghiệp vụ cho nước ngoài thuê tàu là nghiệp vụ xuấtkhẩu sản phẩm vận tải đường biển

1.3.3.1 Thị trường thuê tàu và giá cước thuê tàu

Giá trị và giá trị sản phẩm vận tải biển cũng được thực hiện thông quaquan hệ thị trường gọi là thị trường thuê tàu Ta có thể hiểu thị trường thuê tàu lànơi tiến hành mua bán sản phẩm vận tải đường biển, nơi tiến hành đối chiếu sosánh quan hệ cung cầu về sản phẩm vận tải đường biển Do đó đã hình thành giá

cả sản phẩm vận tải đường biển tức là giá cước thuê tàu Thị trường thuê tàu gồm

3 yếu tố chính đó là yếu tố cung về sản phẩm vận tải đường biển, yếu tố cầu vềsản phẩm vận tải đường biển và giá cả sản phẩm vận tải đường biển, tức là giácước thuê tàu Khi đó yếu tố cung về sản phẩm vận tải đường biển chính là khảnăng chuyên chở hàng hóa của lực lượng tàu buôn Còn yếu tố cầu về sản phẩmvận tải đường biển chính là nhu cầu chuyên chở hàng hóa bằng đường biển trongthương mại quốc tế Còn đối với giá cả sản phẩm vận tải đường biển, tức là giácước thuê tàu được hình thảnh trên cơ sở quan hệ cung cầu và mối quan hệ vềquyền lợi của chủ tàu và người thuê tàu8

Cũng giống như định nghĩa giá cả hàng hóa, giá cả của sản phẩm vận tảiđường biển (hay giá cước thuê tàu) là số tiền phải trả khi thuê một dịch vụ tàu.Giá cước thuê tàu chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố chính đó là, thứ nhất là loại hànghỏa chuyên chở bao gồm: mặt hàng, đặc điểm lý hóa của hàng hóa, giá trị củahàng hóa, loại bao bì, khối lượng của lô hàng Thứ hai chính là điều kiệnchuyên chở và xếp dỡ bao gồm: khoảng cách chuyên chở, khả năng chuyên chởhai chiều, số lượng cảng xếp dỡ, mức xếp dỡ ở cảng và cuối cùng là phương thứckinh doanh tàu gồm có tàu chợ hay tàu chạy rông

1.3.3.2 Đặc điểm của tình hình thị trường thuê tàu

Trên thực tế có hai hình thức kinh doanh tàu là kinh doanh tàu chạy rông

và kinh doanh tàu chợ Trong đó kinh doanh tàu chạy rông hay còn gọi là tàuchạy không định kỳ, là tàu chuyên chở hàng hóa trên cơ sở họp đồng thuê tàu

Nó hoạt động không theo một lịch trình định trước và một luồng nhất định, mà

Trang 22

phục vụ bất kỳ thị trường nào có nhu cầu chuyên chở Kinh doanh tàu chợ haycòn gọi là tàu chạy định kỳ là tàu chạy thường xuyên trên một luồng nhất định,ghé qua những cảng nhất định và theo một lịch trình nhất định.

Từ hai hình thức kinh doanh tàu nói trên sẽ có ba phương thức thuê tàu đó

là thuê tàu chợ, thuê tàu chuyến và thuê tàu định hạn Sau đây, ta sẽ lần lượtnghiên cứu từng phương thức

Thuê tàu chợ còn gọi là lưu cước tàu chợ, là người chủ hàng thông quamôi giới thuê tàu yêu cầu người đứng đầu hoặc người chuyên chở giành cho thuêmột phần chiếc tàu để chuyên chở một lô hàng từ cảng này đến cảng khác Từđây ta có thể thấy đặc điểm của phương thức thuê tàu chợ không quá phức tạpbởi vì ừong phương thức này số lượng hàng hóa không lớn, tính chất hàng hóathường là hàng khô và hàng có bao bì, đồng thời tuyến đường tàu đi được biếttrước, nó nằm trong quy định công bố của hãng tàu, người ta gọi đó là địnhtuyến9 Cước tàu chợ không do hai bên thỏa thuận mà do hãng tàu đã tính toán từtrước để lập nên biểu cước, chủ hàng có thể xem và chấp nhận (trong trường hợpđặc biệt có thể thương lượng giảm giá)

Khi thuê tàu chợ hai bên không đàm phán, vì chủ tàu đã có sẵn vận đơn(Bill of Loading - B/L) trong đó có những quy định sẵn, có giá trị như một họpđồng thuê tàu Trong vận đơn chỉ có chữ ký của thuyền trưởng, không có chữ kýcủa người thuê tàu Vì vậy trong phương thức thuê tàu này có những ưu điểm vànhược điểm mà chúng ta cần phải biết để có sự lựa chọn trong việc thuê tàu chophù họp với tình hình thị trường

* Ưu điểm của phương thức thuê tàu chợ là khối lượng hàng hóa khônghạn chế, việc xếp dỡ thường do chủ tàu đảm nhận cho nên đơn giản được thủ tục,đồng thời việc tính toán điều kiện giao nhận trong mua bán dễ dàng, và cuối cùng

là ừong phương thức thuê tàu này sẽ thuận tiện cho chủ hàng trong việc tính toánhiệu quả kinh doanh, vì căn cứ vào biếu cước, căn cứ vào giá cả hàng hóa tại nơisản xuất và nơi tiêu thụ, chủ hàng có thể sơ bộ tính toán được lợi nhuận Giấy lưucước được xem như một giấy yêu cầu thuê tàu gửi cho đại diện hãng tàu và khihãng tàu đã nghiên cứu điều phối được thì sẽ gửi thông báo chấp nhận cho thuê,trong đó có thông báo ngày, giờ cho nên chủ hàng chủ động trong việc đưa hàng

ra cảng, khi chủ hàng nhận được thông báo thì xem như đã có giao ước giữa haibên, nếu một bên không thi hành có thể phạt tùy mức độ

Trang 23

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

* Nhược điểm của phương thức thuê tàu chợ là cước thuê tàu chợ thườngcao hom tàu chuyến do đã tính cả chi phí xếp dỡ và do tàu chợ thường không tậndụng hết trọng tải (trọng tải sử dụng chỉ tương đương 85%) nên phải tính luôn cảphần tàu chạy không hàng vào ừong giá cước Bên cạnh đó về mặt pháp lý ngườithuê tàu chợ thường ở vào thế yếu vì không được tự do thỏa thuận các điều kiệnchuyên chở mà phải chấp nhận những điều kiện in sẵn trong vận đơn.10

Trong thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa chủ hàng và người chuyênchở được điều chỉnh bằng vận đơn đường biển, nó là bằng chứng duy nhất xácđịnh họp đồng chuyên chở đã được ký kết Theo điều 73 khoản 2 của Bộ luậthàng hải có quy định: vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việcngười vận chuyển đã nhận hàng hoá với số lượng, chủng loại, tình trạng nhưđược ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữuhàng hoá dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của họp đồng vậnchuyển hàng hoá bằng đường biển Như vậy ta có thể hiểu vận đơn đường biển làmột chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người chuyên chở hoặcngười đại diện của họ cấp cho người gửi hàng sau khi đã xếp hàng lên tàu hoặcsau khi đã nhận hàng để xếp Qua đó cho ta thấy vận đơn đường biển có chứcnăng rất quan trọng, nó không những là bằng chứng duy nhất xác định họp đồngchuyên chở đường biển đã được ký kết (nó không phải là họp đồng vận tải và chỉ

do một bên ký) mà còn là biên lai nhận hàng của người chuyên chở bởi vì sau khicấp vận đơn người chuyên chở có trách nhiệm đối với toàn bộ hàng hóa ghi trongvận đơn và sẽ giao cho người cầm vận đơn họp pháp ở cảng biển, đồng thời vậnđơn đường biển còn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa ghi trong vậnđơn, cho nên có thể dùng để cầm cố, vay mượn, chuyển nhượng, mua bán Dođặc điểm của quá trình mua bán hàng hóa khác nhau cho nên cần có nhiều loạivận đơn để đáp ứng các nhu cầu đó Vì vậy, người ta đã nghiên cứu nhiều loạivận đơn khác nhau để cho phù họp với từng đối tượng hàng hóa cũng như trêntừng thị trường mua bán Cụ thể:11

* Vận đơn đến thẳng: là vận đơn được dùng trong trường họp hàng hóađược chở trực tiếp từ cảng gửi tới cảng nhận

* Vận đơn chuyển tải: còn gọi là vận đơn chở suốt, dùng trong trường họpchuyên chở hàng hóa có ghé qua những cảng khác rồi mới tới cảng đến Khi cấpvận đơn này, người chuyên chở thứ nhất sẽ chịu trách nhiệm trên toàn bộ quãng

Trang 24

đường chuyên chở kể cả việc chuyển tải ở các cảng dọc đường, tức là có tráchnhiệm thuê những người vận tải tiếp theo Những người vận tải sau chỉ chịu tráchnhiệm trên quãng đường của mình và sẽ cấp vận đom địa hạt và vận đom này chỉlảm chức năng là biên lai nhận hàng mà thôi Người nhận hàng vẫn nhận hàngtrên cơ sở vận đom trả suốt.

* Vận đom hoàn hảo: là vận đom trên đó thuyền trưởng không ghi một ghichú xấu nào về hàng hóa và bao bi hàng hóa Vận đom này được ngân hàng chấpnhận để thanh toán Theo Điều 88 của Bộ luật hàng hải 2005 quy định về ghi chútrong vận đom:

1 Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đom các nhận xét củamình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá

2 Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đom sự mô tả về hànghoá, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người gửihàng, người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xácminh

3 Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đom ký, mã hiệu hànghoá, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảođảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc

4 Trường họp hàng hoá được đóng gói trước khi giao cho người vậnchuyển thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đom là không biết rõ nội dungbên trong

5 Người vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hưhỏng hàng hoá hoặc tổn thất liên quan đến hàng hoá trong mọi trường họp, nếungười gửi hàng, người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị củahàng hoá khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đom

* Vận đom không hoàn hảo: là vận đom trên đó có ghi chú xấu về hàng hóahoặc bao bì của hàng hóa Ngân hàng không chấp nhận thanh toán khi người bánhàng xuất trình vận đom này, cho nên khi giao hàng cho người chuyên chở, ngườibán bằng mọi cách phải lấy được vận đom hoàn hảo

* Vận đom đã xếp hàng: là vận đom được cấp sau khi hàng hóa đã thực sựxếp lên tàu Người mua hàng và ngân hàng thanh toán đều đỏi hỏi người bán xuấttrình vận đom này

* Vận đom nhận để xếp: là vận đom được cấp trước khi hàng hóa được xếplên tàu Neu trong họp đồng mua bán hoặc thư tín dụng không có quy định gìkhác thì ngân hàng không chấp nhận vận đom này Trong thực tế thì chỉ dùng vậnđom đã xếp hàng

Trang 25

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

* Vận đơn đến chậm: là vận đơn đến sau hàng hóa Trong hường hợp nàythì chủ hàng sẽ gửi kèm theo tàu một bộ chứng từ hàng hóa để người nhận hàng

có thể nhận hàng nếu vận đơn đến chậm

* Vận đơn theo lệnh: là vận đơn không ghi rỏ người nhận hàng là ai màchỉ ghi chữ theo lệnh (To Order) Trong trường hợp này người chuyên chở sẽgiao hàng “theo lệnh của người gửi hàng” hoặc “theo lệnh của một người khác”

* Vận đơn đích danh: là vận đơn ghi đích danh tên và địa chỉ của ngườinhận hàng Chỉ người nào có tên trong vận đơn mới được nhận hàng

* Vận đơn xuất trình: còn gọi là vận đơn vô danh, là vận đơn trên đókhông ghi tên người nhận hàng, và cũng không ghi theo lệnh của ai cả Ngườichuyên chở sẽ giao hàng cho bất kỳ người nào cầm vận đơn này và xuất trình chohọ

* Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu: vận đơn này dùng trong trường hợpchở hàng bằng tàu thuê chuyến, sau khi xếp hàng lên tàu theo yêu cầu của ngườichủ hàng thuyền trưởng sẽ cấp vận đơn được gọi là vận đơn theo hợp đồng thuêtàu

Ngoài ra, trong vận tải quốc tế còn có nhiều loại vận đơn khác như: vận đơn hải quan, vận đơn xếp hàng lên boong, vận đơn rút gọn, vận đơn chở Container Trong thực tế thường sử dụng phổ biến nhất là vận đơn có tính chất đã xếp hàng, theo lệnh và hoàn hảo.

Thuê tàu chuyến là chủ tàu cho người thuê tàu thuê toàn bộ hay một phầnchiếc tàu chạy rông để chuyên chở hàng hỏa giữa hai hay nhiều cảng và đượchưởng tiền cước theo 2 bên thỏa thuận12 Do có tính thỏa thuận này cho nên trongviệc thuê tàu chuyến sẽ có nhiều hình thức để thuê tàu khác nhau Chẳng hạn nhưhình thức thuê chuyến một tức là thuê tàu chỉ chuyên chở một lần hàng giữa cáccảng nhất định, sau khi hoàn thành việc dỡ hàng ở cảng đến cuối cùng thì hợpđồng thuê tàu cũng hết hiệu lực Thuê chuyến khứ hồi tức là thuê tàu chuyên chở

cả hàng hóa lẫn lượt đi lẫn lượt về theo hợp đồng Ta cũng có thể thuê tàu theophương thức thuê liên tục ở đây được hiểu là ta có thể thuê một chuyến liên tụchoặc khứ hồi liên tục, tức là thuê tàu để chuyên chở hàng hóa nhiều chuyến liêntục cho một lượt hoặc cho cả lượt đi lẫn lượt về Ngoài ra còn có hình thức thuêbao tức là tiền cước thuê tàu tính và ừả theo đơn vị trọng tải hoặc dung tích củatàu

Trang 26

Giống như phương thức thuê tàu chợ, trong phương thức thuê tàu chuyếncũng có những đặc điểm riêng biệt của nó chẳng hạn như khối lượng chuyên chởhàng hóa lớn, thường là đầy tàu hoặc gần đầy tàu Không những thế mà hai bên

sẽ đàm phán với nhau về điều kiện chuyên chở và giá cước để ký họp đồng thuêtàu chuyến, vận đơn được sử dụng trong trường họp này là vận đơn theo họpđồng thuê tàu Trong phương thức thuê tàu chuyến thường có môi giới, ngườithuê tàu sẽ ủy thác cho người môi giới đi tìm tàu, gặp gỡ với các chủ tàu để đàmphán, trả giá rồi ký họp đồng Từ những đặc điểm trên, cho ta thấy phương thứcthuê tàu chuyến cũng có những ưu và khuyết điểm đặc trưng giúp chúng ta có sựlựa chọn phù họp vì vậy ta cần phải biết những ưu và khuyết điểm đó:

* Ưu điểm của phương thức thuê tàu chuyến là có tính linh hoạt cao sở dĩnói như vậy là bởi vì người thuê có thể yêu cầu xếp dỡ ở bất kỳ cảng nào và cóthể thay đổi cảng xếp dở dễ dàng Giá cước thuê tàu rẻ hơn so với thuê tàu chợ.Người thuê tàu đươc tự do thỏa thuận mọi điều khoản trong họp đồng chứ khôngbuộc phải chấp nhận như trong phương thức thuê tàu chợ Đồng thời trongphương thức thuê tàu này có tốc độ chuyên chở hàng hóa nhanh vì thuê tàuthường chạy thẳng từ cảng xếp đến cảng dỡ, ít ghé qua các cảng dọc đường

* Nhược điểm của phương thức thuê tàu chuyến là kỹ thuật thuê tàu, kýkết họp đồng rất phức tạp và giá cước luôn biến động thường xuyên và rất mạnhđòi hỏi người thuê tàu phải nắm vững thị trường nếu không sẽ phải thuê với giáđắt hoặc không thuê được.13

Thuê tàu định hạn là chủ tàu cho thuê toàn bộ chiếc tàu cùng sĩ quan thủythủ để chuyên chở hàng hóa hay cho thuê lại trong một thời gian nhất định vàngười thuê tàu phải trả tiền thuê và chịu các chi phí hoạt động của tàu theo họpđồng quy định14 Như vậy khác với 2 phương thức thuê tàu trước, trong phươngthức thuê tàu định hạn chủ tàu không phải là người chuyên chở Từ đặc điểm đó,đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu sâu về phương thức thuê tàu này để đưa ra những

ưu và khuyết điểm cụ thể nhằm có thể áp dụng cho phù họp với tình hình thịtrường vận chuyển

* Ưu điểm của phương thức thuê tàu định hạn là người thuê rất chủ độngtrong chuyên chở hàng hóa vì được quyền sử dụng chiếc tàu trong thời gian thuê.Bên cạnh đó, có ưu điểm đặc biệt là tiền thuê tàu rẻ nếu người thuê giỏi kinhdoanh tàu, có nguồn hàng hai chiều ổn định thì hiệu quả càng cao đồng thời chủ

Trang 27

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

tàu sẽ có lợi thế nắm chắc một khoản thu nhập về con tàu trong thời gian chothuê mà không phải tìm hàng, trong trường họp thị trường thuê tàu xấu thì chủtàu có lợi

* Nhược điểm của phưomg thức thuê tàu định hạn thể hiện ở chỗ là ngườithuê phải chịu một khoản chi phí khá lớn về dầu, nước, xếp, dỡ Do đó, trongphưomg thức thuê tàu định hạn thì chủ tàu và người thuê tàu phải chú ý đến cáctrường họp có thể xảy ra trong quá trình thuê tàu Thứ nhất, đối với chủ tàu chỉnên cho thuê tàu khi nhận thấy có khó khăn trong việc tìm hàng chuyên chở,hoặc có mục đích kinh doanh là cho thuê tàu định hạn mà chỉ cho thuê tàu thuầntúy, đồng thời khi nhận thấy giá cước trên thị trường thuê tàu có xu hướng lâudài Thứ hai, đối với chủ hàng chỉ nên thuê tàu theo phưomg thức thuê tàu địnhhạn khi thấy có nhu cầu chuyên chở hàng hóa lớn trong thời gian dài mà khôngmuốn phụ thuộc vào tình hình thuê tàu, mặc khác khi muốn giảm được chi phíchuyên chở và so sánh chi phí khai thác tàu định hạn với giá cước thuê tàuchuyến và muốn tránh xu hướng tăng giá cước lâu dài trên thị trường thuê tàu

Trên thực tế có 2 hình thức thuê tàu định hạn đó là thuê tàu định hạn phổthông và thuê định hạn trom Trong đó, thuê tàu định hạn phổ thông tức là chủ tàucho người thuê tàu thuê toàn bộ chiếc tàu cùng với sĩ quan thủy thủ trong mộtthời gian nhất định Đối với hình thức thuê định hạn trom có nghĩa là thuê tàu màkhông có sĩ quan thủy thủ

Qua những tìm hiểu trên ta thấy vận tải bằng đường biển rất phức tạp và

đa dạng, vì vậy tùy thuộc vào tình hình thị trường mà chúng ta cần có phươngpháp áp dụng cho phù họp, từ đó đòi hỏi chúng ta phải am hiểu sâu sắc và nắmvững kiến thức để áp dụng vào thực tiễn nhằm đạt được kết quả khả quan Bêncạnh đỏ nhằm hạn chế và khắc phục được những rủi ro trong vận tải bằng đườngbiển thì hiện nay nhiều doanh nghiệp đã chọn cho mình biện pháp đó chính làbảo hiểm, và chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề bảo hiểm vận tải trong thương mại quốc

tế ở chương 2 này

Trang 28

CHƯƠNG 2 BẢO HIỂM VẬN TẢI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TÉ

2.1 Những vấn đề chung về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

2.1.1 Sự ra đòi và phát triển của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam và trên thế giói

Bảo hiểm hàng hải ừên thế giới đã có lịch sử rất lâu đời Nó ra đời vàphát ừiến cùng với sự ra đời và phát triển của hàng hóa và ngoại thưomg Khoảngthế kỷ V trước công nguyên, vận chuyển hàng hỏa đã ra đời và phát triển người

ta biết tránh tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyênchở trên nhiều thuyền khác nhau Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảohiểm hàng hóa Đen thế kỷ XII thương mại và giao lưu hàng hóa bằng đườngbiển giữa các nước phát triển, nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lượng vàgiá ừị của hàng hóa ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạn bất ngờ, cướp biển gây

ra làm cho giới thương nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổn thất nặng nề cókhả năng dẫn đến phá sản họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh Neu hànhtrình gặp phải rủi ro gây ra tổn thất toàn bộ thì các thương nhân được xóa nợ, nếuhành trình may mắn thành công thì ngoài vốn vay họ còn phải trả cho chủ nợ mộtkhoản tiền lãi với lãi suất rất cao Lãi suất cao và nặng nề này có thể coi là hìnhthức ban đầu của phí bảo hiểm

Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, họp đồng bảo hiểm hàng hóa đã ra đời,trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghitrong đơn Từ đó họp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như

Nói tới bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nước Anh và Lloyd’s.Nước Anh là một trong những nước có sự phát triển hiện đại về thương mại vàhàng hải lớn nhất trên thế giới, thế kỷ XVII nước Anh đã có nền ngoại thương

Trang 29

http://jìuforum net/forums/archive/index.php/t-5502 html

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

phát ừiến với đội tàu buôn mạnh nhất thế giới và trở thành trung tâm thương mại

và hàng hải của thế giới Do đó nước Anh cũng là nước sớm có những nguyêntắc và thể lệ hàng hải và bảo hiểm hàng hải Năm 1779, các hội viên của Lloyd’s

đã thu thập tất cả các quy tắc hàng hải và quy thành một họp đồng chung gọi làhọp đồng Lloyd’s Hợp đồng này đã được Quốc Hội Anh thông qua và được sửdụng ở nhiều nước cho đến năm 1982 Từ ngày 1/1/1982, đơn bảo hiểm hàng hảimẫu mới đã được Hiệp Hội bảo hiểm LonDon thông qua và được sử dụng ở hầuhết các nước trên thế giới hiện nay15

Ở Việt Nam vào thời kỳ đầu, nhà nước giao cho một công ty chuyên môntrực thuộc Bộ tài chính kinh doanh bảo hiểm đó là công ty Bảo hiểm Việt Namnay là tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) Công ty Bảo hiểmViệt Nam được thành lập ngày 17/12/1964 theo Quyết định số 179/CP và chínhthức đi vào hoạt động 15/1/1965

Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hóa xuất nhậpkhẩu cho công ty Bảo Hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường họp mua theo giáFOB, và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm

Từ năm 1965 - 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đốingoại ừong đó có bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu Từ sau 1970 Bảo Việt cóquan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô (củ), Balan, Triều tiên, trước đó Bảo Việt chỉ

có quan hệ tái bảo hiểm với Trung Quốc

Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và đã

mở rộng phạm vi hoạt động Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước

xã hội chũ nghĩa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giámđịnh, tái bảo hiểm với hơn 40 nước ừên thế giới Năm 1965 khi Bảo Việt đi vàohoạt động, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa xuấtnhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Gần đây để phù họp với sự phát triểncủa thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ Tài chính đã ban hành quytắc chung mới - quy tắc chung 1990 cùng với luật hàng hải Việt Nam Quy tắcchung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hóaxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triểnmạnh mẽ, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định thuhút vốn đầu tư nước ngoài thì việc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh bảohiểm là một đòi hỏi thiết thực Để đáp ứng yêu cầu cấp bách trên, nghị định

Trang 30

100/CP của Chính Phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được ban hànhngày 18/12/1993 đã tạo điều kiện cho nhiều công ty bảo hiểm ra đời và pháttriển Hiện nay với sự góp mặt của 10 công ty bảo hiểm gốc trong cả nước, thịtrường bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu phát triển với sự cạnh tranh gay gắt giữacác công ty, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vẫn là một nghiệp vụtruyền thống mà các nhà bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì và phát triển với cácbiện pháp, chiến lược, sách lược giành thắng lợi trong cạnh tranh.

2.1.2 Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối vớingười được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm donhững rủi ro do thỏa thuận gây ra với điều kiện người được bảo hiểm góp chongười bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Trong đó nghiệp vụ bảohiểm hàng hóa xuất nhập khấu thì được người bảo hiểm có thể là người mua hoặcngười bán tùy theo điều kiện thưorng mại và điều kiện cơ sở giao hàng quy địnhtrong họp đồng mua bán mà hai bên đã thỏa thuận với nhau Đối tượng bảo hiểm

ở đây chính là hàng hóa đã được mua bảo hiểm

2.I.2.I Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Ngành bảo hiểm ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà conngười không thể khống chế được Neu có những rủi ro xảy ra mà không có cáckhoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt là những rủi romang tính thảm họa gây ra những tốn thất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rấtnhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do các rủi ro đó gây ra

Vì vậy, sự ra đời và tham gia bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển trở thành nhu cầu tất yếu và nó có tác dụng rất to lớn mà cụ thể

là ở bốn điểm sau :

Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hóa do hạn chế tổn thất nhờ tăngcường bảo quản kiểm tra đồng thời kết họp các biện pháp đề phòng và hạn chếtổn thất

Thứ hai, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nềnkinh tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước Khi cácđơn vị kinh doanh xuất nhập khấu hàng theo giá FOB, và xuất theo giá CIF sẽ tạo

ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nước với nước ngoài Nhờ có hoạtđộng bảo hiểm trong nước các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nước ngoàihay nói cách khác là không phải xuất khẩu vô hình

Trang 31

Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế

Thứ ba, khi các công ty có tổn thất hàng hóa xảy ra thì sẽ được bồi thườngmột số tiền nhất định giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh, số tiềnchi bồi thường cho các công ty hàng năm là rất lớn chiếm khoảng 60% - 80%doanh thu phí bảo hiểm

Thứ tư, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thànhnguyên tắc thể lệ và tập quán trong thưomg mại quốc tế Nên khi hàng hóa xuấtnhập khẩu gặp rủi ro gây ra tổn thất các bên tham gia sẽ được công ty bảo hiểmgiúp đỡ về mặt pháp lý khi xảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tượng khác cóliên quan

2.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Do đặc điểm của vận tải biển tác động đến sự an toàn của hàng hóa đượcchuyên chở là rất lớn Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển ngày càng được khẳng định rõ nét:

Một là, hàng hóa xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một haynhiều quốc gia, người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường khôngtrực tiếp áp tải được hàng hóa trong quá trình vận chuyển do đó phải tham giabảo hiểm cho hàng hóa Ở đây, vai trò của bảo hiểm là người bạn đồng hành vớingười được bảo hiểm

Hai là, vận tải đường biển gặp nhiều rủi ro và tổn thất đối với hàng hóa dothiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên như: mắc cạn, đắm chìm, đâm va, cháy nổ, mấtcắp, cướp biển, bão, lốc, sống thần vượt quá sự kiểm soát của con người Hànghỏa xuất nhập khẩu lại được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển đặc biệt ởnhững nước quần đảo như Anh, Singapore, Nhật, Hongkong do đó phải thamgia bảo hiểm hàng hỏa xuất nhập khẩu

Ba là, theo họp đồng vận tải người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm về tổnthất của hàng hóa trong một phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đom đườngbiển, rất nhiều rủi ro các hãng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngay cả cáccông ước quốc tế cũng quy định mức miễn trách nhiệm rất nhiều cho ngườichuyên chở Vì vậy, các nhà kinh doanh phải tham gia bảo hiểm hàng hóa xuấtnhập khẩu

Bốn là, hàng hóa xuất nhập khẩu thường là hàng hóa có giá trị cao, nhữngvật tư rất quan trọng và những khối lượng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệt hại

do các rủi ro có thể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu trởthành nhu càu thiết yếu

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w