BPKCTT được tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sựnói chung, là biện pháp tố tụng nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự,bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tình trạ
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
(KHÓA: 2007 - 2011)
Đe tài:
BIỆN PHÁP KHẢN CẤP TẠM THỜI
TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
Lóp: Thương mại 2 - K33
Cần Thơ, 4/2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢO VIÊN HƯỞNG DÂN
es so <p Cữ ca so
Cần thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢO VIÊN PHẢN BIỆN
c# so <p C3 caa so
cần thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 5MỤC LỤC
ossoClcsso
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẮP TẠM THỜI 10
1.1 Khái quát chung về tố tụng trọng tài 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Đặc điểm 10
1.1.3 ưu điểm 11
1.2 Khái quát chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Ý nghĩa 13
1.3 Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự nói chung 14
1.4 Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài 17
1.5 Sự hỗ trợ của Tòa án trong tế tụng trọng tài nối chung và trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nói riêng theo quy định hiện hành 20
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VIỆC ÁP DỤNG BỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010 21
2.1 Thủ tuc Tố tung trong tài theo Luât trong tài thưong mai 2010 21
2.1.1 Điều kiện giải quyết các tranh chấp của Trọng tài 21
2.1.2 Ngôn ngữ và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp 22
2.1.2.1 Ngôn ngữ 22
2.1.2.2 Luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp 22
2.1.3 Khỏi kiện, thụ lý tranh chấp 23
2.1.3.1 Đơn khỏi kiện 23
2.1.3.2 Thòi hiệu khỏi kiện giải quyết tranh chấp 24
2.1.3.3 Địa điểm giải quyết tranh chấp 24
2.1.4 Thành lập Hội đồng trọng tài 25
2.1.4.1 Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài 25
2.1.4.2 Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc 26
2.1.5 Giải quyết tranh chấp 26
2.1.5.1 Chuẩn bị giải quyết tranh chấp 26
2.1.5.2 Hòa giải 27
2.1.5.3 Mở phiên họp giải quyết tranh chấp 27
2.1.6 Phán quyết trọng tài 27
2.1.6.1 Nguyên tắc ra phán quyết trọng tài 27
2.1.6.2 Nội dung, hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài 28
2.1.6.3 Thi hành phán quyết trọng tài 28
2.1.7 Huỷ phán quyết trọng tài 29
Trang 62.1.7.1 C
ăn cứ huỷ phán quyết trọng tài 292.1.7.2 Quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài 292.2 Những quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong LuậtTrọng tài thương mại 2010 292.2.1 Quyền và trách nhiệm các bên trong việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời 302.2.1.1 Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 302.2.1.2 Trách nhiệm của các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời 312.2.2 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 312.2.2.1 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 312.2.2.2 Luật Trọng tài thương mại 2010 322.2.3 Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 352.2.3.1 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 352.2.3.2 Luật Trọng tài thương mại 2010 362.2.4 Thẩm quyền, thủ tục thay đổi, bổ sung, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời .402.2.4.1 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 40
Trang 7Dù vậy trọng tài trước nay ở nước ta vẫn chưa thật sự phổ biến Luật Trọng tàithương mại 2010 ra đòfi là sự phù họp cả yêu cầu của xã hội và chính sách đường lốicủa nước ta, trên sự kế thừa những quy định đã có của pháp lệnh trọng tài kết họpvới thực tế phát triển của xã hội, tăng hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mạitrong việc giải quyết các tranh chấp, góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử củatòa án.
Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định rất nhiều điểm mới và tiến bộ hơn sovới pháp lệnh trọng tài Và một trong số những điểm mới rõ nét nhất là thể hiện rõnét mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết tranhchấp trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại Luật đã đưa ra một loạt các quyđịnh mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này: xác định rõ Tòa án cóthẩm quyền đối với hoạt động ừọng tài và liệt kê nội dung thẩm quyền của Toà ántrong quan hệ với Trọng tài trong đó việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờitrong tố tụng trọng tài là một trong những điếm tiến bộ rõ rệt của luật
Nhằm giúp cho doanh nghiệp và người dân biết rõ về quy định mới này củaLuật và có thể áp dụng hiệu quả chúng vào giải quyết tranh chấp cho mình, việc làm
rõ bản chất pháp lý, trình tự thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố
tụng trọng tài là vấn đề hết sức cần thiết Do đó, người viết chọn đề tài “Đánh giá những điểm mới trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thòi theo Luật Trọng tài thưotig mại 2010” để làm luận văn tốt nghiệp của mình, người viết
mong muốn góp thêm căn cứ cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tàiđạt hiệu quả tốt hơn, là công cụ giải quyết tranh chấp hiệu quả trong xã hội hiệnnay
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là tìm hiểu những điểm mới về trình
tự thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy địnhcủa Luật trọng tài thương mại 2010 Từ đó rút ra được vai trò cũng như tầm quantrọng của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài, thêmvào đó là đưa ra một số điểm tích cực và những hạn chế còn mắc phải của LuậtTrọng tài thương mại 2010 Qua đó đưa ra một vài đề xuất kiến nghị nhằm hoànchỉnh hơn về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài nóiriêng và việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung đạt hiệu quả
3 Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định LuậtTrọng tài thương mại 2010 là một vấn đề mới và chưa có văn bản hướng dẫn thựchiện cụ thể Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh các vấn đề áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài từ khi có yêu cầu áp dụng đến khi raquyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong khuôn khổ luận văn cửnhân luật, tác giả không trình bày một cách chi tiết từng vấn đề mà chỉ trình bàynhững điểm cơ bản về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quyđịnh của Luật Trọng tài thương mại 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, trình bày đề tài này người viết sử dụng cácphương pháp sau:
- Phương pháp phân tích luật viết để làm rõ thêm các quy định của pháp
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: trong quá trình phân tích, so sánhngười viết so sánh Luật trọng tài thương mại 2010 với Luật Mầu UNCITRAL về
Trang 9trọng tài thương mại quôc tê, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, từ đó rút ranhững điểm khác nhau, cũng như mặt tiến bộ và hạn chế của pháp luật Việt Nam về
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
5 Bố cục luận văn
Luận văn gồm hai chương:
Chương 1: “KHÁI QUÁT CHUNG VÈ BIỆN PHÁP KHẢN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI” Chương này giới thiệu khái quát về
trọng tài, biện pháp khẩn cấp tam thời, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờitrong tố tụng dân sự, tố tụng trọng tài và sự hỗ trợ của tòa án trong tố tụng trọng tài
Chương 2: “ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẢN CÁP TẠM THỜI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯONG MẠI 2010” Chương này giới thiệu về tố tụng trong tài, những điểm mới về việc áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định hiện hành
Vì thời gian không cho phép và kiến thức của người viết còn những hạn chế
nhất định nên trong quá trình nghiên cứu, trình bày luận văn này sẽ không thể tránh
khỏi những thiầi sót Rất mong sự thông cảm và đóng góp của quỷ thầy cô và các
bạn sinh viên để luận vãn được hoàn thiện tốt hon.
Xin cám ơn cô Nguyễn Thị Hoa Cúc đã tận tình hướng dẫn và tạo điầi kiện thuận lợi để người viết hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cám ơn ỉ
Trang 10CHƯƠNG1 KHẮT QUÁT CHUNG VÈ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
Chương này người viết tập trung nghiên cứu khái quát chung về biện phápkhẩn cấp tạm thời (BPKCTT), việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng dân sự nóichung và tố tụng trọng tài nói riêng, qua đó phần nào giới thiệu tầm quan trọng củaviệc áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài Bên cạnh
đó, người viết sẽ giới thiệu khái quát về tố tụng trọng tài, cơ chế hỗ trợ của Tòa ántrong giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài nhằm làm rõ hơn vấn đề áp dụngBPKCTT trong tố tụng trọng tài
1.1 Khái quát chung về tố tụng trọng tài
1.1.1 Khái niệm
Tố tụng trọng tài là thể thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuậnđưa những tranh chấp ra trước một trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài để giảiquyết và trong tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết ràng buộc cácbên tranh chấp Giải quyết ừanh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết thôngqua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứtxung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện1
1.1.2 Đặc điểm
> Trọng tài thương mại là loại hình tổ chức phi chính phủ, hoạt động theopháp luật và điều lệ trọng tài Trọng tài có quyền phán quyết như tòa án,quyết định của trọng tài được cưỡng chế thi hành
> Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng ừọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tốthỏa thuận và tài phán Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và khôngthể phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận, có thể nói về nguyêntắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật
> Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự địnhđoạt của các bên tranh chấp cao Phiên họp giải quyết tranh chấp khôngdiễn ra công khai
> Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo,kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên Neu một trong cácbên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự thi hành phán quyết trọng tài
> Được sự hỗ trợ của tòa án
1 Giáo trình Luật thương mại 3, Ths Dương Kim Thế Nguyên, Khoa luật, Đại học càn Thơ, 2008.
Trang 11> Trọng tài thương mại tồn taị dưới hai dạng cơ bản: Trọng tài vụ việc(trọng tài ad-hoc) và Trọng tài quy chế (trọng tài thường trực).
xử Khi tuyên phán quyết xong, Hội đồng ừọng tài hoàn thành nhiệm vụ và chấmdứt sự tồn tại của mình
> Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt Hầuhết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín,nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp vàdanh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu túi cậy trong quan hệ thươngmại Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện canh tranh
> Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục
Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên Cách thức lựa chọntrọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tốtụng Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện đãđược các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Trọng tài viên -người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơhội tìm hiểu tình tiết vụ việc Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giảihoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạttới một thỏa thuận
> Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng,
linh hoạt cho các bên
Với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thờigian, địa điếm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanhchóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép Điều này cóthể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp
> Tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc
Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi cácbên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được doluôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ
Trang 12Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làmcho tiến độ bị kéo dài Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ nhưgiải quyết tranh chấp bằng VLA.C thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án cóthể kéo dài hàng năm trời.
> Duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoàkhí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ họptác kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện Xét xửbằng ừọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ
sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng
> Trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên
gia
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểubiết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyênngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sởhữu trí tuệ
> Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi
chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án
1.2 Khái quát chung về biện pháp khẩn cấp tạm thòi
1.2.1 Khái niệm
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đôi khi tòa án phải quyết định ápdụng một hoặc một số biện pháp cần thiết theo yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ bằng chứng hay để đảm bảo thi hành án Neu không áp dụng các biện pháp này
có thể dẫn đến những khó khăn thiệt hại cho đương sự hoặc khó khăn trở ngại choquá trình giải quyết vụ án Các biện pháp này được gọi là biện pháp khẩn cấp tạmthời
BPKCTT là biện pháp tư pháp theo luật định - do tòa án tự quyết định hoặc theo yêu cầu của một bên đưong sự trong vụ việc dân sự nhằm mục đích bảo đảm quyền vò lợi ích hợp pháp cho đương sự trong trường họp cấp bách, khấn cấp tránh gây ra những thiệt hại không thể khẳc phục được 2
BPKCTT được tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sựnói chung, là biện pháp tố tụng nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự,bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắcphục được, bảo đảm cho thi hành án3
2 Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án kinh tế - dân sự, http://www.ecolaw.vn/vi/node/278 rtruv
cảp
ngay: 28/3/20111.
3 Xem thêm điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.
Trang 13So với các biện pháp khác được tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giảiquyết vụ việc dân sự thì BPKCTT có nhiều điểm khác biệt, nó vừa mang tính khẩncấp vừa có tính tạm thời và sẽ có hiệu lực ngay sau khi được ban hành.
Tính khẩn cấp của biện pháp đặt ra cho chủ thể có thẩm quyền ban hành tráchnhiệm xem xét, quyết định áp dụng một cách nhanh chóng mới có ý nghĩa và đạtđược mục đích của việc áp dụng nếu không nó sẽ mất hết tác dụng, không còn ýnghĩa thực tế mà biện pháp này mang lại Bản chất của các BPKCTT thể hiện ngay
ở tên gọi của nó, cho thấy việc áp dụng là thực sự cấp bách để tránh gây ra thiệt hạicho đưcmg sự hoặc khó khăn cho quá trình giải quyết vụ việc hoặc khi thi hành án.Tính tạm thời của các biện pháp này thể hiện ở chỗ nội dung quyền và nghĩa
vụ các bên thực hiện trong quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là nội dung giảiquyết tranh chấp, chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự
Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi ra quyết định áp dụngcác biện pháp này, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì việc áp dụng sẽ bịhủy bỏ hoặc khi Tòa án ra quyết định cuối cùng sẽ phải có phán quyết về BPKCTT
mà mình đã ra quyết định áp dụng
Tính có hiệu lực thi hành ngay của BPKCTT xác định quyết định này có hiệulực ngay sau khi ban hành và đặt ra cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyềntrách nhiệm phải thi hành ngay4
1.2.2 Ý nghĩa
Với mục đích là để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằngchứng hoặc bảo đảm việc thi hành án nên việc áp dụng BPKCTT mang nhiều ýnghĩa không những đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của đương sự màcòn góp phần làm ổn định tinh thần của người yêu cầu Trong thực tế, vì lợi ích bảnthân hoặc do thiếu thiện chí không ít người có hành vi hủy hoại tẩu tán tài sản tranhchấp; mua chuộc người làm chứng; xâm phạm, làm sai lệch đi các chứng cứ Việc
áp dụng BPKCTT trong những trường họp này một mặt là nhằm chống lại các hành
vi đó, bảo vệ được chứng cứ, tránh hồ sơ bị sai lệch bảo đảm việc giải quyết đúng
vụ việc dân sự Mặt khác, qua đó còn bảo toàn được tình trạng tài sản, tránh việcgây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hànhbản án, quyết định tòa án sau này
Đây chỉ là các biện pháp tạm thời được sử dụng trong quá trình giải quyết vụviệc dân sự chưa phải là quyết định cuối cùng để giải quyết vụ việc dân sự, tuynhiên với mục đích đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiệncho đương sự sớm ổn định cuộc sống của họ và những người sống phụ thuộc vào
họ Trên cơ sở đó đảm bảo được quyền và lợi ích họp pháp của đương sự Quyết
4 Xem Khoản 1 Điều 126 Bộ luật Tố Tụng Dân Sự.
Trang 14định về BPKCTT có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thủ tục giải quyết vụ án,góp phần bảo đảm tính thực tế thiết thực cho việc giải quyết vụ việc dân sự Bởi thế,quyết định về BPKCTT là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự nói chung,
tố tụng trọng tài nói riêng trong quá trình giải quyết tranh chấp
Trước đây pháp luật Việt nam chỉ quy định việc áp dụng BPKCTT trong tốtụng tòa án kể cả trong trường họp các bên lựa chọn trọng tài làm phương thức giảiquyết tranh chấp thì khi có nhu cầu áp dụng BPKCTT thì vẫn phải gửi đơn đến tòa
án có thẩm quyền để tòa án quyết định hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấpcủa trọng tài và bảo vệ lợi ích cho đương sự5 Tuy nhiên việc ra đời của Luật Trọngtài thương mại 2010 (LTTTM 2010) đã mở rộng hơn nữa phạm vi của việc áp dụngcác BPKCTT, Tòa án từ chủ thể duy nhất có thẩm quyền ban hành quyết định ápdụng BPKCTT thì nay Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền ban hành Các quyđỊnh này nhằm làm tăng thêm vị thế của phương thức giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài so với trước đây Tăng thêm sự chọn lựa giữa các hình thức giải quyếttranh chấp Giúp việc giải quyết các tranh chấp được giải quyết nhanh chóng giảmtải xét xử cho ngành tòa án, tiết kiệm được công sức thời gian cho các bên trongtranh chấp
Đến thời điểm hiện nay các quy định về các BPKCTT được ghi nhận tại Bộluật Tố tụng dân sự 2004, LTTTM 2010, Nghị quyết 02/2005 của Hội đồng thẩmphán tòa án nhân dân tối cao ngày 27/04/2005 và các luật chuyên ngành khác
1.3 Biện pháp khấn cấp tạm thòi trong tố tụng dân sự nói chung 6
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện họp pháp củađương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích họppháp của người khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự có quyền yêu cầuTòa án đang giải quyết vụ án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp nhằm tạm thời giảiquyết yêu cầu của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gâythiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm cho việc thi hành án
Các quy định về trình tự thủ tục yêu cầu áp dụng các BPKCTT trong tố tụngdân sự được quy định ở một chương riêng biệt: chương VIII, từ Điều 99 đến Điều
126 trong Bộ luật Tố Tụng Dân Sự Các biện pháp mà tòa án có thể áp dụng đượcquy định ở điều 102 của bộ luật, bao gồm 12 biện pháp cụ thể và các biện pháp màpháp luật có quy định khác7
Trong tố tụng dân sự nói chung, tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền raquyết định áp dụng các BPKCTT Trong thực tế, các tranh chấp dân sự xảy ra rất đadạng, yêu cầu áp dụng BPKCTT đa dạng nên các BPKCTT cần được áp dụng cũng
5 Xem thêm Điều 33, 34 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
6 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Tư Pháp.
Trang 15rất đa dạng, phong phú Do vậy trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tùy vàonhững trường họp cụ thể mà tòa án ra quyết định áp dụng các BPKCTT khác nhau.Trong các BPKCTT quy định, có những biện pháp phù họp với mọi vụ việc, tuynhiên cũng có những biện pháp chi phù họp với một loại vụ việc nhất định, ví dụ:biện pháp tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động chỉ áp dụng riêng biệttrong vụ án liên quan đến việc sa thải người lao động mà thôi không phù họp vớicác lĩnh vực nào khác Do đó đòi hỏi tòa án phải xem xét các yêu cầu một cáchchính xác để ra các quyết định chính xác vừa phù họp với yêu cầu của đưcmg sự yêucầu áp dụng vừa phù họp với vụ việc càn giải quyết Theo quy định tại các điều, từĐiều 103 đến Điều 116 BLTTDS thì các BPKCTT quy định tại Điều 102 BLTTDSđược áp dụng trong những trường hợp sau:
> Giao người chưa thành niên cho cá nhân cơ quan hoặc tổ chức trông nom,nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quanđến người chưa thành niên chưa có người giám hộ (Điềul03);
> Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếuviệc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và xét thấy yêu càu đó là
có căn cứ và nếu yêu cầu cấp dưỡng không được thực hiện ngay sẽ ảnh hưởng đếnsức khỏe và đời sống đời sống của người cấp dưỡng (Điều 104);
> Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tínhmạng, sức khỏe bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quanđến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xétthấy yêu cầu đó là có căn cứ và hoàn cảnh kinh tế của người yêu cầu cấp dưỡnghoặc người được cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn không tự lo được
và nếu yêu cầu cấp dưỡng không được thực hiện ngay sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
và đời sống của họ (Điều 105); quyết định về BPKCTT là một chế định quan trọngtrong tố tụng dân sự nói chung, tố tụng trọng tài nói riêng trong quá trình giải quyếttranh chấp
> Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồithường trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được ápdụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương, tiền công,tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và xét thấy hoàncảnh của người bị hại lâm vào tình cảnh khó khăn không thể tự mình khắc phụcđược và có căn cứ cho rằng người gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường (Điều 106);
> Tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động được áp dụngnếu giải quyết vụ án có liên quan đến sa thải người lao động và xét thấy quyết định
sa thải người lao động là trái pháp luật hoặc thấy người lao động đang lâm vào tình
7 Xem thêm Điều 102 Bộ luật Tố Tụng Dân Sự.
Trang 16trạng khó khăn về mặt kinh tế: ốm đau, nuôi con nhỏ, cha mẹ già yếu nếu khônggiải quyết kịp thời thì họ sẽ không duy trì được cuộc sống của họ và người họ cónghĩa vụ nuôi dưỡng (Điều 107);
> Kê biên tài sản tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ
án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tàisản Các tài sản này sẽ được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biênbản giao cho đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của tòa
án (Điều 108);
> Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được
áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữuhoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đang tranhchấp cho người khác (Điều 109);
> Cấm thay đổi hiện trạng tài sản ừanh chấp được áp dụng nếu trong quátrình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sảnđang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc hành vi khác làmthay đổi hiện trạng tài sản đó (Điều 110);
> Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác được ápdụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh chấp hoặc liên quanđến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác ở thời kỳ thu hoạchhoặc không thể bảo quản được dài Các tài sản này sẽ được bảo quản và bán theophương pháp do pháp luật quy định riêng (theo phương thức bán tài sản kê biên đểthi hành án) (Điều 111);
> Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhànước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước vàviệc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặcbảo đảm cho việc thi hành án Khi có quyết định áp dụng biện pháp này thì mọigiao dịch thực hiện đối với tài sản của tài khoản tại các nơi phong tỏa đều vô hiệu.Khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp này của tòa án ngân hàng, tổ chức tíndụng, kho bạc nhà nước có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sảncủa tài khoản bị phong tỏa cho đến khi có quyết đỊnh khác về tài sản này của tòa án(Điều 112);
> Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giảiquyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc ápdụng biện pháp này là càn thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảmcho việc thi hành án Khi có quyết định áp dụng biện pháp này của tòa án thì mọigiao dịch thực hiện đối với tài sản gửi giữ là vô hiệu, người nhận giữ tài sản bị
Trang 17phong tỏa có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sản đó cho đến khi
có quyết định khác của tòa án về tài sản này (Điều 113);
> Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trìnhgiải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụngnày là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thihành án Khi áp dụng BPKCTT này thì mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản củangười có nghĩa vụ đều vô hiệu Khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp nàycủa tòa án người có nghĩa vụ có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tàisản phong tỏa cho đến khi có quyết định khác về tài sản bị phong tỏa của tòa án(Điều 114);
> Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định được áp dụng nếutrong quá trình giải quyết vụ án cỏ căn cứ cho thấy đương sự hoặc cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định làm ảnhhưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền và lợi ích họp pháp của người khác cóliên quan trong vụ án đang được tòa án giải quyết (Điều 115);
Mỗi BPKCTT chỉ được áp dụng trong trường họp nhất định Vì vậy, tùy từngtrường họp cụ thể mà người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT phải lựachọn BPKCTT phù họp để yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụng Người có quyềnyêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụngBPKCTT trong quá trình tòa án đang giải quyết vụ án dân sự Ngoài ra, trongtrường họp do tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậuquả nghiêm trọng xảy ra, việc yêu cầu áp dụng BPKCTT được thực hiện đồng thờivới việc nộp đơn khởi kiện Tùy thuộc vào từng tình huống và từng BPKCTT ápdụng mà còn đòi hỏi thêm những quy định riêng biệt và đặc thù để Tòa án có thể raquyết định áp dụng các BPKCTT
1.4 Biện pháp khẩn cấp tạm thòi trong tố tụng trọng tài
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trênthế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Đó là một trongnhững phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, theo đó các bên chọn mộtchủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh Thươngmại là một lĩnh vực đặc thù, các tranh chấp không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợiích của các bên trong tranh chấp mà còn có thể ảnh hưởng đến người khác, do đóđòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp này theo phương thức nào là họp lý và thuậnlợi cho tất cả là vấn đề cần nhất Việc đưa vụ án ra Tòa án xét xử là trường hợp bấtkhả kháng nhất thường chỉ là giải pháp cuối cùng được chọn lựa, không ai muốnđưa nhau ra tòa, vừa tốn thời gian vừa rắc rối kéo dài, đồng thòi làm mất đi quan hệgiao thương không còn gắn kết như lúc đầu Do đó trọng tài là một phương thức tối
Trang 18ưu và thiết thực trong việc này Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có
ưu thế hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác bởi tố tụng trọng tàiđược đánh giá là linh hoạt, bảo đảm tốt hơn quyền định đoạt của các bên, cơ chếnày đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các thương nhân có liênquan tới vụ tranh chấp Tố tụng trọng tài có thủ tục đơn giản, đảm bảo giải quyếtnhanh chóng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian và tiền bạc Với rất nhiều ưu thế sovới các phương thức giải quyết tranh chấp khác như vậy nhưng cũng giống nhưphương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án mục đích cuối cùng của tố tụng trọngtài là “xác định sự thật khách quan về vụ tranh chấp” Vì vậy, như khi tham gia tốtụng tại Tòa án, khi tham gia tố tụng trọng tài, các chủ thể tham gia tố tụng có nghĩa
vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền,lợi ích họp pháp của mình Tuy nhiên, nếu như tố tụng Tòa án, thủ tục tố tụng đãđược pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng thì tố tụng ừọng tài, các bên có quyền chủđộng trong việc xây dựng, lựa chọn thủ tục tố tụng Khi các bên chọn trọng tài làmphương thức giải quyết tranh chấp thì việc tuân theo các quy tắc của thủ tục tố tụngtrọng tài do mình đã chọn lựa là yêu cầu bắt buộc Trong quá trình giải quyết tranhchấp bằng trọng tài, nếu các bên thấy quyền và lợi ích họp pháp của mình bị xâmphạm hoặc trực tiếp bị xâm phạm thì có quyền yêu cầu chủ thể có thẩm quyền raquyết định áp dụng một hoặc một số BPKCTT Trong tố tụng trọng tài hiện nay,theo quy định của luật có hai chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng cácBPKCTT là Hội đồng trọng tài và Tòa án Các bên đương sự có thể yêu cầu mộttrong hai nơi trên ra quyết định áp dụng các BPKCTT nhằm giải quyết các yêu cầucấp bách, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án Quy định này của Luật
là sự tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được thông qua năm 2006 nhằmgiúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn
Các quy định về việc áp dụng BPKCTT trong tố trọng tài được quy định rõtrong luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010), từ điều 48 đến điều 53, vềbản chất các quy định này là luật riêng so với quy định chung của Bộ luật Tố tụngdân sự 2004 Trong tố tụng trọng tài khi giải quyết các tranh chấp sẽ áp dụng trướctiên các quy định của LTTTM 2010, nếu các quy định đó thiếu hoặc chưa 1Õ ràng cụthể thì càn áp dụng các nguyên tắc chung về BPKCTT trong tố tụng dân sự Trong
tố tụng dân sự nói chung, Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền ra quyết định
áp dụng các BPKCTT, còn trong tố tụng trọng tài có thêm một chủ thể khác bêncạnh Tòa án là Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền ra các quyết định này
Khi các tranh chấp phát sinh, các bên chọn tố tụng trọng tài làm con đườnggiải quyết tranh chấp thì khi yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể chọn một trong hainơi trên để gửi yêu cầu Trên nguyên tắc cơ quan nào nhận trước sẽ thụ lý, cơ quan
Trang 19nào nhận sau phải từ chối (trừ những trường họp không thuộc thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài)
Các BPKCTT trong tố tụng trọng tài được quy định cụ thể ở khoản 2 điều 49của luật TTTM 2010 gồm:
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
- Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một sốhành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tốtụng trong tài;
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của mộtbên hoặc các bên tranh chấp;
- Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
Các BPKCTT này cũng có nội dung tương tự như đã giải thích ở tố tụng dân
sự nói chung Sự ra đời của LTTTM 2010 nâng thêm một bước tư cách của Hộiđồng trọng tài Hội đồng trọng tài từ vị trí chỉ là nơi đưa ra ý kiến tham khảo cho cơquan có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng BPKCTT8, nay đã là cơ quan cóthẩm quyền ban hanh các quyết định áp dụng BPKCTT như là Tòa án Tạo điềukiện thuận lợi cho việc áp dụng BPKCTT bảo đảm cho mục đích nhu cầu cấp báchcủa đương sự được giải quyết thỏa đáng, không còn phụ thuộc nhiều vào Tòa ántrong việc áp dụng các BPKCTT Nâng tầm cho tố tụng trọng tài, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, giảm tải cho công việc xét
xử của Tòa án, tiết kiệm được thời gian để giải quyết những công việc quan trọng
và cấp bách hơn
Theo quy định của pháp luật hiện hành, đa phần các tranh chấp dùng tố tụngtrọng tài làm con đường giải quyết đều là tranh chấp trong lĩnh vực thương mạihoặc ít nhất một bên hoạt động trong lĩnh vực thương mại Tranh chấp trong lĩnhvực hoạt động thương mại là tranh chấp lợi ích tư, vì vậy, cho phép các bên cóquyền chấp nhận những thiệt hại người khác gây ra cho mình Do đó việc áp dụngcác BPKCTT tuy giải quyết được nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo đảm đượcviệc giải quyết vụ án và thi hành án nhưng có thể dẫn đến thiệt hại cho người bị ápdụng hoặc người thứ ba Do vậy, pháp luật quy định buộc người yêu cầu áp dụngBPKCTT phải thực hiện biện pháp bảo đảm, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người bị áp dụng và người thứ ba đồng thòi cũng tránh được việc lạmdụng trong việc yêu cầu áp dụng BPKCTT Đây là điểm khác trong việc áp dụngBPKCTT giữa tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài Trong tố tụng tòa án, chỉ có vài
Trang 20BPKCTT nhất định mới cần phải thực hiện biện pháp bảo đảm8 9, còn trong tố tụngtrọng tài chế định này là bắt buộc và áp dụng cho tất cả các BPKCTT yêu cầu10.
1.5 Sự hỗ trợ của Tòa án trong tố tụng trọng tài nói chung và trong việc
áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thòi nói riêng theo quy định hiện hành
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn dựa trên sự thỏa thuậnthống nhất giữa các bên nên cơ chế giải quyết tranh chấp trọng tài thực hiện theonguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên tranh chấp Hoạt động xét xử củatrọng tài là một phương thức hữu hiệu giảm tải công việc cho tòa án Tuy nhiên,trọng tài là cơ quan tài phán tư không thể tồn tại nếu không có sự hỗ trợ của tòa án -
cơ quan tài phán công Trọng tài có những hạn chế nhất định về thẩm quyền vàtrong trường họp ấy phải cần đến sự hỗ trợ của Tòa án Theo Luật TTTM 2010 thìvai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện vàđây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau: thay đổi Trọng tài viên; triệu tập ngườilàm chứng; thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; đăng ký phán quyết trọngtài vụ việc; huỷ phán quyết ừọng tài
Trong vấn đề thủ tục áp dụng BPKCTT thì cơ chế hỗ trợ của tòa án đối vớitrọng tài không còn quá quan trọng nữa Từ vị trí chỉ là cơ quan hỗ trợ cho tòa ántrong việc áp dụng BPKCTT theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (PLTTTM2003), nay đã là chủ thể có thẩm quyền ban hành các BPKCTT Trong việc áp dụngcác BPKCTT, tòa án và Hội đồng trọng tài là các chủ thể ngang nhau về quyền lực
Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng BPKCTT chỉ thể hiện rõ khi các bên trongtranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp mà Hội đồng trọng tài không thể ra quyếtđịnh áp dụng, lúc này bắt buộc phải có sự hỗ trợ từ tòa án
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì tranh chấp kinh tế là một thuộctính mang tính quy luật Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những cơ quan tài phán cóđầy đủ năng lực để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại ngày một giatăng và phức tạp Cùng với sự trưởng thành của các Toà kinh tế trong hệ thống Toà
án nhân dân thì các trung tâm trọng tài thương mại cũng có sự phát triển Với nhữngTrọng tài viên có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn, là những chuyên gia đầungành tin rằng Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nói riêng và hệ thống cácTrung tâm trọng tài thương mại nói chung sẽ không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêucầu mới của đất nước Với chức năng thẩm quyền là cơ quan tài phán nhân danhNhà nước, Tòa án sẽ có sự phối họp cùng các Trung tâm trọng tài thưong mại đảmbảo giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo thẩm quyền mà pháp luậtquy định
8 Xem thêm Pháp lệnh Trọng Tàị Thương Mại 2003.
9 Xem thêm Điều 120 Bộ luật Tố Tụng Dân sự 2004.
Trang 21Tóm lại, BPKCTT được chủ thể có thẩm quyền áp dụng trong quá trình giải
quyết các vụ việc dân sự nói chung, là biện pháp tố tụng nhằm giải quyết yêu cầucấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gâythiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm cho thi hành án Do vậy BPKCTT làmột trong những chế định quan trọng trong tố tụng tòa án nói chung, tố tụng trọngtài nói riêng, càn được tìm hiểu kĩ càng, cụ thể Phân tích BPKCTT trong tố tụngtrọng tài giúp ta nắm rõ tầm quan trọng của nó cũng như thuận lợi cho việc áp dụngtrong giải quyết tranh chấp
CHƯƠNG2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIÊM MỚI TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẮP TẠM THỜI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010
Chương này người viết tập trung chủ yếu vào việc phân tích các điểm mới vềtrình tự, thủ tục áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài theo quy định LTTTM
2010, qua đó đề xuất hướng hoàn thiện về cơ chế áp dụng BPKCTT trong giải quyếttranh chấp bằng tố tụng trọng tài Bên canh đó người viết phân tích sơ lược về thủtục tố tụng trọng tài theo LTTTM 2010 nhằm làm rõ tầm quan trọng, vị thế của việc
áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở nước ta theo quyđỊnh pháp luật hiện hành
2.1 Thủ tục Tố tụng trọng tài theo Luật trọng tài thương mại 2010
2.1.1 Điều kiện giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
Điều 2 LTTTM 2010 quy định: “Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt
động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đỏ cỏ ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tàĩ\
Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh tronglĩnh vực thương mại hoặc có ít nhất một bên trong tranh chấp có hoạt động thươngmại
Điều 5 khoản 1 có quy định: “tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu
các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”.
10 Khoản 4 Điều 49 và Khoản 3 Điều 50 LTTTM 2010.
Trang 22Như vậy, vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài thương mại khi thỏamãn đủ hai điều kiện sau:
Vụ tranh chấp yêu cầu giải quyết phải là tranh chấp phát sinh từ hoạt độngthương mại hoặc có ít nhất một bên có hoạt động thương mại và các trường họpkhác do pháp luật quy định
Các bên trong tranh chấp có thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài:
Thỏa thuận trọng tài là hình thức pháp lý trong đó các chủ thể của các quan
hệ kinh tế thể hiện sự nhất trí về việc sẽ đưa các tranh chấp đã hoặc có thể phát sinhđến trọng tài để giải quyết theo một nguyên tắc của một tổ chức trọng tài nhất định.Thỏa thuận trọng tài là nội dung đầu tiên trong trình tự, thủ tục trọng tài Đóng vaitrò nền tảng tạo cơ sở xác lập cả một quá trình trọng tài mà các bên phải tuân thủkhi một tranh chấp phát sinh Nói cách khác, không có thỏa thuận trọng tài thìkhông có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài11
về hình thức thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản: thỏa thuận
được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và cáchình thức khác theo quy định của pháp luật; thỏa thuận được xác lập thông qua traođổi thông tin bằng văn bản giữa các bên
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọngtài trong họp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng Thoả thuận trọng tài hoàntoàn độc lập với họp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ họp đồng, họp đồng vôhiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọngtài
2.1.2 Ngôn ngữ và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp
2.1.2.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng trọng tài là tiếng nói - chữ viết
được sử dụng trong suốt quá trình tố tụng, về nguyên tắc, ngôn ngữ trọng tài do các
bên tự thỏa thuận Hội đồng trọng tài chỉ quyết định khi các bên không có thỏathuận hoặc thỏa thuận không được
Theo Điều 10 LTTTM 2010: “ trong tranh chấp không có yếu tố nước ngoài,ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt; đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ngônngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là do các bên tự thỏa thuận”12
2.1.2.2 Luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp
về cơ bản pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc chung theo đó các bên
tranh chấp tham gia tố tụng trọng tài có quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng để
11 Giáo trình Luật thương mại 3, Ths Dương Kim Thế Nguyên, Khoa luật, Đại học cẩn Thơ, 2008.
12 Xem thêm Điểu 10 LTTTM 2 010
Trang 23giải quyết tranh chấp Mặc dù vậy, sự tự do lựa chọn đó đối với các vụ việc tranhchấp giữa các bên Việt Nam khác với tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
“ Đoi với tranh chấp không cỏ yầi tố nước ngoài, Hội đong trọng tài áp dụng
pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp ,,ỉ3 Trong trường họp này các bên chỉ
có sự chọn lựa duy nhất là pháp luật Việt Nam đế giải quyết tranh chấp
“ Đoi với tranh chấp cỏ yếu tổ nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp
luật do các bên lựa chọn; nầi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất” 13 14 Các bên trong tranh chấp có quyền tự do lựa chon luật áp dụng để giải
quyết tranh chấp nhưng không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật ViệtNam
2.1.3 Khỏi kiện, thụ lý tranh chấp
2.1.3.1 Đơn khỏi kiện
Đe giải quyết tranh chấp tại trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởikiện gửi đến đúng trung tâm trọng tài mà các bên lựa chọn Chỉ có trung tâm trọngtài các bên lựa chọn mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trường họp vụ tranhchấp được giải quyết bởi trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện cho
bị đơn.15
Đơn khởi kiện phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên, địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
- Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;
- Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có;
- Các yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp;
- Tên, địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đềnghị chỉ định Trọng tài viền
Đơn kiện được gửi đến Trọng tài trong thời hiệu khởi kiện mà pháp luật quyđịnh đối với từng loại tranh chấp
Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thỏa thuậntrọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan Đồng thời, nguyên đơnphải nộp tạm ứng phí trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác
Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi Hội đồng trọng tài
Trang 24Tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện củanguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranhchấp giải quyết bằng Trọng tài vụ việc16.
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, cáctài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Trung tâm trọng tài phảigửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu mà nguyênđơn cung cấp
Bị đơn khi bị kiện có quyền có những ý kiến phản bác một phần hoặc toàn bộđơn kiện Cũng có thể bị đơn cho rằng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụtranh chấp thì khi đó bị đơn có quyền nêu lên ý kiến trong một văn bản gửi chotrọng tài Văn bản này gọi là bản tự bảo vệ Bản tự bảo vệ có các nội dung chủ yếusau:
- Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ;
- Tên và địa chỉ của bị đơn;
- Cơ sở và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc phản bác một phànhoặc toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn;
- Tên và địa chỉ của người được bị đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghịchỉ định Trọng tài viên
Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụtranh chấp Đơn kiện lại của bị đơn phải được gửi cho Trung tâm trọng tài Trongtrường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, đơn kiện lại phảigửi cho Hội đồng trọng tài và nguyên đơn Đơn kiện lại phải được nộp cùng thờiđiểm nộp bản tự bảo vệ
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện lại, nguyên đơnphải gửi bản tự bảo vệ cho Trung tâm trọng tài Trường hợp vụ tranh chấp được giảiquyết bằng Trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải gửi bản tự bảo vệ cho Hội đồngtrọng tài và bị đơn
2.1.3.2 Thòi hiệu khỏi kiện giải quyết tranh chấp
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầuTrọng tài giải quyết vụ tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại.Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật có quy định thời hiệu khởi kiện thì thực hiệntheo quy định Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không có quy định thời hiệu khởikiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợiích hợp pháp bị xâm phạm
2.1.3.3 Địa điểm giải quyết tranh chấp
16 Xem thêm Điều 31 LTTTM 2010.