Đó là đề tài: “Quản lý nhànước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Vĩnh Long” do Tác giả TôTuấn An sinh viên khóa 33 Khoa Luật trường Đại học cần Thơ thực hiện, ở đề tài
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2
5 Phưomg pháp nghiên cứu đề tài 2
6 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ AN TOÀN THựC PHẨM VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ AN TOÀN VẼ SINH THƯC PHẨM 4
• • 1.1 K hái niệm về an toàn thực phẩm 4
1.1.1 K hái niệm thực phẩm 4
1.1.2 K hái niệm an toàn vệ sinh thực phẩm 4
1.1.3 C ác loại thực phẩm 5
1.1.4 M ột số khái niệm liên quan đến thực phẩm 6
1.1.5 Vai trò của an toàn vệ sinh thực phẩm đối
- xã hội 8
1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 9
1.2.1 K hái niệm quản lý nhà nước 9
1.2.2 K hái niệm quản lý hành chính nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 10
1.2.3 V ai trò của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 11
1.2.3.1 Đ ối với chuỗi thực phẩm 11
1.2.3.2 Đối với công tác thanh tra, kiểm ữa 11
1.2.3.3 N âng cao nhận thức của người dân 11
1.2.3.4 H ợp tác liên ngành 12
Trang 51.2.4.2 X
ây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa 13
1.2.4.3 Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm 13
1.2.4.4 Quản lý việc công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm 14
1.2.5 Ng uyên tắc quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 14
1.2.5.1 B ảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức 14
1.2.5.2 Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện 15
1.2.5.3 Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật 15
1.2.5.4 Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong 15
1.2.5.5 Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công 15
1.2.5.6 Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển 16
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐÓI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ AN TOÀN VỆ SINH THựC PHẨM 17
2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 17
2.1.1 Ch ỉ đạo về mặt tư tưởng 17
2.1.2 Cô ng tác ban hành văn bản pháp luật 18
2.1.3 Công tác ban hành và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật 21
2.1.3.1 Ban hành tiêu chuẩn, quy chẩn kỹ thuật 21
2.1.3.2 Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật 22
2.2 v
ề phân cấp quản lý 23
2.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm 23
2.2.1.1 Bộ Y tế và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm 23
2.2.1.2 Bộ Nông nghiệp và Phát riển nông thôn 24
2.2.1.3 Bộ Công thương 25
2.2.1.4 Bộ Khoa học và Công nghệ 25
2.2.1.5 Bộ Tài nguyên và Môi trường 25
2.2.2 Qu ản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp địa phương 26
Trang 62.2.2.1 ủy ban nhân dân cấp tỉnh 26
2.2.2.2 Sở Y tế 26
2.2.2.3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 28
2.2.2.4 Các Sở có liên quan 28
2.2.2.5 Cấp Huyện 29
2.2.2 Ó Cấp Xã 29
2.3 Th anh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm 30
2.3.1 Th anh tra, kiểm tra 30
2.3.1.1 Thanh tra Cục 30
2.3.1.2 Thanh tra Chi Cục 31
2.3.2 Xử lý vi phạm .32
2.3.2.1 Vi phạm hành chính 32
2.3.2.2 Vi phạm hình sự 33
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Ở KIÊN GIANG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 35
3.1 Đá nh giá chung về tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm 35
3.1.1 Tì nh hình an toàn vệ sinh thực phẩm 35
3.1.1.1 Tình hình chung 35
3.1.1.2 Tì nh hình ở địa phương 38
3.1.2 H ệ thống quản lý nhà nước về quản lý VSATTP 41
3.1.3 Tì nh hình ngộ độc thực phẩm (NĐTP) ở Kiên Giang trong thời gian qua 42
3.1.3.1 Tinh hình NĐTP năm 2009 42
3.1.3.2 Tì nh hình NĐTP năm 2010 43
3.1.4 Cô ng tác lấy mẫu thực phẩm xét nghiệm 45
3.1.5 Cô ng tác thanh tra về VSATTP 47
3.1.5.1 C ông tác thanh tra của Sở Y tế năm 2010 47
3.1.5.2 C ông tác thanh tra, kiểm tra của Chi Cục ATVSTTP năm 2010 48
Trang 73.1.6 Kinh phí hoạt
động
3.1.7 Những thuận lợi và khó khăn của tỉnh 53
3.1.7.1 Thuận lợi
53
3.1.7.2 Khó khăn
54
3.2 Giải pháp hoàn thiện trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh
thực phẩm 55
3.2.1 Giải pháp chung 55 3.2.2 Giải pháp cụ thể 56 3.2.3 Kiến nghị 57 2.3.3.1 về mặt pháp luật 57
3.2.3.2 về tổ chức quản lý 58
3.2.3.3 Kiến nghị đối với tỉnh 59
KẾT LUẬN 61
Trang 8Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề hết sức phức tạp, bức xúc, có tầm quanhọng đặc biệt đối với đời sống của con người, với sự phát triển kinh tế, văn hóa -
xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Đảm bảo vấn đề an toàn vệ sinhthực phẩm luôn là mối quan tâm của toàn cầu Một cuộc sống an toàn, lành mạnh,không có mất vệ sinh an toàn thực phẩm thì điều kiện sống của con người, sự pháttriển của toàn xã hội sẽ được đảm bảo Thế nhưng, do nhận thức của con người về antoàn vệ sinh thực phẩm chưa cao nên sức khỏe của con người đang bị đe dọa ngàycàng trầm trọng Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh công tác truyền thông, giáodục ý thức về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, ở Việt Nam nhà nước ta đã banhành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về antoàn vệ sinh thực phẩm, cũng như điều chỉnh những hành vi của con người sao chophù hợp với truyền thống đạo đức, văn hóa của xã hội và cũng để phù hợp với xuhướng phát triển chung của thế giới Khi nói đến pháp luật về an toàn vệ sinh thựcphẩm thì trong đó có Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là văn bản pháp
lý cao nhất hiện nay điều chỉnh về an toàn vệ sinh thực phẩm Bên cạnh những vănbản quy phạm pháp luật, Nhà nước ta đã thiết lập những cơ quan chuyên môn về antoàn vệ sinh thực phẩm, tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị về an toàn vệ sinh thựcphẩm, nghiên cứu các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và cách khắcphục hậu quả do những vụ ngộ độc thực phẩm gây ra Tuy nhiên, do những hạn chế vềmặt khách quan cũng như chủ quan: nước ta đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, phápluật điều chỉnh về an toàn vệ sinh thực phẩm khá nhiều nhưng chưa đồng bộ, khôngđồng nhất trong công tác quản lý, trinh độ dân trí còn thấp, chưa đồng bộ trong côngtác tuyên truyền phổ biến pháp luật và những biện pháp quản lý, xử lý trong lĩnhvực này đưa ra vẫn chưa được áp dụng nhiều vào thực tiễn dẫn đến tình ữạng khôngđảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng gia tăng Từ đó, để giải quyết tốt chovấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trong tương lai thì việc nghiên cứu, tìm hiểu nhữngquy định của pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm cùng với thực ữạng áp dung phápluật và thực hiện những quy định đó như thế nào cho đúng Vì vậy, người viết chọn đềtài “Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn ở tinh KiênGiang”
Trang 9Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu có giới hạn, người viết có tìm hiểu vấn đề liên quanđến thực phẩm đã có tác giả nghiên cứu về vấn đề này Đó là đề tài: “Quản lý nhànước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Vĩnh Long” do Tác giả TôTuấn An sinh viên khóa 33 Khoa Luật trường Đại học cần Thơ thực hiện, ở đề tài nàyTác giả tìm hiểu những quy định của pháp luật trong quản lý nhà nước về an toàn vệsinh thực phẩm cùng với thực trạng và hướng hoàn thiện Ở đây Tác giả chưa làm sang
tỏ khái niệm, nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm.Chính vì lý do trên mà người viết đã nghiên cứu để bổ sung vào những thiếu sót nóitrên cùng với thực trạng và những phương hướng hoàn thiện về ATVSTP của cả nướcnói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Những quy định của pháp luật về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đã được xâydựng nhưng việc áp dụng nó vào đời sống thực tế chưa đạt được hiệu quả cao Bằngchứng là công tác quản lý còn chưa đồng bộ, việc xử phạt vi phạm hành chính cònnhiều bất cập, nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính chung chung, tínhthống nhất chưa cao dẫn đến tình trạng trong cùng một vấn đề nhưng lại có cách giảithích và giải quyết những quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước Đây là vấn
đề nan giải Do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài này và sẽ đề xuất ra những hướnggiải quyết có hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm
4 Phạm vỉ nghiên cứu đề tài
Do yêu cầu của một đề tài luận văn tốt nghiệp trong khuôn khổ thời gian chophép nên người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của phápluật an toàn vệ sinh thực phẩm và thực trạng của các chính sách pháp luật về an toàn
vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam cũng như những vướng mắc trong việc áp dụng nhữngquy định đó vào thực tiễn Từ đó vạch ra những giải pháp và một số kiến nghị của bảnthân đối với vấn đề điều chỉnh pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bên cạnh việc tổng hợp các quy định của phápluật, các tài liệu liên quan đến đề tài thì người viết còn tìm hiểu thực trạng về an toàn
vệ sinh thực phẩm hiện nay để kết hợp phân tích làm rõ vấn đề
Trang 10Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
6 Bố cuc của đề tài
Ngoài phần mục lục, lòi nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn sẽ gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về an toàn
Trang 11Trích trong Quyết định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành kèm theo quyết định số 4196/1999/QD-BYT ngây 29/12/1999.
vụ Quốc hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN TOÀN THựC PHẨM VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VÈ AN TOÀN VỆ SINH THựC PHẨM 1.1 Khái niệm về an toàn thực phẩm
1.1.1 Khái niệm thực phẩm: Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người
tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uổng, nhai, ngậm và các chất
được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm”}
Khái niệm này đã khái quát được thế nào là thực phẩm, nhưng về sau nó khôngcòn phù họp nữa vì bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm là bao gồm cả thuốc dùng để
chữa bệnh mà thuốc chữa bệnh không được xem là thực phẩm, mặc dù vậy nhưng nó
đã phần nào khẳng định bước đầu hình thành nền pháp lý về ATTP ở Việt Nam Để
loại bỏ những sai sót nói trên đã được thay thế bởi một khái niệm thực phẩm tương đối
hoàn chỉnh hơn trong một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, được định nghĩa là:
“Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã
qua chế biến, bảo quản” 1 2
1.1.2 Khái niệm an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP)
Trên thực tế, nền sản xuất thực phẩm của Việt Nam số đông còn rất lạc hậu,người sản xuất nhận thức về việc đảm bảo ATTP còn hạn chế, dụng cụ, ữang thiết bị
còn lạc hậu, vệ sinh cá nhân người sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn kém, một bộ
phận người sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận mà làm ăn gian dối - sử dụng một cách
tùy tiện hóa chất độc hại trong quá trình sản xuất, bảo quản thực phẩm, gây tâm lý
hoang mang cho người tiêu dùng, họ không biết phải lựa chọn và mua sản phẩm thực
phẩm như thế nào để đảm bảo an toàn sức khỏe cho gia đình Hơn nữa, ATTP cũng
được hiểu như khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người Đây là
một lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến sức khỏe, đời sống xã hội, kinh tế, quan hệ hội
nhập và phát triển bền vững Trong những năm gần đây, ATTP luôn được sự quan tâm
của công luận và ttở thành vấn đề thường nhật của báo chí cũng như của các phương
tiện thông tin đại chúng Với việc ảnh hưởng của báo chí đã giúp các cơ quan chức
năng giải quyết nhanh chóng nhiều vụ việc, ngăn chặn có hiệu quả những ảnh hưởng
tới sức khỏe cộng đồng do không đảm bảo VSATTP mà Luật ATTP năm 2010 đã đưa
Trang 12Khoản 27, Điều 2 Luật an toàn thực phẩm năm 2010.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
ra khái niệm rằng: “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe,
tính mạng con người” Nói tóm lại, ATTP là làm sao cho thực phẩm khi sử dụng
không còn chứa mầm bệnh và chất độc hại cho cơ thể người sử dụng Chính vì lẽ đó
mà việc đảm bảo ATTP là hết sức cần thiết để bảo vệ sức khỏe người dân được tốt hơntrong tình hình hiện nay
1.1.3 Các loại thực phẩm
Thực phẩm bao gói sẵn: Là “Thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh,
sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để an ngay ” 3 Ngàynay với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của xã hội thì ngoài nhu cầu sử dụng thức
ăn nhanh đường phố ra thì thực phẩm bao gói sẵn cũng là một trong những loại thựcphẩm phù hợp với những người có công việc có công việc bận rộn hay ít có quỹ thờigian rảnh, có rất nhiều loại thực phẩm bao gói sẵn có thể ăn ngay được như các loạibánh
Thực phẩm biến đỗi gen: Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ
y tế năm 1999 thì được gọi là thực phẩm sử dụng công nghệ gen “là những thực phẩm
được chế biến từ những thực phẩm nguyên liệu đã bị biến đổi do áp dụng công nghệ gen và bao gồm các chất phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm ”.
Theo Pháp lệnh số 12 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì gọi thực
phẩm có gen bị biến đổi là “Thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật có gen đã bị biển đổi
do sử dụng công nghệ gen
Theo Luật ATVSTP năm 2010 thì thực phẩm biến đổi gen là “Thực phẩm có một
hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biển đổi bằng công nghệ gen”.
Thực phẩm đã qua chiếu xạ: Theo quy định kèm theo Quyết định của Bộ y tế
năm 1999 thì “Thực phẩm chiếu xạ là thực phẩm sử dụng các chất có hoạt tính phóng
xạ nhằm bảo quản và ngăn ngừa sự biển chất của thực phẩm”.
Theo Pháp lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQU không gọi là thực phẩm chiếu xạ
mà gọi là thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ “là thực phẩm được
chiếu xạ bằng các nguồn có hoạt tính phóng xạ để bảo quản và ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm ”.
Thực phẩm có nguy cơ cao: Theo Pháp lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH thì
“Thực phẩm có nguy cơ cao là thực phẩm có nhiều khả năng bị các tác nhân sinh học,
Trang 13Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
hóa học, lý học xâm nhập gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng” Và dường
như loại thực phẩm này đã được giải quyết tốt bằng một phương pháp khác nên nócũng không được nhắc đến ữong Luật ATVSTP năm 2010
Thức ăn đường phố: Xã hội ngày càng phát triển từ đó nhu cầu ăn uống cũng
tăng theo, mặc khác là do nhu cầu cần phải tạo thêm thu nhập của những người cóhoàn cảnh khó khăn, từ đó mà thức ăn đường phố xuất hiện và ngày một phát triểnmạnh Chính sự phát triển ngày càng tăng đó đã ữở thành một vấn đề cần được sựquan tâm và quản lý của nhà nước Để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh kịp thời vấn
đề này Bộ Y tế đã đưa ra Quyết định số 4196 trong đó thức ăn đường phố là: “những
thức ăn, đồ uổng, kể cả rau, hoa quả tươi có thể ăn ngay được bày bán trên đường phố hoặc nơi công cộng ”.
Kh
i Luật ATVSTP được ban hành thì thức ăn đường phố được quy định như sau:
“Thức ăn đường phổ là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tể được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự”.
Có thể chia thức ăn đường phố làm 3 loại: bán trong cửa hàng cố định, bán trên
hè phố và bán rong Hiện nay, cả 3 loại hình này đang phát triển mạnh nhất là các cửahàng ăn uống cố định mọc lên ở khắp nơi, việc phát triển các loại hình thức ăn đườngphố là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống, của xã hội, với việc đem lại nhiều thuận tiệncho người tiêu dùng
1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm (NĐTP): Trước đây mặc dù NĐTP đã từng diễn ra trên thực
tế, nhưng vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào điều chỉnh vấn đề này, khi Pháp lệnh
số 12 năm 2003 ra đời thì NĐTP được hiểu là: “NĐTP là tình trạng bệnh lý xảy ra do
ăn, uống thực phẩm có chứa chất độc” Nhưng hiện nay khái niệm này đã được Luật
ATVSTP năm 2010 thể hiện một cách chính xác hơn: “NĐTP là tình trạng bệnh lý,
xảy ra đột ngột, do hẩp thụ thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc”.
NĐTP là bệnh mắc phải sau khi ăn những thức ăn không còn thích hợp do thức
ăn nhiễm vi sinh vật hay độc tố của vi sinh vật, do virus, nấm mốc độc, thức ăn bị biếnchất, ôi thiu hoặc trong bản thân thực phẩm có chất độc: cá nóc, nấm độc, khoai tâymọc mầm Thức ăn nhiễm các chất hóa học: kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, cácloại thuốc thú y (thuốc kích thích tăng trưởng, tăng trọng )
Trang 14Khoản 3, Điều 3 Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số 12 ngày 26/7/2003 của ủy ban thường vụ Quốc hội
5 Khoản 17, Điều 2 Luật an toàn thực phẩm năm 2010.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
Sản xuất, kỉnh doanh thực phẩm: “Sản xuất tực phẩm, kinh doanh thực phẩm
là việc thực hiện một, một sổ hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, buôn bán thực phẩm” 4
Sản xuất thực phẩm là một quá trình bao gồm nhiều công đoạn như phải hồngtrọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt để có được nguồn thực phẩm ban đầu Từ nguồn thựcphẩm ban đầu này qua quá trình sơ chế, chế biến mói có thể sử dụng được còn đối vóinhững nơi không trực tiếp sản xuất ra thực phẩm nên phải sử dụng thực phẩm từ nơisản xuất được đem đến thì cần phải có thêm một giai đoạn nữa là vận chuyển và thôngqua buôn bán mới đến được người sử dụng
Hiện nay Luật ATVSTP năm 2010 đã được ban hành với nhiều tiến bộ rất nhiều,trong đó việc định nghĩa về sản xuất thực phẩm và kinh doanh thực phẩm được cụ thể
và tách riêng biệt nhau:
“Sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một sổ hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra sản phẩm thực phẩm”.
“Kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một sổ hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm”.
Điều kiện bảo đảm ATTP: Theo Luật ATVSTP năm 2010 “Điều kiện đảm bảo
ATTP là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích đảm bảo thực phẩm
an toàn đối với sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng thực phẩm ”.
Theo đó ta có thể hiểu như sau, điều kiện đảm bảo ATTP là ngoài những điềukiện mà người tạo ra thực phẩm phải đáp ứng khi làm ra thực phẩm thì còn có nhữngđiều kiện đối với thực phẩm hay là các điều kiện về kỹ thuật, môi trường trong quátrình tạo ra thực phẩm và còn có cả điều kiện về vận chuyển, kinh doanh
Sự cố về an toàn thực phẩm: “Sự cố về ATTP là tình huống ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người xảy ra do NĐTP, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm” 5
Trang 15Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
Điều đó có nghĩa là khi con người sử dụng phải thực phẩm không đảm bảo vệsinh sẽ xảy ra hai trường hợp Một là, gây NĐTP hoặc mầm bệnh sẽ từ thức ăn xâmnhập vào cơ thể người và gây bệnh Hai là, những chất độc hại sẽ tích tụ trong cơ thểngười từ lượng nhỏ đến lớn và gây ra các bệnh nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng
Phụ gia thực phẩm: Theo Pháp lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH thì phụ gia
phẩm được quy định như sau: “Phụ gia phẩm là chất có hoặc không có giá trị dinhdưỡng được bổ sung vào thành phần thực phẩm trong quá trình chế biến, xử lý, baogói, vận chuyển thực phẩm nhằm giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính nào đó của thựcphẩm”
Theo Luật ATVSTP năm 2010 có hiệu lực ngày 1.7.2011 thì: “Phụ gia thực
phẩm là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được chủ định đưa vào thành phần của thực phẩm trong quá trình sản xuất nhằm giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính của
sản phẩm thực phẩm” Nói tóm lại, phụ gia phẩm là được thêm vào thực phẩm nhằm
giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính ban đầu của sản phẩm thực phẩm
Vi chất dinh dưỡng và vừamin:Theo Pháp lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH
thì: “Vi chất dinh dưỡng và vitamin là vitamin, chất khoáng có hàm lượng thấp cần
thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì sự sống của cơ thể người” Đây là một
trong những loại chất quan trọng mà con người khi ăn thức ăn cũng chỉ để hấp thụ, lấy
nó cho cơ thể
Theo Luật ATVSTP năm 2010 có hiệu lực ngày 1.7.2011 thì được gọi là thựcphẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng “là thực phẩm được bổ sung thêm các vitamin,khoáng chất hoặc các thành phần được phép khác nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡngcủa thực phẩm đó” Với cách gọi này người ta sẽ phân biệt được thế nào là vi chất dinhdưỡng và thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng, vì thực phẩm bổ sung vi chất dinhdưỡng là khi người tạo ra thực phẩm này hoặc đã thêm vitamin hoặc chất dinh dưỡngvào thực phẩm một lượng cần thiết nhất định, để khi sử dung cơ thể sẽ hấp thụ nó
1.1.5 Vai trò của an toàn vệ sinh thực phẩm đối với kinh tế - xã hội
Vấn đề ATVSTP của cả nước nói chung là vấn đề hết sức phức tạp Việc đảmbảo CLVSATTP có tác động trực tiếp, thường xuyên đối vói sức khỏe mỗi người dân,ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng thực phẩm không đảm bảo vệsinh, thực phẩm có dư lượng hóa chất bảo vệ thực phẩm vượt quá mức tiêu chuẩn chophép, trước mắt có thể gây ngộ độc và các bệnh về đường tiêu hóa cho người sử dụng,nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng, hoặc là về lâu dài sẽ tíchlũy các độc tố trong cơ thể mà về sau mới phát bệnh, gây ra di tật cho các thế hệ tiếp
Trang 16Trích, Bài 1 Những vấn đề chung về Luật hành chinh, mục 1.2 - Giáo trinh Luật hành chính Việt Nam - Phần 1: Những vấn đề chung của Luật hành chính - TS Phan Trung Hiền.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
theo Bảo vệ nòi giống và sức khỏe lâu dài của nhân dân trong cộng đồng các dân tộc
là sự nghiệp chung và là trách nhiệm của toàn dân, đặc biệt là của các cấp chính
quyền Vì thế, vấn đề đảm bảo ATVSTP là rất quan họng Nhưng trên thực tế, thói
quen về ăn uống, sử dụng thực phẩm không đảm bảo vệ sinh của người dân còn rất
nhiều, đây là điều rất đáng lo ngại Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý còn buông lỏng
hách nhiệm quản lý về CLVSATTP Nếu khắc phục được vấn đề này sẽ góp phần
quan họng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi lẽ, con người là
nhân tố rất quan họng quyết định sự phát triển của đất nước, con người tạo ra của cải
vật chất và tinh thần cho xã hội, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, khi
đảm bảo được ATVSTP thì nguồn nhân lực và trí lực của đất nước cũng sẽ phát triển
Bởi vậy, ATVSTP có vai hò rất quan họng, nó không những đẩy sự phát triển kinh tế
-xã hội mà còn đưa đất nước đi lên hong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tê
ATVSTP là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nghĩa là phát triển kinh tế phảihướng vào phát triển và hoàn thiện con người, hướng vào phát triển và hoàn thiện
xã hội Sự phát triển của trí tuệ con người, của khoa học - kỹ thuật dẫn đến tăng
trưởng kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng phải chú trọng nâng cao ý thức và đạo đức của
người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm Trong chế độ xã hội có tổ chức, nhất
là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, con người cần được chăm lo, đặc biệt là về
mặt ăn uống phải đảm bảo ATVSTP, có như thế con người mới có được sức khỏe tốt
mà phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi lẽ, sức khỏe
không chỉ là vốn quý của từng con người mà còn là vốn quý của toàn xã hội Sức khỏe
là tiền đề để con người lao động làm giàu cho bản thân mình, làm giàu cho đất nước,
góp phần bảo vệ vững chắc chính quyền và đưa sự phát triển của đất nước ngày càng
vươn tới phồn vinh, hạnh phúc Muốn vậy, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải
có trách nhiệm đảm bảo ATVSTP do mình sản xuất, kinh doanh và thực hiện các điều
kiện sản xuất, kinh doanh, phải có đủ các tiêu chuẩn sức khỏe và tiêu chuẩn kiến thức
về ATVSTP
1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP)
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính qyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội 6
Trang 17Trích, Bài 1 Những vấn đề chung về Luật hành chinh, mục 1.3 - Giáo trình Luật hành chính Việt Nam - Phần 1: Những vấn đề chung của Luật hành chính - TS Phan Trung Hiền.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
Từ khi xuất hiện, nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quantrọng, cần thiết Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà
ủy quyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ
chức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước 7
Quản lý hành chính nhà nước (nói tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý nhànước chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít nhất một bên có
thẩm quyền hành chính nhà nước
Vì vậy, quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệthống cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, các Bộ và các cơ quan chính quyền
địa phương các cấp, ngoại trừ các tổ chức trực thuộc nhà nước mà không nằm trong
cấu quyền lực như các doanh nghiệp
Hiện nay chưa có khái niệm quản lý hành chính nhà nước về an toàn vệ sinh thựcphẩm Do đó, từ khái niệm quản lý hành chính nhà nước được nêu trên ta có cách nhìn
khái quát về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực ATVSTP: Quản lý nhà nước
về ATVSTP là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, của
các cơ quan nhà nước khác trong lĩnh vực ATVSTP, quản lý trên cơ sở của luật và để
thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý và điều hành trong lĩnh vực
ATVSTP.
Theo đó, quản lý hành chính nhà nước về ATVSTP (hay quản lý nhà nước vềATVSTP) chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực hành pháp được thực hiện bởi một bên là các
cơ quan có thẩm quyền với một bên là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chịu sự điều
chỉnh của các cơ quan có thẩm quyền đó, diễn ra trong lĩnh vực ATVSTP
Quản lý nhà nước về ATVSTP được thực hiện bởi sự thống nhất quản lý củaChính phủ, sự hướng dẫn chỉ đạo của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, các Bộ, ngành có liên quan và ủy ban nhân dân các cấp
Trang 18Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm
1.2.3.1 Đối với chuỗi thực phẩm:
Có thể nói trong suốt chuỗi thực phẩm từ sản xuất, vận chuyển, bảo quản buônbán cho đến tiêu dùng thì nhà nước không trực tiếp làm bất kỳ một khâu nào nhưngvói cương vị là nhà quản lý, nhà nước đóng vai trò hết sức quan họng trong chuỗi thựcphẩm đó, làm thế nào để chuỗi thực phẩm đó được vận hành một cách chắc chắn và antoàn để tạo ra sản phẩm sạch và đảm bảo vệ sinh cho người tiêu dùng Trong cương vị
đó nhà nước thực hiện công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời điềuchỉnh về ATVSTP, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật, quy định các hình thức kỷ luật,
xử lý, khen thưởng Ngoài ra, nhà nước còn xây dựng đội ngũ chuyên môn kỹ thuậtcao, xây dựng cơ sở vật chất để thực hiện công tác quản lý như xây dựng phòng thínghiệm, xét nghiệm
1.2.3.2 Đối vói công tác thanh tra, kiểm tra:
Công tác thanh tra, kiểm ữa, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trongquá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu là vấn đề bức thiết ở mọi thời điểm, bởiATTP có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
cá nhân, cộng đồng mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội Vì vậycác cơ quan quản lý nhà nước cần phải tăng cường hoạt động chặt chẽ hơn nữa trongviệc quản lý ATVSTP, đặc biệt là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến lương thựcthực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng Bên cạnh đó cần phải thườngxuyên tiến hành thanh ữa, kiểm tra phát hiện và kịp thời xử lý vi phạm đối với các cơ
sở vi phạm về chất lượng ATVSTP Có như vậy, thì vấn đề sức khỏe, tính mạng ngườidân mói được bảo đảm, xã hội mới phát triển Đồng thời làm cho bộ máy quản lý nhànước, trong đó có quản lý nhà nước về ATVSTP ngày càng trở nên chặt chẽ hơn, tạođược niềm tin ở người dân nhiều hơn
1.2.3.3 Nâng cao nhận thức của người dân:
Để đảm bảo ATVSTP, trước hết cần phải làm thay đổi nhận thức của người nôngdân về vấn đề này và cần nâng cao hơn nữa vai trò quản lý Nhà nước về an toàn vệsinh nông sản thực phẩm Muốn nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đápứng yêu cầu thị trường các đơn vị, ban ngành cần làm tốt công tác giáo dục ý thức tựgiác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho cộng đồng từ khâu sản xuất, chế biến đếnlưu thông, tiêu thụ sản phẩm Tổ chức đào tạo, tập huấn kiến thức quản lý, chuyênmôn kỹ thuật cho các doanh nghiệp, nông dân, công nhân phục vụ cho sản xuất chếbiến Phối họp với các Chi cục Thú y tồ chức triển khai thực hiện chương trình giám
Trang 19http://www.khuvennongyn.gov.vii/c-hdknkn/b-thuanluven/nang-cao-vai-tro-quan-lv-nha-nuoc-ve-an-toan-ve-sinh-nong-san-thuc-pham/view
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
sát ô nhiễm vi sinh vật và hoá chất tồn dư trong sản phẩm động vật Phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quychuẩn kỹ thuật phục vụ công tác VSATTP; đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho ngườitrực tiếp sản xuát hiểu biết và thực hành theo các quy chuẩn VSATTP, đặc biệt là cáctỉnh có ngành chăn nuôi phát triển
vệ sinh an toàn thực phẩm các cơ sở chế biến nông sản thực phẩm8
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước an toàn vệ sinh thực phẩm
Để thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm, Chính phủ
đã có những biện pháp tích cực Điều này được thể hiện tíong nội dung quản lý nhànước về an toàn vệ sinh thực phẩm, quy định tại Điều 42 của Pháp lệnh vệ sinh an toànthực phẩm 2003 Cụ thể:
I.2.4.I Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về an toàn vệ sinh thực phẩm:
Thực hiện nội dung này, trước hết phải đẩy mạnh việc thực hiện các chính sách,pháp luật về quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, tíong đó, phải tăng cườngnăng lực cho cơ quan đầu mối để giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhànước về an toàn vệ sinh thực phẩm Bên cạnh đó, hàng năm, các cơ quan quản lý nhànước về lĩnh vực này phải đề xuất với Thủ tướng Chính phủ những chủ trương, cơ chế,chính sách, giải pháp để công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm đạthiệu quả, đề xuất tổ chức “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm”frong cả nước, phát động chiến dịch truyền thông phòng ngừa ngộ độc thực phẩm Hơnnữa, phải kiện toàn Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn vệ sinh thực phẩm
để giúp Chính phủ chỉ đạo, phối hợp hành động giữa các Bộ, ngành, các địa phương vàcác cơ quan, tổ chức có liên quan tíong việc xử lý những vấn đề liên ngành về an toàn
Trang 20Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
vệ sinh thực phẩm; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý của các Bộ,ngành, ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo về an toàn vệ sinh thực phẩm các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương
1.2.4.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm:
Ngộ độc thực phẩm là dùng để chỉ tất cả các bệnh gây ra bởi các mầm bệnh cótrong thực phẩm An toàn vệ sinh thực phẩm cũng liên quan đến ngộ độc thực phẩm vàcác bệnh lan truyền qua thực phẩm Bởi vậy, Bộ Y tế cũng cần phải phối hợp vói các
Bộ, ngành liên quan để quản lý tốt vấn đề ngộ độc thực phẩm và hạn chế các bệnhtruyền qua thực phẩm như tiêu chảy, thương hàn, cúm gia cầm, Do vậy, Pháp lệnh
vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 cũng có một chương riêng dành cho vấn đề này Bởihiện nay, vấn đề ngộ độc thực phẩm xảy ra rất nhiều mà chủ yếu là do người tiêu dùng
sử dụng nhiều loại thực phẩm không rõ nguồn gốc bày bán trên thị trường Trên thực
tế, việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thuộcưách nhiệm của ủy ban nhân dân, chính quyền các cấp sở tại Chính sự buông lỏngquản lý về lĩnh vực này đang tạo điều kiện cho những sản phẩm kém chất lượng,không rõ nguồn gốc xuất hiện Vì thế, hậu quả cuối cùng vẫn là hàng ngàn người tiêudùng phải gánh lấy những hậu quả khôn lường, thậm chí còn nguy hiểm đến tínhmạng Nguyên nhân của những vụ ngộ độc thực phẩm thứ nhất là do thiếu hiểu biết, ýthức vệ sinh kém và thứ hai là do lây nhiễm vi sinh, tức là ngộ độc dẫn đến nhiễmtrùng đường tiêu hóa do thực phẩm có chứa các vi trùng gây bệnh, mà vi trung này là
do thực phẩm được chế biến không hợp vệ sinh, gần bãi rác, gần các vũng nước đọng,hoặc chế biến các loài thủy sản bị ươn, thịt bị thiu do để lâu trước khi ăn, Vì vậy, các
Bộ, ngành cần chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa, tổ chức cấp cứu điều trị, tổchức tốt công tác phân tích, dự báo trước những nguy cơ gây ngộ độc để có biện phápphòng ngừa và khắc phục hiệu quả Đặc biệt là đẩy mạnh công tác này cho các tuyến
từ Trung ương đến cơ sở, kịp thời điều tra, tìm ra hết nguyên nhân gốc rễ dẫn đến ngộđộc thực phẩm và các bệnh lan truyền qua thực phẩm Từ đó mới có thể đề xuất ra cácgiải pháp khắc phục và phòng ngừa hiệu quả, bảo vệ sức khỏe nhân dân
1.2.4.3 Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về an toàn vệ sinh thực phẩm:
Trong quá trình thanh tra chất lượng thực phẩm, các cơ quan chức năng chỉ kiểmtra trên hồ sơ công bố tiêu chuẩn của sản phẩm, không kiểm tra kho chứa sản phẩmnên không phát hiện được các tiêu chuẩn sai lệch so với công bố Do đó, Bộ Y tế đã
Trang 21Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
phân cấp cho các Viện kiểm nghiệm ở Trung ương thực hiện công tác kiểm nghiệmchặt chẽ các mặt: Kiểm nghiệm các chỉ tiêu đăng ký, các chỉ tiêu kiểm ha họng điểm
về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm nghiệm các mẫu thực phẩm để tìm ranguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, từ đó phục vụ tốt cho công tác giám sát vàquản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm
I.2.4.4 Quản lý việc công bố tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm:
Để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm thì chủ cơ
sở, người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải được khám sức khỏe,được tập huấn kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm, được cơ quan y tế thẩm địnhđiều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận phải đầy đủ, cơ sởvật chất, trang thiết bị bảo đảm điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm, nguyên liệu sảnphẩm thực phẩm, cũng phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Do đó, các địa phương phải quản lý chặt trong việc cấp giấy chứng nhận đủ điềukiện vệ sinh an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận sức khỏe đối với người lao động,giấy chứng nhận tập huấn kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm và việc công bố tiêuchuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm Tuy nhiên, quy chế hoạt động của thanh tra chuyênngành vệ sinh an toàn thực phẩm cũng chưa có nên còn gặp rất nhiều khó khăn trongcông tác quản lý
Bên cạnh đó, việc tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực antoàn vệ sinh thực phẩm; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về an toàn vệ sinh thực phẩm; tổchức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về an toàn vệsinh thực phẩm; hợp tác quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm; thanh tra, kiểm tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm lànhững nội dung không kém phần quan trọng trong quản lý nhà nước về ATVSTP
1.2.5 Nguyên tắc quăn lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm
Nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm được quy định tại Điều 3 Luật an toàn vệsinh thực phẩm năm 2010, cụ thể như sau:
I.2.5.I Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kỉnh doanh thực phẩm:
Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đảm bảo sảnphẩm trong khâu sản xuất, chế biến đạt tiêu chuẩn theo quy định, đảm bảo đúng cácthành phần trong quá trình chế biến như đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền Bên
Trang 22Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
cạnh đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh còn phải đảm bảo an toàn vệ sinh trongsuốt quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm
1.2.5.2 Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức,
cá nhân sản xuất, kỉnh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh:
Điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm được quy định cụ thể trong các vănbản pháp luật có liên quan Vì vậy trong hoạt động sản xuất, chế biến của mình thì mọi
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượngATVSTP do mình sản xuất, chế biến và phải có hướng dẫn sử dụng cụ thể, rõ ràng chongười tiêu dùng
1.2.5.3 Quản lý an toàn thực phẩm phải trên Cff sở quy chuẩn kỹ thuật tưong ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước cố thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng:
Các cơ quan quản lý ATVSTP phải dựa hên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
do bộ phận chuyên môn công bố Các cơ quan thanh tra dựa vào đó để tiến hành thanh
ha, kiểm ha và xét nghiệm thực phẩm đối vói các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh có dấu hiệu sai phạm quy chuẩn Bên cạnh đó các cơ quan quản lý còn dựa vàonhững quy định về an toàn thực phẩm do chính cơ quan quản lý ban hành và tiêu chẩn
do chính tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đã công bố để công tác quản lý đượcchặt chẽ và phù hợp với quy định của pháp luật
1.2.5.4 Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên Ctf sở phân tích nguy cơ đối vói an toàn thực phẩm:
Trong suốt chuỗi thực phẩm, từ khâu thu mua vật phẩm đến khâu chế biến vàcuối cùng là cho ra sản phẩm thì vai ữò của quản lý nhà nước là hết sức cần thiết.Trong quá trình quản lý cần phải xem xét nguồn gốc của nguyên vật liệu trước khi đưavào sản xuất, chế biến cho đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường nhằm đảm bảo antoàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng Do đó vai ưò của quản lý nhà nước vềATVSTP là rất quan trọng
1.2.5.5 Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành:
Trong quản lý an toàn thực phẩm phải có sự phân công, phân cấp rõ ràng đểtránh sự chồng chéo ttong quá trình quản lý Trên cơ sở đó cơ quan quản lý cấp trên
Trang 23Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
phải thường xuyên hướng dẫn, chỉ đạo cấp dưới trong quá trình quản lý nhà nước vềATVSTP, tiến hành kiểm tra, đôn đốc cấp dưới ừong việc thực hiện nhiệm vụ để kịpthời cũng như có sự điều chỉnh cần thiết trong quá trình quản lý Trong quản lý, mỗi
Bộ, ngành phải có trách nhiệm riêng trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình Tuynhiên, trong quá trình quản lý các Bộ, ngành cần phải kết hợp vói nhau, có như vậycông tác quản lý nhà nước về ATVSTP mói được chặt chẽ và đạt hiệu quả
I.2.5.6 Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
Tóm lại, ở chương này người viết đã nêu lên một cách khái quát các khái niệm vàcác vấn đề có liên quan đến quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm Để côngtác quản lý được chặt chẽ trong khuôn khổ pháp luật người viết đã trình bày một cáchđầy đủ nội dung cùng với những nguyên tắc trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinhthực phẩm, từ đó giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát và nắm được nội dung cốtlõi các vấn đề mà luận văn đã đề cặp đến
Trang 24Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VÈ AN TOÀN VỆ SINH THựC PHẨM 2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý
về an toàn vệ sinh thực phẩm
2.1.1 Chỉ đạo về mặt tư tưởng
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏenhân dân, điều này được thể hiện trong tất cả nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng cáccấp, các kỳ Đại hội Quan điểm nhất quán này được khẳng định cụ thể trong Nghịquyết số 46/NQ-TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Bảo đảm an toàn thực phẩm là mộtnội dung quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân, nên cũng đã đượcĐảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành động
cụ thể: Thành lập Cục quản lý chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm (tiền thân củaCục ATVSTP ngày nay) năm 1999 Ngay trong năm này, Chính phủ đã ban hành Chỉthị số 08 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm CLVSATTP; năm 2000 đã phêduyệt chương trình bảo đảm VSATTP là một trong 10 chương trình mục tiêu quốc giacủa Bộ Y tế; năm 2003 đã ban hành Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm ; năm 2004ban hành Nghị định số 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều củaPháp lệnh VSATTP; năm 2006 phê duyệt chương trình hành động bảo đảm VSATTPgiai đoạn 2006-2010 theo hướng trở thành chương trình mục tiêu quốc gia độc lập;năm 2007, phê duyệt 6 dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảmVSATTP giai đoạn đến 2010 Năm 2008, ban hành Nghị định số 79/2008/NĐ-CP về
hệ thống tổ chức quản lý và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác bảo đảmVSATTP; đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác bảo đảm VSATTPvào tháng 01/2007 và lần 2 vào tháng 3/2008; ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg vềviệc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; chỉ đạo các
bộ ngành liên quan đề xuất xây dựng dự án luật an toàn thực phẩm để trình Quốc hộivào năm 2009 Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành hàng loạt các Quyết định,Thông tư, Thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết thi hành các nhiệm vụ quản lý
Trang 25http://www.vibonline.com vn/vi-VN/PreLaws/Details.aspx?PreLawID=84
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
nhà nước về ATTP, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ cho lĩnh vực quản lý mới, đặcbiệt quan trọng này9
2.1.2 Công tác ban hành văn bản pháp luật
Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH được ủy banthường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/7/2003 gồm 07 chương, 54 điều Một trongnhững nội dung rất mới của Pháp lệnh này là đã quy định “kinh doanh thực phẩm làkinh doanh có điều kiện (Điều 4)” Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng quy định những hành
vi cấm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quyền, trách nhiệm của người sản xuất,kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm; quản lý thực phẩm sản xuất trong nước, thựcphẩm nhập khẩu, phòng chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm;quảng cáo thực phẩm; nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, phâncông trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các Bộ, Uỷban nhân dân các cấp, Đây có thể nói là một văn bản pháp luật đầu tiên quy địnhtương đối đầy đủ các khía cạnh quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Nghị quyết số 34/2009/NQ-QH của Quốc hội ngày 19/6/2009 Đẩy mạnh thựchiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm Nhằmthực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm giaoChính phủ thực hiện các nhiệm vụ: sửa đổi bổ sung, ban hành các văn bản quy phạmpháp luật theo thẩm quyền để điều chỉnh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các vấn đề
về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng chiến lược quốc gia đảmbảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020; kiệntoàn hệ thống tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng, vệ sinh an toàn thựcphẩm từ Trung ương đến địa phương; tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, phốihợp chặt chẽ và phân công rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng, vệ sinh antoàn thực phẩm; Thực hiện chính sách phát triển vùng sản xuất vùng nông lâm thủysản tập trung, quy mô lớn; thực hiện công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chínhsách, pháp luật về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; đẩy mạnh xã hội hóa hoạtđộng dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm;đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngày 17 tháng 6 năm 2010 Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ 7 đã thông qua Luật
An toàn vệ sinh thực phẩm (Luật Số:55/2010/QH12) có hiệu lực thi hành ngày 01
Trang 26Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
tháng 7 năm 2011 Luật gồm XI chương 72 Điều, nội dung cụ thể: Những quy địnhchung; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điềukiện bảo đảm an toàn đối với thức phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trongsản xuất, kinh doanh thực phẩm; chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sảnxuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với antoàn thực phẩm, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm;thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; quản lý nhà nước về an toànthực phẩm, Đây là văn bản Luật đầu tiên và có giá trị pháp lý cao nhất được banhành để điều chỉnh lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm được quy định đầy đủ trongquản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm
Để triển khai thực hiện Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm, Chính phủ, các Bộngành hữu quan, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương đã khẩn trương ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh,trong đó có một số văn bản quan trọng làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện Đó là:Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ban hành ngày 07/9/2004 hướng dẫn chi tiết thihành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 Nghị định gồm
6 chương với 36 điều, hướng dẫn chi tiết về: Điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đốivói cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Thủ tục, thẩm quyền kiểm tra vệ sinh antoàn thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu; Công bố tiêu chẩn vệ sinh an toàn thực phẩmđối vói sản phẩm; Trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm; Tráchnhiệm trong việc phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thựcphẩm; Thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm
Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/ 2005 của Chính phủ quy định về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Ngoài các quy định xử phạt các vi phạm chungtrong lĩnh vực y tế, Nghị định đã quy định cụ thể các hành vi vi phạm về Vệ sinh antoàn thực phẩm và mức xử phạt tại Điều 15 của Nghị định này
Quyết định số 43/2006 QĐ-TTg ngày 20/2/2006 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt kế hoạch quốc gia về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tăng cường năng lựcquản lý nhà nước và xây dựng hệ thống tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩmhiệu quả từ Trung ương đến địa phương Đẩy mạnh công tác thanh tra và giáo dục -truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm tại cộng đồng, đẩy mạnh công tác kiểm tra,thanh tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩmtrong giai đoạn 2006 - 2010, Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ tiêu dùng,
Trang 27Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu hộinhập kinh tế quốc tế
Chỉ thị 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ triển khai cácbiện pháp cấp bách về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Nhằm đưa ra các biệnpháp cấp bách để giải quyết vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, từ đó nêu lên nhiệm vụcủa từng Bộ, ngành có liên quan trong việc quản lý an toàn thực phẩm, chủ độngnhanh chóng thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm quản lý tốt công tác đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm trong phạm vi quyền hạn của mình
Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phêduyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2006 -
2010 Nhằm xây dựng và nâng cao năng lực hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thựcphẩm, để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn tiên tiến củakhu vực và thế giới; góp phần bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng thựcphẩm; đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghị định 79/2008NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2008 quy định hệ thống tổchức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm Nhiệm vụ,quyền hạn của từng cơ quan trong công tác tổ chức, thực hiện thanh ha, kiểm ha thựcphẩm nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm trong cả nước
Thông tư liên tịch số 12/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 31 tháng 12 năm 2008 của
Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (02/1/2009) hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
tổ chức và biên chế của Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Sở Y tế cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Quyết định số 408/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạoliên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm Nghiên cứu, đề xuất với Thủtướng Chính phủ về những chủ trương, cơ chế, chính sách, giải pháp trong quản lý nhànước về vệ sinh an toàn thực phẩm; phối hoạt động giữa các Bộ, ngành, các địaphương và các cơ quan, tổ chức có liên quan ữong việc xử lý những vấn đề liên ngành
về vệ sinh an toàn thực phẩm; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác vệ sinh antoàn thực phẩm của các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân và Ban Chỉ đạo về vệ sinh antoàn thực phẩm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 Quyết định phê duyệt kế hoạch thựchiện Nghị quyết 34/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội về vệ sinh antoàn thực phẩm Quyết định xây dựng kế hoạch về việc xây dựng pháp luật thực hiệnquản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm. _
Trang 28Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm,nhiều Luật, pháp lệnh mới hoặc sửa đổi bổ sung có liên quan tới công tác quản lýVSATTP cũng đã được ban hành như Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chấtlượng sản phẩm hàng hóa, Luật Dược, Luật Quảng cáo, pháp lệnh Thú y, pháp lệnhBảo vệ thực vật và hàng loạt các văn bản dưới luật cũng được ban hành kèm theo Tất
cả các văn bản nói trên đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý chất lượng,VSATTP, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.3 Công tác ban hành và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
2.I.3.I Ban hành tiêu chuẩn, quy chẩn kỹ thuật
Có thể nói tiêu chuẩn và quy chuẩn lỹ thuật là một trong những công cụ khôngthể thiếu trong quá trình quản lý nhà nước về ATVSTP, vì muốn xem xét một loại thựcphẩm nào đó có đảm bảo chất lượng hay không thì cần phải có những tiêu chí nhấtđịnh để so sánh, đối chiếu thì mới biết được Đối với thực phẩm thì nó là một số liệu
cụ thể về mặt số lượng hay ữọng lượng , từng loại sản phẩm hàng hóa Để làm tốtcông tác quản lý chuyên ngành của mình thì các Bộ, ngành có liên quan đã khôngngừng ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết
Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn có hiệu lực thi hành từ ngày01/1/2007 thì việc xây dựng, ban hành tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn kỹ thuật quốcgia, chuyển đổi tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành thành quy chuẩn kỹ thuật quốcgia đã được các Bộ quan tâm triển khai Trong lĩnh vực nông nghiệp đã có 1.249 tiêuchuẩn ngành được rà soát và thành lập danh mục, tiếp tục viêc chuyển đổi tiêu chuẩnngành thành tiêu chuẩn quốc gia và chuyển đổi tiêu chuẩn quốc gia ngày càng phù họpvói tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo chất lượng trong sản xuất và ATVSTP trong lĩnh vựcnông nghiệp Tính đến năm 2009, cả nước có 406 tiêu chuẩn Việt Nam quy định vềATVSTP Trong đó có 139 tiêu chuẩn Việt Nam phù họp tiêu chuẩn ISO, 45 tiêuchuẩn Việt Nam phù họp với tiêu chuẩn Codex (ủy Ban thực phẩm thế giới), 72 tiêuchuẩn Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn quốc tế khác, tỷ lệ đạt63% trong tổng số các tiêu chuẩn Năm 2010, Bộ Y tế đã ban hành một số tiêu chuẩnquy chuẩn quốc gia mới: Thông tư số 30/2010/TT-BYT ngày 02/6/2010, ban hànhQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm sữa dạng lỏng; Thông tư số31/2010/TT-BYT, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm sữadạng bột; Thông tư số 32/2010/TT-BYT, ban hành quy chẩn kỹ thuật quốc gia đối vớicác sản phẩm chất béo Mặc dù vậy, hiện tại trên thị trường có rất nhiều loại thực
Trang 29Thông tu số 47/2009/TT-BNN&PTNT ngày 31 tháng 7 năm 2009.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
phẩm nên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật để quản lý chất lượng ATVSTP vẫn chưathể đáp ứng được toàn bộ
2.I.3.2 Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay đã có 448doanh nghiệp chế biến thủy sản áp dụng HACCP (là tiêu chuẩn đặt ra các nguyên tắccủa hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn hay “hệ thống phân tích,xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trinh sản xuất và chếbiến thực phẩm” đã được ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm - CODEX - chấp nhận)được công nhận đạt tiêu chuẩn ngành, 300 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vàocác thị trường của các nước Liên minh Châu Âu, số doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuấtkhẩu vào Canada là 238 doanh nghiệp, Hàn quốc là 442 và Trung Quốc là 444, LiênBang Nga là 30 doanh nghiệp Các doanh nghiệp chế biến thịt, chè, rau quả cũng đã vàđang tích cực triển khai các biện pháp quản lý chất lượng, một số cơ sở đã áp dụngnguyên tắc HACCP đạt được hiệu quả khả quan
Việc thiếu Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quản lý ATVSTP cũng gây khókhăn cho cơ quan quản lý nhà nước, nhất là trong việc phát hiện và xử lý vi phạm Đếnnăm 2009, vấn đề này đã có nhiều tiến triển, chỉ trong năm 2009 vói hàng loạt các tiêuchuẩn kỹ thuật về thực phẩm đã được ban hành, cụ thể ngày 31/7/2009 Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn10 đã ban hành 13 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điềukiện ATVSTP trong sản xuất thủy sản, trong quý II năm 2010 nhằm thực hiện tốt Nghịđịnh số 34/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, phápluật về quản lý chất lượng, ATVSTP Ngày 20/5/2010 Bộ Y tế ban hành 15 Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về các chất phụ gia, chất sử dụng, chất bổ sung vào thực phẩm Nhìnchung, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về ATVSTP còn thiếu; tiến độ ban hành tiêuchuẩn, quy chuẩn về thực phẩm còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Sự chậm trểnói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là nguồn kinh phíđầu tư chi việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia còn rất hạn chế; thủ tục chuyểnđổi, xây dựng ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn chưa rõ ràng; nguồn nhânlực xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại các Bộ, ngành còn thiếu, thiếu chuyênmôn sâu về lĩnh vực tiêu chuẩn
Trang 30Khoản 4, Điều 43 Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003.
Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về ATVSTP Tại mỗi Bộ có đơn vị
đầu mối là Cục hoặc Vụ giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất
lượng ATVSTP đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Bên cạnh
đó, Ban Chỉ đạo liên ngành ATVSTP Trung ương được thành lập để chỉ đạo việc phối
họp hoạt động giữa các Bộ trong các vấn đề liên ngành về ATVSTP
2.2.1 Cff quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp Trung ưong
2.2.1.1 Bộ Y tế và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm
Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước vềATVSTP, vì an toàn thực phẩm là một trong các bộ phận thuộc sự quản lý của Bộ Y
tế11 Bộ Y tế có nhiệm vụ giúp Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về ATVSTP; chủ trì thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSTP đối với
các sản phẩm có nguồn gốc sản xuất trong nước và nhập khẩu đã thành thực phẩm lưu
thông trên thị trường; làm Thường trực Ban chỉ đạo liên ngành về ATVSTP ở Trung
ương và ủy ban Luật Thực phẩm quốc tế của Việt Nam12, hướng dẫn chuyên môn,
nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm ATVSTP; phối
họp với Bộ Tài Chính xây dựng cơ chế tài chính
Giúp việc cho Bộ Y tế có Cục An toàn vệ sinh thực phẩm là Cục quản lý chuyênngành thuộc Bộ Y tế, giúp Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất
lượng, ATVSTP đối với sản phẩm đã thành thực có nguồn gốc sản xuất trong nước và
nhập khẩu lưu thông ữên thị trường trong phạm vi cả nước Cục An toàn vệ sinh thực
phẩm có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có trụ sở làm việc tại trụ sở
Hà Nội Kinh phí hoạt động của Cục do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí
hợp pháp khác Lãnh đạo Cục gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Y tế
bổ nhiệm và miễn nhiệm Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Y tế và
trước pháp luật về mọi hoạt động của Cục Các Phó Cục trưởng giúp việc cho Cục
trưởng, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và pháp luật về nhiệm vụ được phân
công13 Cơ cấu tổ chức gồm các Phòng, Văn phòng và Trung tâm ứng dụng kỹ thuật về
Trang 31Điều 1 Quyết định 29/2008/QD-BNN.
Đề tài: Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm - Lấy thực tiễn từ tỉnh Kiên Giang
chất lượng ATVSTP, với nhiệm vụ là tham mưu giúp cho Bộ Y tế quản lý, thực thi
pháp luật và thực hiện thanh ữa chuyên ngành về ATVSTP trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình
2.2.I.2 Bộ Nông nghiệp và Phát riển nông thôn
Là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý về ATVSTP, thực hiện chức năng quản lýnhà nước thuộc lĩnh vực chất lượng, ATVSTP nông lâm thủy sản và muối Trong
phạm vi quản lý Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về ATVSTP đối với nông, lâm, thủy sản và muối trong quá trình sảnxuất từ khi trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, đánh bắt, giết mổ động vật, sơ chế, chếbiến, bao gói, bảo quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra thị trường nội địahoặc xuất khẩu; vệ sinh an toàn trong nhập khẩu động vật, thực vật, nguyên liệu dùngcho nuôi, trồng, chế biến hoặc tạm nhập tái xuất, tái xuất tạm nhập, chuyển khẩu, quácảnh, mượn đường lãnh thổ Việt Nam
Có nhiệm vụ tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chươngtrình, dự án, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy trình,quy phạm kỹ thuật về chất lượng nông lâm thủy sản và muối Quản lý nhà nước về sảnxuất, thu hoạch, bảo quản nông sản; thống nhất quản lý giống về chế biến nông sản;quản lý nhà nước về giống cây nông nghiệp, giống vật nuôi nông nghiệp; quản lýnhà nước về bảo vệ thực vật, thú y, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật; tổ chứckiểm dịch động vật đối vói động vật nuôi nông nghiệp, động vật rừng và thực vật xuấtkhẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Giúp việc cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lãnh đạo Cục gồm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ nhiệm, về bộ máy gồm có các Phòng, Thanh
tra Cục và Văn phòng thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà
nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chất lượng,
ATVSTP nông lâm sản, thủy sản và muối thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên
cả nước 14
Trang 32khác, lưu thông hàng hóa ữong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường Chủ trì thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSTP đối với sản phẩm thực phẩm trong suốt
quá trình sản xuất của các cơ sở chế biến thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ từ
khi nhập nguyên liệu để chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển đến khi sản phẩm
được đưa ra trên thị trường nội địa hoặc xuất khẩu, phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn
Ban Quản lý chợ, doanh nghiệp quản lý chợ thực hiện quy định của pháp luật về
ATVSTP trong chợ; Hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức quản lý thị trường các cấp phối hợp
vói các tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành trong việc thanh tra, kiểm tra các quy
định của pháp luật về ATVSTP15
Giúp việc cho Bộ có Vụ Khoa học và Công nghệ, Cục quản lý thị trường trựcthuộc Bộ Công thương, tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước của Bộ trên phạm vi cả nước16
2.2.1.4 Bộ Khoa học và Công nghệ
Với vai trò thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia về ATVSTP, thẩm định cácquy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATVSTP để các Bộ quản lý ngành ban hành; tham gia
kiểm nghiệm về ATVSTP17, chỉ đạo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phối
hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc
gia về ATVSTP18 Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tham mưu giúp cho Bộ
Khoa học và Công nghệ thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
trên phạm vi cả nước
2.2.1.5 Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinhdoanh thực phẩm, chỉ đạo Tổng cục Môi trường tổ chức thực hiện chính sách, pháp
luật về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm19 Tổng cục Môi
trường là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, với nhiệm vụ tham mưu