Chính sự ràng buộc làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng, là một vấn đề không thể thiếutrong pháp luật hôn nhân n
Trang 2NHẢN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
—soCQca—
Trang 3NHẢN XÉT CỦA HÔI ĐỒNG PHẢN BIÊN
• * •
- - -BOCQIGS
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐÀU 1
CHƯƠNG 1: KHẮT QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA yợ CHỒNG 3
1.1 Một số khái niệm chung 3
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 3
1.1.2 Khái niệm quản lý tài sản chung của vợ chồng 7
1.1.3 Khái niệm định đoạt tài sản chung của vợ chồng 8
1.2 Nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng 9
1.3 Mục đích của việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng 12
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA yợ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 16
2.1 Quản lý tài sản chung của vợ chồng 16
2.1.1 Quản lý tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng 16
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý tài sản chung 19
2.2 Định đoạt tài sản chung của vợ chồng 23
2.2.1 Định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng 23
2.2.2 Định đoạt tài sản chung theo di chúc chung của vợ chồng 25
CHƯƠNG 3: THựC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA vợ CHỒNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 28
3.1 Thực tiễn và những bất cập của áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng 28
3.1.1 Thực tiễn áp dụng việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng 28 3.1.2 Những bất cập của áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng 29
3.2 Một sổ đề xuất nhằm đưa chế định về quản lý và định đoạt tài sản chung của
Trang 5Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ gópphần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trênsợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân cóthể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau khôngthể quan tâm đến đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hếtsức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sốnghạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần cho gia đình
Xuất phát từ bản chất quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sảngắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù nganggiá Chính sự ràng buộc làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau
mà quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng, là một vấn đề không thể thiếutrong pháp luật hôn nhân nói riêng, pháp luật dân sự nói chung Tuy nhiên, vấn đề nàycũng chưa được quy định rõ rang trong luật, nên áp dụng vào thực tế khó khăn Bêncạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định cụ thể về các biệnpháp chế tài trong các trường hợp vợ, chồng thực hiện các hành vi quản lý tài sản vượtquá quyền hạn của mình Từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề quản lý vàđịnh đoạt tài sản chung
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Là sinh viên sau 4 năm được học tập tại trường, với mong muốn góp phần nhỏ vào việclàm sáng tỏ lý luận và thực tiễn của việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợchồng cho nên đã chọn đề tài “Những quy định về quản lý và định đoạt tài sản
Trang 6Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
chung của vợ chồng theo pháp luật hiện hành” làm đề tài luận văn tốt nghiệp củamình
Trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung, quản lý và định đoạttài sản chung của vợ chồng theo pháp luật hiện hành Đồng thời qua thực tiễn áp dụngluật, phát hiện những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện cácquy định của pháp luật trong lĩnh vực này
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sẽ sử dụng những phương pháp sau đây: Phương pháp luận; phươngpháp phân tích, tổng hợp; và phương pháp thống kê; phương pháp so sánh,
4 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, tài liệu tham khảo, kết luận, bố cục luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Chương 2: Những quy định về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng theopháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợchồng và một số kiến nghị
Trang 7Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG 1.1 Một sổ khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trước khi tìm hiểu khái niệm tài sản chung của vợ chồng thì phải hiểu nhuthế nào là tài sản Có nhiều cách để đưa ra khái niệm tài sản, nhưng nhìn chung có thểhiểu theo hai cách:
Cách thứ nhất: Nếu hiểu theo cách thông dụng tài sản là của cải được conngười sử dụng, một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết bằng các giác quan haytiếp xúc
Cách thứ hai: Theo từ điển pháp luật thì tài sản là tất cả những gì có thể sởhữu được với khía cạnh thì tài sản được hiểu theo nghĩa rộng hom và đã có sự phân biệtgiữa tài sản là động sản và bất động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình Đây là haicách hiểu cơ bản và thong dụng về tài sản
Tuy nhiên khái niệm tài sản sẽ được hiểu hơn trong Bộ Luật Dân Sự(BLDS)
Tại Điều 172 BLDS 1995 quy định như sau: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy
tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Khái niệm này được sửa đổi tại Điều
163 BLDS 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ cỏ giá và các quyền tài sản
Tóm lại, khái niệm tài sản được quy định cụ thể tại Điều 163 BLDS 2005
“tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Đe hiểu rõ khái niệm
tài sản qua cách phân tích sau:
- Vật: Vật là một bộ phận vật chất có thể đáp ứng nhu cầu nào đó về củacon người Ngoài yếu tố đáp ứng trên, vật còn với tính cách là tài sản nằm trong sự
Trang 8Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
chiếm hữu của con người phải có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch
dân sự Chính vì lẽ đó “vật” trong BLDS 2005 đã thay thế cho cụm từ “vật cỏ thực''’ BLDS 1995 là hoàn toàn phù hợp và phản ứng đầy đủ vấn đề khái niệm “vật'' sẽ hiểu
rộng hơn bao gồm vật đang có và vật sẽ hình thành trong tương lai Quy định này làmcho đối tượng của tài sản trở nên phong phú, phù hợp với thực tiễn và sự phát triểnkinh tế hiện nay
- Tiền và giấy tờ có giá: cụm từ “giấy tờ có giá” trong BLDS 2005 đã thay thế cho “giấy tờ trị giả bằng tiền” trong BLDS 1995, phù hợp với tình hình thực
tế hơn Giấy tờ được coi là tài sản chuẩn hóa về tên gọi cũng như tính chất, các loạigiấy tờ này trị giá bằng tiền và được đưa vào giao dịch dân sự như: cổ phiếu, tráiphiếu,tấm séc quy định như thế đã góp phần làm cho định nghĩa tài sản trở nênphong phú và chính xác hơn về đối tượng Mặt khác nó cũng có ý nghĩa quan trọngtrong nền kinh tế thị trường và giai đoạn hội nhập nước ta hiện nay
- Quyền tài sản: Ngoài những vật, giấy tờ có giá thì quyền tài sản cũng
được coi là tài sản Điều 181 BLDS 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ
Qua cách phân tích khái niệm về tài sản ở trên ta có thể đưa ra khái niệm
về tài sản chưng của vợ chồng “Tài sản chung của vợ chồng là tài sản của vợ chồng
cỏ trước hoặc sau kết hôn và đem nhập vào khối tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Đe hiểu rõ thêm về tài sản chưng của vợ chồng thì theo quy định tại
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chưng của vợ chồng bao gồm:tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất kinhdoanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản
mà vợ chồng được thừa ké chưng hoặc được tặng cho chưng và những tài sản khác mà
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Đó là những căn cứ tạo lập tài sản chưng của vợchồng
Trang 9Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng đã được xác định, căn cứ vào nguồn gốccủa tài sản Nhằm cụ thể hóa quy định này, Nghị quyết số 02 của Hội Đồng Thẩm PhánTòa Án Nhân Dân Tối Cao (HĐTP-TANDTC) ngày 23/12/2000 có hướng dẫn: nhữngthu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là tiền thưởng, tiềntrợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số mà vợ chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồng xác lậpquyền sở hữu theo quy định tại Điều 247, 248, 250, 251, 252 Bộ Luật Dân Sự trongthời kỳ hôn nhân
Ngoài những quy định trên, theo hướng dẫn của Nghị quyết HĐTP-TANDTC thì: “trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng màpháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữuphải có ghi tên của cả vợ chồng” Thực tiễn cho thấy, chỉ những tài sản rất lớn, rấtquan trọng đối với đời sống gia đình thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghitên của cả vợ chồng (như nhà ở, quyền sử dụng đất) Song nếu đối với các tài sản khácphải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận chỉ ghi tên của vợ hoặcchồng (như xe môtô, tàu thuyền), nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của
02/2000/NQ-vợ chồng Nếu có tranh chấp tài sản riêng xảy ra thì người có tên trong giấy chứngnhận quyền sở hữu phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình Trong trườnghợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sảnriêng của mỗi bên thì đó là tài sản chung Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra thì yêu cầucác bên phải có chứng cứ chứng minh được tài sản của riêng mình Việc quy định nhưvậy giúp xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng được dễ dànghom
So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 đã có sự phát triển trong việc xác định tài sản chung của vợ, chồng Nó đãtiếp cận vấn đề này dưới góc độ mới, được thể hiện ở việc thừa nhận sự độc lập về tàisản của mỗi người trong quan hệ hôn nhân Nó cho phép có sự thể hiện tự do ý chí của
vợ chồng khi xác lập tài sản chung Mặt khác, việc quy định tài sản chung của vợchồng đối với giá trị quyền sử dụng đất là điểm mới và tiến độ so với Luật Hôn nhân
Trang 10Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
gia đình năm 1986 Quy định này là rất cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế hiệnnay Tuy vậy, trong cả hai đạo luật đều có sự thống nhất, đó là trong mọi tnrờng hợp,tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể là sở hữu chung hợp nhất và chế độ sở hữuchung
này là chế độ sở hữu pháp định
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam xác định tài sản chung của vợ chồngcăn cứ vào nguồn gốc tài sản đuợc hình thành, nó bao gồm rất nhiều khoản thu nhậphợp pháp khác nhau đuợc phát sinh trong thời kỳ hôn nhân mà không phụ thuộc vàoviệc ai trục tiếp tạo ra nó, quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Namnăm 2000 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP-TANDTC đã không đánh đồng tài sản cótrước thời kỳ hôn nhân của vợ chồng đều thuộc tài sản chung Điều 15 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 cũng không bó hẹp phạm vi tài sản chung của vợ chồng nhưĐiều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, mà nó đã mở rộng ra đối với cả nhữngtài sản do vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung và tài sản là giá trị quyền sử dụng đất.Đây là điểm mới tiến bộ hơn nó bảo đảm quyền định đoạt đối với tài sản riêng củacông
dân, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc ngăn chặn hôn nhân không lành mạnh,coi trong tiền bạc mà xem thường bản chất vốn có mang tính tốt đẹp của hôn nhân
Như vậy, Luật xác định rõ phạm vi khối tài sản chung của vợ chồng, baogồm tất cả các tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệtngười nào tạo ra, ai có công nhiều hay ít trong việc hình thành khối tài sản chung Việcquy định phạm vi khối tài sản chung giúp vợ chồng hiểu và có trách nhiệm xây dựng,duy trì và phát triển khối tài sản chung mà cùng nhau lao động vì lợi ích gia đình Đồngthời còn là cơ sở pháp lý giúp vợ chồng thực hiện quyền về mặt tài sản trong gia đình.Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
* Tài sản chung do hoạt động tạo thu nhập: Tài sản tạo ra do thu nhập có thể có
nhiều loại thu nhập khác nhau, những khoản thu nhập có tính chất cơ bản quan trọng,
ổn định và chính đáng là các khoản thu nhập do lao động và hoạt động sản xuất kinh
Trang 11Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
trong Hiến Pháp là quyền được lao động và quyền có việc làm, quyền tự do sản xuấtkinh doanh.Vợ chồng có thể tạo ra thu nhập bằng con đường lao động trực tiếp nhưtrồng trọt, chăn nuôi, hoặc kinh doanh bằng cách đưa tài sản của mình tham gia vào cácgiao dịch dân sự hoặc kinh tế để khai thác hoa lợi, lợi tức có thể đem tài sản của vợ,chồng tham gia vào các hoạt động mua bán, góp vốn, tham gia trực tiếp hoặc thông quahùng hạp với người thứ ba Ngoài việc trực tiếp lao động sản xuất kinh doanh vợ chồng
có thể tạo thu nhập bằng cách phổ biến hom từ quá trình phân công lao động hoặc cáchoạt động xã hội như tham gia vào các quan hệ lao động theo chế độ hợp đồng hoặccác phưomg thức mang tính chất thời vụ
Ngoài các khoản thu nhập trên, vợ chồng còn có các khoản thu nhập hợp phápkhác, theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 23/12/2000 có quy định thunhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là các khoản tiền lương,tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng mà vợ chồng có được hoặc các tài sản mà vợ chồng xáclập quyền sở hữu đối với vật vô chủ (vật không xác định chủ sở hữu hoặc không biếtchủ sở hữu là ai), vật chôn giấu, chìm đấm (không tìm thấy), hoặc đối với vật do ngườikhác đánh rơi, bỏ quên (đối với gia súc gia cầm bị thất lạc mà các thời hạn mà chủ sởhữu các vật nói trên không đến ghi nhận) thì thuộc tài sản chung của vợ chồng trongthời kỳ hôn nhân Ngoài căn cứ nêu trên, Luật cũng quy định cụ thể để làm rõ chế độpháp lý đối với loại tài sản đặc biệt, có tính chất đặc thù đó là quyền sử dụng đất của vợchồng Theo quy định của luật này thì quyền sử dụng đất của vợ chồng có được sau khikết hôn là tài sản chung của vợ chồng, còn quyền sử dụng đất có trước khi kết hônđược thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận
1.1.2 Khái niệm quản lý tàỉ sản chung của vợ chồng
Vợ chồng là một khái niệm pháp lý gắn liền với nhân thân Khi quan hệ hônnhân ra đời không chỉ hình thành nên quan hệ nhân thân mà còn hình thành nên quan
hệ tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở quan trọng choviệc đảm bảo đời sống vật chất của gia đình đây cũng là một trong những cái gốc quan
Trang 12Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Tiến Sỹ Nguyễn Ngọc Điện, Nhà xuất bản trẻ, Năm xuất bản
2001 ,Trang 134,135
Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
trọng xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc Muốn đảm bảo những nhu cầu thiếtyếu và cả những nhu cầu tinh thần của gia đình, để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp
đỡ, thuơng yêu lẫn tinh thần thì cần phải có tài sản chung của vợ chồng mà vấn đề quản
lý tài sản chung của vợ chồng là hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong khung cảnh củaluật định chua có quy định cụ thể về việc quản lý tài sản chung của vợ chồng cũng nhuchua làm rõ đuợc khái niệm quản lý tài sản chung của vợ chồng Nhung theo quy định
tại Điều 182 của BLDS 2005 “quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” mà
“nắm giữ, quản lý” có thể bao hàm việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác)
hoặc quyền không sử dụng (cất giữ)1 Trong chừng mực nào đó ta hiểu rằng quản lý tàisản chung của vợ chồng là việc vợ chồng thực hiện quyền của mình để sử dụng, bảoquản tài sản chung một cách hiệu quả không làm thiệt hại đến chúng Mặt khác, quảnlý
tức là quá trình tác động có ý thức và bằng quyền lực của chủ thể quản lý lên tài sảnquản lý nhằm thực hiện mục tiêu của chủ thể đó mà chủ thể trong việc quản lý tài sảnchung là vợ chồng
Trên thực tế thì vấn đề quản lý tài sản chung của vợ chồng chua đuợc quan tâm
nhiều nhung quan niệm của tôi về vấn đề này nhu sau: “Quản lý tài sản chung của vợ
chồng là việc vợ chồng thực hiện quyền của mình đổi với tài sản chung bao gồm:sử dụng, bảo quản, cất giữ, tu bổ, nâng cấp hoặc sửa chừa lớn tài sản chung, cho mượn
và cho thuê tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại”.
Quản lý tài sản chung của vợ chồng được hiểu như trên không có một kháiniệm
được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, mà tùy thuộc vào mỗi nước về đặc điểm, hoàncảnh kinh tế, văn hóa, xã hội, dặc biệt là tâm lý dân cư mà xây dựng nguyên tắc vềquản lý tài sản chung của vợ chồng cho hợp lý
1.1.3 Khái niệm định đoạt tàỉ sản chung của vợ chồng
Theo từ điển pháp luật thì định đoạt là việc quyết định số phận pháp lý và số phận thực
Trang 13Nguyên lý và thực hành luật hôn nhân và gia đình, "ỉhsluật Nguyễn liến và Luật ga Quốc Tuấn, Tủ sách khoa học pháp
lý, Trang 24
Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
dụng, định đoạt) của chủ sở hữu Mà vợ chồng là chủ sở hữu tài sản nên vợ chồng có
quyền định đoạt tài sản Tại Điều 195 của BLDS 2005 quy định: “Quyền định đoạt là
quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó” Quyền định
đoạt
là một trong quyền vô cùng quan trọng đối với chủ sở hữu, đó là quyền của chủ sở hữutrong việc xác lập các quan hệ pháp luật với nguời khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu củamình Việc thục hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sởhữu của mình phải thục hiện bằng một hành vi nhất định Hành vi đó phải do mộtnguời có năng lục pháp luật và năng lục hành vi xác lập, thục hiện, nếu không thì việcđịnh đoạt đó sẽ không có giá trị pháp lý Do đó vợ chồng đủ điều kiện quy định củapháp luật nên vợ chồng có quyền định đoạt tài sản chung Tuy nhiên, vấn đề định đoạttài sản chung của vợ chồng chỉ có quy định về quyền định đoạt và căn cứ thực hiệnquyền đó cũng nhu chua làm rõ đuợc khái niệm định đoạt tài sản chung của vợ chồng
theo pháp luật hiện hành Tuy nhiên, vấn đề này đuợc hiểu nhu sau: “Định đoạt tài sản
chung của vợ chồng là việc vợ, chồng quyết định số phận tài sản chung thông qua phương thức tự thỏa thuận và theo di chúc chung của vợ chồng” Do đó, việc định đoạt
tài sản chung ảnh huởng rất lớn đến đời sống gia đình cho nên định đoạt tài sản chungphải có sụ đồng ý của vợ và chồng
1.2 Nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Nguyên tắc là những phuơng châm tu tuởng cần quán triệt trong nội dung của mộtlĩnh vục nào đó còn nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng lànhững tu tuởng nguyên lý chỉ đạo, có ý nghĩa xuyên suốt trong việc quản lý và địnhđoạt tài sản chung của vợ chồng2 Tài sản chung có thể có nguồn gốc từ công lao chungcủa vợ chồng hoặc của vợ hoặc của chồng Sụ đóng góp vật chất của mỗi nguời vàoviệc tạo lập, phát triển khối tài sản chung có thể không ngang nhau Tuy nhiên, một khi
đã là tài sản chung thì tài sản chịu sự quản lý chung của vợ và chồng Đó là nguyên tắcbình đẳng giữa vợ chồng mà vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý và định
Trang 14Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
đoạt tài sản chung Nguyên tắc này được ghi nhận trong BLDS 2005 và được nhắc lạitrong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 với nội dung được liệt kê dưới đây:
Tại Điều 217 của BLDS 2005 quy định:
“1 Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đỏ phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu chung không xác định đổi với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất cỏ thể phân chia và sở chung hợp nhất không thể phân chia.
2 Các chủ sở chung hợp nhất cỏ quyền, nghĩa vụ ngang nhau đổi với tài sản thuộc
sở hữu chung
Tại Điều 219 BLDS 2005 đã quy định:
“1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; cỏ quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
4 Tài sản chung của vợ chồng cỏ thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết
định
của Tòa án”.
Tại Khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã quy định:
“vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung”.
Trang 15Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Như vậy qua một số quy định cụ thể trên có thể cho thấy rằng nguyên tắc cơ bản,xuyên suốt trong cả Luật Hôn nhân và gia đình và BLDS về quản lý và định đoạt tàisản chung đó là vợ chồng luôn bình đẳng và có quyền ngang nhau trong việc quản lývà
định đoạt tài sản chung
Trong thời kỳ hôn nhân về tài sản chung quyền hạn của vợ chồng theo nguyêntắc
bình đẳng, vợ chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản chung, nhưng mỗi ngườikhông thể tự mình thực hiện mà chỉ có thể cùng nhau thực hiện các quyền đó Cả hai
vợ chồng cùng sử dụng, định đoạt tài sản có thể là sự thỏa thuận mặc nhiên hay rànhmạch Tuy nhiên suy cho cùng thì việc sử dụng, định đoạt đó phải được vợ chồng thỏathuận Đây mới là nguyên tắc cao nhất của việc quản lý và định đoạt tài sản chung của
vợ chồng Việc thỏa thuận của vợ chồng đặc biệt quan trọng đối với những giao dịchliên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình.Theo Khoản 4 Điều 4 của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì nếu vợ chồng xác lập, thựchiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung mà không có sự đồng ý củamột bên tức giao dịch đó không có sự đồng ý của cả vợ chồng thì bên kia có quyền yêucầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu theo quy định của pháp luật dân sự
Tuy nhiên, nếu nói vợ chồng có quyền sử dụng, định đoạt tài sản chung hay mộttrong hai người có độc quyền sử dụng, định đoạt tài sản chung hay một trong hai người
có độc quyền sử dụng, định đoạt tài sản chung ta có thể hiểu khi vợ chồng xác lập mặcnhiên đã có sự đồng ý của người kia Ngoại lệ có trường hợp vợ hoặc chồng lập di chúcriêng để định đoạt tài sản chung, thật sự là việc định đoạt tài sản riêng có điều kiện.Riêng ở đây có nghĩa là di chúc có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết Lúc này hônnhân đã chấm dứt và chế độ tài sản chung của vợ chồng chuyển thành chế độ sở hữuchung theo phần Nói tóm lại, sự thỏa thuận của vợ chồng luôn là điều kiện cần thiếtcho các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có giá trị, tùy theo tính chất
và tầm quan trọng của tài sản liên quan so với khối tài sản chung mà ta có hình thức thể
Trang 16Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Nếu vợ hoặc chồng cùng một hoạt động kinh tế chung trong khuôn khổ của hộgia đình thì tài sản khai thác đuợc là tài sản của hộ gia đình và đuợc quản lý chung.Nhung nếu vợ hoặc chồng hoạt động kinh tế riêng thì luật không nói rằng tài sản chungdung cho hoạt động kinh tế riêng sẽ đuợc quản lý riêng Thực tế khi vợ hoặc chồngkhai thác tài sản chung với tu cách là nguời hoạt động nghề nghiệp độc lập thì nguờicòn lại không can thiệp vào việc khai thác tài sản đó ngay cả khi tài sản đó có giá trịlớn, tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản đó đều do nguời khai thác tự mình xáclập, thực hiện mà không cần sự đồng ý của nguời kia Việc định đoạt tài sản, thực tếcho thấy tùy theo tài sản liên quan đến động sản hay bất động sản mà có thể thực hiệncác giải pháp khác nhau Định đoạt bất động sản luôn cần phải có sự đồng ý của vợ vàchồng, việc định đoạt tài sản chung có thể do nguời trục tiếp khai thác tài sản tụ mìnhthực hiện, trừ trường hợp động sản thuộc loại phải đăng ký và người đăng ký lại là vợ(chồng) của người khai thác tài sản Nói tóm lại sự thỏa thuận của vợ chồng luôn làđiều kiện cần thiết cho nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Ngoài ra, Luật cho phép vợ hoặc chồng tự mình xác lập, thực hiện các giaodịch liên quan đến tài sản chung mà không cần phải có sự đồng ý của người còn lại nhưviệc vợ chồng có thể tự mình xác lập các giao dịch nhằm bảo quản, sửa chữa những hưhỏng thông thường xảy ra đối với tài sản chung Đối với việc tu bổ, nâng cấp, sửa chữalớn tài sản chung của vợ chồng sẽ thực hiện theo nguyên tắc vợ hoặc chồng có thể xáclập, thực hiện các giao dịch một cách hữu hiệu mà không cần sự đồng ý rành mạch củachồng hoặc vợ; sự đồng ý này có thể mặc nhiên, thậm chí được hiểu ngầm Tương tựnhư vậy, vợ hoặc chồng có quyền tự mình cho mượn các động sản chung mà không cần
có sự đồng ý của người còn lại Tuy nhiên, việc cho mượn tài sản trong một thời giandài, dù là tài sản có giá trị không lớn, phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng Nhưvậy sự đồng ý của vợ chồng trong quản lý và định đoạt tài sản chung Đó là thể hiệnnguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng trong việc quản lý và định đoạt tài sản chung của
vợ chồng
1.3 Mục đích của việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Trang 17Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Trong xã hội có giai cấp, vấn đề quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng bịchi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấpthống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật, tác động vào các quan hệ tài sản của
vợ chồng làm cho các mối quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với lợiích giai cấp đó
Do pháp luật là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nên trong nền lập pháp củamỗi nhà nước, vấn đề quản lý và định đoạt tài sản chưng của vợ chồng đều theo ý chícủa nhà nước đó Vì vậy, pháp luật Phong kiến quy định chế độ tài sản là bất bình đẳnggiữa vợ và chồng trong gia đình Điều này nhằm bảo vệ tư tưởng gia trưởng của chế độPhong kiến, người vợ hoàn toàn không có quyền gì đối với tài sản chung mà tất cả tàisản đều thuộc về người chồng quản lý và định đoạt
Đối với, Nhà nước Tư sản, thì Hôn nhân được xem như một hợp đồng rất được coitrọng Có thể xem hợp đồng như là cơ sở để hình thành quan hệ hôn nhân Pháp luật Tưsản, pháp luật của nhà nước Phong kiến, pháp luật của nhà nước Xã hội chủ nghĩa đều
có quy định về vấn đề này vừa có tình lẫn có lý, vừa phù hợp với đạo đức xã hội vànguyện vọng của nhân dân lao động xuất phát từ bản chất pháp luật luôn vì lợi ích củanhân dân Đối với pháp luật của nhà nước ta, việc quy định về quản lý và định đoạt tàisản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có mục đích sau:
Mục đích quan trọng hàng đầu của chế định này là giúp cho vợ chồng quản lý vàđịnh đoạt tài sản chung được tốt hơn, bên cạnh đó tạo điều kiện cho vợ chồng được tự
do kinh doanh, mặt khác nhằm khôi phục khối tài sản riêng của mỗi bên Như ta đã biết
do không có lý thuyết về tài sản thay thế nên khối tài sản chung luôn có khuynh hướngthu hút các khối tài sản riêng nhập vào nó Do đó khi có quy định về quản lý và địnhđoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo cơ sở pháp lý cho cáckhối tài sản riêng được tồn tại Quy định như vậy nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng về mặttài sản giữa vợ và chồng do pháp luật Phong kiến, Thực dân trước kia để lại và đượcthay thế bằng những quy định mới Trong đó, hệ thống pháp luật mới của ta đã quy
Trang 18Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
định một cách hợp tình hợp lý và bảo đảm được quyền bình đẳng giữa vợ và chồng.Mục đích này đáp ứng được mong muốn của hàng triệu phụ nữ Việt Nam để có một vịtrí bình đẳng với người chồng trong gia đình Điều này, trước kia đã bị pháp luật Phongkiến phủ nhận Do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và lối sống phương Tây.Cho nên hiện nay, tình trạng mâu thuẫn trong việc quản lý và định đoạt tài sản của vợchồng ở nước ta xảy ra khá nhiều và trở thành vấn đề cần quan tâm của xã hội Chính
vì vậy để hạn chế bớt các trường hợp việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng thựchiện không đúng các quy định pháp luật Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 không có quy định cụ thể về các biện pháp chế tài trong các trường hợp vợ, chồngthực hiện các hành vi quản lý tài sản vượt quá quyền hạn của mình Cho nên pháp luậtcần phải có quy định các chế tài để đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việcquản lý và định đoạt tài sản chung Làm cho cuộc sống gia đình không có mâu thuẫntạo điều kiện phát triển kinh tế
Một mục đích không kém phần quan trọng khác là nhằm tạo điều kiện để vợchồng có thể độc lập khi tham gia vào các quan hệ xã hội, vì khi các chủ thể có tài sảnđộc lập có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh, hay là khi một bên cónhu cầu trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc người thân Việc sử dụngkhối tài sản chung của vợ chồng sẽ phát sinh mâu thuẫn, do đó việc định đoạt tài sảnchung là giải pháp thỏa đáng Mặt khác, việc đưa ra quy định quản lý và định đoạt tàisản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn nhằm mục đích không kém phầnquan trọng đó là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thứ ba, có quan hệ với một bên
vợ hoặc chồng Bởi vì, trên cơ sở những quy định của pháp luật với người thứ ba sẽ xácđịnh được quyền hạn của người vợ, người chồng trong việc xác lập giao dịch làm choquyền lợi của họ được bảo đảm hơn Ví dụ: Trong một số trường hợp nhất định phápluật buộc cả hai vợ chồng thể hiện sự đồng ý của mình trong giao dịch quan trọng, đểbảo đảm lợi ích của bên thứ ba tham gia
Như vậy việc đưa ra quy định “quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hệ thống pháp luật nói riêng
Trang 19Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
và đối với sự phát triển của xã hội nói chung Nó không chỉ những ảnh hưởng trực tiếpđến đời sống của gia đình, mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế của nước
ta Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng, xóa bỏ sự bất công mà xã hộiPhong Kiến đã tồn tại hàng ngàn năm và một khi muốn phát triển xã hội ta phải xóa bỏđược định kiến bất công này
Bên cạnh đó, việc có quy định trên còn tạo điều kiện để vợ chồng tự do tham giavào hoạt động sản xuất kinh doanh riêng, nhưng vẫn đảm bảo sự liên kết bền chặt giữa
vợ chồng bằng quan hệ hôn nhân, ổn định hạnh phúc gia đình Gia đình tồn tại thì xãhội mới phát triển được, một trong những chức năng chính của gia đình là chức năngkinh tế Theo triết học Mác-Lênin thì vật chất quyết định ý thức vì thế nếu kinh tếkhông phát triển thì gia đình sẽ không hạnh phúc và xã hội không thể phồn thịnh được
Vì vậy, khi mỗi công dân đều tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra thậtnhiều của cải, xây dựng gia đình hạnh phúc thì xã hội sẽ phồn thịnh và vững mạnh.Quy định này cũng đã tạo điều kiện cho người phụ nữ có một chỗ đứng ngang bằng vớinam giới trong việc đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Thực tế đã cho thấy phụ nữ có khả năng đóng góp rất nhiều trong sự nghiệp phát triểnđất nước Đồng thời quy định này còn góp phần ổn định các mối quan hệ trong giađình, khi có mâu thuẫn phát sinh nhưng với những quy định rõ ràng về việc quản lý vàđịnh đoạt tài sản chung của vợ chồng thì vấn đề tranh chấp tài sản giữa vợ chồng sẽđược hạn chế bớt, tạo điều kiện cho kinh tế gia đình phát triển Cho nên, chế định này
đã đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn xã hội hiện nay cho nên rất phù hợp với cơ chếthị trường, phù hợp với Hiến Pháp, Bộ Luật Dân Sự, Luật Đất Đai và các văn bản khác
có liên quan Tóm lại, việc quy định cụ thể căn cứ xác lập tài sản chung cũng như việcquản lý và định đoạt chúng đã phần nào giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giảiquyết các vụ việc trên một cách nhanh chóng, rõ ràng góp phần ổn định đời sống xãhội