Từ viết tắt Từ nguyênADA Anti - dumping Agreement - Hiệp định chổng bán phá giá của WTO VASEP Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam HACCP Hazard Analysis and Critical Control
Trang 1Từ viết tắt Từ nguyên
ADA Anti - dumping Agreement - Hiệp định chổng bán phá
giá của WTO
VASEP Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam
HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points-Đỉém kiểm
soát trọng yếu và phân tích mối nguy
Global GAP Global Good Agricultural Practices - Thực hành nông
nghiệp tốt toàn cầu
SQF Safe Quality Food - Thực phấm An Toàn và Chất Lượng
DSB Dispute Settlement Body - Cơ Quan Gỉai Quyết Tranh
Chấp của WTO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẰN THƠKHÒALUẬT
CỦAWTO
MSSV: 5075124Lóp Luật Thương mại 2 - K33
Cần Thơ, 04/2011
Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
BẢNG QUY ƯỚC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2GVHD: ThS DIỆP NGỌC DŨNG I SVTH: VÕ THÁI MINH
Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 1
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật chống bán phá giá của WTO 5
1.1.1 Khái niệm về bán phá giá và chống bán phá giá 5
1.1.1.1 Khái niệm về bán phá gía 5
1.1.1.2 Khái niệm về chống bán phá giá 6
1.1.2 Lịch sử hình thành pháp luật chống bán phá giá của WTO 6
1.2 Hiệp định chống bán phá giá 8
1.2.1 Xác định hàng hoá bán phá giá 9
1.2.2 Thủ tục giải quyết một vụ kiện chống bán phá giá 11
1.2.3 Các biện pháp chống bán phá giá 15
1.2.4 Vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 18
1.2.5 Một số nhận xét về những quy định trong Hiệp định 19
Chống bán phá giá (Hiệp định AD) 1.2.6 Quy định của Hiệp định AD về hàng hoá bị kiện bán phá giá có xuất xứ 19 từ nước có nền kinh tế phi thị trường hoặc những nước đang phát triển CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CÁ TRA VÀ CÁ BASA BỊ KIỆN 22
BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ -PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT 2.1 Ngành nuôi và chế biến cá tra, cá basa xuất khẩu 22
tại đồng bằng sông Cửu Long 2.1.1 Qúa trình hình thành, phát triển ngành nuôivà chế biến 22
cá tra và cá basa xuất khẩu Việt Nam 2.1.2 Ngành nuôi và chế biến cá tra- cá basa ở Đồng bằng sông Cửu Long 24 tăng trưởng nhanh nhưng thiếu ổn địnhvà không bền vững
Trang 3Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
2.3.1 Các biện pháp phòng ngừa bị kiện bán phá giá 30
2.3.1.1 về mặt kinh tế 30
2.3.1.2 về mặt pháp lý 31
2.3.2 Những biện pháp nên áp dụng khi bị kiện bán phá giá 32
KẾT LUẬN 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
LỜI MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hơn 20 năm qua ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển vượtbậc cả về khai thác, nuôi trồng và chế biến xuất khẩu, liên tục tăng trưởng với tốc độcao, kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng bình quân 17%/năm Thủy sản đã trở thànhmột trong những ngành kinh tế mũi nhọn đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh vềxuất khẩu thủy sản
Riêng sản phẩm cá tra và cá basa ngày càng chiếm vị thế gần như "độc quyền"trên thị trường thủy sản thế giới: Có mặt trên 133 nước, ừong đó có các thị trường lớn
như Mỹ, EU, Nga Việc xuất khẩu cá tra và cá basa đã góp phàn tạo nên sức tăng
trưởng nhảy vọt của xuất khẩu thủy sản và hàng năm mang lại cho Việt Nam khốilượng lớn ngoại tệ phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước Tuy nhiên khi kimngạch xuất khẩu mặt hàng cá tra và cá basa của Việt Nam vào các thị trường như Hoa
Kỳ và một số các nước thuộc khối EU cũng ngày một tăng, dẫn đến tại thị trường Hoa
Kỳ Hiệp hội chủ ừại nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) phải lên tiếng về việc cá tra và cá basagia tăng thị phần đáng kể và có nguy cơ đe dọa ngành cá Catíish của Hoa Kỳ Khôngchỉ dừng lại ở đó, Hiệp hội này còn đệ đơn lên ủy Ban Hiệp thương Quốc tế Hoa Kỳ(ĨTC) và Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC) kiện một số doanh nghiệp Việt Nam bán phágiá mặt hàng cá travà cá basa vào thị trường Hoa Kỳ Vụ kiện kéo dài từ năm 2002 tớinăm 2006 mới kết thúc, kết quả cuối cùng các doanh nghiệp Việt Nam thua kiện, việcthua kiện cũng xuất phát bởi nhiều nguyên nhân Và một trong những nguyên nhân đó
là việc các doanh nghiệp chưa chủ động nghiên cứu, tích luỹ kiến thức và kinh nghiệm
về chống bán phá giá Trong khi đó luật pháp về chống bán phá giá là một trong nhữngphàn phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật thương mại quốc tế Vì vậy với bối cảnhhiện nay khi Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, thì việc đối mặtvới những vụ kiện chống bán phá giá trên thị trường quốc tế sẽ ngày càng gia tăng.Dẩn đến thực tiễn đặt ra vấn đề là những doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nói chung
và doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra và cá basa nói riêng phải chủ động ứngphó như thế nào với những vụ kiện chống bán phá giá?
Vì lẽ đó người viết chọn đề tài “Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt
Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định chống bán phá giá (anti - dumping agreement) của WTO”, cụ thể thông qua việc nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật
chống bán phá giá của WTO ghi nhận trong ADA, cùng với việc tìm hiểu thực trạngnghề nuôi và chế biến cá tra và cá basa xuất khẩu tại đồng bằng sông Cửu Long và vụGVHD: ThS DIỆP NGỌC DŨNG SVTH: VÕ THÁI MINH
Trang 5Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá
giá bằng Hiệp định chống bán phá giá (anti - dumping agreement) của WTO”
được viết với mục tiêu sau:
Trình bày những nội dung cơ bản về Hiệp định chống bán phá giá của WTO ADA Thông qua việc trình bày khái niệm về bán phá giá, biện pháp chống bán phágiá, cũng như lịch sử hình thành; những nguyên tắc chung trong ADA Đe qua đó cóđược những kiến thức nhất định về pháp luật chống bán phá giá của WTO, giúp doanhnghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra và cá basa thuận lợi hơn trong quá trình nghiêncứu về đạo luật chống bán phá giá tại mỗi quốc gia thành viên của WTO
-Thông qua việc tìm hiểu về ngành nuôi và chế biến cá tra và cá basa xuất khẩutại đồng bằng sông Cửu Long, cũng như việc nghiên cứu vụ kiện cá tra, cá basa củaViệt Nam bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ, rút ra được những bài học kinh nghiệm
về thực tiễn áp dụng pháp luật chống bán phá giá tại một quốc gia là thành viên củaWTO Từ đó thấy được những yếu kém của những doanh nghiệp chế biến và xuấtkhẩu cá tra và cá basa của Việt Nam trong quá trình tham vụ kiện
Từ những phân tích vừa nêu trên, người viết đề xuất một số giải pháp nhằm chủđộng ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng cá tra và cá basacủa Việt Nam trong thương mại quốc tế
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trong phạm vi đề tài này người viết chỉ trình bày những nguyên tắc chung vềcách xác định hàng hoá chống bán phá giá; thủ tục giải quyết một vụ kiện chống bánphá giá; các biện pháp chống bán phá giá; vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấpcủa WTO Thứ nhất người viết chỉ trình bày sơ lược về một số nội dung cơ bản củaADA Thứ hai cũng với những nội dung này, người viết đi sâu vào phân tích vàonhững phần ADA chưa đề cập đến hoặc chưa có sự quy định rõ ràng, dẫn đến khókhăn trong quá trình hiểu và áp dụng những điều khoản trong ADA trong quá trìnhđiều tra những vụ kiện bán phá giá
Bên cạnh đó, người viết chỉ trình bày khái quát về ngành nuôi và chế biến, xuấtkhẩu cá tra và cá basa cũng như vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam bán phá giá tại
Trang 6Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
4 Phương pháp nghiên cứu.
Đe đề tài mang tính khoa học và thực tiễn cao, người viết sử dụng các phươngpháp sau:
-Phương pháp nghiên cứu, liệt kê và phân tích luật viết Đề tài tập trung nghiêncứu và phân tích Hiệp định chống bán phá giá của WTO - ADA, cũng như những vănbản quy phạm pháp luật Việt Nam quy định các vấn đề liên quan đến việc quản lý nhànước về ngành nuôi và chế biến cá tra và cá basa tại đồng bằng sông Cửu Long Việcnghiên cứu và phân tích những văn bản đó là cơ sở quan trọng để hoàn thành đề tài
-Phương pháp so sánh, đề tài có sự tham khảo các quan điểm, nhận định, sốliệu từ nghiều nguồn tài liệu khác nhau, cùng những công trình nghiên cứu khoahọc, nên người viết đã sử dụng phương pháp so sánh để so sánh những tài liệu cũngnhư những quan điểm trên, từ đó giúp người viết có cái nhìn toàn diện và dẫn đến sựđánh giá khác quan hơn về những nội dung liên quan đến nội dung của đề tài
Đây là hai phương pháp chính giúp người viết xây dựng toàn bộ các vấn đề củaluận văn
5 Kết cấu của đề tài.
Luận văn bao gồm: Mục lục, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Trong đóphần nội dung chính được trình bày thành hai chương, cụ thể như sau:
V Chương 1: Tổng quan về chống bán phá giá của WTO Nội dung
chính của chương này trình bày những khái niệm và lịch sử hình thành pháp luậtchống bán phá giá của WTO - ADA (phàn 1.1) bao gồm trình bày khái niệm về bánphá giá và chống bán phá giá, tiến đến việc tìm hiểu quá trình hình thành ADA Vàtrọng tâm của Chương 1 là việc người viết trình bày một số nội dung cơ bản trongADA (phàn 1.2)
V Chương 2: Thực trạng vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá trên thị trường quốc tế - phương hướng giải quyết Trong chương này,
người viết đã trình bày những vấn đề như: Trình bày sơ lược về ngành nuôi và chếbiến cá tra, cá basa xuất khẩu tại đồng bằng sông Cửu Long (phần 2.1) Tiếp theo đó là
vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ (phần2.2) Từ những phân tích đó, người đề xuất một số giải pháp nhằm chủ động ứng phóvới các vụ kiện chống bán phá giá cá tra và cá basa của Việt Nam (phần 2.3)
Vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như khó khăn trong quá trình
Trang 7Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
viết mong nhận được những đóng góp của quý Thầy, Cô và những người đọc khác đểgíup người đọc sửa chữa, nhằm giúp đề tài được hoàn thiện hơn
Người viết xin gửi lời cám om đến thầy Diệp Ngọc Dũng, người trực tiếp hướngdẫn người viết thực hiện đề tài Bên cạnh đó, người viết cũng xin gửi lời cám ơn đếnquý Thầy, Cô trong Hội dồng bảo vệ luận văn đã dành thời gian để nghiên cứu và giúp
đỡ người viết nhận thấy được những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và hoànthành đề tài này, nhằm tạo điều kiện cho người viết có thêm kinh nghiệm để phục vụcho việc học tập và nghiên cứu về sau
Trang 8Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
CHƯƠNG1
TỔNG QUAN VÈ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật chống bán phá giá.
1.1.1 Khái niệm về bán phá giá và chống bán phá giá.
1.1.1.1 Khái niệm về bán phả giá và tác hai của việc bán phả giá.
Trong qúa trình toàn cầu hoá hiện nay luôn hướng đến việc xây dựng một nềnthương mại toàn càu tự do, thuận lợi, thông qua việc xoá bỏ các rào cản thuế quan vàphi thuế quan Tuy nhiên trong môi trường tự do hoá thương mại đó, đã xuất hiệnnhững hình thức cạnh tranh không công công bằng Và bán phá giá là một minhchứng Hành vi bán phá giá là một hình thức cạnh tranh không công bằng Và sựkhông công bằng thể hiện qua bản chất phi kinh tế của hành vi này Bởi vì lẽ thôngthường, khi hàng hoá đưa qua biên giới một nước khác đế tiêu thụ, thì giá bán tại thịtrường nhập khẩu phải cao hơn giá ở nước xuất khẩu do tốn thêm những chi phí vậnchuyển, các loại thuế quan trong việc nhập khẩu Trong khi đó, bán phá giá dẫn đếnhiện tượng giá bán của hàng hoá xuất khấu lại thấp hơn giá bán tại nơi sản xuất ra nó
Trên tinh thần đó, Hiệp định Chống Bán Phá giá Của WTO - ADA định nghĩa: “Một sản phấm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phấm đó) nếu như giả xuất khấu của sản phấm được xuất khấu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sảnh được của sản phấm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản là nếu giá xuất khẩu của một mặt hàngthấp hơn giá nội địa (giá thông thường) của nó thì sản phẩm đó được coi là bán phá giátại thị trường nước nhập khẩu sản phẩm đó
Ví du: Gạo của nước X bán tại thị trường nước X với giá (A) nhưng lại được
xuất khẩu sang thị trường nước Y với giá (B), (B<A) thì xảy ra hiện tượng bán phá giáđối với sản phẩm gạo xuất khẩu từ X sang Y
Để nắm vững được khái niệm bán phá giá ghi nhận tại điều khoản trên, cần làm
rõ những thuật ngữ sau: giá thông thường được hiểu là giá bán của hàng hoá bị điều tra tại nước sản xuất ra nó; giá xuất khẩu là giá bán sản phẩm từ nước sản xuất (nước xuất khẩu) sang nước nhập khẩu Như vậy giá thông thường và giá xuất khẩu của
sản phẩm là hai cơ sở quan trọng để xác định có xảy ra hiện tượng bán phá giá hayGVHD: ThS DIỆP NGỌC DŨNG -s SVTH: VÕ THÁI MINH
Trang 9Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
khi hàng hoá của những nhà sản xuất nội địa không được cạnh tranh một cách côngbằng với hàng nhập khẩu bán phá giá, khi đó có thể dẫn đến kết quả là hàng nhập khẩubán phá giá dần chiếm thị phần và tiến đến loại bỏ những đối thủ cạnh tranh tại thịtrường nước nhập khẩu Cụ thể là đe dọa sẽ dẫn đến việc phá sản của những nhà sảnxuất nội địa của nước nhập khẩu, kéo theo tình trạng mất việc làm của công nhân vàcác tác động “lan chuyền” sang các ngành kinh tế khác Trên góc độ vi mô, đối mặtvới hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sản xuất nội địa của nước nhập khẩu sẽ bịmất thị trường và mất lợi nhuận Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của các nướcphát triển mà của cả các nước đang phát triển Vì lợi thế so sánh của các nước luônthay đổi và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hom ừên thị trường quốc tế Do đó,bán phá giá bị pháp luật quốc tế coi là hành vi bất chính Kết quả tất yếu là cần phải cónhững biện pháp cụ thể nhằm loại bỏ và trừng phạt hành vi này Đó là lý do dẫn đến sự
ra đời của biện pháp chống bán phá giá
1.1.1.2 Khái niệm chống bán phả giả.
Biện pháp chống bán phá giá là tất cả các biện pháp mà nước nhập khẩu có thể
sử dụng để chống lại hiện tượng bán phá giá của hàng nhập khẩu Theo sự ghi nhậntrong ADA, chống bán phá giá bao gồm những biện pháp sau: các biện pháp tạm thời;cam kết về giá; áp thuế chống bán phá giá chính thức Trong đa số các trường họp,biện pháp chống bán phá giá là áp đặt thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm nhậpkhẩu
về bản chất, chống bán phá giá là một công cụ bảo hộ nền mậu dịch nội địa,
được áp dụng khi cơ quan điều tra phát hiện có xảy ra hiện tượng hàng nhập khẩu bánphá giá và hành vi này gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa tại nước nhấp khẩu.Tuy nhiên, mức độ bảo hộ ở đây không mang tính chất tuyệt đối, ngăn chặn hoàn toàn
sự xâm nhập của hàng nhập khẩu như hàng rào thuế quan trước đây Đây là một biệnpháp khắc phục thương mại mà các thành viên của WTO đã đồng ý, nhằm duy trì sựcông bằng trong thương mại quốc tế Tóm lại, biện pháp bán phá giá là một công cụgiúp cho doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp nội địa nước nhập khẩu được cạnhtranh bình đẳng với nhau tại thị trường nước nhập khẩu
1.1.2 Lich sử phát triển pháp luật chống bán phá giá của WTO.
Vấn đề chống bán phá giá đã được Hội Liên Hiệp (League of nations) nghiêncứu từ năm 1922 Đây là tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc được hình thành sauchiến tranh thế giới lần nhất vào năm 1919 với sự tham gia của Vương quốc Liên hiệpAnh và Bắc Ireland, Pháp, Nga, Đức, Ý, Nhật Bản tham gia Và một trong những mụcđích của Hội này là nhằm giải quyết giải quyết tranh chấp giữa các nước thông qua đốithoai và ngoai giao, cải thiện su thinh vương toàn cầu Tuy nhiên Hội Liên Hiệp đã
Trang 10Ke từ khi GATT được thành lập, các nước tham gia GATT đã cùng nhau tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký
Gỉảỉ quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
giải tán trước khi chiến tranh thế giới lần hai bắt đầu Vì vậy, vấn đề chống bán phá
giá vẫn còn bỏ ngỏ
Nhưng chỉ đến năm 1947, tại vòng đàm phán Geneva (1947) bao gồm 23 nướctham gia đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về thuế quan và thương mại(GATT-
General Agreement of Tariffs and Trade, viết tắt là GATT) Lúc bấy giờ, chống bán
phá giá mới được điều chỉnh trên bình diện quốc tế Các quy định của GATT có quy
định về chống bán phá giá, là cơ sở pháp lý đầu tiên giúp các nước bảo hộ quyền lợi
chính đáng của các ngành sản xuất của họ khi xảy ra hiện tượng bán phá giá Điều VI
GATT 1947 đã có các quy định liên quan đến trường họp: một ngành công nghiệp nội
địa cho rằng việc bán phá giá đã gây thiệt hại cho ngành sán xuất của nước đó Điều
khoản này cũng cho phép nước bị bán phá giá được áp đặt thuế chống bán phá giá đối
với hàng hóa nhập khẩu, nhằm loại bỏ tác động của việc bán phá giá Cùng với xu
hướng giảm dàn tỷ lệ thuế quan kể từ khi có Hiệp định GATT 1947, thì việc sử dụng
thuế chống bán phá giá cũng tăng dần lên và những quy định được ghi nhận trong
Điều VI về những vấn đề liên quan đến việc áp thuế chống bán phá giá không còn phù
họp nữa Dẩn đến một thực trạng trong giai đoạn này là Điều VI của Hiệp định GATT
mặc nhiên thừa nhận quyền tự do của các quốc gia trong việc xây dựng các thủ tục để
xác định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, như là công
cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá thị trường nội địa Tuy nhiên tại thời điểm này
chủ đề về chống bán phá giá chưa gây tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi các dòng
thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn và khốc
liệt hơn, số lượng các nước của GATT tăng lên, thì vấn đề chống bán phá giá đã trở
thành mối quan tâm lớn qua các vòng đàm phán về sau của GATT1
Đến vòng đàm phán thứ sáu của GATT là vòng Kennedy (1964 - 1967) baogồm 63 nước tham gia, các bên đã tiến hành đàm phán, đi đến ký kết một bản Thỏa
thuận chi tiết hơn liên quan đến chống bán phá giá Thỏa thuận này có tên là Hiệp định
thực thi chống bán phá giá (Agreement on Anti-Dumping Practices), có hiệu lực năm
1967 Tuy nhiên Hiệp định này vẫn chưa phát huy được hiệu quả trong thực tiễn
Sau khi vòng đàm phán Kennedy kết thúc, qua quá trình áp dụng vào thực tiễncác thành viên của GATT nhận thấy được Hiệp định thực thi chống bán phá giá
(Agreement on Anti-Dumping Practices) vẫn chưa thể giải quyết vấn nạn bán phá giá
đang diễn ra gay gắt trên thị trường quốc tế Do đó đến vòng đàm phán Tokyo (1973
-1979) , bao gồm 102 nước tham gia Nội dung của vòng đàm phán này xoay quanh vấn
Trang 11Gỉải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
đề Cắt giảm các hàng rào phi thuế cũng như giảm thuế đối với các sản phẩm chế tạo.Tăng cường và mở rộng hệ thống thương mại đa phương Và kết thúc vòng đàm pháncác bên lại tiếp tục thảo luận và đi đến ký kết Hiệp định Tokyo (có hiệu lực từ năm1980) Đặc biệt trong trong Hiệp định Tokyo này đã cung cấp nhiều hướng dẫn choviệc xác định bán phá giá và thiệt hại, cho thấy một sự tiến bộ so với Điều VI GATT
1994 Hiệp định đã đưa ra quy trình, thủ tục tiến hành và các vấn đề cần được hoànthiện trong giai đoạn điều tra Tuy nhiên, Hiệp định vẫn là một khuôn khổ chung chocác nước tuân theo khi tiến hành điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá Nhữngđiều khoản trong Hiệp định còn tồn tại nhiều điểm gây tranh cãi, do đó gây hạn chếtrong quá trình thực thi
Phải đợi đến vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) : bao gồm 125 nước thamgia Kết quả của vòng đàm phán này đã mở ra một bước ngoặt quan trọng cho nềnkinh tế toàn cầu, đó là việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thếcho GATT Song song với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) các bên
đã ký kết Hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994 (The Agreement on
Implementation of Article VI of GATT 1994), thường được gọi với tên Hiệp định
về chống bán phá giá của WTO (Anti-dumping Agreement - ADA), và chính thức
có hiệu lực vào ngày 01/01/1995.
Hiệp định thực thi Điều Vi của GATT gồm có 18 Điều và 2 Phụ lục, trong đó
có Điều n và Điều III là hai Điều quan trọng nhất khi xác định một vụ kiện chống bán
phá giá (Điều II quy định về việc xác định sự tồn tại của bán phá giá và các quy tắcxác định, Điều III quy định về xác định tổn hại - tức là xác định liệu ngành côngnghiệp của nước nhập khẩu có bị thiệt hại hay đe doạ gây thiệt hại không và quy tắc đểxác định thiệt hại
Trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, luật quốc gia một nước thành viênphải phù họp với các Hiệp định và qui định của WTO Do đó, các đạo luật khung vềchống bán phá giá của các nước thường lặp lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp địnhChống bán phá giá - ADA, dẫn đến một sự đồng nhất về các nguyên tắc chung trongluật của các quốc gia thành viên Bên cạnh đó, để áp dụng các nguyên tắc đó trongthực tế, mỗi nước có thể có thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa theo thểchế pháp luật riêng của mình
Trang 12nghiệp xuất khẩu của Việt
bán
phá giá của WTO - ADA
Bởi vì trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, luật quốc gia của mỗinước thành viên phải phù họp với các Hiệp định và qui định của WTO Do đó sau khiViệt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, việc nghiên cứu vànắm vững những nguyên tắc chung quy định trong ADA sẽ giúp cho các doanh nghiệpxuất khẩu của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu cá tra và cábasa nói riêng, sẽ thuận lợi hom trong quá trinh nghiên cứu về đạo luật chống bán phágiá tại mỗi quốc gia
Tuy nhiên, để áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tế, mỗi nước sẽ quy địnhthêm những điều khoản chi tiết để thi hành, do mỗi nước có thể chế pháp luật riêngcũng như sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thi hành nhữngnguyên tắc trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO - ADA tại mỗi quốc giathành viên, sẽ tồn tại những điểm điểm khác biệt Vì vậy khi đã nắm vững được nhữngnguyên tắc chung trong ADA, các doanh nghiệp sẽ phát hiện ra những điểm khác biệtđược ghi nhận trong đạo luật cấp quốc gia so với ADA Từ đấy sẽ có sự chuẩn bị tốthom trong quá trình ứng phó với các vụ kiện chống phán giá trên thị trường quốc tế
1.2.1 Xác định hàng hoá bán phá giá.
Khái quát nhất, một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi của sản phẩm đó thấphom của sản phấm này tại nước sản xuất ra nó Như vậy cốt lõi của việc xác định bánphá giá là sự so sánh biên độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường củasản phẩm tại nước xuất khẩu Việc tiến hành so sánh giữa giá xuất khẩu và giá thôngthường phải được tiến hành đối với cùng loại sản phẩm
Do đó hiện tượng bán phá giá sẽ dựa trên cơ sở xác định hiệu số giữa giá xuất
khẩu và giá thông thường - chính là biên độ phá giá, theo công thức sau:
Gía thông thường - Gía xuất khẩu = XNeu X > 0 thì có hiện tượng bán phá giáNeu X < 0 thì không có hiện tượng bán phá giá
Các giá này phải đưa về “cùng một khâu thống nhất của quả trình mua bán, thường là tại khâu xuất xưởng ” 2 , có thể gọi là “giá xuất xưởng” 3 X chính là biên độ bán phá giá.
Như vậy giá thông thường và giá xuất khẩu của sản phẩm là hai cơ sở quan
trọng để xác định biên độ phá giá Do đó, càn hiểu đúng cũng như nắm vững đượccách xác định hai giá trị này, được quy định tại Điều 2 của ADA
Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
Trang 13Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp đỉnh Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agrccmcnt - ADA) của WTO
Giá xuất khẩu là giá bán sản phẩm từ nước sản xuất (nước xuất khẩu) sang
nước nhập khẩu Các cách thức tính giá xuất khẩu (tuỳ thuộc vào các điều kiện, hoàncảnh cụ thể) bao gồm:
■S Cách 1: Gía xuất khẩu là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất
hoặc nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu;
■S Cách 2: Giá xuất khẩu là giá tự tính toán trên cơ sở giá bán sản phẩm
nhập khẩu đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu; hoặc một trị giá tínhtoán theo những tiêu chí họp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định
Cách 1 là cách tính giá xuất khẩu chuẩn và được áp dụng trước tiên khi tính giáxuất khẩu Chỉ khi hoàn cảnh cụ thể không đáp ứng các điều kiện áp dụng cách 1 thìgiá xuất khẩu mới được tính theo cách 2
Giá thông thường là giá bán của hàng hoá bị điều tra tại nước sản xuất ra nó.
Có ba cách xác định giá thông thường (áp dụng với các điều kiện cụ thể)
■S Cách 1: Giá thông thường được xác định theo giá bán của sản phẩm tại
thị nước sản xuất ra nó
■S Cách 2: Giá thông thường được xác định theo giá bán của sản phẩm từ
nước xuất khẩu sang thị trường một nước thứ ba
■S Cách 3: Giá thông thường được xác định theo trị giá tính toán = Giá
thành sản xuất + Chi phí bán hàng, hành chính + Lợi nhuận Trong các cách thức nêutrên, cách 1 là cách thức tính giá thông thường tiêu chuẩn, được ưu tiên xem xét ápdụng trước trong tất cả các trường họp Chỉ khi không đáp ứng được các điều kiện để
sử dụng cách 1 thì giá thông thường mới được tính theo cách 2 hoặc cách 3
Trong trường họp, cơ quan điều tra xác định có xảy ra hiện tượng bán phá giá(biên độ phá giá > 0) Tuy nhiên, để có thể áp dụng biện pháp chống phá giá đối vớisản phẩm này, nước nhập khẩu còn phải chứng minh rằng việc bán phá giá đó gây tổnhại hoặc đe dọa gây tổn hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước Khái
niệm tổn hại được hiểu là thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước hoặc
ảnh hưởng vật chất làm chậm quá trình hình thành một ngành sản xuất4 Việc xác nhậnđược thiệt hại của ngành sản xuất nội địa là một yếu tố đảm bảo cho việc sử dụngnhững biện pháp chống bán phá giá đúng với mục đích của những biện pháp này Tuynhiên ADA không đưa ra những tiêu chí cụ thể để xác định thiệt hại của ngành sảnxuất nội địa tại của nước nhập khẩu Và do đó việc xác định thiệt hại này rất khác nhaugiữa các nước, các phương pháp khác nhau được áp dụng và phụ thuộc vào hệ thốngchống bán phá giá, các cơ quan chính phủ khác nhau Và như vậy, việc xác định thiệt
4 Chú thích 9 của Điều 3 của Hiệp đinh AD
nõ
Trang 14Website WTO - Hội nhập kinh tế quốc tế của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam: Hiệp định
Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
hiện một cách khách quan Bởi lẽ, những quy định cụ thể về việc xác định thiệt hại lại
được ghi nhận trong luật chống bán phá giá của mỗi quốc gia và cơ quan tiến hành xác
định những thiệt hại đó lại là cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu
1.2.1 Thủ tục giải quyết một vụ kiện chống bán phá giá.
ADA không đề cập đến thủ tục giải quyết một vụ kiện chống bán phá giá, sẽtheo thủ tục tài phán hành chính hay tài phán tư pháp Mặc dù thường được gọi là “vụ
kiện” (theo cách gọi ở Việt Nam), đây không phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là một
thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này
nhằm giải quyết một tranh chấp thương mại giữa một bên là ngành sản xuất nội địa và
một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài; nó không liên quan đến quan hệ
cấp chính phủ giữa hai nước xuất khẩu và nhập khẩu
Vì trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện gần giống như trình
tự tố tụng xử lý một vụ kiện tại toà nên thủ tục này còn được xem là “thủ tục bán tư
pháp” Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối cùng của
cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Toà án Lúc này, vụ việc xử lý tại toà án
thực sự là một thủ tục tố tụng tư pháp5
❖ Cơ quan nhân đơn kiên:
Tại Điều 5 của ADA không ghi nhận cụ thể về cơ quan có thẩm quyền, nơi tiếpnhận hồ sơ đề nghị điều tra Điều này có thể hiểu là luật chống bán phá giá ở mỗi quốc
gia sẽ ghi nhận cụ thể về cơ quan tiếp nhận hồ sơ này6
❖ Cơ quan tiến hành điều tra chống bán phá giá:
ADA không ghi nhận cụ thể về cơ quan tiến hành điều tra chống bán phá giá
Nhưng thủ tục giải quyết một vụ kiện chống bán phá giá là một thủ tục hành chính và
do cơ quan hành chính nhà nước nhập khẩu tiến hành Như vậy tùy mỗi nước sẽ có sự
quy định cụ thể về cơ quan nào có thẩm quyền tiến hành điều tra và ra quyết định
trong vụ kiện chống bán phá giá Thông qua việc xem xét các đạo luật chống bán phá
giá của từng quốc gia, nhận thấy rằng cơ quan tiến hành điều tra và ra quyết định trong
các vụ kiện chống bán phá giá là những cơ quan hành pháp7 Thông thường để đảm
- 11
Trang 15Ghi nhận tại Phần 5.6 của Hiệp đinh AD.
Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
❖ Chủ thế có quyền yêu cầu tiến hành vu viêc điều tra chống bán phá eiá.
Một cuộc điều tra chống bán phá giá chỉ được bắt đầu khi được khởi xướng bởimột trong hai chủ thể sau :
Chủ thể thứ nhất :CÓ hồ sơ đề nghị điều tra của bên nhân danh ngành sản xuấtnội địa của nước nhập khẩu
Chủ thể thứ hai :Trong trường hợp không có hồ sơ đề nghị điều tra của đại diệnngành sản xuất trong nước Nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn tiến hành điều tra khi
có đầy đủ các bằng chứng về việc phá giá về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữathiệt hại và việc bán phá giá8
❖ Các căn cứ tiến hành điều tra.
về cơ bản, một cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ được tiến hành khi hội đủ
những điều kiện sau :
Điều kiện thứ nhất: Nội dung hồ sơ đề nghị điều tra phải chứa đựng bằng chứng
về việc bán phá giá; Những thiệt hại/đe doạ gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa;
Và phải chứng minh được thiệt hại này là do hiện tượng hàng nhập khẩu bán phá giágây ra
Điều kiện thứ hai: Chủ thể nộp đơn phải nhân danh ngành sản xuất nội địa nước
nhập khẩu, và đạt được sự ủng hộ của những nhà sản xuất nội địa, cụ thể là :
Các nhà sản xuất ủng hộ hồ sơ yêu cầu điều tra phải chiếm trên 50% tổng sảnlượng của các nhà sản xuất trong nước đã thể hiện ý kiến đồng ý hoặc phản đối và cácnhà sản xuất thể hiện sự ủng hộ chiếm tỷ lệ ít nhất là 25% tổng sản lượng sản xuất ratrong nước
❖ Các giai đoan điều tra chống bán phá giá :
Theo AD A, quá trình điều tra một vụ kiện bán phá giá trải qua bốn giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Từ thời điếm ngành/đại diện ngành sản xuất nội địa nộp hồ sơ
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra
Trang 16Đó là những thông tin thực tế mà cơ quan điều tra có được, bao gồm: Các thông tin ương đơn đề nghị tiến hành
định AD
Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
Thứ hai, xác định thiệt hại của ngành sản xuất nội địa và mối quan hệ nhân quả
của việc nhập khẩu hàng hoá bị điều tra và thiệt hại đó
* Trong quá trình điều tra sơ bộ, cơ quan điều tra sẽ tiến hành thu thập thông tindựa trên hai nguồn thông tin cơ bản sau:
- Thông tin trong Bảng câu hỏi và Qúa trình điều tra tại chỗ
+ Hiệp định AD không ghi nhận cụ thể về nội dung Bảng câu hỏi Vì vậy mỗiquốc giá khác nhau sẽ có bộ câu hỏi khác nhau, áp dụng đối với các doanh nghiệp bị
khởi kiện chống bán phá giá trên thị trường của nước mình Tuy nhiên bảng câu hỏi
thường có nội dung rất phức tạp Bảng câu hỏi bao gồm các câu hỏi chi tiết về tình
hình sản xuất, bán hàng, về các loại chi phí, về thiệt hại được gửi đến các bên liên
quan ngay sau khi khởi xướng điều tra Thông thường có 2 loại bảng câu hỏi : Bảng
câu hỏi điều ừa về phá giá (gửi cho các nhà sản xuất-xuất khẩu nước ngoài, nhà nhập
khẩu) và Bảng câu hỏi điều tra về thiệt hại (gửi cho các nhà sản xuất nội địa nước nhập
khẩu) Trường hợp cơ quan điều tra thấy cần thiết thì có thể gửi Bảng câu hỏi bổ sung
(cho các đối tượng đã trả lời Bảng câu hỏi ban đầu)
+ Đe kiểm tra tính chính xác của những nội dung được các bên cung câp trong
bảng câu hỏi, cơ quan điều tra có thể tiến hành thẩm tra tại chỗ nghĩa là: cơ quan điều
tra sẽ tiến hành tại cơ sở sản xuất của các bên liên quan để xác minh tính chính xác và
trung thực của các thông tin do các bên cung cấp và tìm kiếm thêm các thông tin khác
Địa điểm thẩm tra tại chỗ được tiến hành tại nước nhập khẩu và tại nước xuất khẩu
Việc điều tra phải được thông báo trước và phải được sự chấp thuận của Chính phủ
nước xuất khẩu và chủ thể bị điều ừa Một bên liên quan không chấp thuận cho điều
tra thực địa khi cơ quan điều tra có yêu cầu có thể bị xem là “không họp tác”
- Dữ liệu sẵn có 9: Là thông tin mà cơ quan điều tra có thể tìm kiếm được, được
sử dụng để thay thế cho những thông tin mà bên liên quan đã từ chối không cung cấp,
không cho tiếp cận hoặc cung cấp với nội dung sai lệch Thông tin sẵn có được sử
dụng khi bên liên quan không họp tác và đó thường là những thông tin bất lợi cho bên
đó
* Kết thúc quá trình điều tra sơ bộ, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định sơ bộ Nếunội dung quyết định này khẳng định có xảy ra hiện tượng bán phá giá và có thiệt hại,
quá trình điều tra sẽ tiếp tục, đồng thời cơ quan điều tra sẽ ra quyết định áp dụng biện
Trang 17BƯỚC TIẾN HÀNH THỜI GIAN THỜI HẠN LÂU
NHATThời hạn điều tra chống bán phá
giá (Điều 5.10 ADA)
Thời hạn tối thiểu để trả lời bản
câu hỏi (Điều 6.1.1 ADA)
Ngày sớm nhất có thể áp dụng
các biện pháp tạm thời kể từ thời
điểm bắt đàu điều tra (Điều 7.3
ADA)
60 ngày
Áp dụng các biện pháp tạm thời
(Điều 1A ADA)
6 tháng 9 tháng (theo yêu cầu
của các nhà xuất khẩu)Thời hạn mà cho phép việc áp
dụng hồi tố các biện pháp tạm
thời sau khi có sự vi phạm 1
thỏa thuận (Điều 8.6 ADA)
90 ngày trước khi ápdụng các biện pháptạm thời
Hoàn trả thuế chống bán phá giá
áp dụng hồi tố cao quá mức đã
được trả ừên cơ sở hồi tố (Điều
9.3.2)
12 tháng (kể từ ngàyyêu cầu hoàn trả)
18 tháng
Rà soát thuế chống bán phá giá
được áp dụng (Điều 11.3, ADA)
5 năm (kể từ ngày áp
dụng)Thời hạn rà soát (Điều 11.4
ADA)
12 tháng (kể từ ngàybắt đầu rà soát)
Gỉải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
Giai đoạn 4 : Qúa trình điều tra cuối cùng.
Sau khi hoành thành quá trình điều tra cuối cùng thì cơ quan điều tra sẽ đưa rakết luận cuối cùng Trong trường họp kết luận xác định có xảy ra hiện tượng hàngnhập khẩu có bán phá giá tại thị trường nhập khẩu, với số lượng đáng kể và gây rathiệt hại/đe doạ gây ra thiệt hại cho ngành sản nội địa tại nước nhập khẩu Khi đó cơquan điều tra sẽ ra quyết định ấn định mức thuế chống bán phá giá chính thức
Giai đoạn 5: Các thủ tục rà soát lại.
- Rà soát do thay đổi hoàn cảnh: Rà soát do thay đổi hoàn cảnh là hình thức rà
soát được tiến hành sau khi đã áp thuế chống bán phá giá được một thời gian nhấtđịnh, với mục đích xem xét lại việc áp thuế chống bán phá giá có còn càn thiết haykhông và/hoặc liệu thiệt hại cỏ tiếp tục hoặc tái xuất hiện nếu thuế chống bán phá giá
bị huỷ bị hoặc thay đổi Biện pháp này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của bên liênquan (hoặc theo sáng kiến của chính cơ quan điều tra) với suy đoán rằng cùng với thờigian, dưới tác động của sự phát triển khoa học ông nghệ, phương thức bán hàng, nhucầu tiêu dùng , việc áp thuế và mức thuế áp đặt có thể không còn phù họp và do đócần được điều chỉnh hoặc huỷ bỏ Nếu kết quả rà soát cho thấy thuế chống bán phá giákhông còn cần thiết hoặc không còn có căn cứ thì quyết định áp thuế sẽ bị huỷ bỏ
- Rà soát hoàn trả thuế: là hình thức rà soát để xác định chính xác biên độ phá
giá thực tế của hàng hoá trong khoảng thời gian từ khi có quyết định áp thuế chínhthức (hoặc kể từ khi có kết quả rà soát liền trước) cho đến khi có yêu cầu rà soát củabên liên quan (hoặc của chính cơ quan điều tra) Rà soát hoàn trả thuế thường đượctiến hành theo yêu cầu của một bên liên quan Nếu kết quả rà soát cho thấy biên độ phágiá thực tế trong khoảng thời gian được rà soát thấp hơn mức thuế chống bán phá giá
đã nộp thì cơ quan có thẩm quyền có nghĩa vụ hoàn trả lại phàn thuế đã nộp vượt quábiên phá giá thực tế
- Rà soát hoàng hôn: Là biện pháp rà soát được thực hiện ngay trước khi hết
thời hạn 5 năm kể tù ngày có quyết định áp thuế chống bán phá giá chính thức hoặc kể
từ ngày có kết quả rà soát (nếu rà soát được tiến hành cả về biên phá giá và thiệt hại)
Rà soát được thực hiện theo yêu cầu của bên liên quan hoặc theo sáng kiến của chính
cơ quan điều tra Nếu kết quả rà soát cho thấy việc ngừng áp thuế chống bán phá giá
có thể làm tiếp diễn hoặc tái xuất hiện hiện tượng bán phá giá và thiệt hại thì thuếchống bán phá giá sẽ tiếp tục được áp dụng thêm 5 năm nữa
❖ Quyết đinh đình chỉ hoăc chấm dứt điều tra.
Theo sự ghi nhận của ADA, việc điều tra chống bán phá giá có thể tạm dừnghoặc kết thúc trong những trường hợp sau:
-Trong trường họp nội dung đơn kiện không họp lệ hoặc người nộp đơn kiện
Giải quyết vấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
Khi đó cơ quan điều tra sẽ từ chối hoặc đình chỉ việc tiến hành điều tra chống bán phágiá
-Trong quá trình điều tra, có những trường họp được đình chỉ hoặc chấm dứtkhi cơ quan điều tra xác định được: biên độ bán phá giá hoặc khối lượng hàng nhậpkhẩu bán phá giá hoặc thiệt hại/đe doạ gây thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa tại
nước nhập khẩu là “không đáng kể” 10
-Khi các bên thoả thuận thành công việc áp dụng phương pháp cam kết về giá11,với điều kiện cơ quan điều tra chấp thuận đề nghị cam kết giá đó và nhà xuất nướcngoài không đề nghị tiếp tục điều tra
❖ Các thòi han điền tra trong vu kiên chống bán nhá giá.
1.2.3 Các biện pháp chống bán phá giá.
Dưới góc độ kinh tế, việc bán phá giá không phải không đem lại những lợi íchnhất định như cho người tiêu dùng có điều kiện hưởng lợi về giá cả Vì vậy không phải
10 Đ oạn 8 Điều 5 của ADA
Trang 18Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
bất cứ hành vi bán phá giá nào cũng bị lên án Theo quy định của ADA, để có thể ápdụng biện pháp chống bán phá giá, nước nhập khẩu phải chứng minh được: sự tồn tạicủa hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu vào thị trường của mình; hành vi bán phá giá
đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất nội địa của nướcnhập khẩu Sau đây là những biện pháp chống bán phá giá được phép sử dụng nhằmmục đích ngăn chặn và hạn chế hậu quả hiện tượng này
Thứ nhất là các biện pháp tạm thời Biện pháp tạm thời là biện pháp do cơ
quan có thẩm quyền áp dụng đối với hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào nước nhậpkhẩu, sau khi có quyết định sơ bộ khẳng định có xảy ra hiện tượng bán bán phá giá vàgây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa tại nước xuất khẩu Áp dụng các biện pháptạm thời nhằm mục đích chủ yếu là để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra trong quátrình điều tra Các biện pháp tạm thời phải tuân thủ điều kiện chung là không vượt quábiên độ phá giá được xác định trong kết luận sơ bộ
Thứ hai là biện pháp cam kết về giá Đây là một biện pháp mà ADA cho phép
những nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài sau khi tiến trình điều tra đã bị kết luận làbán phá giá, có thể đưa ra cam kết sẽ tăng giá hàng xuất khẩu của họ bị kiện bán phágiá, đảm bảo không tiếp tục gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa của nước nhậpkhẩu Cam kết về giá được coi là biện pháp nhân nhượng - hoà giải theo nghĩa rộngtrong việc giải quyết tranh chấp thương mại nói chung, với những ưu điểm là nhanhchóng hơn và ít tốn kém hơn so với việc phải hoàn tất cuộc điều tra của cơ quan điềutra12 Nếu cam kết đó được nước nhập khẩu và cơ quan điều tra chấp thuận thì quátrình điều tra chống bán phá giá sẽ được đình chỉnh hoặc chấm dứt Trong trường họpcam kết này không được nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng như cam kết ban đàu, thì cam kết này sẽ bị hủy bỏ và cuộc điều tra chốngbán phá giá sẽ được tiến hành tiến hành như ban đầu
Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng, đã xảy ra trường họp: nhà xuất khẩu nướcngoài biết được khả năng hàng hoá xuất khẩu của mình có nguy cơ sẽ bị kiện phá giá,khi đó họ đã sử dụng biện pháp cam kết về giá trong giai đoạn trước hoặc khi cơ quanđiều tra tiến hành điều tra khi (trước khi có quyết định sơ bộ) Như vậy, về nguyên tắcđây là những trường họp sử dụng biện pháp cam kết về giá trái với quy định của ADA.Nhưng trên thực tế có thể sử dụng biện pháp cám kết về giá trước khi vụ kiện xảy radựa trên sự phán đoán của doanh nghiệp về thời điểm và hoàn cảnh thích họp vớinhững đối tác khác nhau tại những thị trường khác nhau, nhằm giảm thiếu tối đa nguy
cơ đối mặt với những vụ kiện, tiết kiệm đượcc thời gian chi phí
12 Đinh Thị Mỹ Loan (Bộ Thương Mại) Chủ Động ứng Phó Với Các Vụ Kiện Chống Bán Phá Gia TrongGVHD: ThS DIỆP NGỌC DŨNG SVTH: VÕ THÁI MINH
Trang 19Giải quyết Yấn đề cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá bằng Hiệp định Chống Bán Phá Gía
(anti - dumping agreement - ADA) của WTO
Thứ ba là thuế chổng bản phả giả chỉnh thức Nếu kết quả điều tra chính thức
đi đến kết luận cuối cùng cho thấy có bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành sản xuất
nội địa thì thuế chống bán phá giá chính thức được áp dụng, về bản chất, đây là khoản
thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoàinhập khẩu là đối tượng của quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá13
- Mức thuế chống bán phá giá được xác định theo biên độ phá giá và trong mọitrường hợp không được cao hom biên độ phá giá
- về nguyên tắc thời gian áp dụng thuế chống bán phá giá sẽ chấm dứt sau 5
năm kể từ thời điểm quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá Tuy nhiên nếu cơ quan
có thẩm quyền nước nhập khẩu sau khi tiến hành rà soát, đi đến kết luận là việc bánphá giá có nhiều khả năng tiếp tục duy trì nếu thuế chống bán phá giá chấm dứt hiệulực, thì thuế này sẽ tiếp tục được áp dụng thêm 5 năm nữa
- Hiệu lực của việc áp dụng thuế:
+ Quyết định áp thuế chỉ có hiệu lực đối với tất cả hàng hoá liên quan nhậpkhẩu từ nước bị kiện sau thời điểm ban hành quyết định;
+ Quyết định áp thuế có hiệu lực với cả các nhà xuất khẩu mới, người chưa hềxuất khẩu hàng hoá đó sang nước áp thuế trong thời gian trước đó; nhà xuất khẩu mới
có thể yêu cầu cơ quan điều tra tính mức thuế riêng cho mình, nhưng trong thời gianchưa có quyết định về mức thuế riêng thì hàng hoá nhập khẩu của nhà xuất khẩu mớivẫn thực hiện quyết định áp thuế nói ừên;
+ Việc áp dụng hồi tố (áp dụng cho những lô hàng nhập khẩu trước thời điểmban hành Quyết định) chỉ được thực hiện nếu thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất nộiđịa là thiệt hại thực tế
- Mức thuế chống bán phá giá được tính toán như sau:
+ về cách thức áp dụng:
s về nguyên tắc, mức thuế chống bán phá giá được tính riêng cho từng
nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài và không cao hơn biên phá giá của họ;
■S Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lựa
chọn để tham gia cuộc điều tra nhưng hợp tác với cơ quan điều tra thì mức thuế chốngbán phá giá áp dụng cho họ không cao hơn biên phá giá trung bình của tất cả các nhàsản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra;
■S Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu không hợp tác, gian lận trong
13 Website WTO - Hội nhập kinh tế quốc tế của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam: Hiệp định chông bán phả giá (Thực thi Đ iêu VI của GATT), GVHD: ThS DIỆP NGỌC DŨNG http://trungtamwto.vn/wtofyan-kwn/hwp-dinh-chong-ban-pha-SVTH: VÕ THÁI MINH