1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng

92 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bao gồm các vấn đề về: lịch sử ra đời củahoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, khái niệm chung về giấy tờ có giá, khái niệm và đặc điểm chiết khấu giấy tờ có giá, phân loại chiết khấu giấ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHỎ A LUẬT

Bộ MÔN LUẬT THỮƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT

KHÓA 34 (2008 - 2012)

HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ

CÓ GIÁ CỦA TỒ CHỨC TÍN DỤNG

V V

Trang 2

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

LỜI CẢM ƠN

££>♦♦♦08

Trải qua những năm tháng được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, giờ đây là một sinh viên sắp ra trường, em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến.

Tất cả quý Thày, Cô trường Đại học cần Thơ nói chung và Thầy,

Cô K hoa luật Đại học cần Thơ nói riêng đã tận tình dạy bảo, truyền đạt

trường.

Đặc biệt, em xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Lê H uỳnh Phương Chinh, không chỉ trên cương vị là một cán bộ hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, mà Cô còn là một cán bộ giảng dạy, một cố vấn học tập luôn đầy lòng nhiệt huyết với sinh viên.

N goài ra em xin gởi lời cảm ơn đến Thầy, Cô đang công tác tại

T rung tâm học I iệu T rường Đại học cần T hơ, T hư viện K hoa I uật Đại học

Cần Thơ, Thư viện Thành phố cần Thơ, đã hết lòng giúp em trong việc

Cùng tất cả bạn bệ, những người đã cùng tôi cảm nhận và chia sẻ những buồn vui của chốn giảng đường đại học trong suốt thời gian qua.

trong gia đình đã luôn sẵn sàng tạo mọi điều kiện tót nhất để con có thể vững tâm thực hiện ước mơ theo học tại K hoa I uật Đại học cần T hơ trong

suốt 4 năm qua.

cả mọi người luôn thành công trong công tác, thành đạt trong học tập và hạnh phúc trong cuộc sống !.

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -2- SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -3- SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 3

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ; 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 12

1.1 Lịch sử ra đòi của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá 12

1.2 Khái niệm chung về chiết khấu giấy tờ có giá 14

1.2.1 Khái niệm chung về giấy tờ có giá 14

1.2.1.1 Định nghĩa giấy tờ có giá 14

1.2.1.2 Các loai giấy tờ có giá 15

1.2.2 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá 17

1.2.2.1 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá theo phương diện lý luận 17

1.2.2.2 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá ở góc độ kinh tế 18

1.2.2.3 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá ở góc độ pháp lý 21

1.3 Đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá 24

1.3.1 về chủ thể: ! .* 24

1.3.2 về hình thức pháp lý:

25

1.3.3 về trình tự, thủ tục giao kết họp đồng chiết khấu giấy tờ có giá 26

1.3.4 về giá bán giấy tờ có giá 26

1.3.5 về quyền truy đòi của bên mua đối với bên bán 27

1.4 Phân loại chiết khấu giấy tờ có giá 27

1.4.1 Dựa vào tiêu chí thời hạn chiết khấu 28

1.4.1.1 Chiết khấu dài hạn 28

1.4.1.2 Chiết khấu ngắn hạn 28

1.4.2 Dựa vào tiêu chí về khả năng được thanh toán của tổ chức tín dụng từ khách hàng đối với giấy tờ có giá đã chiết khấu 28

1.4.2.1 C hiết khấu có quyền truy đòi: 28

1.4.2.2 C hiết khấu miễn truy đòi: 29

1.4.3 Dựa vào tiêu chí quyền mua lại giấy tờ có giá của khách hàng (bên chiết khấu) 30

1.4.3.1 Chiết khấu có thời hạn 30

1.4.3.2 Chiết khấu vĩnh viễn (hay còn gọi là chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá) 31

1.4.4 D ựa vào tiêu chí số lần chiết khấu đối với một giấy tờ có giá 31

1.5 Lọi ích và rủi ro từ hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng 32

1.5.1 Lợi ích của chiết khấu giấy tờ có giá 32

1.5.1.1 Đ ối với tổ chức tín dụng 32

1.5.1.2 Đối với khách hàng 33

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -5- SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 5

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

1.6 Phân biệt hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá với hoạt động bao thanh

toán của tổ chức tín dụng 35

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẨU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỘ CHỨC TÍN DỤNG 41

2.1 Quy định pháp luật về nguyên tắc, chủ thể tham gia hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá 41

2.1.1 Nguyên tắc chiết khấu giấy tờ có giá 41

2.1.2 Chủ thế tham gia giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá 42

2.1.2.1 Bên chiết khấu - khách hàng 43

2.1.2.2 Bên nhận chiết khấu giấy tờ có giá - tổ chức tín dụng 50

2.2 Quy định pháp luật về đối tượng và phưong thức chiết khấu giấy tờ có giá 58

2.2.1 Đối tượng chiết khấu: 58

2.2.1.1 Công cụ chuyển nhượng: 58

2.2.1.2 Các loại giấy tờ có giá khác 60

2.2.2 Quy định pháp luật về phương thức giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá 62

2.2.2.1 Phương thức chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá - chiết khấu vĩnh viễn 62

2.2.2.2 P hương thức chiết khấu có thời hạn 63

2.3 Q uy định pháp luật về trình tự, thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá 65

2.4 Quy định của pháp luật về giá, lãi suất và mức chiết khấu giấy tờ có giá 67

2.4.1 Giá và lãi suất chiết khấu 67

2.4.2 M ức chiết khấu giấy tờ có giá đối với một khách hàng 69

2.4.2.1 Đối với công cụ chuyển nhượng 69

2.4.2.2 Đối với giấy tờ có giá khác 70

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIA CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 73 3.1 Nhận xét chung về định hướng phát triển hoạt động chiết khấu giấy tờ

Trang 6

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

3.2.6.2 Đề xuất 82

3.2.7 về quyền truy đòi: 82

3.2.7.1 Nhận xét 83

3.2.7.2 Đe xuất 83

3.2.8 về chế độ hạch toán kế toán, báo cáo thống kê 83

3.2.9 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chiết khấu giấy tờ có giá 84

3.2.9.1 Nhận xét 84

3.2.9.2 Đề xuất 84

3.2.10 về văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng với khách hàng 85

3.2.10.1 Nhận xet .7 85

3.2.10.2 Đề xuất 86

KÉT LUẬN 88

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -7- SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 7

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

LỜI NÓI ĐẦU

có vốn và người cần vốn Và cũng chính sự phát triển của hệ thống trung gian tàichính bao gồm ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, cùng với hoạtđộng của nó sẽ là điều kiện quan trọng để phát triển thị trường tài chính

Lĩnh vực ngân hàng nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng là một bộphận không thể thiếu, luôn giữ vai ừò quan trọng ừong quá trình vận hành và pháttriển của nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường Thông quahoạt động ngân hàng, xã hội sẽ sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của mình đểsản xuất củi cải vật chất phục vụ đời sống con người Bản thân hoạt động này luôntiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng, Nhà nước luôn cónhững ưu đãi và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng được giảm thiểu rủi ro và cânbằng vốn lưu động, nâng cao khả năng thanh toán Để đáp ứng những vấn đề trên,thì các hoạt động liên quan đến quan hệ cấp tín dụng như cho vay, cho thuê tàichính, bảo lãnh, bao thanh toán và có cả chiết khấu giấy tờ có giá, sẽ là mộttrong những giải pháp hữu hiệu nhất được sử dụng đến, để kịp thời giải quyếtnhững tiềm ẩn rủi ro mà tổ chức tín dụng gặp phải trong quá trình thực hiện chứcnăng, hoạt động của mình

Pháp luật hiện hành quy định việc chiết khấu giấy tờ có giá không chỉ riêng

có Ngân hàng Nhà nước, mà các tổ chức tín dụng cũng được phép thực hiệnnghiệp vụ này Tuy là một nghiệp vụ còn tương đối mới mẻ đối với các tổ chứctín dụng và khách hàng nhưng vai trò của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giángày một được thể hiện rõ nét Bản thân chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp

vụ có quy trình đơn giản nhanh chóng, đồng thòi hạn chế những rủi ro cho cácbên khi tham gia Mang lại tính thanh khoản cao cho giấy tờ có giá được chiết

Trang 8

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

khấu và qua đó góp phần mang lại quyền lợi cho khách hàng (bên chiết khấu) từviệc đáp ứng một cách hiệu quả, kịp thời nhu cầu về vốn thông qua việc biếnnhững khoản nợ trên giấy thành tiền trước thời hạn thanh toán từ tổ chức pháthành Hơn nữa, sự cung ứng vốn trong hoạt động chiết khấu sẽ tạo ra nguồn tiềngửi - một nguồn vốn mới để tổ chức tín dụng cho khách hàng vay, đây chính là lý

do mà các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có hoạt động ngân hàng rất chútrọng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá hơn so với các hình thức cấptín dụng khác Đồng thời, đối với tố chức tín dụng (bên nhận chiết khấu), cũngnhận được những lợi ích rõ rệt khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng này Ngoàinhững khoản lợi tức cỏ được, thì lợi ích khác mà bên nhận chiết khấu có thể cóđược là việc họ sử dụng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá như một hình thức lưuhoạt hóa nguồn vốn kinh doanh của mình Như vậy, không thế phủ nhận vớinhững lợi ích mà chiết khấu giấy tờ có giá mang lại cho các bên khi tham gia vàohoạt động này

Chiết khấu giấy tờ có giá của tố chức tín dụng là một hoạt động còn tươngđối mới mẻ ở Việt Nam nhưng với những tiện ích mà hình thức tín dụng nàymang lại thì không thể phủ nhận Thiết nghĩ, cần có sự quan tâm đầu tư hơn nữa

từ mọi phía đặc biệt là từ phương diện pháp lý, để hoạt động này sớm khẳng địnhđược vai trò, vị trí của mình trong lĩnh vực tài chính - tín dụng Nhận thức đượctầm quan trọng của chiết khấu giấy tờ có giá đối với cả thị trường tài chính nóichung và trong lĩnh vực tài chính - tín dụng nói riêng, đã mang đến lý do để

người viết chọn đề tài “Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín

dụng” làm đề tài nghiên cứu cho luận vãn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài:

Đề tài “Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng” được

viết với mục tiêu:

- Thứ nhất, giúp người viết có thể hiểu rõ hơn những quy định của pháp

luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng

- Thứ hai, từ việc tìm tòi, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện

hành, người viết đưa ra những nhận xét và đồng thời đó là những đề xuất hoànthiện quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của

tổ chức tín dụng nhằm phù họp với xu hướng phát triển của hoạt động này trongthời gian tới

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -9- SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 9

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Trên cương vị là một chủ thể trong quan hệ giao dịch chiết khấu giấy tờ cógiá thì hoạt động này của tổ chức tín dụng không chỉ được thực hiện đối với bênchủ thể khách hàng là những tổ chức, cá nhân dưới hình thức là một nghiệp vụcấp tín dụng nhằm mục đích lợi nhuận Mà bên cạnh đó, tổ chức tín dụng cònđóng vai trò là một chủ thể trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá với Ngânhàng Nhà nước, quan hệ này được thực hiện nhằm mục đích tái cấp vốn cho các tổchức tín dụng, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và ổn định vĩ mô nền kinh tế

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình, người viết chỉ tập trung nghiêncứu hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

là những tổ chức, cá nhân trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành cóliên quan điều chỉnh về hoạt động này Bao gồm các vấn đề về: lịch sử ra đời củahoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, khái niệm chung về giấy tờ có giá, khái niệm

và đặc điểm chiết khấu giấy tờ có giá, phân loại chiết khấu giấy tờ có giá, lợi ích

và rủi ro khi tham gia vào hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá; tìm hiểu quy địnhcủa pháp luật về nguyên tắc, chủ thể tham gia vào hoạt động chiết khấu giấy tờ cógiá, về đối tượng, phương thức, thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá, về giá, lãi suất

và mức chiết khấu giấy tờ có giá, phân biệt chiết khấu giấy tờ có giá với hoạtđộng bao thanh toán của tổ chức tín dụng; nhận xét quy định pháp luật về hoạtđộng chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng và đưa ra một số định hoànthiện

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Trong đề tài nghiên cứu của mình, người viết sử dụng phương pháp phântích luật viết kết hợp với so sánh, đối chiếu, tổng hợp để tìm hiểu, phân tích quyđịnh của pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng,người viết có những nhận xét trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất nhằm hoànthiện

5 Bố cục đề tài:

Bố cục đề tài được chia làm 3 chương:

- Chương 1: Giới thiệu chung về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổchức tín dụng

- Chương 2: Quy định của pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giácủa tổ chức tín dụng

- Chương 3: Nhận xét quy định của pháp luật về hoạt động chiết khấu giấy

tờ có giá của tổ chức tín dụng và một số định hướng hoàn thiện

Trang 10

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng nhận thấy những hạn chế về mặt kiến thứcnên trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu không tránh được những sai lầm, thiếu sót.Người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báo từ quý thày cô và cácbạn để đề tài được hoàn chỉnh

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -11 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 11

Ths.Trần Vũ Hải, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.7.

2010, tr.l.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VÈ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU

GIẤY TỜ Cỏ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Ở chương này, người viết tập trung nghiên cứu về những vấn đề cơ bảncủa hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, để từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục đi tìmhiểu ở các chương sau Bao gồm các vấn đề về lịch sử ra đời của hoạt động chiếtkhấu giấy tờ có giá, khái niệm, đặc điểm chiết khấu giấy tờ có giá, cũng nhưnhững lợi ích và rủi ro vốn có khi tham gia vào hoạt động cấp tín dụng này, phânbiệt chiết khấu giấy tờ có giá với nghiệp vụ bao thanh toán của tổ chức tín dụng

Trong quá trình tìm hiểu, người viết chú trọng tập trung vào việc làm rõ bản chấtcủa hoạt động này dưới cả góc độ kinh tế lẫn góc độ pháp lý

1.1 Lịch sử ra đòi của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.

Xã hội loài người đã trải qua chặng đường phát triển rất dài, cả về kinh tế

và văn hóa Từ thuở sơ khai, khi con người sản xuất được một lượng của cải vậtchất dư thừa và có tính chuyên môn hóa thì nhu càu trao đổi tất yếu sẽ phát sinh

Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có một loại hàng hóa đặc biệt dùng làm tài sản thanhtoán1 Bắt đàu từ việc vật ngang giá chung xuất hiện trong mua bán, trao đổi hànghóa, các quan hệ và hoạt động kinh doanh dịch vụ trao đổi liên quan trực tiếp đếnvật ngang giá chung đã được hình thành Khi vật ngang giá chung được cố địnhbằng những vật liệu có giá trị nội tại cao và có nhiều thuộc tính tự nhiên thuậntiện cho việc bảo quản, chia nhỏ cũng như lưu hành, khi đó vật ngang giá chungchính thức được xem là tiền tệ2 Sự xuất hiện của đồng tiền đã làm cho việc traođổi hàng hóa trở nên thuận lợi hơn, cũng như đảm bảo việc tích lũy của cải vậtchất dễ dàng hơn

Tuy nhiên, việc sử dụng tiền trong thanh toán cũng có những trở ngại nhấtđịnh do các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau thường có đồng tiền khác nhau Do

đó, việc mua bán hàng hóa giữa các quốc gia đương nhiên cần phải có sự trao đổigiữa các đồng tiền khác nhau Những tài liệu nghiên cứu về quá trình phát triểncủa hoạt động ngân hàng đều ghi nhận, hoạt động trao đổi tiền tệ đã có từ thời HyLạp, La Mã cổ đại, nơi có những đô thị lớn nhộn nhịp diễn ra việc trao đổi hàng

Trang 12

Ths.Trần Vũ Hải, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.7-8.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

hóa giữa các thương nhân các nước Đã có những người chuyên thực hiện việcnày như một công việc kinh doanh và họ kiếm lời nhờ việc thu đổi tiền của cácthương nhân

Sự tích lũy của cải đã xuất hiện những tầng lớp dân cư giàu có Nhữngngười này có nhu cầu được giữ gìn bảo quản tài sản, mà chủ yếu là tiền hoặc vàngbạc Ở Châu Âu thời trung cố, nhà thờ thường là nơi giữ gìn và bảo quản tài sảnquý hiếm cho dân cư và cộng đồng Những người thợ kim hoàn cũng là người cấttrữ vàng bạc, do họ có kiến thức về việc bảo quản chúng Còn ở Trung Quốc, cáchội buôn tiền đã xuất hiện từ rất lâu Những hội buôn tiền không chỉ đảm bảo giữgìn an toàn các tài sản là vàng và bạc, mà họ còn làm cho việc cất trữ, chuyểnnhượng trở nên dễ dàng hơn bằng cách phát hành các chứng thư văn bản, thườnggiấy tờ có giá gọi là ngân phiếu

Cùng với quá trình phát triển của xã hội, bên cạnh những người dư thừacủa cải, thì cũng xuất hiện những chủ thể cần vốn để đáp ứng những nhu cầu củamình như kinh doanh hay tiêu dùng Những hạn chế về thông tin và sự thiếu tincậy lẫn nhau đã làm cho người thừa vốn và thiếu vốn ít có cơ hội tiếp cận vớinhau trực tiếp mà phải thông qua một chủ thể thứ ba có khả năng

Những tiền đề nêu trên đã làm xuất hiện một ngành kinh doanh mới, đó làhoạt động ngân hàng Xuất hiện ở Châu Âu từ nhiều thế kỷ trước dưới hình thức

là những ngân hàng sơ khai, đã đáp ứng nhu cầu gửi giữ tài sản, chuyển đổi đồngtiền, cũng như khơi thông dòng chảy về vốn giữa những người dư thừa của cải vànhững người có nhu cầu được sử dụng vốn Với quá trình phát triển lâu dài củamình hoạt động ngân hàng ngày càng phong phú, giữ vai hò to lớn trong việcnâng cao năng lực sản xuất của cải vật chất của xã hội.3

Với sự ra đời và phát triển ngày càng đa dạng các công cụ tài chính, nêncác phương tiện và nghiệp vụ để chuyển giao các công cụ này cũng ngày càngphong phú hơn như: cho vay, thanh toán, nhận tiền gửi, làm đại lý, bao thanhtoán Trong số đó, chiết khấu giấy tờ có giá cũng không phải là một ngoại lệ.Tuy là một hình thức cấp tín dụng ra đời sau so với các nghiệp vụ khác nhưng vớimột số ưu điểm nổi trội như không cần phải bảo quản tài sản đảm bảo, quy trìnhđơn giản và nhanh chóng, tính thanh khoản cao; nên chiết khấu giấy tờ có giá luônđược các tổ chức tín dụng cũng như đối tượng có nhu cầu về vốn ưu tiên lưa chọn.Ngoài ra, còn có thể thấy rằng chiết khấu là một nghiệp vụ cấp tín dụng hiệu quả

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -13 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 13

TS.Ngô Quốc Kỳ, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

để các tổ chức tín dụng tài trợ vốn cho các thương nhân trong hoạt động kinhdoanh của họ

1.2 Khái niệm chung về chiết khấu giấy tờ có giá.

Ra đời đồng hành với sự ra đời của hoạt động ngân hàng, chiết khấu luôn

là nghiệp vụ ở ngân hàng cổ điển và cho đến ngày nay vẫn được các ngân hàng ápdụng một cách phổ biến Với bề dày lịch sử ra đời và phát triển, chiết khấu đượcthực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau nhưng trong đó chủ yếu nhất vẫn là cácgiấy tờ có giá Do vậy, để có thể có được sự hình dung bao quát về khái niệmchiết khấu giấy tờ có giá, trước hết ta cần phải tiếp cận về khái niệm giấy tờ cógiá

1.2.1 Khái niệm chung về giấy tờ có giá 1.2.1.1 Định nghĩa giấy tờ có giá.

> Định nghĩa về phương diện lý luận.

Chứng từ có giá hay còn gọi là giấy tờ có giá là những phương tiện chuyểntải và dữ trữ giá trị, do những đơn vị được phép phát hành họp pháp như kỳ phiếu,tín phiếu, trái phiếu Những chứng từ này được pháp luật thừa nhận.4

Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định ( tổ chức, cá nhân) xéttrong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác Giấy tờ có giá có ba thuộc tính:

(1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định; (2) Trị giá được bằng tiền;

và (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.5

Sở dĩ, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản bởi lý do vì nó là bằng chứngxác nhận nghĩa vụ trả nợ của một chủ thể đối với người thụ hưởng (chủ thể cóquyền sở hữu đối với khoản nợ) ừong thời hạn nhất định và trong điều kiện nhấtđịnh (hoặc là vô điều kiện)

Hơn nữa, thuộc tính trị giá được bằng tiền chính là yếu tố đảm bảo chogiấy tờ có giá có thể tham gia giao dịch ừong các quan hệ dân sự Và cũng chínhthuộc tính này sẽ giúp cho chủ sở hữu loại giấy tờ có giá đó dễ dàng nhận đượckhoản tiền mặt tương ứng với giá trị của giấy tờ có giá khi họ có nhu cầu Nên ởđây, tính thanh khoản của giấy tờ có giá sẽ được đảm bảo

Không chỉ dừng lại ở chỗ xác nhận quyền tài sản, cũng như việc trị giáđược bằng tiền, mà cả thuộc tính chuyển giao được quyền sở hữu của giấy tờ có

Trang 14

Khoản 8, Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

giá là không thể thiếu Thuộc tính chuyển giao quyền sở hữu của giấy tờ có giá làbằng chứng xác nhận quyền sở hữu thực sự của một chủ thể nhất định đối với loạigiấy tờ có giá đó Cũng như có ý nghĩa trong việc giải quyết tranh chấp phát sinhgiữa các bên liên quan mà loại giấy tờ có giá đó là đối tượng của tranh chấp Nên

từ đó có thể thấy rằng, bất kỳ loại giấy tờ có giá nào nếu thiếu 1 trong 3 thuộc tínhtrên đây thì không thể được xem là giấy tờ có giá

Như vậy, dù tồn tại dưới hình thức nào giấy tờ có giá vẫn có những đặcđiểm chung sau:

- Chứa đựng yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện

- Có thể chuyển nhượng dưới hình thức chuyển giao để người được chuyểnnhượng trở thành người thụ hưởng

- Việc chuyển nhượng giấy tờ có giá thường là có bảo lưu quyền truy đòicủa người được chuyển nhượng về số tiền phải thanh toán theo giấy tờ có giáđược chuyển nhượng

- Số tiền ghi trên giấy tờ có giá là một số tiền xác định và được thanh toánkhi có yêu cầu hoặc tại một thời điểm xác định trong tương lại cho người thụhưởng (chủ sở hữu giấy tờ có giá )

> Định nghĩa về phương diện pháp lý.

Theo quy định của pháp luật thì: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhậnnghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ cógiá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.6

Thuật ngữ “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ”, được hiểu chính giấy

tờ cỏ giá sẽ là điều kiện ràng buộc để tổ chức phát hành thực hiện nghĩa vụ thanhtoán cho chủ sở hữu khi đến hạn So với định nghĩa về phương diện lý luận thìđịnh nghĩa này của pháp mang tính khái quát chung dựa trên những đối tượngđược xem là giấy tờ có giá Tuy mang tính khái quát chung là vậy nhưng địnhnghĩa của luật vẫn chưa được phù họp với đối tượng giấy tờ có giá là séc hay hốiphiếu Bởi vì đối với séc hay hối phiếu thì nghĩa vụ trả nợ thực tế cho người thụhưởng (chủ sở hữu séc hay hối phiếu) là thuộc về bên đề nghị phát hành séc, hốiphiếu chứ không phải là của tổ chức phát hành séc hay hối phiếu được thanh toán

đó Việc thanh toán nợ của tổ chức phát hành cho bên thu hưởng chỉ là việc thựchiện thay nghĩa vụ cho bên đề nghị phát hành séc, hối phiếu để được hưởng khoảnphí hoa hồng từ việc thực hiện nghiệp vụ này của họ

I.2.I.2 Các loai giấy tờ có giá.

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -15 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 15

Khoản 1, Điều 4, Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005.

2005.

năm 2010.

hành trái phiếu

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Các loại giấy tờ có giá thường được lưu thông phổ biến trên thị trường tàichính gồm hai dạng: nhóm các công cụ chuyển nhượng (gồm: hối phiếu đòi nợ,hối phiếu nhận nợ, séc) và nhóm những giấy tờ có giá khác gồm cổ phiếu, tráiphiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm

> Công cụ chuyển nhượng.

Là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán khôngđiều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định7 Thuật ngữ công cụchuyển nhượng làn đàu tiên được đề cập đến ở Luật Các công cụ chuyển nhượngnăm 2005 Các loại giấy tờ có giá thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Các công cụchuyển nhượng năm 2005 gồm có: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc

- Hối phiếu đòi nợ: là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị

ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vàomột thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.8

- Hối phiếu nhận nợ: là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kếtthanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thờiđiểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.9

- Séc: là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát làngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàngNhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanhtoán cho người thụ hưởng.10

> Các loai giấy tờ có giá khác.

Ngoài các loại giấy tờ có giá là các công cụ chuyển nhượng thì còn có cácloại giấy tờ cỏ giá khác như cổ phiếu, trái phiếu, túi phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳphiếu

- Trái phiếu: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích họp pháp củangười sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành11 Có các loai tráiphiếu như trái phiếu Chính phủ (gồm: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, cônghái xây dựng Tổ quốc), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chínhquyền địa phương.12

Trang 16

TS.Nguyễn Văn Tuyến, Bàn về giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, Tạp

2008, tr.31.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

- Tín phiếu: là loại giấy tờ có giá ngắn hạn do Chính phủ, Ngân hàng Nhànước hoặc các doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích huy động vốn trong ngắnhạn (dưới 1 năm)13 Trong đó phổ biến nhất là tín phiếu kho bạc, loại tín phiếunày là công cụ vay nợ ngắn hạn của Chính phủ do kho bạc phát hành để tạm thời

bù đắp những thiếu hụt của Ngân sách Nhà nước trong năm ngân sách

- Cổ phiếu: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích họp pháp củangười sở hữu đối với một phần vốn của tổ chức phát hành14 Đây là loại giấy tờ cógiá do công ty cổ phàn phát hành nhằm mục đích huy động vốn.Có các loại cổphiếu như: cổ phiếu ghi danh, cổ phiếu vô danh, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưuhành, cổ phiếu đã phát hành

- Chứng chỉ tiền gửi: là một công cụ nợ do các ngân hàng, công ty tàichính, công ty cho thuê tài chính phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho tài khoảntiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc (mệnh giá của chứng chỉ) khi đáo hạn thanh toán.15

Ngoài ra còn có các loại giấy tờ có giá khác như kỳ phiếu, sổ tiếtkiệm Có thể thấy các loại giấy tờ có giá ngày càng rất đa dạng, đóng góp hiệuquả rất lớn trong việc huy động vốn và thanh toán trên thị trường tài chính

1.2.2 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá.

I.2.2.I Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá theo phương diện lý luận.

Có nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau nhưng chung lại giấy tờ có giá đượcphân thành giấy tờ cỏ giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn Giấy tờ có giá ngắnhạn có thời hạn tính từ thời điểm phát hành đến thời điểm tổ chức phát hành cónghĩa vụ thanh toán là dưới 1 năm (365 ngày) Đối với giấy tờ có giá dài hạn, thìthời hạn này là từ 1 năm trở lên Kể từ khi xác lập quyền sở hữu các giấy tờ cógiá, chủ sở hữu cần phải chờ đến hạn thanh toán mới có thể thu hồi được lượnggiá trị từ đồng vốn đã bỏ ra Tuy nhiên, có một giải pháp khác, được pháp luật chophép, đó là việc chủ sở hữu đó chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá ấy chochủ thể khác trước hạn thanh toán Và nếu bên mua lại giấy tờ có giá là tổ chức tíndụng hoặc Ngân hàng Nhà nước, thì được gọi là cấp tín dụng bằng hình thức chiếtkhấu giấy tờ có giá

Chiết khấu giấy tờ có giá được hiểu theo nguyên nghĩa là việc một ngânhàng (Ngân hàng Trung ương hoặc ngân hàng thương mại) thỏa thuận mua giấy tờ

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh -17 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 17

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.201.

2010, tr 148.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

có giá của khách hàng trước kỳ hạn thanh toán từ tổ chức phát hành, với điềukhoản khấu trừ một phần giá trị của chứng từ được chiết khấu.16

Chiết khấu giấy tờ có giá là hình thức cấp tín dụng mà theo đó, tổ chức tíndụng mua giấy tờ có giá mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của kháchhàng.17

Tiếp cận từ phương diện lý luận có thể thấy chiết khấu giấy tờ có giá thựcchất là quan hệ mua bán chứng từ có giá giữa tố chức tín dụng với khách hàng Do

có sự chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu từ bên bán (kháchhàng) sang bên mua (tổ chức tín dụng) và tương ứng bên mua có nghĩa vụ thanhtoán theo giá mà các bên đã thỏa thuận Nên chiết khấu giấy tờ có giá cũng chẳngkhác gì mấy so với quan hệ mua bán chứng khoán trên thị trường chứngkhoán.Tuy nhiên, nếu xét về phương diện lý thuyết thì chiết khấu giấy tờ có giávẫn tồn tại những điểm khác biệt riêng so với quan hệ mua bán chứng khoán trênthị trường chứng khoán Đó là:

- về chủ thể: đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá thì bên bán (gồm

các tổ chức, cá nhân) có các loại giấy tờ có giá được chiết khấu theo quy định củapháp luật và bên mua (là các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khácđược phép thực hiện hoạt động chiết khấu như công ty tài chính, công ty cho thuêtài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam) Trong khi đó chủ thểtham gia quan hệ mua bán chứng khoán hên thị trường chứng khoán có sự đadạng hơn với bên bán (gồm Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, công

ty kinh doanh chứng khoán ) và bên mua (là những nhà đầu tư cá nhân, tổ chức)thực hiện việc đầu tư chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận

- về đối tượng của quan hệ mua bán: Đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ

có giá thì đối tượng được chiết khấu ở đây chỉ có thể là những loại giấy tờ có giáđược chiết khấu theo quy định của pháp luật Còn trong khi đó đối tượng muabán trên thị trường chứng khoán là các loại chứng khoán được phép phát hành vàgiao dịch hên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá ở góc độ kinh tế.

Ở góc độ kinh tế, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá được quan niệm nhưmột nghiệp vụ tín dụng của tổ chức tín dụng Theo đó, tổ chức tín dụng chấpthuận cho khách hàng vay vốn bằng việc nhận mua các chứng từ có giá chưa đếnhạn thanh toán của khách hàng với điều kiện khấu hao một phần giá trị của chứng

Trang 18

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004,

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

từ chiết khấu (gọi là lợi tức chiết khấu), để được hưởng quyền đòi nợ thay kháchhàng đối với bên có nghiệp vụ thanh toán theo chứng từ khi đáo hạn18 Có thểthấy, với khái niệm này thì hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá với tư cách là mộtnghiệp vụ tín dụng truyền thống của tổ chức tín dụng có đầy đủ các thuộc tín vốn

có của một hoạt động tín dụng như sự ứng trước; sự hoàn trả một số tiền nhất định

đã được ứng trước đó; sự tín nhiệm của bên cho vay đối với bên đi vay và sự camkết trả lãi cho việc sử dụng vốn của bên đi vay đối với bên cho vay Ở góc độ kinh

tế, chiết khấu giấy tờ có giá được xem là nghiệp vụ cấp tín dụng, bởi những lý dosau:

Một là, khi thực hiện việc thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng

thì tổ chức tín dụng đã ứng trước một khoản tiền cho khách hàng và phải đợi đếnmột khoảng thời gian nhất định (đáo hạn thanh toán), mới có thế thu hồi vốn Tốchức tín dụng đã thay thế địa vị pháp lý của khách hàng để thực hiện việc đòi nợđối với người mắc nợ theo giấy tờ có giá đã được chiết khấu Nên với việc tổ chứctín dụng, phải ứng trước một khoản tiền cho khách hàng để được nhận lấy quyềnđòi nợ trong tưomg lai đối với tổ chức phát hành giấy tờ có giá nhằm mục đíchkiếm lợi nhuận, thì rõ ràng đây chẳng khác nào là một nghiệp vụ cấp tín dụng

Cũng cằn phải bàn thêm rằng trong một số trường họp, tổ chức tín dụngcũng có thể chuyển nhượng giấy tờ có giá cho chủ thể khác trước thời điểm giấy

tờ có giá đến hạn thanh toán từ tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu,nhưng một điều chắc chắn rằng khoảng thời gian này vẫn phải sau thời điểm tổchức tín dụng thực hiện việc chiết khấu cho khách hàng

Hai là, tổ chức túi dụng thực hiện việc chiết khấu giấy tờ có giá cho khách

hàng chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ những người gửi tiền.19

So với việc mua bán chứng từ có giá trong giao dịch dân sự thông thườngthì nguồn vốn của tổ chức tín dụng thực hiện việc chiết khấu chủ yếu là nguồnvốn từ nghiệp vụ huy động vốn Do đó, đòi hỏi tổ chức tín dụng phải đảm bảo khảnăng thanh toán để có thể hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho người gửi tiền khi đến hạnhoặc khi họ có yêu cầu rút vốn Chính vì yếu tố này, nên đòi hỏi tổ chức tín dụngtrước khi chấp nhận chiết khấu cho bất kỳ khách hàng nào cũng cần phải nhìnnhận, đánh giá một cách nghiêm túc các rủi ro có thể xảy ra trong chiết khấu Bao

tr.2Ò2.

GVHD: Lê Huỳnh Phưo'ng Chinh -19 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 19

Ths.Tràn Vũ Hải, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr 149.

tr.50.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

gồm các vấn đề liên quan đến lãi suất chiết khấu, phí chiết khấu luôn được cácbên thỏa thuận rõ ràng hơn so với các giao dịch mua bán giấy tờ có giá trong dân

sự thông thường

Ba là, nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá chủ yếu dựa trên sự tín nhiệm

của tổ chức tín dụng đối với khách hàng20 Sự tín nhiệm ở đây chính là niềm tincủa tổ chức tín dụng vào khả năng thu hồi vốn sau khi chiết khấu cho khách hàng

Cũng giống như bất kỳ nghiệp vụ cấp tín dụng nào khác thì nguyên tắc tínnhiệm luôn được đặt lên hàng đàu Trước khi quyết định chiết khấu giấy tờ có giácho khách hàng, tổ chức tín dụng cần phải thực hiện một trong những công đoạnrất quan trọng là đánh giá khả năng thu hồi vốn sau khi đã mua giấy tờ có giá Ởđây, sự tín nhiệm của tổ chức tín dụng không chỉ dành cho riêng khách hàng màcòn đối với cả tố chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu Sự tín nhiệm của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thể hiện cụ thể ở chỗ, nếu giấy tờ có giákhông được tổ chức phát hành thanh toán khi đến hạn, thì lúc này tổ chức tín dụng

sẽ thực hiện quyền truy đòi của mình để yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụtrả nợ thay cho tổ chức phát hành Nên rõ ràng ở đây, năng lực tài chính củakhách hàng là một phần rất quan trọng để tổ chức tín dụng quyết định có chấpnhận chiết khấu hay không Nhưng có lẽ, sự tín nhiệm được tổ chức tín dụng đặcbiệt quan tâm nhất là dành cho tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu

Vì chính năng lực tài chính của tổ chức phát hành sẽ là yếu tố góp một phần quantrọng nhất (cùng với năng lực tài chính của khách hàng) để tổ chức tín dụng điđến việc chấp nhận chiết khấu cho khách hàng

Ví dụ: Trong năm 2011, có thể coi là năm thành công nhất từ trước đến naytrong huy động vốn cho ngân sách nhà nước thông qua đấu thầu trái phiếu Chínhphủ tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ( HNX) Lượng vốn huy động cao nhất

Qua 130 phiên đấu thầu đã huy động được 81.715,8 tỷ đồng ( gầp gần 3 lần khốilượng trúng thầu năm 2010), trong đó huy động trái phiếu kho bạc đạt 62.153,8 tỷđồng, đạt khoảng 80% kế hoạch huy động21 Khi thực hiện việc chiết khấu trênđối tượng là trái phiếu thì trái phiếu do Chính phủ phát hành luôn được ưu tiênchấp nhận chiết khấu hơn so với các loại trái phiếu do các doanh nghiệp pháthành Bởi lẽ, sự tín nhiệm của tổ chức tín dụng đối với Chính phủ luôn cao hơn so

Trang 20

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.2ỏ4.

2004, Hà Nội,

tr.203.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

với các doanh nghiệp, vì ở đây khả năng thu hồi vốn từ Chính phủ sẽ dễ dàng hơn

so với doanh nghiệp

Tuy cùng là sự tín nhiệm, nhưng với những gì đã được phân tích ở hên thì

sự tín nhiệm của tổ chức tín dụng trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá vẫn cóđiểm khác biệt so với sự tín nhiệm của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tronghợp đồng tín dụng cho vay không có bảo đảm hoặc cho vay có bảo đảm bằngchính tài sản của bên đi vay Ớ những trường hợp này thì sự tín nhiệm của tố chứctín dụng chỉ dành cho duy nhất đối với khách hàng là bên đi vay Còn trong khi

đó, ở hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá thì tổ chức tín dụng phải dành sự tínnhiệm đối với cả khách hàng và bên tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiếtkhấu Nên đây chính là một trong những đặc điểm làm nên nét khác biệt ở chiếtkhấu giấy tờ có giá so với các hình thức cấp tín dụng khác là vậy

Và bốn là, trong nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá có sự hoàn trả tiền vay

cả gốc và lãi cho tổ chức tín dụng nhận chiết khấu, mặc dù có sự khác biệt so với

sự hoàn trả trong các hình thức tín dụng khác22 Nếu như, ở nghiệp vụ cho vay thìnghĩa vụ hoàn trả (cả gốc và lãi) là thuộc về bên đi vay, nghĩa vụ này chỉ có thểchuyển giao cho bên thứ ba khi có sự thiết lập văn bản cam kết của bên thứ ba vềviệc thực hiện nghĩa vụ thay bên đi vay và phải nhận được sự đồng ý từ bên chovay Thì trong khi đó, ở nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá, nghĩa vụ trả cả gốc

và lãi được chuyển giao từ khách hàng (người bán chứng từ có giá ) sang tổ chứcphát hành giấy tờ có giá được chiết khấu mà không cần phải có bất kỳ thủ tục nào

Khách hàng chỉ phải liên đới thực hiện nghĩa vụ này khi tổ chức phát hành giấy tờ

có giá thực sự không có khả năng thanh toán khi đến hạn

I.2.2.3 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá ở góc độ pháp lý.

Ở góc độ pháp lý, chiết khấu giấy tờ có giá được quan niệm là một giaodịch hợp đồng mua bán Theo đó tố chức tín dụng thỏa thuận mua các giấy tờ cógiá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với giá thấp hơn giá trị thực của giấy

tờ có giá được chấp nhận chiết khấu23.Theo khái niệm này, thì hoạt động chiếtkhấu giấy tờ có giá được nhìn nhận như một quan hệ pháp luật có chủ thể thựchiện là người mua và người bán, đối tượng được chiết khấu là những giấy tờ cógiá chưa đến hạn thanh toán và giá để mua hàng hóa ở đây là một số tiền mà tổ

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 21 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 21

Khoản 19, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

chức tín dụng phải trả cho khách hàng sau khi đã thực hiện việc khấu hao mộtphần giá trị - gọi là lợi tức chiết khấu Yếu tố thỏa thuận luôn được các bên đặt ratrong quá trình đi đến việc thống nhất để hình thành nên nội dụng của họp đồngchiết khấu giấy tờ có giá Có thể nói, tính thỏa thuận được các bên thể hiện rõ nhất

là vấn đề về giá chiết khấu Giá chiết khấu luôn được thỏa thuận trên nguyên tắcnhằm đảm bảo công bằng, hài hòa lợi ích cho giữa đôi bên.Qua đó có thể thấygiao dịch chiết khấu giấy tờ có giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng mangđày đủ bản chất của một họp đồng mua bán, bên bán (khách hàng) sẽ thỏa thuậnchuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho bên mua (tổ chức tín dụng) Ở góc

độ pháp lý, việc coi hoạt động mua bán giấy tờ có giá là một dạng đặc thù củaquan hệ mua bán chứng từ có giá bởi những lý do sau:

Thứ nhất, trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, có sự thỏa thuận giữa

người mua (tổ chức tín dụng) và người bán (khách hàng) bằng giao dịch gọi làhọp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Ở đây, các bên có sự thỏa thuận về giá chiếtkhấu, lãi suất chiết khấu mà bên chiết khấu phải chịu, phương thức chiết khấu

Thứ hai, đối tượng mà các bên thực hiện việc mua bán ở đây là những giấy

tờ có giá đã được tổ chức tín dụng chấp nhận chiết khấu

Thứ ba, có sự chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu từ

người bán (khách hàng) sang cho người mua (tổ chức tín dụng) Và tương ứng đó

là việc tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo giá chiết khấu đã đượccác bên thỏa thuận

Từ những lý do đã được đề cập trên đây, có thể kết luận rằng về bản chấtpháp lý hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng thực chất là mộtquan hệ họp đồng mua bán chứng từ có giá

Theo quy định của pháp luật hiện hành: chiết khấu là việc mua có kỳ hạnhoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giákhác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.24

Thuật ngữ “mua có kỳ hạn”, ở đây được hiểu là việc tổ chức tín dụng mua

giấy tờ có giá trước thời hạn thanh toán từ tổ chức phát hành đối với giấy tờ có giáđược mua đó Và có cam kết mua lại giấy tờ có giá đã bán của khách hàng trướckhi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán từ tổ chức phát hành

Thuật ngữ “mua có bảo lưu quyển truy đòi”, ở đây được hiểu là việc tổ

chức tín dụng mua giấy tờ có giá của khách hàng với điều kiện có bảo lưu quyền

Trang 22

Khoản 14, Điều 20, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2004.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

truy đòi Tổ chức tín dụng có quyền truy đòi đối với khách hàng khi giấy tờ có giákhông được tổ chức phát hành thanh toán khi đáo hạn

Trong khi đó, quy định của pháp luật trước đây: Chiết khấu là việc tổ chứctín dụng mua thưomg phiếu, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khiđến hạn thanh toán.25

Có thể thấy so với pháp luật hiện hành thì quy định của pháp luật trước đâycòn tồn tại một số điếm hạn chế:

Thứ nhất, về đối tượng giấy tờ có giá được chiết khấu bị hạn chế Cụ thể

so với thuật ngữ “công cụ chuyển nhượng” mà pháp luật hiện hành quy định (gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc), thì thuật ngữ “thương phiếu” quy

định ở pháp luật trước đây chỉ được hiếu là trên đối tượng giấy tờ có giá là hốiphiếu

Thứ hai, khái niệm pháp luật trước đây chưa quy định về việc bảo lưu

quyền truy đòi của tổ chức túi dụng đối với khách hàng khi chiết khấu giấy tờ cógiá

Có thể thấy, khái niệm của pháp luật hiện hành quy định về chiết khấugiấy tờ có giá là có bước tiến rõ rệt trong việc mở rộng đối tượng điều chỉnh, cũngnhư đưa ra biện pháp nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng khithực hiện việc chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng phù họp với tình hìnhthực tế khách quan đòi hỏi đối với hoạt động này

Ngoài ra, khi đề cập đến khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá, ở đây cần lưu

ý rằng có hai hoạt động chiết khấu được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau cùngvới hai mục đích cũng không giống nhau Một hoạt động chiết khấu được thựchiện bởi Ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng thương mại nói chung (bao gồmngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác được phép chiết khấu giấy tờ

có giá theo quy định của pháp luật), là hình thức tái cấp vốn ngắn hạn, nhằm mụcđích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô Một hoạt độngchiết khấu được thực hiện trên chủ thể (chủ yếu là ngân hàng thương mại) với các

tổ chức, cá nhân; nhằm mục đích kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận Ở khuôn khổcủa luận văn, người viết chỉ tập trung tìm hiểu hoạt động chiết khấu giấy tờ có giágiữa tổ chức tín dụng với khách hàng là các tổ chức, cá nhân

Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng thì hoạt độngchiết khấu giấy tờ có giá được biết đến như là một trong số những nghiệp vụ kinhdoanh truyền thống của các tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng thương mại)

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 23 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 23

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.2Ò2. Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận mua các thương phiếu của khách hàng trước

kỳ hạn thanh toán với điều kiện là khấu trừ một phần giá trị của thương phiếuđược chiết khấu, gọi là lợi tức chiết khấu.26

Ngày nay, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá đã có bước phát triển vượtbậc ở cả chủ thể và đối tượng là những giấy tờ có giá được chiết khấu cũng trởnên đa dạng hơn Chủ thể thực hiện hoạt động chiết khấu với tư cách là mộtnghiệp vụ không chỉ có các ngân hàng thương mại mà còn bao gồm các tố chứctín dụng khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính cũng thực hiệnhoạt động này Thương phiếu không còn được biết đến như một loại giấy tờ có giáduy nhất được chiết khấu mà bên cạnh đó xuất hiện thêm nhiều loại giấy tờ có giákhác như: tín phiếu, trái phiếu .cũng tham gia chiết khấu trên thị trường tàichính Qua đó, góp phàn tạo nên sự đa dạng về đối tượng được chiết khấu ởnghiệp vụ này khi mà những đòi hỏi tất yếu từ sự phát triển của những công cụ tàichính hiện nay Chiết khấu giấy tờ có giá đã trở thành một trong những nghiệp vụcấp tín dụng hỗ trợ đắc lực, giải quyết kịp thời nhu cầu về vốn cho các nhà kinhdoanh trong quá trình hoạt nghề nghiệp của mình

Tóm lại, mặc dù khi xem xét ở những góc độ khác nhau thì hoạt động chiếtkhấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng có những bản chấtkhác nhau Nhưng chung quy lại, chiết khấu giấy tờ có giá là hình thức cấp tíndụng của tổ chức tín dụng mà theo đó, tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá chưađến hạn thanh toán của khách hàng, để nhận lấy quyền đòi nợ thay khách hàng từ

tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu khi đến hạn thanh toán

1.3 Đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.

Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá vừa là nghiệp vụ cấp tín dụng vừa làquan hệ mua bán chứng từ có giá, giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên mua) vàmột bên là khách hàng (bên bán) Nên hoạt động này, mang đầy đủ dấu hiệu của

cả hai mối quan hệ pháp luật đã được đề cập trên đây, bao gồm những đặc điểmsau:

1.3.1 về chủ thể:

Trong quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá gồm 2 bên chủ thể là bên bên nhậnchiết khấu (tổ chức tín dụng) và bên chiết khấu (khách hàng) Trong đó, bên nhậnchiết khấu đóng vai trò là bên mua giấy tờ có giá trước thời hạn thanh toán của

Trang 24

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

khách hàng Bên chiết khấu, đóng vai trò là bên bán giấy tờ có giá thông qua lời

đề nghị mong muốn được chiết khấu của họ với tổ chức tín dụng Bên chiết khấu

sẽ nhận được khoản tiền thanh toán từ bên nhận chiết khấu theo giá chiết khấu màcác bên đã thỏa thuận Tương ứng đó, khi đặt dưới góc độ kinh tế, thì các bên chủthể tham gia trong quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá cũng giữ những vai trò nhấtđịnh Cụ thể, tổ chức tín dụng giữ vai ừò là bên cung ứng tín dụng và khách hàng

sẽ vai trò là bên thụ hưởng tín dụng Khách hàng sẽ nhận được khoản vốn cấp tíndụng từ tổ chức tín dụng tương ứng với lượng giấy tờ có giá được chiết khấu

Qua đó có thể thấy rằng, các bên chủ thế tham gia vào quan hệ chiết khấugiấy tờ cỏ giá sẽ giữ những vai trò khác nhau khi được xem xét dưới nhữngphương diện, góc độ khác nhau Tuy mặc dù giữ những vai trò khác nhau như thếnào trong quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá, thì những vai trò đó đều nhằm hướngđến việc đi tới mục đích cuối cùng mà các bên tham gia vào hoạt động này mongmuốn đạt được

Cụ thể, là các điều khoản cơ bản về đối tượng, phương thức chiết khấu, về chuyểngiao quyền sở hữu giấy tờ có giá đươc chiết khấu, giá và lãi suất chiết khấu,quyền và nghĩa vụ của các bên trong họp đồng, hình thức xử lý khi vi phạm cũngnhư phương thức giải quyết khi có tranh chấp phát sinh xảy ra

Tuy là một nghiệp vụ cấp tín dụng của tổ chức tín dụng nhưng xét về mặtpháp lý thì họp đồng chiết khấu giấy tờ có giá mang bản chất của một họp đồngmua bán hàng hóa, với đối tượng hàng hóa được mua bán ở đây là các loại giấy tờ

có giá Nên so sánh với hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay thì hợp đồngchiết khấu giấy tờ có giá vẫn có những điểm giống và khác biệt riêng

- Điểm giống nhau:

+ Thứ nhất, cả hai họp đồng này đều có một chủ thể chung là tổ chức tín

dụng, đóng vai trò là bên cung ứng tín dụng trong mỗi hoạt động tương ứng mà họtham gia

+ Thứ hai, trong hai hoạt động này thì hợp đồng luôn được thể hiện dưới

hình thức là vãn bản

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 25 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 25

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.2Ó7. Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

+ Thứ ba, cả hai hợp đồng này đều được tổ chức tín dụng thực hiện nhằm

mục đích sinh lợi

- Điểm khác nhau:

+ Thủ nhất, có sự khác nhau về đối tượng của hợp đồng Nếu như đối

tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là những loại giấy tờ có giá thỏađiều kiện được chiết khấu, thì trong khi đó đối tượng của hợp đồng tín dụng làkhoản vốn cho vay

+ Thứ hai, về mặt lý thuyết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được hình

thành dựa trên sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng để xây dựng,xác lập nên các điều khoản trong họp đồng Trong khi đó, họp đồng túi dụng luôntồn tại dưới dạng họp đồng mẫu, mang tính chất ưng thuận - do tổ chức tín dụngđảm nhận việc soản thảo

Có thể thấy, dù là một nghiệp vụ cấp tín dụng của tổ chức tín dụng nhưngchiết khấu giấy tờ có giá vẫn có những nét đặc trưng riêng so với các hình thứccấp tín dụng khác

1.3.3 về trình tự, thủ tục giao kết họp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Do hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ cấp tín dụng chokhách hàng thông qua việc tổ chức tín dụng mua các giấy tờ có giá trước kỳ hạnthanh toán, nên ngoài việc đòi hỏi tổ chức tín dụng phải làm thủ tục thẩm định hồ

sơ xin chiết khấu (giống như thủ tục thẩm định hồ sơ trong nghiệp vụ cho vaythông thường), thì khách hàng được chiết khấu phải làm thủ tục chuyển giaoquyền sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu cho tổ chức tín dụng để được nhận

khoản thanh toán, cỏ thể thấy rằng, trình tự thủ tục này là sự kết họp giữa yếu tố

kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng (được thể hiện thông qua thủ tục thẩm định hồ sơ xinchiết khấu) với yếu tố kỹ thuật pháp lý trong họp đồng mua bán giấy tờ có giá (được thể hiện ở thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua

và thanh toán tiền mua giấy tờ có giá cho người bán)27 Cũng chính nhờ sự kếthợp này, một lần nữa cho thấy nét đặc trưng riêng cho hoạt động chiết khấu giấy

tờ có giá so với các hoạt động cấp tín dụng khác của tổ chức tín dụng như chovay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng hay bao thanh toán

1.3.4 về giá bán giấy tờ có giá.

Trang 26

Ths.Trần Vũ Hải, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, te

150-151. Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Mặc dù, trên nguyên tắc khi tham gia giao dịch chiết khấu giấy tờ có giácác bên có quyền thỏa thuận với nhau về giá cả nhưng trên thực tế giá chiết khấubao giờ cũng thấp hom trị giá của giấy tờ có giá được chiết khấu Sở dĩ như vậy, là

do khi chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng thì tổ chức tín dụngphải đợi đến một khoảng thời gian nhất định (đáo hạn thanh toán) mới có thể thuhồi lại số vốn đã bỏ ra chiết khấu, từ người mắc nợ theo giấy tờ có giá được chiếtkhấu Hay nói cách khác đi, khi tố chức túi dụng chấp nhận chiết khấu giấy tờ cógiá cho khách hàng là đã tự nhận lấy về phía mình các rủi ro trong trường họpkhông được tổ chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu thanh toán Màđáng lẽ yếu tố rủi ro ở đây phải thuộc về chủ sở hữu giấy tờ có giá được chiếtkhấu trước đó Nên việc giá chiết khấu luôn thấp hom giá trị thực tế được ghi nhậntrên giấy tờ có giá là hoàn toàn hợp lý Bởi sự chênh lệch này được xem là khoản

bù đắp cho những rủi ro mà tổ chức tín dụng có thể gặp phải và đây cũng chính làkhoản lợi tức có được của tổ chức tín dụng từ việc thực hiện nghiệp vụ nhằm mụcđích kinh doanh này

1.3.5 về quyền truy đòi của bên mua đối vói bên bán.

Nếu đối tượng chiết khấu là các công cụ chuyển nhượng (bao gồm hốiphiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc), thì theo quy định của pháp luật, bên mua

có quyền quay lại truy đòi bên đã bán các công cụ chuyển nhượng trước đó chomình, khi đã đáo hạn mà không được thanh toán Quy định đặc thù này nhằm gópphần bảo vệ quyền lợi cho người có quyền sở hữu các công cụ chuyển nhượng saukhi đã mua chúng Và cũng nhờ đó góp phần lảm tăng khả năng lưu thông của cáccông cụ chuyển nhượng trên thị trường tài chính Với mức độ rủi ro thấp nên cáccông cụ chuyển nhượng (gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc) luôn là

sự lựa chọn hàng đầu của các tổ chức tín dụng khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấuđối với khách hàng Đối với các loại giấy tờ có giá khác, tuy pháp luật có quyđịnh chung về quyền truy đòi của tổ chức tín dụng đối với khách hàng nhưng vấn

đề này vẫn chưa thật sự, rõ ràng như pháp luật đã quy định dành cho các công cụchuyển nhượng

1.4 Phân loại chiết khấu giấy tờ có giá 28

Ngày nay các loại giấy tờ có giá được phép tham gia vào hoạt động chiếtkhấu ngày càng trở nên đa dạng hom, cũng chính điều này làm cho việc phân loại

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 27 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 27

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

chiết khấu giấy tờ có giá không hề đơn giản chút nào Tùy theo tiêu chí được đưa

ra, mà tương ứng với mỗi tiêu chí sẽ có một loại chiết khấu khác nhau

1.4.1 Dựa vào tiêu chí thòi hạn chiết khấu.

Theo tiêu chí này, có thể chia chiết khấu giấy tờ có giá thành hai loại là chiết khấudài hạn và chiết khấu ngắn hạn

1.4.1.1 Chiết khấu dài hạn.

Là loại chiết khấu mà thời gian nắm giữ giấy tờ có giá của tố chức tíndụng từ 1 năm trở lên Do đó ừong điều khoản hợp đồng của hình thức chiết khấunày đòi hỏi phải ghi rõ về thời hạn mà tổ chức tín dụng được quyền sở hữu đối vớigiấy tờ có giá được chiết khấu, thời hạn đó phải ghi rõ ngày bắt đầu có hiệu lựccủa hợp đồng, tức ngày bên chiết khấu chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ cógiá cho tố chức tín dụng Ớ đây thời hạn nắm giữ giấy tờ có giá được xác định làkhoảng thời gian từ khi tổ chức tín dụng chiết khấu giấy tờ có giá cho đến khi tổchức tín dụng được tổ chức phát hành giấy tờ có giá đó thanh toán Đối với loạichiết khấu này, do rủi ro thanh toán sẽ cao hơn nên lãi suất chiết khấu cũng sẽ caohơn các hình thức chiết khấu khác và do các bên thỏa thuận, điều này phải đượcquy định rõ trong hợp đồng chiết khấu nhưng phải phù hợp với lãi suất mà phápluật quy định

1.4.1.2 Chiết khấu ngắn hạn.

Là loại chiết khấu mà thời hạn nắm giữ giấy tờ có giá của tổ chức túi dụng

có thời hạn dưới 1 năm Nên trong điều khoản hợp đồng của hình thức chiết khấunày cũng cần phải ghi rõ về thời hạn thanh toán của giấy tờ có giá là đối tượngđược chiết khấu phải cỏ thời hạn dưới 1 năm, điều này được xác định bằng thờigian bắt đầu chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá của bên chiết khấu(khách hàng) cho bên nhận chiết khấu (tổ chức tín dụng) Có thể thấy trên thực tế,nghiệp vụ chiết khấu ngắn hạn thường được ưa chuộng hơn là chiết khấu dài hạn,

vì nó đảm bảo tốt hơn khả năng thanh khoản cho tổ chức tín dụng, đồng thờikhách hàng cũng phải trả lãi chiết khấu thấp hơn nên số tiền nhận được còn lại sẽcao hơn Điều này cũng phải được các bên thể hiện rõ trong hợp đồng và phải phùhợp với mức lãi suất do pháp luật quy định

1.4.2 Dựa vào tiêu chí về khả năng được thanh toán của tổ chức tín

khách hàng đối vói giấy tờ có giá đã chiết khấu.

Gồm hai loại là chiết khấu có quyền truy đòi và chiết khấu không có quyền truyđòi

1.4.2.1 Chiết khấu có quyền truy đòi:

Trang 28

Nguyễn Hữu Đức, Bàn về vẩn đề chiết khẩu trong giao dịch thư tín dụng, Tạp chí Ngân hàng,

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Chiết khấu có quyền truy đòi là loại chiết khấu cho phép tổ chức tín dụngnhận chiết khấu có quyền yêu cầu người thụ hưởng lợi hoàn trả lại số tiền đã được

tổ chức tín dụng nhận chiết khấu trả trước cộng với lãi suất phát sinh trong trườnghọp tổ chức tín dụng nhận chiết khấu được chỉ định không nhận được tiền hoàntrả từ tổ chức phát hành.29

Từ khái niệm trên có thể thấy, đây là loại chiết khấu mà tổ chức tín dụng

có quyền truy đòi khách hàng đã chiết khấu nếu giấy tờ có giá không được tổ chứcphát hành thanh toán Ở đây, quyền truy đòi được hiểu là quyền đòi khách hàngphải thanh toán số tiền mà đáng lẽ tổ chức tín dụng được nhận từ tổ chức pháthành giấy tờ có giá nếu giấy tờ có giá đó được chấp nhận thanh toán Quy định vềquyền truy đòi nhằm đảm bảo giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động chiết khấucủa bên nhận chiết khấu, mà ừong đó có thế vì lý do nào đó không thuộc lỗi củabên nhận chiết khấu mà khi đến hạn thanh toán, tổ chức phát hành giấy tờ có giáđược chiết khấu không thanh toán cho bên nhận chiết khấu Khi đó, bên nhậnchiết khấu được quyền thực hiện quyền truy đòi của mình đối với bên chiết khấu

về các quyền lợi liên quan đến loại giấy tờ có giá được chiết khấu đó Do tính chấtđặc biệt, nên đòi hỏi trong họp đồng của hình thức chiết khấu này cần phải ghi rõnội dung của điều khoản về quyền truy đòi để tạo thuận lợi khi có căn cứ để thựchiện quyền lợi này, nếu trường họp rủi ro trên thực sự xảy ra đối với bên nhậnchiết khấu Điều khoản quyền truy đòi có được dựa trên sự thỏa thuận bình đẳng,

tự nguyện giữa hai bên và trong đó khách hàng cam kết trách nhiệm đối vớitrường họp tố chức phát hànhgiấy tờ có giá được chiết khấu không thanh toán khiđến hạn

1.4.2.2 Chiết khấu miễn truy đòi:

Chiết khấu miễn truy đòi là việc tổ chức túi dụng nhận chiết khấu mua đứthối phiếu hoặc chứng từ và chịu rủi ro trong trường họp tổ chức tín dụng nhậnchiết khấu không nhận được tiền hoàn trả từ tổ chức phát hành.30

Là loại chiết khấu mà tổ chức túi dụng không có quyền truy đòi nếu tổchức phát hành giấy tờ có giá từ chối thanh toán Có thể thấy đặc điểm riêng khácbiệt duy nhất của hình thức chiết khấu này đã được thể hiện ngay ở tên gọi, bảnchất của hình thức chiết khấu này trái ngược với hình thức chiết khấu có quyềntruy đòi Cụ thể ở đây về họp đồng các bên thỏa thuận, quy định bên nhận chiết

GVHD: Lê Huỳnh Phưo'ng Chinh - 29 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 29

Khoản 19, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

khấu không có quyền truy đòi bên chiết khấu nếu không được tổ chức phát hànhgiấy tờ có giá thanh toán Quy định này xuất phát từ đặc trưng của loại giấy tờ cógiá được chiết khấu, do đó mà trong trường họp giấy tờ có giá không được tổchức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu thanh toán thì bên chiết khấu vẫnkhông phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận chiết khấu Khi thực hiện giao kếthọp đồng, thì bản thân bên nhận chiết khấu đã lường trước được tình huống có thế

sẽ không được thanh toán từ tố chức phát hành giấy tờ có giá được chiết khấu vàcam kết chấp nhận tình huống đó nếu xảy ra trên thực tế Ở đây không có sự ràngbuộc nghĩa vụ pháp lý khi tình huống xảy ra cho bên chiết khấu Nên do đó, đòihỏi điều khoản này phải được các bên thể hiện rõ trong họp đồng Chiết khấu

miễn truy đòi làm tăng khả năng rủi ro thu hồi vốn của tổ chức tín dụng, về mặt

lý thuyết, nếu các bên không thỏa thuận về việc miễn truy đòi thì nghiệp vụ chiếtkhấu đang thực hiện được hiểu là chiết khấu có quyền truy đòi

Hiện nay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, khôngcho phép thực hiện nghiệp vụ chiết khấu miễn truy đòi, vì khái niệm chiết khấusau đây mà luật này đưa ra đã bao hàm cả việc bảo lưu quyền truy đòi

“ Chiết khẩu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi

các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán ” 31

1.4.3 Dựa vào tiêu chí quyền mua lại giấy tờ có giá của khách hàng (bên chiết khấu).

Theo tiêu chí này, chiết khấu giấy tờ có giá có hai loại là chiết khấu có thời hạn vàchiết khấu vĩnh viễn

I.4.3.I Chiết khấu có thòi hạn.

Là loại chiết khấu mà khách hàng cam kết mua lại giấy tờ có giá sau mộtthời hạn nhất định với mức giá thỏa thuận và thời điểm mua lại này là trước khigiấy tờ có giá đến hạn thanh toán Việc mua hay bán giấy tờ có giá trong quan hệnày chỉ mang tính chất tạm thời, hoàn toàn chịu sự chi phối, ràng buộc của điềukhoản cam kết về thời hạn nhất định mà hai bên đã thỏa thuận, theo đó khi đếnthời hạn này thì bên nhận chiết khấu sẽ phải tiến hành hoạt động mua lại chínhgiấy tờ có giá là đối tượng chiết khấu trong họp đồng này với sự thỏa thuận vềmức giá cả trước đó và thời điểm mua lại này buộc phải diễn ra trước khi giấy tờ

có giá đến hạn Việc thỏa thuận điều khoản này là hoàn toàn tự nguyện, do đó cóthể coi bản chất của loại họp đồng này là nhằm cung ứng tiền trong khoảng thời

Trang 30

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

gian ngắn hạn có điều kiện và bên chiết khấu sẽ tiến hành mua lại tại thời điểm đãthỏa thuận ừong hợp đồng, nếu đến thời điểm đó mà bên chiết khấu không tiếnhành mua lại giấy tờ có giá đó thì quyền sở hữu giấy tờ có giá đó sẽ thuộc hoàntoàn của bên nhận chiết khấu Xuất phát từ lý do trên, nên đối với việc lựa chọnhình thức chiết khấu này thì bên nhận chiết khấu sẽ phải chấp nhận mức giá thấphơn so với các loại hình chiết khấu khác Đồng thời đối với loại hình chiết khấunày thì yêu cầu trong họp đồng phải ghi rõ về sự thỏa thuận mức giá và thời điểmmua lại giấy tờ có giá đối với bên nhận chiết khấu - đây là một điều khoản quantrọng để thực hiện họp đồng và so sánh với các loại họp đồng khác Tất cả các vấn

đề trên đều dựa trên sự thỏa thuận của hai bên nhưng vẫn phải tuân theo sự điềuchỉnh của pháp luật ngân hàng và pháp luật liên quan Loại chiết khấu này thíchhọp với các loại giấy tờ có giá còn thời hạn dài trong khi nhu cầu sử dụng vốn củakhách hàng lại ngắn hơn đáng kể

I.4.3.2 Chiết khấu vĩnh viễn (hay còn gọi là chiết khấu toàn bộ thòi hạn còn

lại của giấy tờ có giá).

Là loại chiết khấu mà việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá được thựchiện ngay và hoàn toàn tại thời điểm chiết khấu mà không kèm theo cam kết mualại giấy tờ có giá của khách hàng - đây được xem là hình thức mua hẳn giấy tờ cógiá của tổ chức tín dụng Như vậy, với loại họp đồng này khách hàng phải chuyểngiao ngay quyền sở hữu giấy tờ có giá của mình khi bên nhận chiết khấu chấpnhận chiết khấu Kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sử dụnggiấy tờ có giá đó thì bên nhận chiết khấu sẽ là người sở hữu họp pháp với nhữnggiấy tờ cỏ giá này và đương nhiên được hưởng mọi quyền lợi phát sinh từ nó Kể

từ thời điểm đó, bên nhận chiết khấu có quyền thực hiện tái chiết khấu các giấy tờ

có giá cho chủ thể khác có nghiệp vụ chiết khấu vào bất cứ lúc nào trước khi giấy

tờ có giá đó đến hạn thanh toán Lãi chiết khấu sẽ được tính tương ứng với toàn

bộ thời gian còn lại của giấy tờ có giá đó kể từ khi bên nhận chiết khấu đồng ýchiết khấu đến khi đáo hạn

Chiết khấu vĩnh viễn thích họp với trường họp thời hạn còn lại của giấy tờ

có giá ngắn và nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng dài hơn thời hạn còn lại củagiấy tờ có giá được chiết khấu

1.4.4 Dựa vào tiêu chí số lần chiết khấu đối vói một giấy tờ có giá.

Gồm chiết khấu và tái chiết khấu

Tái chiết khấu: là việc tổ chức tín dụng chiết khấu giấy tờ có giá của một tổchức tín dụng khác sau khi tổ chức tín dụng này chiết khấu cho khách hàng Chủ

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 31 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 31

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

thể tái chiết khấu (với tư cách là khách hàng đề nghị chiết khấu), đương nhiênphải là tố chức tín dụng Không chỉ có tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ chiếtkhấu mà Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện việc tái chiết khấu giấy tờ có giátrong trường họp tái cấp vốn

Qua việc phân loại trên, có thể thấy rằng trên thực tế hiện tồn tại rất nhiềuhình thức chiết khấu giấy tờ có giá, việc phân loai chiết khấu giấy tờ có giá thànhnhững loại hình cụ thế dựa trên những tiêu chí khác nhau giúp cho việc quản líhoạt động ngân hàng của các cơ quan có thẩm quyền được dễ dàng hơn Đồngthời việc phân loại có hệ thống, rõ ràng các họp đồng chiết khấu sẽ giúp cho quytrình chiết khấu được thuận lợi hơn, cả bên chiết khấu và bên nhận chiết khấu đều

có thể dễ dàng nhận biết và lựa chọn cho mình những hình thức chiết khấu phùhợp, bảo đảm mang lại được những lợi ích tốt nhất Bên canh đó việc phân loạinày sẽ giúp cho việc đơn giản hóa các trình tự, thủ tục khi thực hiện nghiệp vụ tíndụng này được triệt để, qua đó tránh được những chi phí phát sinh không đáng cókhi thực hiện

Đồng thời việc phân loại chiết khấu giấy tờ có giá sẽ đưa hoạt động ngânhàng được đến gần với đời sống xã hội và người dân hơn Đơn giản hóa thủ tục,

rõ ràng hiện luôn là chủ trương mà pháp luật nước ta hướng tới, việc phân loạichiết khấu giấy tờ có giá sẽ tạo ra sự thuận lợi cho khách hàng khi họ có ý địnhthực hiện nghiệp vụ này Góp phần mang lại ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia, giúp hoạt động cấp tín dụng được dễ dàng và hiệu quảhơn trên thực tế

1.5 Lọi ích và rủi ro từ hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ

dụng.

1.5.1 Lợi ích của chiết khấu giấy tờ có giá.

1.5.1 L Đối vói tổ chức tín dụng.

> Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro.

Như đã tìm hiểu, chiết khấu là hợp đồng bao hàm cả yếu tố truy đòi, vì vậykhi tổ chức tín dụng không thu hồi được nợ từ tổ chức phát hành giấy tờ có giáđược chiết khấu thì có thể đòi tiền ở người bán hoặc ở những người liên đới chịutrách nhiệm theo quy định của pháp luật Chẳng hạn đối với hối phiếu đòi nợ, theoquy định của pháp luật thì tổ chức tín dụng (người thụ hưởng) có thể thực hiệnquyền truy đòi của mình đối với người ký phát và những đối tượng có liên quannhư người bảo lãnh, người chuyển nhượng trước đó của hối phiếu đòi nợ Nên ở

Trang 32

PGS.TS Lê Văn Tề, Tín dụng ngân hàng, NXB Giao thông vận tải, 2010, tr.193.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

đây ta có thể thấy trách nhiệm thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng (bên nhận chiếtkhấu) không chỉ do một chủ thể thực hiện mà có thể do nhiều chủ thể khác nhau

> Chiết khấu tạo ra tính thanh khoản cao cho nguồn vốn của tổ chức tín

dụng.

Tính thanh khoản của chiết khấu giấy tờ có giá được thể hiện thông quatính thanh khoản của giấy tờ có giá được chiết khấu Sau khi thực hiện việc chiếtkhấu giấy tờ có giá cho khách hàng, để đáp ứng nhu cầu thu hồi vốn trước thờihạn thanh toán từ tổ chức phát hành, thì tổ chức tín dụng có thể thực hiện việc táichiết khấu giấy tờ có giá đó cho tổ chức túi dụng khác Nên với tính thanh khoản,

sẽ giúp cho tổ chức tín dụng giải phóng nguồn vốn một cách hiệu quả, nâng caokhả năng trong việc quản lý đồng vốn kinh doanh của mình

> Việc ứng vốn trong nghiệp vụ chiết khấu sẽ tạo ra tiền gửi, từ đó hình

thành nên nguồn vốn cho tổ chức tín dụng.

Khi chấp nhận chiết khấu, số tiền mà tổ chức tín dụng cấp cho khách hàng

sẽ được chuyển sang dưới dạng tài khoản tiền gửi số tiền này có thể chưa sửdụng ngay toàn bộ, nên khi đó chính số tiền này đã góp một phần nguồn vốn cho

tổ chức tín dụng nhờ việc được tính lãi suất32 Chính điều này đã hấp dẫn các tổchức tín dụng ưa chuộng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu hom so với các nghiệp vụcấp tín dụng khác

I.5.I.2 Đối vổi khách hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, chính yếu tố cạnh tranh đã dẫn đến các thỏathuận về việc bán chịu hàng hóa có thời hạn trả tiền trở nên thực tế hom Tuynhiên cũng sẽ cỏ trường họp, khi một người cầm trong tay các giấy tờ có giá chưađến hạn thanh toán nhưng lại cần tiền Khi đó chiết khấu sẽ là nghiệp vụ cấp tíndụng tối ưu nhất kịp thời giải quyết mâu thuẫn này Ở đây, tức là khách hàng sẽbán giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng, qua đó đổi lại lấy được tiền để đáp ứngnhu cầu về vốn của mình

Riêng về phía khách hàng là các doanh nghiệp, chiết khấu còn góp phầngiúp gia tăng quan hệ tín dụng thưcmg mại giữa các doanh nghiệp Vì với nghiệp

vụ chiết khấu của tổ chức tín dụng thì doanh nghiệp sẽ sẵn lòng bán chịu do có thểchiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn thanh toán mà không cần phải giữmãi giấy tờ có giá đó Qua đó, góp phần làm cho quan hệ thưcmg mại ngày càng

mở rộng, quay vòng vốn nhanh, linh hoạt, mang lại lợi nhuận cao do hàng hóađược sản xuất nhiều

GVHD: Lê Huỳnh Phưomg Chinh - 33 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 33

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

I.5.I.3 Đối vói nền kinh tế.

Chiết khấu giấy tờ có giá là hình thức cấp tín dụng an toàn cho nền kinh

tế, vì khi cấp tín dụng bằng hình thức này sẽ đảm bảo nguyên tắc cân bằng giữalượng hàng hóa và tiền trong lưu thông Tiền được tưng ra từ tổ chức tín dụng thìtrong nền kinh tế cũng có sẵn một lượng hàng hóa tưomg ứng đang luân chuyển,

do đó sẽ góp phần giảm thiểu áp lực lạm phát cho nền kinh tế của đất nước Cũngcàn phải lưu ý rằng, hàng hóa mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên vậtliệu phục vụ sản xuất, cho nên cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu sẽ tạo điềukiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng lượng hàng hóa lưu thông cho nền kinh tế.Hơn nữa, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức túi dụng là một trongnhững công cụ hiệu quả góp phần cùng với Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốtcông tác điều hòa lượng tiền trong lưu thông nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của đấtnước

1.5.2 Rủi ro của chiết khấu giấy tờ có giá.

Hai mặt tích cực và tiêu cực ừong một vấn đề luôn tồn tại song song nhau

Ở hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá cũng vậy, bên cạnh những lợi ích mà hoạtđộng này mang lại thì vẫn còn đó không ít những rủi ro tiềm ẩn

1.5.2.1 Rủi ro không thanh toán do giấy tờ có giá giả mạo.

Rủi ro này xuất phát do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu vàphổ biến nhất là do tổ chức, cá nhân khi gặp khó khăn về vấn đề tài chính, có nhucầu cần đến vốn nhưng không được ngân hàng cho vay dưới hình thức ứng trướcnên họ đã thiếp lập các giấy tờ có giá giả nhằm mục đích để được tổ chức tín dụngchiết khấu Giấy tờ cỏ giá hình thành trong tình huống này sẽ làm cho cơ sở hoàntrả vốn hết sức bấp bênh, vì bản thân tổ chức, cá nhân thiết lập nên giấy tờ có giágiả đã yếu kém về mặt tài chính lại thêm việc sử dụng vốn của họ không nhằmmục đích sản xuất mà chủ yếu là để giải quyết khó khăn về tài chính Đó là chưa

kể đến việc xem xét hiệu lực của giấy tờ có giá giả đó về mặt pháp lý Với giấy tờ

có giá giả sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho tổ chức tín dụng mất cả vốn lẫn lãi đã bỏ rachiết khấu Tuy nhiên không vì thế mà quyền lợi của tổ chức tín dụng (bên nhậnchiết khấu) trong trường họp này bị bỏ lơ, mà trái lại đã được các quy định củapháp luật (hình sự, hành chính ) bảo vệ Nhưng cũng không vì thế mà các tổchức tín dụng lơ là trong công tác nghiệp vụ của mình Mà đòi hỏi các tổ chức tíndụng khi thực hiện hoạt động này phải chủ động trong công tác kiểm tra, thẩmđịnh giấy tờ có giá, cần có phương tiện kỹ thuật hiện đại cùng đội ngũ cán bộ có

Trang 34

Khoản 19, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

35 Khoản 17, Điều 4, Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao trong việc góp phần phát hiện những giấy

tờ có giá giả mạo

I.5.2.2 Rủi ro do mất khả năng thanh toán.

Đen hạn thanh toán mà người mắc nợ theo giấy tờ có giá được chiết khấu

do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan mà không có khả năng thanhtoán và nếu chiết khấu dưới hình thức miễn truy đòi thì coi như tổ chức tín dụngmất tiền mà không có một sự bảo vệ nào Cũng chính vì điều này, nên các tổ chứctín dụng thường xem xét rất kỹ năng lực tài chính của người mắc nợ theo giấy tờ

có giá được chiết khấu trước khi quyết định có chiết khấu cho khách hàng haykhông Hon nữa các tổ chức túi dụng thường lựa chọn hình thức chiết khấu cóquyền truy đòi để đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn và lãi đã bỏ ra trước đó Đó

là những quy định trước kia còn với quy định của pháp luật hiện hành thì mọi hìnhthức chiết khấu đều có bảo lưu quyền truy đòi của tổ chức tín dụng đối với kháchhàng33 Quy định này của pháp luật đã góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức tíndụng (bên nhận chiết khấu) khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá chokhách hàng và qua đó góp phần loại trừ rủi ro này xảy râ trên thực tế

Có thể thấy, mặc dù vẫn có những rủi ro nhất định nhưng chiết khấu giấy

tờ có giá thực sự là một hình thức cấp tín dụng hấp dẫn đối với mọi khách hàng từnhững lợi ích mà nghiệp vụ này mang lại

1.6 Phân biệt hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá vói hoạt động bao thanh

toán của tổ chức tín dụng.

Để có thể biết rõ hon về hoạt động này trong mối quan hệ với các hìnhthức cấp tín dụng khác Người viết có sự phân biệt giữa chiết khấu giấy tờ có giávới hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng trên cơ sở những quy định củapháp luật hiện hành điều chỉnh trực tiếp về hai hoạt động

Chiết khấu giấy tờ có giá là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưuquyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụhưởng trước khi đến hạn thanh toán34 Trong khi đó, bao thanh toán là hình thứccấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảolưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việcmua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứngdịch vụ35

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 35 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 35

Khoản 1, Điều 2, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đói với

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Tuy cả hai hoạt động này đều là những hình thức cấp tín dụng của tổ chứctín dụng đối với khách hàng nhưng giữa chúng vẫn có những đặc điểm khác biệt

về chủ thể, đối tượng, phưomg thức, trình tự, thủ tục thực hiện

- Còn chủ thể của quan hệ bao thanh toán là gồm có bên bao thanh toán vàbên được bao thanh toán Bên bao thanh toán là tổ chức tín dụng được cấp phépthực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàngcủa mình dưới hình thức mua lại các khoản phải thu thương mại Theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành tổ chức tín dụng được phép thực hiện nghiệp vụ baothanh toán là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính

và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam39 Bên được bao thanh toán làbên bán hàng hoặc bên mua hàng có các khoản phải thu hoặc các khoản phải trảphát sinh từ họp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.40

Trang 36

Điều 5, 6, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

Từ quy định của pháp luật có thể thấy sự khác nhau về mặt chủ thể giữa haihoạt động này, nếu như khách hàng (bên chiết khấu) của quan hệ chiết khấu giấy

tờ có giá là những tổ chức, cá nhân có nhu càu và có giấy tờ có giá thỏa điều kiệnđược chiết khấu theo quy định của pháp luật Thì ở quan hệ bao thanh toán cókhách hàng (bên được bao thanh toán) là bên mua hoặc bên bán hàng hóa có cáckhoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ họp đồng mua bán hàng hóa,họp đồng cung ứng dịch vụ Mặc dù được pháp luật ghi nhận chủ thể là kháchhàng của quan hệ bao thanh toán có thể là bên mua có các khoản phải hả phát sinh

từ họp đồng mua bán hàng hóa nhưng trên thực tế khách hàng (bên được baothanh toán) thường là bên bán có các khoản phải thu phát sinh từ họp đồng muabán hàng hóa Nên người viết chỉ đề cập đến chủ thể khách hàng của quan hệ baothanh toán là bên bán và có các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bánhàng hóa

> về đối tượng:

- Đối tượng của chiết khấu giấy tờ có giá là những loại giấy tờ có giá cònthời hạn thanh toán và được phép chiết khấu theo quy định của pháp luật.41 42 (baogồm công cụ chuyển nhượng và các loại giấy tờ có giá khác.)

- Đối tượng của bao thanh toán là các khoản phải thu thương mại phát sinh

từ họp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khoản phải thu được xác định

là khoản tiền mà bên bán hàng được phép thu từ họp đồng mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ nhưng người mua chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanhtoán

Có thể thấy, dù hai hoạt động này đều là những hình thức cấp tín dụng của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng nhưng có sự khác biệt khá rõ rệt về mặt đốitượng Đối tượng của chiết khấu giấy tờ có giá là những giấy tờ có giá thỏa điềukiện chiết khấu theo quy định của pháp luật, còn đối tượng của hoạt động baothanh toán là các khoản phải thu thương mại của bên bán

Trang 37

Khoản 1, Điều 8, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đói với

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

+ Trong đó, chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá làphương thức mà việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá được thực hiện ngay vàhoàn toàn tại thời điểm chiết khấu mà không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ cógiá của khách hàng, khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng xuấttrình giấy tờ có giá để thanh toán với tổ chức phát hành43

+ Chiết khấu có thời hạn là phương thức mà khách hàng cam kết mua lạigiấy tờ có giá sau một thời hạn nhất định với mức giá thỏa thuận và thời điếmmua lại là trước ngày giấy tờ có giá đến hạn thanh toán.44

- Bao thanh toán được thực hiện theo một trong các phương thức sauđây45:

+ Bao thanh toán từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thựchiện các thủ tục cần thiết và ký họp đồng bao thanh toán đối với các khoản phảithu của bên bán hàng

+ Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàngthoả thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thờigian nhất định

+ Đồng bao thanh toán: hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thựchiện hoạt động bao thanh toán cho một họp đồng mua, bán hàng, trong đó mộtđơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán

> về trình tự, thủ tục thực hiện:

- Một giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá được thực hiện trải qua trình tự,thủ tục các bước sau:46

+ Bước 1 - Lập hồ sơ chiết khấu Khách hàng có nhu cầu chiết khấu, lập

hồ sơ chiết khấu theo mẫu quy định và gửi cho tổ chức tín dụng nơi mình lựachọn

+ Bước 2 - Thẩm định và lập thủ tục chấp nhận chiết khấu Tổ chức tíndụng nơi nhạn hồ sơ chiết khấu, tiến hành thẩm định các hồ sơ chiết khấu, đối vớimỗi loại giấy tờ có giá do khách hàng đề nghị chiết khấu

Trang 38

Khoản 1, Điều 13 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, ban hành kèm

hàng Nhà nước.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

+ Bước 3 - Chuyển giao quyền sở hữu Trong trường hợp tổ chức tíndụng cấp nhận chiết khấu, khách hàng làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cácgiấy tờ có giá được chấp nhận chiết khấu theo quy định của pháp luật

+ Bước 4 - Thanh toán Trên cơ sở giấy tờ có giá được chuyển giaoquyền sở hữu, tổ chức tín dụng thanh toán cho khách hàng số tiền mà họ đượchưởng, sau khi đã trừ đi phần lợi tức và các khoản phí dịch vụ khác (nếu có)

- Trình tự, thủ tục bao thanh toán được tiến hành trải qua các bước:47

+ Bước 1 - Đe nghị bao thanh toán Bên bán hàng lập văn bản đề nghịđơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh toán các khoản phải thu và gửi các tàiliệu cần thiết cho đơn vị bao thanh toán để tiến hành thẩm định bao thanh toán

+ Bước 2 - Thẩm định đề nghị bao thanh toán Đơn vị bao thanh toán (tổchức tín dụng) tiến hành phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khảnăng tài chính của bên bán và bên mua hàng để quyết định có chấp nhận baothanh toán hay không Neu từ chối, đơn vị bao thanh toán phải trả lời bằng vănbản và nêu rõ lý do không chấp nhận bao thanh toán cho khách hàng (bên đề nghịbao thanh to ăn) biết

+ Bước 3 - Thương lượng và ký hợp đồng bao thanh toán Đơn vị baothanh toán và bên bán hàng thỏa thuận các điều khoản và tiến tới việc ký hợpđồng bao thanh toán

+ Bước 4 - Thông báo Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng sau khi đãthống nhất về hợp đồng, sẽ tiến hành việc gửi văn bản thông báo về hợp đồng baothanh toán cho bên mua hàng và các bên có liên quan biết, trong đó nêu rõ việcbên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợi cho đơn vị bao thanh toán và hướng dẫnbên mua hàng thanh toán trực tiếp cho đơn vị bao thanh toán

+ Bước 5 - Chấp nhận của bên mua hàng Bên mua hàng gửi văn bản chobên bán hàng và đơn vị bao thanh toán xác nhận việc đã nhận được thông báo vàcam kết về việc thực hiện thanh toán cho đơn vị bao thanh toán

+ Bước 6 - Thực hiện hợp đồng Bên bán hàng và đơn vị bao thanh toánthực hiện các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

Có thể thấy để tiến hành một giao dịch bao thanh toán thì đòi hỏi phải trảiqua một trình tự, thủ tục phức tạp hơn so với chiết khấu giấy tờ có giá Bởi lẽ,giao dịch bao thanh toán được xác lập có liên quan trực tiếp không chỉ giữa tổ

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 39 - SVTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Trang 39

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

chức tín dụng (bên bao thanh toán) và khách hàng (bên được bao thanh toán), màcòn bao gồm cả bên mua hàng hóa của bên bán Sự phức tạp của giao dịch baothanh toán còn được thể hiện ở chỗ, bên bán chỉ có thể xác lập hợp đồng baothanh toán với tổ chức tín dụng khi nhận được sự đồng ý từ bên mua Còn ở chiếtkhấu giấy tờ có giá việc xác lập giao dịch giữa khách hàng với tổ chức tín dụng làhoàn toàn tự nguyện, không hề có sự ràng buộc từ tổ chức phát hành giấy tờ cógiá được chiết khấu Có chăng, chỉ là việc khách hàng thông báo cho tổ chức pháthành giấy tờ có giá biết trước khi đem đi chiết khấu tại tổ chức tín dụng Tổ chứcphát hành giấy tờ có giá được chiết khấu chỉ cần biết đến nghĩa vụ thanh toán củamình khi giấy tờ cỏ giá đến hạn thanh toán mà không cần nghĩ đến là phải sẽthanh toán cho một bên chủ thể nhất định nào

Có thế thấy rằng, tuy mang bản chất là một nghiệp vụ cấp tín dụng nhưngchiết khấu giấy tờ có giá vẫn có những điểm khác biệt riêng so với các hình thứccấp tín dụng khác (cụ thể là cấp tín dụng dưới hình thức bao thanh toán đã được

đề cập ở trên),về đối tượng, phưomg thức và trình tự thủ tục thực hiện

Qua việc được tìm hiểu những vấn đề cơ bản về chiết khấu giấy tờ có giánhư lịch sử ra đời, khái niệm, đặc điếm, cũng như những lợi ích và rủi ro mà hoạtđộng này mang lại khi tham gia, thì có thể thấy đây là một nghiệp vụ cấp tín dụngkhá phổ biến và luôn được khách hàng lựa chọn Chiết khấu giấy tờ có giá lànghiệp vụ cấp tín dụng được biết đến khá lâu trên thế giới, với xuất phát điểm rađời đồng hành cùng sự ra đời của hoạt động ngân hàng Còn ở Việt Nam, chiếtkhấu giấy tờ cỏ giá được biết đến là một nghiệp vụ cấp túi dụng của tổ chức tíndụng còn tương đối mới mẻ so với các hình thức cấp tín dụng khác như cho vay,bảo lãnh hay phát hành thẻ Để có thể tìm hiểu về chiết khấu giấy tờ có giá dướigóc độ điều chỉnh của pháp luật, vấn đề này sẽ được người viết đề cập ở chươngsau

Trang 40

Điều 4, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đói với

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Đề tài: Hoạt động chiết khấu giấy tở có giá của tổ chức tín dụng

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Ở chương này, người viết tập trưng nghiên cứu các vấn đề liên quan đếnhoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng trên

cơ sở từ những quy định của pháp luật Bao gồm các vấn đề về chủ thể tham giagiao dịch chiết khấu giấy tờ có giá ; đối tượng, phương thức chiết khấu; trình tự,thủ tục chiết khấu; giá chiết khấu; lãi suất và mức chiết khấu giấy tờ có giá đối vớimột khách hàng Đặc biệt, người viết tập trung đi sâu phân tích làm nổi bật rõ vềquyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào giao dịch chiết khấu giấy tờ cógiá

2.1 Quy định pháp luật về nguyên tắc, chủ thể tham gia hoạt động

giấy tờ có giá.

2.1.1 Nguyên tắc chiết khấu giấy tờ có giá.

Một khi họp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có hiệu lực thì các thỏa thuậntrong họp đồng sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên, họ có nghĩa vụ phải thựchiện đúng các thỏa thuận trong họp đồng Nhằm đảm bảo cho họp đồng chiếtkhấu giấy tờ cỏ giá được thực hiện tốt, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của cácbên khi tham gia vào hoạt động này, đồng thời ngăn chặn hành vi xâm phạm đếnnhững lợi ích càn sự bảo vệ của pháp luật, nguyên tắc chiết khấu giấy tờ có giá đãđược pháp luật quy định để giải quyết các vấn đề này Theo quy định của phápluật hiện hành đối với giấy tờ có giá được chiết khấu là các công cụ chuyênnhượng thì việc chiết khấu giữa tổ chức tín dụng với khách hàng phải đảm bảo cácnguyên tăc

Một là, thực hiện theo thỏa thuận giữa tố chức tín dụng với khách hàng phù

hợp với các nguyên tắc chuyển nhượng quy đỊnh tại Luật Các công cụ chuyểnnhượng và các quy định của pháp luật có liên quan

Hai là, tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định việc chiết khấu, tái

chiết khấu công cụ chuyển nhượng phù họp với quy định của pháp luật nhằm đảm 48

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh - 41 - SYTH: Nguyễn Hoàng Dạng

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nghị định 202/2004/NĐ-CP, ngày 10/12/2004, về xử phạt hành chính trong lĩnh vực ngân hàng Khác
8. Nghị định 01/2011/NĐ-CP, ngày 05/01/2011, về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương Khác
9. Nghị định 95/2011/NĐ-CP, ngày 20/10/2011, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 202/2004/NĐ-CP, ngày 10/12/2004 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực ngân hàng Khác
10. Thông tư 13/2010/TT-NHNN, ngày 20/05/2010, quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức túi dụng Khác
11. Thông tư 19/2010/TT-NHNN, ngày 27/09/2010, về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN, ngày 20/05/2010, quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức túi dụng Khác
12. Thông tư 33/2011/TT-NHNN, ngày 08/10/2011, về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN, ngày 20/05/2010, quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Khác
13. Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức túi dụng, ban hành kèm theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN, ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Khác
14. Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN, ngày 15/10/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w