Hình thức làyếu tố pháp lý quan họng của hợp đồng, là phương tiện thể hiện ý chí của các bên khitham gia giao kết hợp đồng, là một trong những căn cứ xác định thời điểm có hiệu lựccủa hợ
Trang 1Gỉảns viên hướng dẫn Sinh viên thưc hiên
MSSV: 5086094 Lớp: Luật TM2 K34
Cần Thtf, tháng 4 năm 2012
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN LUẬN VĂN
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Phạm vi của đề tài 2
3 Phưong pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VÈ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG DÂN sự 1.1 K hái niệm hình thức họp đồng dân sự 4
1.2 L ược sử phát triển pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự 6
1.2.1 Hình thức hợp đồng trong luật La Mã 6
1.2.2 Hình thức hợp đồng trong luật cổ Việt Nam 8
1.2.2.1 Thời nhà Lê 8
1.2.2.2 Thời nhà Nguyễn 9
1.2.3 Hình thức hợp đồng trong luật cận đại Việt Nam 10
1.2.4 Hình thức hợp đồng trong luật Việt Nam hiện đại 11
Trang 42.1.3 Hình thức hợp đồng bằng văn bản
2.2 Th òi điểm có hiệu lực của họp đồng liên quan đến hình thức họp đồng 27
2.2.1 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 27
2.2.2 Thời điểm có hiệu lực của các loại họp đồng liên quan đến hình thức 28
2.2.2.1 Thời điểm có hiệu lực của họp đồng ưng thuận 28
2.2.22 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thực tại 30
2.2.2.3 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trọng thức 30
2.2.3 Ý nghĩa việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 33
CHƯƠNG 3: THựC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN Sự 3.1 Một sổ bất cập trong pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành vè hình thức họp đồng dân sự 40
3.1.1 Vấn đề hình thức họp đồng đuợc quy định tại các Điều 122, 124, 401 BLDS 2005 40
Trang 53.2.3 Bỏ đoạn 2 khoản 2 Điều 401 và bổ sung qui định hình thức là điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định 513.2.4 Giải quyết hậu quả pháp lý của họp đồng vi phạm hình thức 52
Kết luận 57
Trang 6Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cũng nhu trong cuộc sống hàng ngàymột yếu tố không thể thiếu đuợc là phải có giao luu dân sự, đó là sự chuyển giaotài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa nguời này với nguờikhác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhân khác
Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa cácbên, trcn cơ sở đó_pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Sựthỏa thuận đó gọi là hợp đồng Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Hợpđồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứtcác quyền và nghĩa vụ dân sự” Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợpđồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên họrpđồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên phù họp với quyđịnh của nhà nước, trong đó có các quy định về hình thức của họp đồng Với mụcđích đi sâu tìm hiểu về các quy định của pháp luật và việc áp dụng trong thực tế về
hình thức của họp đồng dân sự, em xin lựa chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng
dân sự - lỷ luận và thực tiễn” để làm đề tài nghiên cứu của Luận vãn.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài em đã cố gắng rất nhiều, cùng với sự chỉdẫn của thầy hướng dẫn Luận vãn Bên cạnh đó, em có tham khảo một số luận văncủa các bạn khóa trước Song với trình độ hiểu biết vấn đề còn hạn chế nên bài viếtkhó thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, em rất mong có thể nhận được sựđóng góp ý kiến từ phía thày cô cũng như các bạn để bài làm của em được hoànthiện hơn Em xin cảm ơn rất nhiều!
1 Lí do chọn đề tài
Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chứctrao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu cầu nhân sinh Hợp đồng dân sự là sự kháiquát một cách toàn diện các hình thức giao lưu dân sự phong phú của con người, làmột trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luậtdân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọngtrong quá trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lý cơ bản của sự traođổi hàng hóa trong xã hội Hơn nữa, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
Trang 7hội nhưng cũng có nhiều thách thức Chừng nào pháp luật nói chung và những quy
định về hợp đồng dân sự nói riêng chưa trở thành công cụ cơ bản để điều chỉnh quan
hệ xã hội thì chừng đó Việt Nam vẫn còn đứng ngoài sự phát triển chung của thể giới.Các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngàycàng cao đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân sự phải hoàn thiện hơn để giải quyết mộtcách triệt để Tuy nhiên, cho dù pháp luật về hợp đồng có phát triển đến đâu chăngnữa thì sự tồn tại của hợp đồng không thể tách rời hình thức hợp đồng Hình thức làyếu tố pháp lý quan họng của hợp đồng, là phương tiện thể hiện ý chí của các bên khitham gia giao kết hợp đồng, là một trong những căn cứ xác định thời điểm có hiệu lựccủa hợp đồng, là bằng chứng khách quan chứng minh cho sự tồn tại của hợp đồng Pháp luật hợp đồng hiện hành ở nước ta, vấn đề hình thức hợp đồng ngày càng đượckhẳng định và hoàn thiện cùng với sự phát triển của chế định hợp đồng dân sự Nhậnthức đúng về mức độ ảnh hưởng của hình thức họp đồng đối với quan hệ pháp luật vềhợp đồng là rất quan họng như: Quan trọng trong việc xây dựng các quy định phápluật về hình thức họp đồng; Các quy định của hợp đồng vi phạm về hình thức; Tạo cơ
sở lý luận giải thích và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp và nêulên những mặt còn hạn chế về hình thức của hợp đồng Chính vì những lý do trên màngười viết chọn đề tài: “ Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thức tiễn”, để tìmhiểu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành vớimong muốn góp phần hoàn thiện các vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với các quyđịnh về hình thức hợp đồng dân sự
2 Phạm vỉ nghiên cứu
Đề tài “ Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn”, người viết tập trungđưa ra những khái niệm chung và những vấn đề lí luận liên quan đến hình thức củahợp đồng theo khoa học pháp lí, pháp luật của Việt Nam Bên cạnh đó đề tài phân tíchnhững quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân
sự năm 2005 và nhiều vãn bản luật, vãn bản quy phạm pháp luật khác
3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận vãn, trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng nhiềuphương pháp khác nhau như: chứng minh, tổng hợp, so sánh, phương pháp phân tíchquy phạm được sử dụng nhằm giải quyết vấn đề một cách hợp lí và rõ ràng nhất.Phương pháp tổng hợp thống kê, sưu tầm tài liệu Đồng thời vận dụng các tài liệu của
Trang 8Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
các nhà nghiên cứu, các tập chí chuyên ngành về vấn đề nghiên cứu và những vấn đề
có liên quan
4 Kết cấu của đề tài
Đề tài “ Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn” gồm có: phần mởđầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung của đề tài đuợc chia làm bachuơng nhu sau:
- Chuơng 1: Khái quát chung về hình thức hợp đồng dân sự
- Chuơng 2: Hình thức của hợp đồng dân sự và hệ quả việc vi phạm về hĩnhthức theo pháp luật Việt Nam hiện hành
- Chuomg 3: Thực trạng và huớng hoàn thiện hình thức của hợp đồng dân sự
Trang 9CHƯƠNG1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG DÂN sự
Chương này người viết đi vào phân tích, làm rõ những khái niệm cơ bản liên quanđến đề tài, lược sử hình thành và phát triển của đề tài, chế định pháp lý về hình thứchợp đồng dân sự và nêu lên tầm quan họng của các quy định về hình thức hợp đồngtrong pháp luật dân sự Việt Nam
1.1 Khái niệm hình thức họp đồng dân sự
Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự,mà bản chất của nó là sự thỏa thuậngiữa các bên, và họp đồng chỉ có thể được tạo lập khi có sự gặp gỡ ý chí giữa các bên.Các yếu tố pháp lý cơ bản tạo nên hợp đồng chính là ý chí của chủ thể, sự biểu hiệncủa ý chí đó ra bên ngoài và sự thống nhất giữa các yếu tố đó với nhau Trong đó, ýchí là cái bên trong, là nguyện vọng, là mong muốn chủ quan của chủ thể mà khôngphải lúc nào người khác cũng có thể biết hay nhận thấy được Bởi vậy, để có thể đạtđược sự thỏa thuận, tức là để các bên có thể biết được và chấp nhận ý chí của nhau,chủ thể cần phải thể hiện ý chí đó ra bên ngoài dưới một hình thức khách quan nhấtđịnh Sự thống nhất ý chí của các bên và nội dung cụ thể của các điều khoản thể hiện
sự thống nhất ý chí đó cần phải được công bố ra bên ngoài Đó chính là hình thức thểhiện của hợp đồng
Theo nghĩa thông thường, hình thức được hiểu là “cái bên ngoài, cái chứa đựngnội dung” Ở góc độ triết học, nội dung và hình thức của các sự vật, hiện tượng là cặpphạm trù cơ bản, thể hiện “những yểu tố, những quá trình tạo nên sự vật” và là
“phương thức tồn tại và phát hiển của sự vật” Cũng như các sự vật, hiện tượng kháccủa thế giới khách quan, hình thức biểu lộ ý chí của các bên trongviệc tạo lập hợpđồng thường được biểu hiện ở hai cấp độ: hình thức bên trong và hình thức bên ngoàicủa nó Hình thức bên trong của hợp đồng là sự thể hiện ra bên ngoài của các quyền
và nghĩa vụ của chủ thể, dưới dạng các điều khoản cụ thể của hợp đồng Dưới góc độnày, ý chí của các bên và sự thống nhất ý chí giữa các bên thường được phát biểudưới dạng các điều khoản cụ thể của hợp đồng Trong lý luận pháp luật dân sự và cảtrong luật thực định, các học giả và các nhà làm luật thường đồng hóa các điều khoản
cụ thể của hợp đồng với nội dung hợp đồng Các điều khoản qui định quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng lại được trình bày, thể hiện ra bên ngoài dưới nhữnghình thức bằng lời nói, văn bản và theo những thủ tục nhất định như công chứng, đãng
Trang 10Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
ký Đó là hình thức bên ngoài của họp đồng Pháp luật của hầu hết các nuớc khi qui
định về hình thức hợp đồng, chủ yểu là nói đến hình thức bên ngoài của hợp đồng.Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng đuợc định nghĩa là “cách thức thểhiện sự thỏa thuận giữa các bên” Đa số các luật gia cũng đều hiểu rằng, hình thức củahợp đồng là những biểu hiện bên ngoài của hợp đồng Có tác giả cho rằng “hình thứccủa hợp đồng là phuong tiện ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định”, hoặc
“hình thức của hợp đồng là phuơng tiện để ghi nhận, luu trữ, chuyển tải nội dung củahợp đồng” Có tác giả còn cho rằng hình thức hợp đồng còn đuợc biểu hiện qua
“phuong thức ký kết” họp đồng Có tác giả khác còn mô tả rõ hơn: “hình thức củahợp đồng không chỉ là hình thức thể hiện nội dung của hợp đồng mà còn là nhữngthủ tục mà pháp luật qui định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khigiao kết một số loại hợp đồng như phải có xác nhận của công chứng, chứng thực,đăng ký hoặc xin phép ” và ý kiến này được các tác giả khác đồng tình
Nhìn từ góc độ chức năng và vai trò của yếu tố hình thức đối với sự tồn tại củahợp đồng, ta thấy hình thức họp đồng là sự công bố ý chí của các bên tham gia hợpđồng, là cách thức để truyền đạt thông tin giữa các bên tham gia hợp đồng cũng nhưvới người thứ ba về sự xác lập và tồn tại của hợp đồng đó Hình thức của hợp đồngcũng là phương tiện thể hiện nội dung cụ thể của hợp đồng Theo nghĩa đó, hình thứchọp đồng bao gồm cả thể thức (cách thức thể hiện) của họp đồng và thủ tục tạo lậphợp đồng Thể thức của họp đồng là cách thức, phương tiện thể hiện nội dung của hợpđồng dưới dạng vật chất khách quan nhất định Hợp đồng có thể được thể hiện bằngcác thể thức như lời nói, vãn bản, hành vi cụ thể Còn thủ tục là thủ thuật, cách thứctiến hành tạo lập hợp đồng theo một trình tự, yêu cầu nhất định Như vậy, hình thứchợp đồng không chỉ là các thể thức tồn tại của hợp đồng mà còn bao gồm cả các thủtục để tạo lập hợp đồng
Trong quá trình đàm phán, thỏa thuận để ký kết hợp đồng mỗi chủ thể đều có
ý chí của mình Khi ý chí của các bên có sự trùng hợp thì coi như đã có sự thỏa thuận
và hợp đồng được ký kết Sự thỏa thuận của các bên được thể hiện bằng những hìnhthức khác nhau tùy thuộc vào ý chí của họ: Có thể bằng lời nói, có thể bằng văn bản,
có thể bằng hành vi cụ thể Các hình thức ý chí đó được gọi là hình thức của hợp
đồng Như vậy, hình thức hợp đồng là cách thức thể hiện ỷ chỉ ra bên ngoài dưới một
Trang 11Tóm lại, hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp
đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ỷ chỉ của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng.
Với sự đa dạng của các họp đồng dân sự, pháp luật thừa nhận các hợp đồng dân sự cóthể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
+ Hình thức hợp đồng được thể hiện bằng lời nói là hình thức các bên tham giagiao kết hợp đồng cùng gặp gỡ trao đổi trực tiếp, thỏa thuận với nhau về nội dung củahợp đồng
+ Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng vãn bản là hình thức các bêntham gia giao kết hợp đồng dân sự lập vãn bản thỏa thuận các điều khoản của họpđồng và cùng ký tên vào vãn bản đó Hình thức bằng vãn bản là chuẩn mực về hìnhthức hợp đồng trong các giao dịch về dân sự, thưong mại hiện nay
+ Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng hành vi cụ thể là hình thức cácbên tham gia giao kết họp đồng bằng hành vi của mình bày tỏ ý chí nhằm tạo ra cácquan hệ hợp đồng dân sự, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng mặc nhiên thừanhận các hành vi đó đối với nhau
1.2 Lược sử hình thành và phát triển về hình thức họp đồng dân sự
1.2.1 Hình thức hợp đồng trong luật La Mã
Hệ thống pháp luật La Mã được hình thành và phát triển từ rất lâu đời, là hìnhthức pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ Nó là nguồn tri thứcchung của nhân loại Những qui định của luật La Mã về chế định hợp đồng đã đặt nềnmóng vững chắc, cùng với thời gian nó có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hầu hếtpháp luật dân sự của đa số các nước trên thế giới trong quá trình xây dựng luật dân sựhiện đại Việc tìm hiểu các quy định về chế định hợp đồng, đặc biệt là về hình thứchợp đồng trong luật La Mã giúp cho chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc của pháp luậtViệt Nam
Theo quy định của luật La Mã thì hợp đồng được coi là phương tiện chủ yếulàm phát sinh quan hệ nghĩa vụ Pháp luật về hợp đồng trong hệ thống pháp luật La
Mã được phân định thành hai hệ thống hợp đồng là giao ước và khế ước
+ Giao ước là những thỏa thuận làm phát sinh những hệ quả nhưng khôngđược pháp luật bảo hộ bằng phương thức kiện Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
Trang 12Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
và xã hội dần dần một số giao ước được pháp luật bảo hộ trong các trường họp riêng
biệt như các giao ước được quan tòa bảo hộ như giao ước bổ sung cho khế ước, giaoước với chủ nhà trọ, chủ nhà băng
+ Khế ước là những thỏa thuận được pháp luật bảo hộ thông qua các hình thứcthực hiện, những thỏa thuận được coi là khế ước, được pháp luật ghi nhận, các bênkhông có quyền coi những “ thỏa thuận” nào là khế ước mà chỉ những thỏa thuậnđược pháp luật thừa nhận
về hình thức hợp đồng, luật La Mã quy định các hình thức hợp đồng miệng vàhình thức hợp đồng viết Họp đồng miệng là hợp đồng phát sinh nghĩa vụ sau khi cácbên đã tuyên bố những câu nhất định Hợp đồng miệng được thực hiện dưới hai dạng,
là dạng câu hỏi - trả lời và dạng thề
+ Thứ nhất, dạng câu hỏi - trả lòi: chủ nợ đặt câu hỏi và con nợ trả lời phù hợpvới câu hỏi đó thì hợp đồng được tạo lập và phát sinh nghĩa vụ cũa các bên Nhữngcâu hỏi và câu trả lời được thể hiện dưới công thức nhất định và phải có sự trùng hợpgiữa câu hỏi và câu trả lời Neu không có sự trùng hợp thì nghĩa vụ không đơực tạolập Đối với các họp đồng được tạo lập thông qua việc hỏi đáp phải được thông quachính người có nghĩa vụ, không được thông qua người đại diện, trong đó mỗi bênthực hiện các nghĩa vụ riêng lẽ một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ tương ứng
+ Thứ hai, họp đồng miệng được thực hiện dưới dạng thề Dạng thề có sử dụngcân lường - vật biểu tượng cho công lý, chủ yếu áp dụng cho các hợp đồng vay Chủ
nợ, con nợ đều cầm những vật đó và thề trước những người làm chứng cam kết sẽthực hiện đúng nghĩa vụ
Hợp đồng viết là những hợp đồng được xác lập thông qua hình thức vãn bản.Nghĩa vụ phát sinh từ vãn bản như thư từ, tài liệu Vào thời kĩ cộng hòa hình thứcđược thiết lập thông qua các quyền sổ thu - chi mà công dân La Mã sử dụng Thựcchất đây là nghĩa vụ tồn tại phát sinh từ những căn cứ khác nhau (mua bán, chovay ) trong đó được ghi tại các khoản nợ Đây là chứng cứ để chủ nợ khởi kiện con
nợ vì cũng là chứng cứ chứng minh quyền tài sản của mình Vào thời kì cổ điển hìnhthức dạng thu - chi dần dần được thay thế bằng giấy ghi nhận nợ, hình thức này chínhxác, thuận tiện hơn Hình thức này cũng có hai dạng:
Trang 13+ Dạng thứ nhất là có một người thứ ba ghi nhận sự kiện: “Ai đó nợ ai đó bao
nhiêu”, hình thức này có người làm chứng, những người làm chứng ký vào giấy vay
nợ Người ghi nhận sự kiện cũng ký tên vào
+ Dạng thứ hai là chình chủ nợ ghi nhận sự kiện Sau đó con nợ ký vào giấyvay nợ, ví dụ: “Tôi là cho vay khoản tiền là ” hoặc con nợ tự mình xác nhận nợ
và ký vào giấy nhận nợ, vi dụ: “ Tôi là nợ của ai khoản tiền là ”
Dù xã hội lúc bấy giờ còn rất sơ khai nhưng pháp luật thời kỳ này có bước pháttriển vượt bậc, đặt nền móng cho chế định hợp đồng ngày nay, pháp luật lúc bấy giờ
đã ghi nhận hình thức hợp đồng Ở Việt Nam, quá trình phát triển của chế định hợpđồng cũng ngày càng phát triển với xu hướng ngày càng nâng cao vai trò, vị trí của nótrong hệ thống pháp luật Hợp đồng trong thời kỳ luật cổ Việt Nam sẽ được ghi nhậndưới hình thức nào, ra sao?
1.2.2 Hình thức hợp đồng trong luật cổ Việt Nam
1.2.2.1 Thời nhà Lê
Thời Lê là một trong những thời kì có vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành vàphát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Đây là thời kì đất nước ổn định, pháttriển, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị Hoạt động lập pháp dướithời Lê rất được coi trọng Đây là thời kĩ mà luật pháp Việt Nam đạt được nhiều thànhtựu quan trọng và giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử nhà nước và pháp luật ViệtNam Bộ Quốc Triều Hình Luật (luật Hồng Đức) ra đời có gía trị cao nhất, đánh dấumột bước ngoặc quan trọng trong hệ thống pháp luật Bộ luật ra đời trên cơ sở sưutầm, soạn thảo, bổ sung những luật lệ đã ban hành từ nhiều năm trước Bộ luật đượcđánh giá cao không chỉ vì có quy mô lớn, nội dung phong phú mà còn có giá trị tưtưởng mang tính dân tộc, nhân đạo và tiến bộ
Trong Quốc Triều Hình Luật không sử dụng khái niệm hợp đồng hay vãn khế
mà thường dùng các khái niệm cụ thể như bán, cho, cầm Có tính khái quát hơn kháiniệm văn khế Tuy không có khái niệm về các định nghĩa nêu trên trong bộ luật nhưng
tư tưởng “thỏa thuận”, “thuận mua vừa bán” đã được thể hiện rất rõ Đây là một trong
Trang 14Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
Quốc Triều Hình luật qui định về hình thức đối với những khế uớc có giá trị tài sản
tuơng đối lớn, không phân biệt động sản hay bất động sản Theo điều 366 Quốc TriềuHình Luật “ vãn tự là bằng chứng chứng minh khi xảy ra tranh chấp” Bộ luật quyđịnh các bên chỉ lập một bản và do một bên giữ Quy định trên không hợp lý, thiếucông bằng sẽ dẫn đến truờng họp một bên lợi dụng quy định này cố ý hủy vãn tự haykhi vãn tự bị mất thì sẽ rất khó khăn cho việc chứng minh, quyền và nghĩa vụ củacác bên không đuợc đảm bảo
Trong trường hợp giao kết khế ước vói người không biết chữ, trong trường hợpnày bộ luật quy định có thể nhờ người đại thư hay đại tả viết thay Việc viết thay văn
tự phải có người chứng kiến nhằm đảm bảo tính khách quan, công minh nên đã khẳngđịnh vai trò của người đại tả và người làm chứng Người chứng kiến có nhiệm vụcông nhận tính xác thực trong văn tự mà người đại tả đã viết thay cho người giao kếthợp đồng do không biết chữ Ngoài ra pháp luật còn quy định chặt chẽ trách nhiệmcủa mỗi người khi vi phạm nghĩa vụ của mình Neu làm vãn tự giả mạo và sửa chữavãn tự thì người chủ và người viết tay phải chịu tội làm lính chuồng voi, còn ngườilàm chứng bị giáng xuống hai bậc Trong trường hợp việc giả mạo có kèm theo sựtranh giành tài sản thì người chủ và người viết thay phải bồi thường gấp đôi số tài sảntranh chấp, còn người làm chứng phải bồi thường một phần ba (Điều 534 Quốc TriềuHình Luật) Hình thức khế ước thời nhà Lê được quy định cụ thể, nhưng hình thứckhế ước thời nhà Nguyễn được quy định ra sao?
1.2.2.2 Thời nhà Nguyễn
Thời nhà Nguyễn là thời đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tồn tại từ năm
1802 đến năm 1945 Sau khi lên ngôi vua Gia Long đã ra chỉ dụ cho các quan đại thầnxem xét lại bộ luật Hồng Đức và luật Đại Thanh để soạn thảo một bộ luật thích hợp.Năm 1812 bộ Hoàng Việt Luật Lệ ( bộ luật Gia Long) được ban hành Cũng nhưtrong Quốc Triều Hình Luật, Hoàng Việt Luật Lệ không sử dụng khái niệm hợp đồnghay khế ước mà thường sử dụng các khái niệm cụ thể như: Mua bán, vay nợ, thuê Hình thức của khế ước, trong bộ luật Gia Long không có quy định nào về bình thứccủa khế ước Nhưng về nguyên tắc và thực tế thì các bên có thể lựa chọn hình thứccủa khể ước Trong thực tể đối với những vật có giá trị như ruộng đất, nhà ở, trâubò hoặc là một số tiền lớn thì các bên thường lập thành một văn bản để làm chứng
Trang 15và do người trái chủ giữ Trong trường hợp không biết chữ các bên ký vào văn tự
hoặc điểm chỉ
1.2.3 Hình thức hợp đồng trong luật cận đại Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc nước ta bị chia cắt thành các vùng lãnh thổ có chế độchính trị khác nhau Tương ứng các chế độ chính trị khác nhau, các bộ luật riêng biệtcũng được ban hành cho mỗi vùng lãnh thổ Hầu hết các bộ luật này chịu ảnh hưởngbởi kỹ thuật pháp lý phương Tây về nội dung cũng như hình thức
Tại Nam Kỳ là vùng đất thuộc địa của Pháp, quyền lập pháp nằm trong tayngười Pháp và được thực hiện bằng sắc lệnh của tổng thống Pháp, sắc lệnh ngày3/10/1883 đã cho ra đời Bộ Dân luật giản yếu về bố cục lẫn nội dung Bộ Dân luậtgiản yếu theo đúng Bộ Dân luật Pháp Bộ luật này không có đề cập đến vấn đề hợpđồng cũng như về hình thức của hợp đồng; Ở Bắc Kỳ, nổi bật trong hê thống phápluật trong giai đoạn này là Bộ Dân luật Bắc Kỳ, bộ luật này có quy định về chế địnhhợp đồng; Tại Trung Kỳ các quy định về pháp luật dân sự tuân theo Bộ Hoàng ViệtTrung Kỳ hộ luật Đây là bộ luật sao chép của Bộ Dân luật Bắc Kỳ nhưng có sửa đổi,
bổ sung một số điều
Khác với Quốc Triều Hình luật và Bộ luật Gia Long, Bộ Dân luật Bắc Kỳ vàHoàng Việt Trung Kỳ hộ luât đã đưa ra khái niệm pháp lý về khế ước (Điều 664 BộDân luật Bắc Kỳ; Điều 680 Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) Khế ước là một hiệp ướccủa một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, đểlàm hay không làm cái gì Thông qua khái niệm này thì ta thấy khế ước thực chất là
sự thỏa thuận giữa ít nhất hai người để xác lập quyền và nghĩa vụ của người này đốivới người khác và ngược lại Từ đó tài sản được chuyển giao từ người này sang ngườikhác, một việc được thực hiện hoặc không được thực hiện
về hình thức của khế ước được quy định cụ thể trong một số khế ước thôngdụng lúc bấy giờ, là khế ước sinh thời tặng dữ (Điều 684 - 867 Bộ Dân luật Bắc Kỳ
và điều 95 -994 Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) Sinh thời tặng dữ là một khế ước dobên tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản để cho bên người thụ tặng nhận lấy Pháp luậtthời này quy định việc tặng dữ tài sản là bất động sản phải lập thành văn bản có chứngnhận của viên chức thị thực trước mặt của người thụ tặng và người thụ tặng phải đồng
ý mới có hiệu lực Việc tặng dữ là động sản hoặc tiền bạc không đòi hỏi phải có hình
Trang 16Điều 1 pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 25/9/1989
Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
thỏa thuận lập thành vãn bản để làm bằng chứng có chứng nhận của viên chức thị
thực, quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của nguời thụ tặng Các loại khế uớc khácnhu: Khế uớc mãi mại, khế uớc thuê cố vật, khế uớc thuê nhân công Hình thức hợpđồng trong thời kỳ này trở về truớc đã đuợc quy định nhưng mập mờ, thiếu sót Vàhình thức hợp đồng sẽ được quy định rõ ràng, đa dạng hơn trong thời kỳ luật ViệtNam hiện đại
1.2.4 Hình thức hợp đồng trong luật Việt Nam hiện đại
1.2.4.1 Giai đoạn từ sau năm 1945 đến những năm 1980
Trong thời gian này nước ta không có điều kiện đề xây dựng luật pháp nênngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban sắc lệnh số 90/SL giữ tạm thời cácluật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Kỳ cho đến khi ban hành những bộ luật mới ápdụng trên toàn quốc Phù hợp với quy định của sắc lệnh Bộ Dân luật giải yếu Nam Kỳ(1883), Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931), Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật (1936) vẫn cóhiệu lực thi hành Nhìn chung trong giai đoạn này chế định họp đồng không có gì nổibật
1.2.4.2 Giai đoạn từ những năm 1980 đến nay
Nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, chú họng đến việc xây dựngpháp luật Một loạt vãn bản về họp đồng hoặc liên quan chủ yếu đến hợp đồng đãđược ban hành trong thời gian này Vãn bản pháp luật đầu tiên được ban hành là pháplệnh Hợp đồng kinh tế ( 28-9-1989 ) Đây là văn bản đầu tiên của nước Cộng Hòa XãHội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định về hợp đồng Pháp lệnh đã đưa ra khái niệm vềhợp đồng kinh tế và hình thức của họp đồng kinh tế Theo pháp lệnh thì “Hợp đồngkinh tế là sự thỏa thuận bằng vãn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việcthực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng khoahọc kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràngquyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”1 Hợpđồng kinh tế được ký kết bằng vãn bản, tài liệu giao dịch: Công vãn, điện báo, đơnchào hàng, đơn đặt hàng
Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các quan hệ hợp đồng dân sự trong điều kiệnphát hiển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu
Trang 17thông hàng hóa Ngày 26/3/1991 nhà nước ta đã ban hành pháp lệnh hợp đồng dân sự
có hiệu lực 1/7/1991 Hình thức hợp đồng dân sự theo quy định pháp lệnh này có hailoại miệng hoặc bằng vãn bản Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật có quy địnhphải lập thành văn bản, có đãng ký hoặc chứng thực của cơ quan công chứng nhànước thì phải tuân theo quy định đó
Tất cả các pháp lệnh và văn bản có liên quan về hợp đồng kinh tế và hợp đồngdân sự đều hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/1996 sau khi Bộ luật Dân sự 1995 cóhiệu lực thi hành Bộ luật được thông qua vào ngày 28/10/1995 Quốc hội khóa IX , kỳhọp lần thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/1996 Đây là bộ luật Dân sự đầu tiêncủa Việt Nam được ban hành sau khi thống nhất đất nước, là thành tựu lớn nhất 10năm xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại Bộ luật Dân sự năm 1995quy định hợp đồng dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằnghành vi cụ thể Hình thức của hợp đồng là một trong những điều kiện có hiệu lực củahợp đồng Tuy có nhiều ưu điểm nổi bật nhưng sau nhiều năm thi hành Bộ luật Dân
sự 1995 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số quy định không phù hợp với thực tế
xã hội, lạc hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thế giới, còn tồntại nhiều quy định không rõ ràng, thiếu cụ thể, chồng chéo với các vãn bản pháp luậtkhác có liên quan Trong số đó có quy định về hình thức hợp đồng dân sự
Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005 là tất yếu và cần thiết, đáp ứng yêu cầu
xã hội lúc bấy giờ và trong tương lai Bộ luật Dân Sự 2005 được Quốc Hội thông quavào ngày 14/6/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006 trên cơ sở kể thừa nhữngnguyên tắc và nội dung Bộ luật Dân sự năm 1995 về hình thức hợp đồng, Bộ luậtDân sự năm 2005 sửa đổi theo hướng các bên có được lựa chọn hình thức hợp đồng,việc lựa chọn hình thức họp đồng bị loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định
về một hình thức cụ thể bắt buộc Bộ luật năm 2005 quy định các hình thức hợp đồngtheo hướng đa dạng hơn để phù hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cácgiao dịch dân sự hiện nay và trong tương lai
1.3 Chế định pháp lý về hình thức hợp đồng dân sự của Việt Nam
Pháp luật thừa nhận họp đồng dân sự có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khácnhau Tùy theo tính chất của đối tượng hợp đồng và nhu cầu quản lý của Nhà nước
mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức hợp đồng Bộ luật Dân
sự năm 1995 cũng như bộ luật dân sự năm 2005 hiện hành quy định hình thức hợp
Trang 18Khoản 2 Điều 145 Bộ luật Dân sụ năm 1995
Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
đồng dân sự phong phú, đa dạng: Có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao
dịch Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày củacuộc sống và thông thuờng giá ữị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằnglời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực Tuynhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉcần một bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể, ví dụ nhu viết dichúc Quy định này của bộ luật Dân sự là sự kết hợp hài hòa giữa phong tục, tập quánkhi giao kết hợp đồng vói nguyên tắc pháp lý hiện đại Đối với những hợp đồng màpháp luật quy định bắt buộc phải tuân theo một hình thức nhất định là phải bằng vănbản và có công chứng, chứng thực thì các bên phải tuân theo hình thức đó
1.3.1 Hình thức hợp đồng theo quỵ định Bộ luật Dân sự năm 1995
Theo Bộ luật Dân sự năm 1995 thì hợp đồng dân sự có thể đuợc giao kết bằnglời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể Hình thức hợp đồng dân sự quy định ởnhiều điều luật, ngoài điều 400 mà còn tại điều 133 quy định: “ Giao dịch dân sự đuợcthể hiện bằng lời nói, bằng vãn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trong truờng hợp phápluật có quy định giao dịch dân sự phải đuợc thể hiện bằng vãn bản, phải đuợc côngchứng nhà nuớc chứng nhận, đuợc chứng thực, đãng ký hoặc phải xin phép, thì phảituân theo các quy định đó” Bởi vì hợp đồng dân sự là một dạng của giao dịch dân sự:
“ Giao dịch dân sự là họp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phuơng, làm phát sinh, thayđổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, có thể nói hợp đồng dân sự cũng là một giaodịch dân sự nhưng không phải giao dịch nào cũng là hợp đồng dân sự Bộ luật dân sự
1995 quy định hình thức bằng văn bản của hợp đồng, hình thức này chỉ dừng lại ở loạiđược thể hiện trên giấy, chia ra làm hai loại là vãn bản thông thường và văn bản cócông chứng hoặc chứng thực
Bộ luật Dân sự 1995 coi việc vi phạm về hình thức là nghiêm họng, giống như
vi phạm những điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, hay do giả tạo Bộ luậtDân sự năm 1995 quy định: “ Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều
137, Điều 138, Điều 139 của Bộ luật này thì thời gian yêu cầu tòa án tuyên bố giaodịch vô hiệu không hạn chế”2 Như vậy, bất cứ lúc nào các bên đương sự cũng cóquyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hìnhthức Theo quy định của Bộ luật Dân sự 1995 dẫn đến sự khó khăn cho Tòa án trong
Trang 19việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng, nhất là các tranh chấp đất đai
và nhà ở Vì trong giai đoạn này trên thực tể có nhiều giao dịch liên quan đến việcchuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trongthực tế có nhiều giao dịch đất đai, nhà ở thường lập bằng vãn bản có chữ ký hai bênnhưng không theo một hình thức nhất định Theo thời gian giá trị của đất đai sẽ tăngcao, khi ấy một số người lợi dụng quy định của pháp luật để yêu cầu tuyên bố giaodịch đó vô hiệu do không tuân theo hình thức luật định Luật dân sự tôn trọng nguyêntắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng dân sự, quy định này Nhànước can thiệp quá sâu, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự do hợp đồng và làmcản trở sư phát triển của các quan hệ pháp luật tư vì đã hạn chế sự tự do ý chí của cácbên Tự do ý chí không chỉ là tự do tự nguyện thỏa thuận xác lập các điều khoản củahợp đồng mà còn là tự do trong việc lựa chọn hình thức biểu hiện của tự do ý chí đó.Như vây, Nhà nước không bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho người dân Trongquá trình áp dụng những nhà làm luật nhận thấy đây là một trong những khuyết điểmcủa Bộ luật Dân sự năm 1995
1.3.2 Hình thức hợp đồng quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005
Bộ luật Dân Sự năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ, nhiều ưu điểm vượt trội hơn
so với Bộ luật Dân Sự năm 1995 Bộ luật đã bỏ những câu chữ thừa quy định về hìnhthức họp đồng dân sư năm 1995 ở đoạn 2 khoản 1 Điều 400 “ khi các bên thỏa thuậngiao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì hợp đồng được coi như đã giao kếtkhi đã tuân theo bình thức đó” Bộ luật năm 2005 có một số điểm tiến bộ, chẳng hạnquy định về hình thức bằng vãn bản của hợp đồng Bộ luật dân sự 1995 quy định hìnhthức bằng văn bản của hợp đồng, hình thức này chỉ dừng lại ở loại được thể hiện trêngiấy Trong khi đó, với việc tiến bộ của khoa học,kỹ thuật, công nghệ ngày nay cáchợp đồng dân sự không chỉ dừng lại các bên tham gia quan hệ hợp đồng gặp gỡ trựctiếp rồi cùng ký kết hay gửi họp đồng đó qua đường bưu điện để đề nghị đối tác kýkết hợp đồng, mà các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự thông qua phươngtiện điện tử bằng hình thức thông điệp dữ liệu Sử dụng hình thức này các bên thamgia vào giao dịch dân sự tiết kiệm được rất nhiều thời gian mà giá trị của chúng giốngnhư hợp đồng bằng văn bản gặp gỡ trực tiếp hay gián tiếp khác Cho nên, Bộ luật Dân
sự năm 2005 đã ghi nhận hình thức của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân
sự nói riêng “ Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông
Trang 20Đoạn 2, Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2005
4 Điều 322 Bộ luật Dân sự năm 1995
6 Đoạn 2 Khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005
Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng vãn bản”3 Ta thấy rằng, với Bộ luật Dân sự
năm 2005 quyền tự do lựa chọn về hình thức của hợp đồng được khẳng định, Bộ luật
đã mở rộng khái niệm hình thức hợp đồng bằng “ vãn bản”, để giúp các bên có nhiềulựa chọn để tham gia giao kết hợp đồng Theo quy định của pháp luật Dân sự hiệnhành thì một số hợp đồng trước kia chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự năm 1995,phải tuân thủ một hình thức nhất định thì ngày nay không được lập dưới hình thức nàynữa Chẳng hạn như “ Việc chuyển giao nghĩa vụ phải lập thành vãn bản”4, ta có thểhiểu rằng việc quy định này chỉ có thể lập bằng vãn bản, không thể nào lập bằng lờinói Như vậy, việc quy định trên hạn hẹp hơn so với quy định trong bộ luật Dân sựnăm 2005 “ Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự được thể hiện bằng văn bản hoặc bằnglời nói”5
Điểm khác nhau nữa, theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005: “ Hợpđồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp phápluật có quy định khác”6 Theo quy định này thì hình thức của hợp đồng dân sự chỉ làđiều kiện có hiệu lực của họp đồng khi pháp luật có quy định Có nghĩa, khi một hợpđồng vi phạm về hình thức mà pháp luật có quy định, hợp đồng này không đươngnhiên vô hiệu, nó vẫn có giá trị và làm phát sinh quyền - nghĩa vụ của các bên tronghợp đồng, trừ khi pháp luật quy định hợp đồng này vô hiệu Dù giao dịch dân sự có viphạm điều kiện về hình thức mà các bên không khởi kiện, yêu cầu Toà án tuyên bốgiao dịch dân sự vô hiệu về hình thức, thì Toà án không xem xét; nếu trường hợpđương sự yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về hình thức thì theoquy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự, thời gian tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do
vi phạm về hình thức là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, quá thờihạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp nhận yêu cầu đó Theo quy địnhtại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là họp đồng dân sự Ví dụ: ngày01/01/2005, Hai bên ký kết hợp đồng mua bán nhà đất Hợp đồng này chỉ vi phạmđiều kiện về hình thức nhưng đến ngày 20/01/2007 (quá hai năm) một bên khởi kiện
ra Toà án yêu cầu Toà án tuyên bố họp đồng mua bán nhà đất vô hiệu thì Toà án bácyêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán Tuy nhiên nếu ngày 01/10/2006 (trong
Trang 21thời hạn 2 năm) mà họ có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về
hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định buộccác bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn 1 tháng Quá thờihạn đó mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong truờng hợpnày bên nào có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu sẽ phải bồi thuờng thiệt hại chobên kia Nhu vậy, Toà án chỉ áp dụng Điều 134 Bộ luật Dân sự buộc các bên thựchiện quy định về hình thức của giao dịch khi đuơng sự khởi kiện còn trong thời hiệutheo quy định của Điều 136 Bộ luật Dân sự
1.4 Tầm quan trọng quy định của pháp luật về hình thức họp đồng dân sự
Hình thức là một yếu tố pháp lý quan họng của hợp đồng, có quan hệ biệnchứng với bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của họp đồng, và
là phuơng tiện để diễn đạt ý chí của các bên, cũng nhu để chứng minh sự tồn tại củahợp đồng Nguời ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không đuợc thểhiện dưới một hình thức xác định Hình thức là một trong những điều kiện để hợpđồng được giao kết, luôn tồn tại, gắn liền với hợp đồng Theo thời gian hình thức hợpđồng không phai nhạt, mất đi mà hình thức luôn phát hiển và ngày càng được xemhọng trong thời đại ngày nay Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, về phưong diện lậppháp, dù muốn hay không, ít hay nhiều, yếu tố hình thức hợp đồng phải được xemhọng đúng mức nhằm bảo vệ trật tự công cộng và ổn định các giao lưu dân sự; đồngthời qua đó cũng nhằm để bảo vệ đúng mức quyền lợi chính đáng của các bên thamgia giao kết hợp đồng
Thứ nhất, Tầm quan trọng của các quy định về hình thức của hợp đồng có vai
trò không thể thiểu trong việc diễn đạt ỷ chỉ và công bổ của các bên Ý chí của các
bên thống nhất cùng nhau khi tham gia giao kết hợp đồng và đó chính là bản chất cácloại hợp đồng, ý chí đó không thể nào bày tỏ ra bên ngoài nếu như chúng không diễnđạt dưới một hình thức nhất định Theo quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005 thì:
“ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấmdứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Bên này muốn thể hiện mong muốn và mục đích củamình thì họ tìm cách thể hiện ý chí của mình với bên kia bằng cách thiết lập hợpđồng, sự thiết lập này tuân theo một hình thức nào đó bằng sự thỏa thuận của hai bênchủ thể Hình thức hợp đồng là một trong những yếu tố pháp lý quan họng thể hiệntính chất, nội dung, phạm vi, sự tồn tại giữa các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp
Trang 22Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
luật về hợp đồng đối với hai bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Hình thức họp
đồng là phưong tiện diễn đạt và công bố ý chí của các bên tham gia giao kết hợpđồng, giúp cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đi đến thiết lập được hợpđồng Khẳng định tầm quan trọng của yếu tố hình thức đối với hợp đồng dân sự trongviệc diễn đạt, công bố ý chí cùng nhau làm cho hợp đồng được thiết lập dưới một hìnhthức thích hợp nào đó đối với các bên chủ thể
Thứ hai, quy định về hình thức hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các bên tham
gia giao kểt hợp đồng được tự do lựa chọn hình thức hợp đồng, tự do ỷ chỉ phù hợp với hoàn cảnh, mục đích của giao dịch, hạn chế tranh chấp và giải quyết tranh chấp xảy ra Theo pháp luật hiện hành, pháp luật tạo điều kiện cho các bên tự do lựa chọn
hình thức phù hợp khi các bên tham gia giao kết hợp đồng Theo Điều 401 BLDS năm
2005 quy định: “Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng vãn bảnhoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải đượcgiao kết bằng một hình thức nhất định Trong trường hợp pháp luật có quy định hợpđồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đãng kýhoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó” Trong quá trình đàm phán, thưongthảo để ký kết hợp đồng, mỗi chủ thể đều có ý chí của mình, khi ý chí của các bên có
sự trùng hợp thì coi là có sự thỏa thuận và hợp đồng được ký kết Sự trùng hợp ý chíhay nói cách khác sự thỏa thuận của các bên được thể hiện bằng những hình thức khácnhau tùy thuộc vào ý chí của họ: Có thể bằng lời nói, có thể bằng hành vi, có thể bằngvãn bản Các hình thức thể hiện ý chí đó được gọi là hình thức của hợp đồng Theonguyên tắc thì các bên có quyền lựa chọn hình thức thể hiện ý chí của họ và đó cũng
là một trong những nội dung tự do hợp đồng - tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng.Tùy điều kiện, hoàn cảnh, giá trị, sự phức tạp của hợp đồng mà các bên lựa chọn hĩnhthức phù họp Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có nhiều giao dịch đơn giản, giátrị của các giao dịch đó nhỏ chúng ta có thể lựa chọn hình thức giao dịch bằng lời nóihoặc bằng hành vi cụ thể để giúp những giao dịch đó nhanh hơn không phải mất nhiềuthời gian, công sức Đối với những tài sản có giá trị lớn khi các bên tham gia giao kếthợp đồng họ thường chọn hình thức hợp đồng bằng văn bản để đảm bảo cho việc thựchiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, bên có quyền có thể yên tâm hơn Đối với nhữnghợp đồng có tính chất quan trọng cần có sự quản lý của Nhà nước, thì hợp đồng đóphải thể hiện dưới hình thức bằng vãn bản có công chứng hoặc chứng thực để hạn chế
Trang 23xảy ra tranh chấp, bảo vệ trật tự xã hội, chẳng hạn như hợp đồng chuyển nhựơng
quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà
Thứ ba, hình thức hợp đồng là cơ sở để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng Pháp luật quy định trong một số trường hợp thì hình thức của hợp đồng là điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng Đối vói việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợpđồng là rất quan trọng, vì quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh và pháp luật bảo vệ
kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thờiđiểm phát sinh hiệu lực của mỗi hình thức hợp đồng được xác định vào thời điểmkhác nhau, thời điểm này không chỉ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bêm mà cònthụ thuộc vào từng loại hình thức hợp đồng Theo Điều 404 BLDS năm 2005: “Hợpđồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhậngiao kết Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bênnhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giaokết Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận vềnội dung của hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồng bằng vãn bản là thời điểm bênsau cùng ký vào vãn bản” Chẳng hạn như hợp đồng thiết lập với hình thức bằng lờinói hoặc bằng hành vi cụ thể thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là lúc hai bêntrực tiếp thỏa thuận xong nội dung chủ yếu trong hợp đồng Hợp đồng bằng vãn bảnthường có hiệu lực khi bên sau cùng ký vào văn bản Còn đối với họp đồng có côngchứng, chứng thực hoặc xin phép thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm
đã công chứng, chứng thực hoặc xin phép Quy định về hình thức hợp đồng có vai tròquan họng trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, là căn cứ pháp lýxác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng
Thứ tư, hình thức hợp đồng cỏ vai trò quan trọng trong tổ tụng dân sự Hình
thức hợp đồng là bằng chứng để thể hiện ý chí của các bên, là cơ sở chứng minh sựtồn tại của hợp đồng, cho các bên thực hiện hợp đồng và là điều kiện giải quyết khitranh chấp xảy ra Tùy từng trường hợp cụ thể của từng loại hợp đồng mà pháp luậtquy định cụ thể từng loại hình thức của hợp đồng, hình thức của hợp đồng có thể thểhiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, hay bắt buộc thể hiện bằngvãn bản hoặc bằng hình thức khác như: điện báo, telex, fax thì bản sao hợp đồng,vãn bản có chữ ký của các bên, văn bản được công chứng hoặc chứng thực là bằngchứng hữu hiệu nhất để chứng minh cho sự giao kết hợp đồng của các đương sự Theokhoản 1 Điều 79 Bộ luật Tố Tụng Dân sự năm 2004 quy định: “ Đương sự có yêu cầu
Trang 24Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng
minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”, và bằng chứng nói trên là hình thứccủa hợp đồng, nhưng hình thức nào là bằng chứng hữu hiệu nhất phụ thuộc vào độ tincậy của hình thức đó Theo quy định của pháp luật tất cả những hình thức của hợpđồng đều có giá trị pháp lý ngang nhau, nhưng khi tranh chấp phát sinh hình thức nào
có giá trị chứng minh cao hơn? Tất nhiên trên thực tế hình thức hợp đồng bằng vănbản sẽ được bảo vệ giá trị cao hơn Như thế bên có quyền sẽ được bảo vệ quyền lợinhiều hơn
Thứ năm, với hình thức hợp đồng, Nhà nước ta thực hiện chính sách quản lý
nhà nước, bảo vệ trật tự công cộng Trong quan hệ hợp đồng không chỉ ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng mà còn có vai trò quantrọng trong việc bảo vệ trật tự công cộng và ổn định các giao lưu dân sự Hình thứchợp đồng có tầm quan họng trong việc Nhà nước quy định hình thức của hợp đồngphải lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, hợp đồng mẫu để Nhà nướcthực hiện chính sách quản lý, bảo vệ trật tự công cộng
Trang 25CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN sự VÀ HỆ QUẢ VIỆC VI PHẠM VÈ
HÌNH THỨC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Với đề tài hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn, ở chương này ngườiviết chủ yếu phân tích các loại hình thức hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Namhiện hành, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng liên quan đến hình thức hợp đồng và
có công chứng hoặc chứng thực, vãn bản phải xin phép hay đăng ký với cơ quan Nhànước có thẩm quyền Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Giao dịch dân sự được thểhiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thôngqua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịchbằng văn bản Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thểhiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xinphép thi phải tuân theo các quy định đó”7 Và “ Hợp đồng dân sự có thể được giaokết bằng lời nói, bằng vãn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy địnhloại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định Trong trường hợppháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng vãn bản có công chứng hoặcchứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó Hợp đồngkhông bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác”8.Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bênngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng làphương tiện ghi nhận nội dung mà các bên chủ thể đã xác định Tùy thuộc vào nộidung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau màcác bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng phù hợpvới từng trường hợp cụ thể
Trang 26Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
2.1.1 Hình thức hợp đồng bằng lời nói
Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngônngữ nói, bằng lời hay còn gọi là hợp đồng miệng Theo đó, các bên giao kết hợp đồngtrao đổi với nhau bằng lời nói, trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm đểdiễn đạt tư tưởng và ý muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng
Thông qua hình thức này các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệngvói nhau về nội dung co bản của hình thức Trừ những loại hợp đồng pháp luật quiđịnh hình thức bắt buộc, các hợp đồng đều có thể được lập bằng lời nói Tuy vậy, đểtránh trường hợp các bên liên quan phủ nhận sự tồn tại của hợp đồng, chỉ nên sử dụnghình thức hợp đồng bằng lời nói để giao kết các hợp đồng có giá trị không lớn, vớinhững người thân quen có sự tin cậy lẫn nhau, hoặc những hợp đồng được thực hiện
và chấm dứt ngay lập tức, như hợp đồng mua bán tiêu dùng hàng ngày, hợp đồngdịch vụ thông thường trong đời sống ( vui chơi, giải trí, vận chuyển nhanh như xe ôm,taxi ) Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưuđiểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sửdụng rất phổ biến trong giao dịch dân sự, nhưng ít được sử dụng hơn trong giao dịchthương mại vì trong giao dịch thương mại thường giá trị tài sản lớn, mang tính chấtphức tạp Cũng vi sự tiện lợi của cách thức giao kết này mà trên thực tế, có nhiềuhợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng vãn bản hoặc bằng vãn bản có công chứng hoặcchứng thực ( chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê bất động sản),nhưng để giản tiện, các bên cũng thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã dẫn đếnnhững tranh chấp rất khó giải quyết
2.1.2 Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể
Với ý nghĩa là phương tiện công bố ý chí của các bên hợp đồng, hình thức củahợp đồng còn bao gồm cả việc biểu hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài bằng một hành
vi cụ thể - đó là hành động, là xử sự có ý thức của các bên Hành vi cụ thể là một hìnhthức thể hiện của hợp đồng, hiểu theo nghĩa hẹp Bởi lẽ, việc tuyên bố ý chí bằng lờinói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều bằng hành vi của con người Tuy vậy,
Trang 27nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng
hành vi, hoặc không đưa ra một yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận.Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên ngoài khá đa dạng.Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thông dụng, được thựchiện ngay, và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại nơigiao dịch được xác lập Ví dụ: Hành vi đến Siêu thị lấy đồ rồi đi đến quầy tính tiền,hành vi mua báo hay mua vé số của người bán “dạo” hay mua hàng của người bánhàng “rong”, hành vi mua hàng trong các quán ăn tự phục vụ, với món ăn tự chọnđược làm sẵn Trong những trường hợp này, bên có hành vi xác lập họp đồng đãhiểu rõ nội dung và các điều kiện của hợp đồng, còn bên kia cũng chấp nhận cáchthức giao dịch bằng hành vi cụ thể đó Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể cũngđược sử dụng phổ biến trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng màbên cung cấp dịch vụ đã có qui chế hoạt động rõ ràng đã được công bố, hoặc giữa cácbên đã có sự thỏa thuận về việc một bên chấp nhận hành vi cụ thể của bên kia như làmột hình thức giao kết, thực hiện hợp đồng theo những qui ước, những điều kiện vềpháp lý và kỹ thuật mà các bên đã cam kết chấp nhận Ví dụ: hành vi lựa chọn hànghóa và thanh toán tiền khi mua hàng tại siêu thị, hay mua hàng qua máy bán hàng tựđộng, mua vé trên xe buýt bằng máy bán vé tự động, gọi điện thoại công cộng thanhtoán bằng thẻ
Trong nhiều trường hợp, khi một bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kết hợpđồng từ phía bên kia và thể hiện đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đãchuyển tín hiệu đồng ý đến cho bên kia biết, thì hành vi cụ thể đó cũng được coi nhưhình thức biểu hiện của họp đồng Ví dụ: A hỏi mượn xe của B, tuy B không trả lờiđồng ý bằng lời nói hay vãn bản, nhưng B đã tự mang xe đến giao cho A, thì hành vicủa B giao xe cho A là hành vi xác lập hợp đồng; hoặc A muốn gửi xe cho B trông hộ
và mang xe đến chỗ của B, nhưng B không trả lời cụ thể mà chỉ gật đầu Trong ví dụtrước, hành vi giao xe là hành vi thể hiện “rõ ràng” ý chí của B Trong ví dụ sau, hành
vi “gật đầu” của B, theo lẽ thông thường, có thể được hiểu là sự đồng ý, tức hoàn toànchấp nhận xác lập hợp đồng và hai bên biểu lộ thái độ không phản đối
2.1.3 Hình thức hợp đồng bằng văn bản
Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng vãn bản là hình thức các bên tham
Trang 28Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
cùng ký tên vào văn bản đó Văn bản là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên
một chất liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc,lưu giữ và bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó Khác với hợp đồng bằng lời nóivốn không để lại bằng chứng rõ ràng, thì họp đồng bằng vãn bản đảm bảo sự thể hiện
rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bênmuốn cam kết Ngoài ra, hợp đồng bằng vãn bản cũng có thể trở thành bằng chứnghữu hiệu khi các bên xảy ra tranh chấp, vì đây là hình thức có khả năng lưu giữ được
ở trạng thái gần như nguyên vẹn, trong một thời gian dài Bởi vậy, các hợp đồng quantrọng, hoặc có giá trị lớn, hoặc có nội dung phức tạp, hoặc có thời hạn thực hiện lâudài thì thường được các bên chọn cách thể hiện bằng văn bản
Vãn bản hợp đồng là vãn bản ghi nhận lại toàn bộ nội dung mà các bên đã thỏathuận và đi đến thống nhất Hợp đồng được ký kết theo nguyên tắc tự do thỏa thuậnbình đẳng nên nội dung của mỗi hợp đồng cụ thể có sự khác nhau, vì chúng phụ thuộcvào ý chí của các bên, điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác nhau theo Bộ luật Dân
sự năm 2005 thì có các dạng hợp đồng bằng văn bản sau:
> Hình thức bằng văn bản thông thường có chữ ký của các bên
Hình thức bằng vãn bản thông thường có chữ ký của các bên là trường hợp cácbên tham gia giao kết hợp đồng thỏa thuận với nhau lập vãn bản các nội dung chủ yếucủa họp đồng và cùng ký tên xác nhận vào văn bản đó Các cam kết của các bên tronghọp đồng sẽ được ghi nhận lại bằng một vãn bản Trong vãn bản đó các bên phải ghiđầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào vãn bản,thông thường hợp đồng được lập thành hai bản và mỗi bên giữ một bản Căn cứ vàovăn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình và thực hiện quyền yêucầu của mình đối với bên kia Vi vậy, bản hợp đồng đó coi như là một bằng chứng,chứng minh quyền dân sự của mình
Định nghĩa về chữ ký vẫn chưa thấy quy định trong pháp luật Việt Nam hiệnhành Đe hợp đồng có giá trị pháp lý thì các bên phải cùng ký vào vãn bản hợp đồng,chữ ký trong văn bản hợp đồng chính là bằng chứng để các bên được bảo vệ quyền vàthực hiện nghĩa vụ với nhau Ví dụ: Ngày 14/3/2012 anh Hải bán chiếc máy cày choanh Bé, hai người cùng đi đến thống nhất và lập thành văn bản có chữ ký của hai bên.Tuy nhiên, hai bên trong hợp đồng ngoài việc ký tên, có thể dùng cách điểm chỉ, lăn
Trang 29nhận vào vãn bản và khi tranh chấp xảy ra khó mà chứng minh sự đồng ý của các bên,
giải quyết tranh chấp khó hơn, nghĩa vụ và quyền lợi khó thực hiện đuợc
Căn cứ vào vãn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình vàthực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Vì vậy, bản hợp đồng đó coi như làmột bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình Khi có tranh chấp, hợp đồngđược giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý vững chắc hơn so vớihình thức miệng Cho nên, trong thực tế những giao dịch quan trọng, có giá trị lớnhoặc những giao dịch có tính “nhạy cảm” đối với những đối tượng và người giao kết
“nhạy cảm” thì nên thực hiện bằng hình thức văn bản và tốt nhất là nên có côngchứng, chứng thực nếu có điều kiện Theo nguyên tắc thì các bên có quyền lựa chọnhình thức thể hiện ý chí của họ và đó được coi là một trong những nội dung của tự dohợp đồng - tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng Tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, giá trị,
sự phức tạp của hợp đồng mà các bên lựa chọn hình thức phù hợp Tuy nhiên trongnhiều trường hợp, vì nhiều lý do khác nhau mà pháp luật khuyến nghị hoặc bắt buộchình thức của hợp đồng phải bằng văn bản, vãn bản có chứng thực
> Hình thức bằng văn bản có công chứng, chứng thực
Hình thức bằng vãn bản có công chứng, chứng thực là hình thức hợp đồng đượcthể hiện bằng vãn bản thông thường nhưng có sự xác nhận theo thủ tục chứng nhậnhọp đồng tại cơ quan công chứng hoặc chứng thực họp đồng tại cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền Nếu như hình thức bằng văn bản thông thường có giá trị pháp lý cao hơnhình thức bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể thì hình thức bằng vãn bản có công chứng,chứng thực sẽ có gía trị pháp lý vững chắc hơn nhiều so với hình thức văn bản thôngthường, về phương diện chứng cứ, văn bản được công chứng, chứng thực có độ tincậy cao hơn so với vãn bản thông thường Bởi vậy, trong thực tiễn, đối với những hợpđồng quan trọng hoặc có giá trị lớn thì người ta thường lập bằng hình thức vãn bản cócông chứng, chứng thực để đảm bảo an toàn, hạn chế phát sinh mâu thuần, tranh chấp.Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 80 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 thì
“Những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thựchợp pháp thì không cần phải chứng minh”, và theo quy định luật công chứng khoản 2,Điều 6 thì “Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trongvãn bản công chứng không cần phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là
vô hiệu”
Trang 30Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
Đối với hợp đồng pháp luật buộc phải thực hiện văn bản có công chứng hoặcchứng thực thì hợp đồng đó mới có giá trị, theo Khoản 2 Điều 401 BLDS 2005 quiđịnh: “Trong trường họp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng vãnbản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theocác quy định đó ” Chẳng hạn như: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, trừ các hợpđồng chuyển quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân thì có thể lựa chọn lập theothủ tục chứng nhận tại phòng công chứng hoặc chứng thực tại ủy ban nhân dân xã,phường, thị trấn noi có đất (khoản 2 Điều 689), hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồngthuê nhà từ sáu tháng trở lên
> Hình thức hợp đồng bằng văn bản có đăng ký hoặc xin phép
Hình thức hợp đồng bằng vãn bản đãng ký hoặc xin phép cơ quan có thẩmquyền là thủ tục pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích cho các chủ thể khi tham gia giao kếthợp đồng, được áp dụng trong một số họp đồng có tính chất quan họng Nhìn chung,các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc thế chấp có đốitượng là các loại tài sản quan họng mà việc chiếm hữu, sử dụng của nó liên quan đến
an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc các tư liệu sản xuất quan họng có ảnh hưởngđến nền kinh tế quốc dân đều cần phải có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩmquyền hoặc công bố và ghi chép trong sổ bộ của các cơ quan quản lý nhà nước tronglĩnh vực có liên quan
+ Các hợp đồng phải đãng ký như: Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất (điểm bkhoản 1 Điều 128 Luật Đất đai), hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (điểm a khoản
1 Điều 130 Luật Đất đai), hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất (điểm a khoản 1Điều 131 Luật Đất đai) Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP: Thế chấpquyền sử dụng đất; Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừnghồng; Thế chấp tàu bay, tàu biển; Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiềunghĩa vụ; Các trường họp khác nếu pháp luật có quy định; Theo qui định tại khoản 1Điều 64 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đấtđai, thì các hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải đượcđãng ký theo qui định của pháp luật
+ Các hợp đồng phải xin phép như: Hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu hên thịtrường chứng khoán thì phải xin phép Uỷ Ban Chứng khoán theo khoản 2 Điều 30,
Trang 31Điều 32 Luật Chứng khoán, Thông tu số 38/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày
18/4/2007 và Thông tu số 18/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 13/3/2007
> Hình thức hợp đồng thông qua phương tiện điện tử
Ngoài hình thức vãn bản truyền thống, pháp luật hiện hành Việt Nam hiệnhành cũng thừa nhận một thể thức tuơng đuơng vãn bản, đó là thông điệp dữ liệu.Hình thức hợp đồng thông qua phuơng tiện điện tử đuợc khái niệm nhu sau: Hìnhthức hợp đồng thông qua phuơng tiện điện tử là hợp đồng đuợc thiết lập duới dạngthông điệp dữ liệu hay nói cách khác là hợp đồng có sử dụng thông điệp dữ liệu” Cáchợp đồng, giao dịch bằng hình thức thông điệp dữ liệu đuợc ghi nhận trong BLDS
2005 (khoản 1 Điều 124), luật Thuơng Mại năm 2005 (khoản 15 Điều 3 & Điều 15).Các nội dung cụ thể đuợc qui định trong Luật Giao dịch điện tử 2005 Theo khoản 1Điều 124 BLDS 2005, thì “Giao dịch dân sự thông qua phuong tiện điện tử duới hìnhthức thông điệp dữ liệu đuợc coi là giao dịch bằng văn bản” Theo qui định tại khoản
15 Điều 3 LTM 2005, thì “Các hình thức có giá trị tuơng đuơng văn bản bao gồmđiện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của phápluật” Luật Thuơng Mại năm 2005 cũng qui định nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lýcủa thông điệp dữ liệu trong hoạt động thuơng mại: “Trong hoạt động thuơng mại,các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định củapháp luật thì đuợc thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương vãn bản”9
Theo qui định của Luật Giao dịch điện tử 2005, thông điệp dữ liệu “là thông tinđược tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” TheoLuật Giao dịch điện tử năm 2005, thì “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lậpdưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này”10 và “Giá trị pháp lý củahợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạngthông điệp dữ liệu”11 Như vậy, cũng giống như vãn bản truyền thống, thông điệp dữliệu muốn được công nhận phải đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật và pháp lý nhấtđịnh, sao cho bảo đảm tính nguyên gốc (phản ánh trung thành với bản gốc đã khởi tạolần đầu tiên) và sự toàn vẹn về nội dung thông tin (không bị sửa chữa, thay đổi, cắtxén hoặc đưa thêm thông tin khác vào), có thể lưu trữ và truy cập để tham chiếu khicần thiết
Trang 32Hình thức hợp đồng dân sự - lý luận và thực tiễn
Mặc dù pháp luật thực định không qui định cụ thể về chữ ký thuờng, nhungvới ý nghĩa là dấu hiệu pháp lý quan họng xác định sự thừa nhận của chủ thể đối vớinội dung thông điệp dữ liệu đã đuợc lập, chữ ký điện tử cũng đuợc ghi nhận trongLuật Giao dịch điện tử 2005 Theo đó, chữ ký điện tử đuợc thừa nhận là chữ ký có giátrị nếu được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khácbằng phưong tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gích với thông điệp dữliệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận củangười đó đối vói nội dung thông điệp dữ liệu được ký (khoản 1 Điều 21) và nếu thỏamãn các điều kiện như qui định tại khoản 1 Điều 22 Chữ ký điện tử còn được quiđịnh chi tiết tại Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 09/6/2006 về thương mại điện tử.Chữ ký điện tử có ý nghĩa pháp lý đặc biệt quan họng, vì qua đó xác định được tácgiả của vãn bản, thể hiện sự thừa nhận chính thức của người ký đối với nội dungthông tin chứa đựng trong văn bản Trong môi trường giao dịch qua mạng, với cácbên không liên quan hoặc các đối tác là người lạ có ít thông tin về nhau, thì vấn đềbản gốc và sự nhận dạng chữ ký của nhau trên các vãn bản “điện tử” phụ thuộc rấtnhiều vào chữ ký điện tử Bởi lẽ, việc sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc mãhóa tài liệu được ký kết Do đó, chữ ký điện tử không chỉ có ý nghĩa xác định người
ký mà còn chứng minh cho tính toàn vẹn của nội dung thông tin chứa đựng trong vănbản “điện tử” Có thể nói, việc sử dụng hình thức vãn bản dưới dạng thông điệp dữliệu trong việc thiết lập các giao dịch, hợp đồng có nhiều ưu điểm như nhanh, gọnnhẹ, dễ lưu trữ, tiết kiệm thời gian và chi phí thấp, nên rất thích hợp cho các hoạtđộng thương mại, dịch vụ
2.2 Thòi điểm có hiệu lực của họp đồng liên quan đến hình thức họp đồng
2.2.1 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của các bên, cho nên khi nào các bên thốngnhất được ý chí thì hợp đồng mới hình thành, thời điểm xác định sự thống nhất ý chícủa các bên đó chính là thời điểm giao kết hợp đồng hay thời điểm hợp đồng có hiệu