Do đều là thuế trực thu, đánh vào tất cả các khoản thu nhập có được của cánhân, tổ chức nên nhiều quy định của Luật thuế Thu nhập cá nhân và Luật thuế Thunhập doanh nghiệp tương đồng nha
Trang 1THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUÉ THU NHẬP DOANH NGHIỆP: BẤT CẬP VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT
•
Lớp: Luật Thương mại 3
cần Thơ, tháng 5 năm 2011
Trang 2Cần Thơ, ngày thảng năm 2011
Trang 3Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 4LỜI NÓI ĐẰU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phưomg pháp nghiên cứu 2
6 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ THUẾ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐÈ LIÊN QUAN ĐẾN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIẸP 4 1.1 Khái quát chung về thuế, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp 4
1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của thuế 4
1.1.2 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân 12
1.1.3 Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.1.4 Những nguyên tắc chung khi xây dựng luật thuế 17
1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp 20
1.2.1 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 20
1.2.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 21
1.3 So sánh thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân 22
1.3.1 Giống nhau 22
1.3.2 Khác nhau 23
1.4 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp 26 1.4.1 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước 26
1.4.2 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chưomg trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 27
1.4.3 Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 29
1.4.4 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ bổ trợ cho nhau 31
1.5 Quy định pháp luật một số nước về thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp 32
1.5.1 Hoa Kỳ 32
Trang 5CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH - ĐÁNH GIÁ YÀ HƯỚNG ĐÈ XUẤT 39
2.1 Quy định pháp luật về thu nhập từ kinh doanh 39
2.1.1 Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân 39
2.1.2 Quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 45
2.1.3 Đánh giá mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập từ kinh doanh 53
2.2 Quy định pháp luật về thu nhập từ đầu tư vốn 57
2.2.1 Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân 58
2.2.2 Quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 63
2.2.3 Đánh giá mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập từ đầu tư vốn 66
2.3 Quy định pháp luật về thu nhập từ chuyển nhượng vốn 70
2.3.1 Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân 71
2.3.2 Quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 73
2.2.3 Đánh giá mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn 75
KẾT LUẬN 79
Trang 6LỜI NÓI ĐẰU
Trong những năm gần đây, nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng vào quá trình
tự do hóa thương mại toàn cầu, đặc biệt, kể từ khi nước ta trở thành thành viên chínhthức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Yêu cầu của việc thực hiện cam kết khigia nhập WTO buộc nước ta đã và đang phải cắt giảm hàng loạt các loại thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng dẫn đến nguồn thu Ngânsách từ thuế giảm đáng kể Trong khi đó, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càngtăng, nhất là trong thời điểm nước ta vừa phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từcuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới Do đó, yêu cầu đặt ra trong thời điểmhiện tại là tăng cường những nguồn thu nội địa để bù đắp Ngân sách Nhà nước
Chính vì thế, ngày 21 tháng 11 năm 2007 Quốc hội thông qua Luật thuế Thunhập cá nhân thay thế cho Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao năm
1990 sửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001, 2004 Sau đó, ngày
03 tháng 6 năm 2008 Quốc hội tiếp tục thông qua Luật thuế Thu nhập doanh nghiệpthay thế cho Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 và thống nhất với các quyđịnh của Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 Với việc bổ sung nhiều khoản thunhập vào diện thu nhập chịu thuế và mở rộng đối tượng chịu thuế thu nhập, hai luậtthuế thu nhập trên đã bao quát hết toàn bộ thu nhập và đối tượng chịu thuế thu nhậptrong dân cư Do vậy, nguồn thu nội địa được tăng lên đáng kể
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được thì Luật thuế Thu nhập cánhân năm 2007 và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 còn một số hạn chếnhất định Do đều là thuế trực thu, đánh vào tất cả các khoản thu nhập có được của cánhân, tổ chức nên nhiều quy định của Luật thuế Thu nhập cá nhân và Luật thuế Thunhập doanh nghiệp tương đồng nhau, nhiều khoản thu đánh chồng lên nhau hoặc cùngmột khoản thu như nhau nhưng thuế thu nhập cá nhân lại đánh thuế mà thuế thu nhậpdoanh nghiệp lại không, gây khó khăn đối với cả cơ quan thuế và người nộp thuế Do
đó, đặt ra yêu càu là càn phải xét xem giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập
Trang 7doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau nhu thế nào, những khoản thu nào là đối tuợngđánh thuế của Luật thuế Thu nhập cá nhân và khoản thu nhập nào là đối tuợng chịuthuế của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp nhằm đảm bảo việc thực thi hai luật trênđuợc hiệu quả hom, mang lại nguồn thu dồi dào cho Ngân sách và không gặp sự phảnđối từ phía người nộp thuế.
Chính vì lẽ đó, người viết chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân
và thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hướng đề xuất” làm luận văn tốt nghiệpcủa mình
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, tuy có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu khoa học về thuế thunhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp Nhưng hàu hết các đề tài chỉ dừng lại ởviệc nêu lên một số nhận định chung có liên quan đến mối quan hệ giữa thuế thu nhập
cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, chưa có một đề tài chuyên biệt nào nói về mốiquan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, cần thiết cómột đề tài chuyên biệt để làm rõ mối quan hệ của hai loại thuế này
3 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu này, người viết muốn làm rõ mối quan hệ giữa thuế thunhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tìm ra những hạn chế còn tồn tạitrong mối quan hệ giữa hai luật này, đồng thời, đưa ra hướng giải quyết cho những hạnchế đó, làm cho hệ thống thuế trở nên nhất quán hom
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc tập trung làm rõ mối quan hệ giữa thuếthu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hànhđối với khoản thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư vốn và thu nhập từ chuyểnnhượng vốn Trên cơ sở đó, tìm ra những hạn chế có liên quan đến mối quan hệ giữathuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp cụ thểnhằm khắc phục những hạn chế đỏ
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, người viết đã sử dụng kết họp nhiều phương phápkhác nhau như:
Chương 1 Phương pháp nghiên cứu lý luận được ưu tiên sử dụng và phươngpháp so sánh, đối chiếu
Chương 2 Sử dụng phương pháp phân tích, tổng họp, phương pháp phân tíchluật viết và phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Bố cục của đề tài
Đề tài được trình bày ngắn gọn gồm 3 phần: Lời nói đầu, nội dung chính và kếtluận Trong đó, nội dung chính gồm có 2 chương:
Trang 8+ Chương 1 Khái quát chung về thuế và một số vấn đề liên quan đến thuế thunhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nội dung chương này, giới thiệu khái quát về thuế nói chung và thuế thu nhập
cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Bên cạnh đó, đánh giá sơ lược vềmối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy địnhpháp luật hiện hành làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở chương 2
+ Chương 2 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanhnghiệp theo quy định pháp luật hiện hành - Đánh giá và hướng đề xuất
Nội dung chương này, chủ yếu làm rõ mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân
và thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành đốivới khoản thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đàu tư vốn và thu nhập từ chuyểnnhượng vốn, từ đỏ, tìm ra những hạn chế còn tồn tại và đưa ra một số kiến nghị cụ thể
để khắc phục những hạn chế đó
Trang 92Nguyễn Hồng Thắng: Thuế, Nxb Thống kê, năm 1998, trang 25-26. Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hưởng để xuất
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ THUẾ
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐÈ LIÊN QUAN ĐẾN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
Nội dung chương này, trình bày sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của thuế nói chung và pháp luật thuế Việt Nam nói riêng Thông qua những nội dung được trình bày, lý giải tại sao phải thu thuế, vai trò của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đổi với nền kinh tế, đồng thời, so sảnh sự giong nhau và khác nhau giữa thuế thu nhập cả nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đó, đánh giá một cách tong quát về moi quan hệ giữa hai loại thuế này Bên cạnh đó, người viết cũng nêu lên quy định của một so nước trên thế giới về thuế thu nhập cả nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm làm rõ hơn những quy định pháp luật hiện hành về thuế thu nhập
cả nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.
1.1 Khái quát chung về thuế, thuế thu nhập cá nhân yà thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của thuế
1 . 1 . 1 . 1 Khải niệm thuế
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một trong nhữngcông cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năngcủa mình Tùy thuộc vào bản chất Nhà nước và cách sử dụng nguồn thu từ thuế mà cónhiều quan điểm khác nhau về thuế như:
- Những người theo thuyết khế ước (théorie du contrat íĩscal) cho rằng “Thuế làkết quả tất yếu của một khế ước mặc định giữa Nhà nước và dân chúng Tổng số thuế
do sự thỏa thuận giữa một bên là Chính phủ, bên kia là đại biểu dân chúng Thuế là giátrị của những dịch vụ mà mỗi cá nhân có thể được hưởng do Chính phủ cấp”1
- Thuyết quyền lực Nhà nước khẳng định “Nếu thừa nhận chính quyền thì phảithừa nhận chính quyền cần có phưomg tiện vật chất để hoạt động Hoạt động của chínhquyền ngày càng gia tăng theo đòi hỏi của xã hội thì chi tiêu công cộng cũng tăngtheo Nộp thuế trở thành một bổn phận của công dân đối với Nhà nước, mọi người gópvào chi tiêu công cộng theo khả năng của mình và sự đóng góp đó có tính cưỡng bách,chứ không thể dựa trên lòng hảo tâm hay tự nguyện Theo quan điểm này, thuế khôngcòn là một khế ước, bảo phí, hay giá trị dịch vụ nữa mà là một món nợ xã hội với tínhchất tổng quát và toàn diện”2
- Các học giả hiện đại cũng cung cấp một loạt các khái niệm về thuế:
Trang 104Nghiêm Đằng: Tài chinh học đại cương, Nxb Sài gòn, năm 1964.
5Phan Thi Cúc, Trần Phước, Nguyễn Thị Mỹ Linh: Giáo trình thuế, Nxb Thống Kê, năm 2007, trang 11.
Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hưởng để xuất
+ E.RA Seligman định nghĩa “Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người
cho Chính phủ vì quyền lợi chung, không căn cứ vào các lợi riêng được hưởng”3
+ Giáo sư Nghiêm Đằng cho rằng “Thuế là sự cung cấp tiền tài trực tiếp, đòihỏi ở các công dân bằng phưomg pháp quyền lực để tài trợ các gánh nặng công cộng -
sự cung cấp này có tính chất chung cục và không có đối giá”4
+ Karl Marx (1818 - 1883) quan niệm “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhànước, đó là khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng Nhà nước pháp quyền.Thuế là nguồn sống đối với Nhà nước hành pháp Chính phủ mạnh và thuế cao là haikhái niệm đồng nhất” Do vậy, Thuế gắn liền với Nhà nước và đảm bảo sự tồn tại của
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ
do pháp luật quy định cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội nộp cho Nhà nước bằngmột phàn thu nhập của mình nhằm tập trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hộivào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thích ứng vớitừng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế xã hội5
1.1.1.2 Lược sử pháp lý vế thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng: Sự ra đời của thuế
là một tất yếu khách quan, gắn liền với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển củaNhà nước, mỗi Nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ
cụ thể khác nhau Thật vậy, thời nguyên thủy con người sống chung với nhau, làmchung, ăn chung và ở chung Lúc bấy giờ sản phẩm do mỗi cá nhân tạo ra chỉ vừa đủtiêu dùng thậm chí thiếu hụt Vì thế, họ liên kết với nhau một cách bình đẳng, tự phát
và không ai cai quản ai nên không cần đóng góp cho ai cái gì Cùng với sự cải tiếncông cụ lao động, của cải vật chất làm ra ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu cuộc sống
và có dư, dẫn đến Nhà nước ra đời, phục vụ cho giai cấp thống trị Điều đó cũng kéotheo sự ra đời của các cơ quan chức năng, cơ quan quyền lực, các công cụ thực hiệnquyền lực Nhà nước Các cơ quan và công cụ này không tự tạo ra nguồn của cải vậtchất cung ứng cho chính sự tồn tại và phát triển của bản thân, mà chúng trông chờ vào
sự đóng góp của toàn thể công dân Bằng sức mạnh quyền lực, Nhà nước bắt buộc mọi
Trang 116Nguyễn Hồng Thắng: Thuế, Nxb Thống Kê, năm 1998, trang 5.
công dân phải chuyển một phần tài sản của minh vào Ngân sách Nhà nước, khôngđược phép từ chối, một phần tài sản mà người dân chuyển vào Ngân sách nhằm tạonguồn vật chất cung ứng cho mọi hoạt động của Nhà nước gọi là thuế6 Thuế gắn liềnvới Nhà nước, do Nhà nước định ra và được sử dụng theo các mục tiêu của Nhà nước
Do vậy, bản chất của thuế do bản chất của Nhà nước quy định, thể hiện qua các giaiđoạn sau:
+ Trong khoảng thời gian dài của lịch sử, từ đầu chế độ Chiếm hữu nô lệ đếnđàu chế độ Tư bản chủ nghĩa, Nhà nước sử dụng số thuế thu được phục vụ chủ yếu chocác mục đích phi kinh tế: xây dựng thành lũy, đào hào, đắp các tuyến phòng thủ trongchiến tranh, đúc, rèn vũ khí, áo giáp Như vậy, trong khoảng thời gian này, thuế đóngvai trò là công cụ tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước phục vụ mục đích phi kinhtế
+ Khi xã hội loài người chuyển lên hình thái kinh tế - xã hội Tư bản chủ nghĩa,kéo theo là hàng loạt những biến đổi cơ bản, sâu sắc về kinh tế - xã hội, Nhà nước bắtđàu ý thức được vai trò của minh đối với sự vận hành của nền kinh tế Từ đó, Nhànước ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào các tiến trình kinh tế của quốcgia, thể hiện, Nhà nước không còn chỉ giữ vai trò là người trọng tài tối cao đối với mọihoạt động của xã hội Thay vào đó, Nhà nước trực tiếp tham gia thực hiện và điềukhiển kinh tế vĩ mô bằng cách bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp Nhà nước (stateenterprise), tài trợ các doanh nghiệp không thuộc Nhà nước thông qua hệ thống thuế(thuế suất, miễn thuế, giảm thuế), đầu tư vào cơ sở hạ tầng nền kinh tế (hệ thống phát
và truyền tải điện, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thốnggiao lưu công cộng ), cơ sở hạ tầng xã hội (bệnh viện, trường học ) Tất cả nhữnghoạt động này đòi hỏi một nguồn vật chất lớn hơn hẳn thời kỳ trước đó, nếu chỉ dựavào những sắc thuế đã có (thuế đánh vào ruộng đất, thuế đánh vào nhân thân ) thìkhông đủ và kém nhân đạo nên Nhà nước mở rộng nguồn thu bằng cách đặt thêmnhiều sắc thuế nhằm vào nhiều loại hĩnh kinh tế - xã hội khác nhau Với hệ thống thuếsuất đa dạng, linh hoạt khiến thuế tinh xảo và tế nhị hơn vừa mang lại một nguồn thudồi dào cho Ngân sách Nhà nước vừa thực hiện được mục tiêu kích thích tăng trưởngkinh tế
+ Hơn thế nữa, khi quyền lực tối cao trong xã hội dần dần chuyển sang tay dânchúng (chế độ dân chủ), công bằng xã hội ngày càng được đặt ra như một nhu cầu bứcxúc, thì đòi hỏi Nhà nước phải hướng hoạt động của mình vào sự phát triển toàn diệncủa dân chúng, phải quan tâm thiết thực đến những người có thu nhập thấp, người thấtnghiệp, người già, trẻ em không nơi nương tựa bằng cách “san sẻ” bớt phần nào thunhập của những người giàu, phần nào lợi tức của các công ty thông qua thuế trực thu
Trang 127Phan Thị Cúc, Trần Phước, Nguyễn Thị Mỹ Linh: Giáo trình thuế, Nxb Thống Kê, năm 2007, hang 9.
8 Phan Hiển Minh, Nguyễn Ngọc Thanh, Châu Thành Nghĩa: Giáo trình Thuế thực hành, Nxb Thống kê, năm
2001, trang 1-10.
(thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp) hoặc thông qua thuế gián thu
(thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu ), Nhà nuớc
chuyển chúng về Ngân sách của mình để chi dùng cho các mục tiêu xã hội Một mặt,
thuế không hạn chế ý chí làm giàu của cá nhân - động lực thúc đẩy xã hội phát triển,
mặt khác, thuế góp phần gia tăng lượng thu nhập quốc dân tập trung vào tay Nhà nước,
cuối cùng vẫn giữ được tính nhân đạo
Cỏ thể khẳng định rằng: Sự phát triển của thuế đi đôi với sự phát triển của xãhội, xã hội càng văn minh thuế càng phát triển, ý niệm về thuế càng trở nên hết sức tự
nhiên Chính vì thế K.Marx đã viết: “Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm
đồng nhất”7
1.1.1.3 Lược sử phát triển của hệ thống pháp luật về thuế ở Việt Nam 8
Ở nước ta, thuế đã được hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thế kỷ XI, đời
vua Trần Thái Tông (1225 - 1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách
có tổ chức, quy cũ và có hệ thống Hệ thống pháp luật về thuế ở nước ta có thể chia
thành các giai đoạn sau:
♦ Từ thời nhà Trần đến nửa cuối thế kỷ IX
Vào thời nhà Trần, sử sách ghi nhận có 2 loại thuế chính được áp dụng là thuếthân và thuế điền
- Thuế thân: Phụ thuộc vào diện tích ruộng Ai có một, hai mẫu ruộng thì phảiđóng một năm, một quan tiền; ai có bốn mẫu thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên
thì đóng ba quan; ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế
- Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc
+ Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng 100 thăng thóc;
+ Ruộng công được chia ra làm hai loại:
• Đối với ruộng quốc khố: hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch (80thăng), hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng ba mỗi mẫu 3 thạch;
• Đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗimẫu đánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1thạch
+ Đối với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế;
+ Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền
Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng
kể, đến thời nhà Hồ, nhà Lê, bên cạnh việc quy định lại ngạch thuế, Nhà nước còn đặt
thêm thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm
Trang 13Đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước bị chia cắt làm hai miền Nam,Bắc Ở miền Bắc, ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, chúa Trịnh còn đặt rathêm thuế tuần ty (đánh vào thuyền buôn), thuế muối, thuế thổ sản Ở miền Nam, bêncạnh thuế điền, thuế mỏ chúa Nguyễn còn đặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng đánhvào các tàu buôn nước ngoài cập bến và rời khỏi cảng nước ta.
Vào thời nhà Nguyễn, song song với việc quy định lại các loại thuế đinh, thuếđiền, vua Gia Long còn đặt ra các loại thuế mới như thuế sản vật (đánh vào việc khaithác quế ở rừng), thuế yến (đánh và việc khai thác yến sào), thuế hương liệu, thuế đánhvào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán, thuế mỏ
Chế độ thuế có từ thời vua Gia Long tiếp tục được duy trì đến thời vua Tự Đức
và ngày càng thể hiện tính chất phản động với việc có thêm loại thuế nha phiến đánhvào việc bán thuốc phiện
Sử sách đã ghi nhận một số triều đại được coi là tiến bộ như Lý, Trần, Lê Sơ,ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa
có bản sắc dân tộc còn theo đuổi một số chính sách thuế họp lòng dân, nêu được cácmẫu mực về việc sử dụng chi tiêu công theo quan điểm phục vụ quốc kế dân sinh, íchnước lợi nhà
Nhìn chung, hệ thống thuế trong các triều đại phong kiến ở nước ta có đặc điểmchung là thiếu những chuẩn mực về đạo lý và pháp lý cần thiết, đáp ứng về cơ bản vàlâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân Việc thu thuế và sử dụng công quỹ trong rấtnhiều trường hợp lại do các bậc Vua chúa toàn quyền quyết định không phải dựa trêncác quy định của pháp luật mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi thất thườngcủa minh Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình trạng
“phép vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các địa phương mà hậu quả tất yếu
là “đẻ” ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lóp quan lại nhũng nhiễu nhân dân tronghàng ngàn năm qua Kết cục bi thảm nhưng đầy lô-gíc đã xảy ra như là một tất yếulịch sử không thể đảo ngược: chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, để lạimột đất nước kém phát triển rơi vào sự thống trị của Chủ nghĩa thực dân Pháp
♦ Thời Pháp thuộc (1858 - 1945)
Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX không nằmngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải thuộc địa Dưới thời Pháp thuộc, thuế đượchuy động vào hệ thống Ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng, nấc nhưng chúng khôngđược chuyển thành nguồn tài trợ cho sự phát triển xã hội mà lại được chuyển về chínhquốc, theo đứng mục tiêu của Chủ nghĩa thực dân Hệ thống Ngân sách của Nhà nướcthuộc địa bao gồm:
- Ngân sách Đông Dương và các Ngân sách phụ thuộc của nó là Ngân sách đặcbiệt về tiền vay nợ và Ngân sách riêng của sở hỏa xa
Trang 14- Ngân sách các xứ bên trong liên bang như Bắc kỳ, Trưng kỳ, Nam kỳ, CaoMiên, Ai Lao và Quảng Châu Văn (một vùng đất Trung Quốc dưới quyền ủy trị củaPháp trong 99 năm).
- Ngân sách các tỉnh và thành phố
- Ngân sách xã ở các làng
Trên thực tế, một hệ thống Ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ thốngcực kỳ phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét nhưng chính nó đã tạo tiền đề quantrọng dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, chấm dứt ách đô hộ của chế độthực dân Pháp trong gần 100 năm
♦ Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975 (ở miền Bắc)
+ Thòi kỳ từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954
Sau khi giành được chính quyền, Chính phủ ta chủ trương một số biện phápnhư bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý, miễn thuếđiền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc, đình chỉ thu thuế ởmiền Nam (Nam trung bộ và Nam bộ)
Sau năm 1946, khi đã ổn định được tình hình, Nhà nước một mặt, bắt đầu cảitiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế, mặt khác, vẫn tiếp tục đưa vào nhữngđóng góp mới như Quỹ “Tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ “Công lương” năm
1950 và bắt đầu chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật (thóc, gạo) như Quỹ
“Công lương” và thuế điền thổ Ngoài ra, Chính phủ cũng động viên nhân dân choNhà nước vay dưới các hình thức công phiếu và công trái
Đen năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính Nhà nước, Chínhphủ còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc công bằng,thích hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách thuếthống nhất gồm 7 thứ thuế là thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hànghóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem, trong đó, thuế nôngnghiệp giữ vai trò quan trọng Tuy vậy, các loại thuế này vẫn chưa được cấu trúc thànhmột hệ thống hoàn chỉnh và cũng chưa có tác dụng đáng kể đến việc thúc đẩy pháttriển kinh tế
+ Từ năm 1954 đến năm 1975
Đây là thời kỳ mà đất nước đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới, mộtmặt, Việt Nam đẵ đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn,mặt khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Genève, Chính phủ lần lượt ban hànhcác loại thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các loại thuế đã ban hành từ năm 1951 ởvùng tự do cũ để áp dụng thống nhất Trong thời kỳ cải tạo Xã hội chủ nghĩa, thuếcông thương nghiệp được sửa đổi đáng kể, từ một hệ thống thuế suất tương đối ítchuyển sang một hệ thống với nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều
Trang 15khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khácnhau (cả thuế suất theo tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố định) có sự phân biệtgiữa các ngành, nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân vànhiều biện pháp ưu đãi khác nhau.
Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã áp dụng thíđiểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêngcho từng mặt hàng tuỳ theo giá cả Nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất Năm
1962, Nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp,theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vàoNgân sách Nhà nước, phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xínghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đàu tư một phàn vào việc kiến thiết cơ bản mởrộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các xí nghiệp, công ty hợp danh trongthời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như các xínghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phảinộp thuế như trước Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước
♦ Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990
Thòi kỳ 1975 - 1980: Trong thời kỳ này, miền Bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ
thống thu và thuế cũ, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn ở miền Nam ápdụng một số thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số sắc thuế phảntiến bộ và có sửa đổi, bổ sung để thích ứng với điều kiện cả nước thống nhất
Thời kỳ 1980 - 1990: Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống thu và thuế
thống nhất nhưng hệ thống thuế trong thời điểm này ngày càng tỏ ra có nhiều nhượcđiểm, cản trở sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thị trường đang nảy sinh với cácđặc điểm:
- Sự phân biệt đối xử giữa các thành phẩn kinh tế Xí nghiệp quốc doanh thì
thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng với các hình thức thukhác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chịu sự tácđộng của thuế
- Thu quốc doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản về thực chất, đây là
một loại thuế đa thuế suất, lên tới hàng trăm thuế suất, điều này đặc biệt gây khó khăncho việc quản lý và hành thu
♦ Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệthống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mớiđược hình thành bao gồm hệ thống pháp luật về thuế và hệ thống quản lý thuế Giaiđoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước
Trang 16đến nay, bao gồm 9 sắc thuế: thuế nông nghiệp; thuế doanh thu; thuế tiêu thụ đặc biệt;thuế lợi tức; thuế xuất, nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch); thuế tài nguyên; thuếthu nhập; thuế nhà đất; thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn Ngân sách Nhànuớc), ngoài ra còn một số phí và lệ phí.
Hiện nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung trong khuôn khổ cuộc cải cáchthuế buớc 2 (buớc 1 được tiến hành từ giữa những năm 80 đến năm 2000) hệ thốngpháp luật về thuế ở nước ta bao gồm:
1 Luật thuế Sử dụng đất nông nghiệp 1993 (có hiệu lực 01.01.1994)
2 Luật thuế Xuất khẩu, nhập khẩu 2005 (có hiệu lực 01.01.2006)
3 Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007 (có hiệu lực 01.01.2009)
4 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 (có hiệu lực 01.01.2009)
5 Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt 2008 (có hiệu lực 01.04.2009)
6 Luật thuế Giá trị gia tăng 2008 (có hiệu lực 01.01.2009)
7 Luật thuế Tài nguyên 2009 (có hiệu lực 01.07.2010)
8 Luật thuế Bảo vệ môi trường 2010 (có hiệu lực 01.01.2012)
9 Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp 2010 (có hiệu lực 01.01.2012)
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế trên cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiềutrong số đó bắt nguồn từ quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ
vĩ mô của Nhà nước, cụ thể là:
+ Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khácchậm đổi mới, chưa thích ứng kịp thời nên làm giảm hiệu quả của chính sách thuế mớiban hành
+ Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồngchéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn hoặc làm cho thuế có cáctác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế
+ Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kếthợp với các chính sách đầu tư, thương mại không đúng đắn đã làm cho môi trườngkinh doanh trở nên thiếu lành mạnh
+ Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tínhtrung lập của thuế
+ Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độtừng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung
+ Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảmbảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực
+ Trong thòi gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõràng
1.1.2 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân
Trang 171.1.2.1 Khải niệm, đặc điểm
Khái niệm: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, chủ yếu đánh vào thu
nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của
cá nhân vào Ngân sách Nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay khôngthu thuế đối với những khoản thu nhập từ kinh doanh, đàu tư
+ Thực hiện công bằng xã hội: với thuế suất lũy tiến từng phần cá nhân có thunhập đến mức chịu thuế mới nộp thuế và thu nhập càng cao thì thuế suất càng cao đãgóp phần thực hiện công bằng xã hội theo chiều dọc lẫn chiều ngang
+ Tạo lập nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước: thuế thu nhập cá nhân códiện chịu thuế rộng, cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của cá nhân trong xã hộingày càng tăng và khả năng huy động thuế ngày càng lớn Ngoài ra, thuế thu nhập cánhân còn quản lý thu nhập ngầm của cá nhân góp phần phòng chống các tội phạm xãhội
+ Điều tiết vĩ mô nền kinh tế: thông qua thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước cóthể khuyến khích cá nhân làm việc hay nghỉ ngơi bằng cách thu hay không thu thuếđối với những khoản thu nhập nhất định
Đặc điểm: Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau:
+ Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhậpcủa mỗi cá nhân Do đó, nó phản ảnh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật
và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người chịu thuế thu nhập cá nhân không
có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thờiđiểm đánh thuế
+ Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:một là, đối tượng đánh thuế thu nhập cá nhân là toàn bộ các khoản thu nhập của cánhân thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trongnước hay ở nước ngoài; hai là, đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân làtoàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và nhữngngười nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày cómặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân
+ Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế thunhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc giacho dù quốc gia đỏ cỏ mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây dựng một chính sáchthuế có tính trung lập không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau Thể hiện, nó luôn quyđịnh loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế thu nhập cá nhân như thu nhậpmang tính ừợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình ngườinộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội
Trang 18+ Nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉngơi thông qua biểu thuế Ví dụ như, Nhà nước có thể khuyến khích người lao độnglảm thêm giờ, tăng thu nhập bằng cách đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế lên khoảnthu nhập tăng thêm do làm thêm giờ hoặc có thể khuyến khích nghỉ ngơi bằng cáchđánh thuế nặng lên khoản thu nhập này Nhà nước cũng có thể khuyến khích ngườidân đàu tư hay không đàu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuếhay không đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiếtkiệm.
+ Thuế thu nhập cá nhân có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diệnđánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể và
áp dụng phương pháp luỹ tiến nhằm đảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập caohơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người
có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế
1.1.2.2 Lược sử hình thành và phát triển thuế thu nhập cả nhân ở Việt Nam
Thời kỳ trước 1990, nguồn thu Ngân sách Nhà nước ở nước ta chủ yếu từ kinh
tế quốc doanh được thực hiện dưới hình thức thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận.Thuế chỉ áp dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh với một số sắc thuế như thuế nôngnghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế môn bài Vì vậy, ở thời kỳ này, vai trò củathuế rất hạn chế ừên cả phương diện huy động nguồn lực cho Ngân sách Nhà nước vàđiều tiết vĩ mô nền kinh tế Rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của các nước Đông Âu, cùngvới công cuộc đổi mới nền kinh tế, Nhà nước ta quyết định cải cách hệ thống thuế đểthuế trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước và là công cụ hữu hiệu đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế, do đó, cần thiết phải ban hành một chế độ thuế thu nhập cánhân hợp lý Ngày 27 tháng 12 năm 1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh vềthuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01tháng 4 năm 1991 Qua quá trình tổ chức thực hiện, Pháp lệnh về thuế Thu nhập đốivới người cỏ thu nhập cao được Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiềulần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001, 2004 Ngày 21 tháng 11 năm 2007,Quốc hội đã ban hành Luật thuế Thu nhập cá nhân Luật này có hiệu lực từ ngày 01tháng 01 năm 2009 Có thể nói, việc ban hành Luật thuế Thu nhập cá nhân khẳng địnhmột bước phát triển của hệ thống pháp luật thuế Việt Nam
1.1.3 Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.3.1 Khải niệm, đặc điểm
Khái niệm: Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh trên phần thu
nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào Ngân sáchNhà nước Thuế thu nhập doanh nghiệp được tồn tại như một thực tế khách quan bởi:
Trang 19+ Thuế thu nhập doanh nghiệp đuợc xem là thuế bổ sung hay loại thuế thutruớc hay loại thuế thu gộp của thuế thu nhập cá nhân nhằm tránh tình trạng thất thuthuế và giảm bớt đầu mối thu.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sắc thuế độc lập, đánh vào một đối tuợngchịu thuế độc lập với các cổ đông Các đom vị thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giống nhưmột đối tượng chịu thuế độc lập
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp là một hình thức bồi hoàn những ưu đãi, lợi thế
mà Nhà nước đã dành cho các doanh nghiệp như cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự bảo vệ vềmặt pháp lý, chính sách hỗ trợ phát triển của Nhà nước về vốn, kỹ thuật, công nghệ
Đặc điểm: Thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
- Ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp dễthu hơn so với thuế thu nhập cá nhân, việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp có thểdựa trên hồ sơ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp bao giờ cũng ít hơn sốlượng cá nhân trong quốc gia nên dễ quản lý Ở các quốc gia phát triển, thuế thu nhậpdoanh nghiệp được xem như là một loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân Ởcác quốc gia này, doanh nghiệp hầu hết là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phầnnên người chịu thuế thực tế là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc cổ đông công ty cổphần, bởi lẽ, những người này chỉ nhận được lợi tức từ hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước.Khoản lợi tức nhận được từ thu nhập của doanh nghiệp sẽ được tính vào thu nhập chịuthuế thu nhập cá nhân Do đó, để giảm tình trạng thuế chồng thuế, các quốc gia có thểcho phép khấu trừ phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã đóng hoặc đánh thuế thu nhập
cá nhân trên phần lợi tức này ở mức thuế suất thấp
- Thuế thu nhập doanh nghiệp được xem là thuế trực thu nhưng đôi khi đốitượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp có thể chuyển gánh nặng về thuế cho các đốitượng khác Trong một số trường họp, đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp cóthể chuyển cho cổ đông, cho người tiêu dùng hoặc cho cả người lao động trong doanhnghiệp
- Nguồn của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp có thể là Luật Quốc tế.Bởi lẽ, quá trình tự do hoá hoạt động đầu tư quốc tế đã làm cho hoạt động của cácdoanh nghiệp vượt ra khỏi biên giới quốc gia, việc phân định quyền đánh thuế, trở nêncần thiết và các quốc gia có xu hướng họp tác với nhau để phân định quyền đánh thuế
và giảm tình ừạng đánh chồng thuế và trốn thuế
1.1.3.2 Lược sử hình thành và phát triển thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong thòi Pháp thuộc, hệ thống thuế ở nước ta không có thuế thu nhập doanhnghiệp, Nhà nước Pháp đánh nhiều loại thuế khác nhau lên các loại hình kinh doanhhàng hoá của các cá nhân, tổ chức Các loại thuế phổ biến ở thời bấy giờ là thuế rượu,
Trang 209 Giáo trình chinh trị công, Đại học luật Khoa Sài Gòn, năm 1972, hang 24.
10 Ngo Dinh Quang, Nguyên Tien Dung: Tax ReỊorms in Vietnam, Vietnam Investment Joumal, nguồn: http://.
giúp đỡ của Mỹ bắt đầu xây dụng nền kinh tế thị trường
Theo Taylor, ở miền Nam Việt Nam vào những năm 1960 cá nhân và doanhnghiệp cỏ thu nhập từ kinh doanh đều phải nộp thuế lợi tức (trừ những khoản thu nhập
từ chứng khoán và lợi nhuận từ tài sản), cơ sở kinh doanh là công ty thì phải nộp thuế
ở mức thuế suất là 16%, còn cơ sở kinh doanh không phải là công ty thì nộp thuế ở
mức thuế là 24% Miền Nam Việt Nam cũng đã tiến hành cải cách hệ thống thuế
Ngân hàng thế giới và chính phủ Mỹ đã tư vấn, hỗ trợ cho quá trình cải cách này9
Luật thuế thu nhập năm 1971 đã được ban hành và có nhiều điểm tương đồng với Bộ
luật thu nhập nội địa của Mỹ, thế nhưng, Luật này không có cơ hội được áp dụng
nhiều
Ở miền Bắc, không có một loại thuế nào đánh lên lợi nhuận của doanh nghiệp
Giống như ở các nước Đông Ầu cũ, doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỉ lệ lớn trong
nền kinh tế Doanh nghiệp Nhà nước nhận kinh phí để hoạt động sản xuất và lợi nhuận
thu được sẽ nộp về cho Nhà nước Người lao động trong các doanh nghiệp này được
hưởng lương như công chức Nhà nước Nguồn thu từ doanh nghiệp quốc doanh là
nguồn thu chính của Ngân sách nội địa Chính phủ cũng đã từng sử dụng thuế như là
công cụ để hạn chế và loại trừ doanh nghiệp tư nhân
Năm 1975, miền Nam và miền Bắc thống nhất, bắt đầu công cuộc xây dựng chế
độ xã hội chủ nghĩa, Chính sách thuế của miền Bắc cũng được áp dụng cho miền Nam
Theo Ngô Đình Quang và Nguyễn Tiến Dũng, hệ thống thuế lúc bấy giờ chỉ có thuế
nông nghiệp, thuế đối với doanh nghiệp Nhà nước và thuế đối với tư nhân10 Tất cả
những loại thuế này dựa trên những vãn bản dưới luật, hệ thống này tồn tại đến cuối
những năm 1980
Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta là kết quả của việc cải cách
hệ thống thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội ừong thời kỳ đổi mới Cùng với các loại thuế khác, pháp luật về thuế đánh
lên thu nhập của doanh nghiệp đã được ban hành Loại thuế đánh lên thu nhập doanh
nghiệp đầu tiên được giới thiệu là thuế lợi tức, được áp dụng đến năm 1999, luật thuế
này cỏ những điều khoản giống như Luật Thuế lợi tức của Trung Quốc Theo như Luật
Thuế lợi tức năm 1990, có nhiều loại thuế, mức thuế đánh lên thu nhập của các doanh
Trang 2111Lê Thị Nguyệt Châu: Giáo trình Luật Tài Chính 2 - (Thuế), Khoa Luật, Đại học cần Thơ, năm 2010, trang
36-37.
nghiệp, tuỳ thuộc vào thành phần kinh tế, ví dụ như, doanh nghiệp Nhà nước chịu mức
thuế khác doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chịu thuế
khác doanh nghiệp cỏ vốn nước ngoài Việc sử dụng chính sách thuế như công cụ kêu
gọi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lại dẫn đến sự đối xử bất bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế, có thời điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ phải nộp thuế
lợi tức với thuế suất 25% (và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài nếu họ chuyển phàn
lợi nhuận này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam) còn doanh nghiệp trong nước phải nộp thuế
đến 45% và có thể còn phải nộp thêm thuế thu nhập bổ sung11
Ngày 10 tháng 5 năm 1997 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp được Quốc hộithông qua và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 thay thế cho
Luật thuế lợi tức
Ngày 17 tháng 6 năm 2003, Quốc hội đã thông qua Luật thuế Thu nhập doanhnghiệp thay thế Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 1997, Luật thuế Thu nhập
doanh nghiệp năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004
Đến ngày 03 tháng 6 năm 2008, Quốc hội thông qua Luật thuế Thu nhập doanhnghiệp sửa đổi, bổ sung năm 2008 và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2009
1.1.4 Những nguyên tắc chung khi xây dựng luật thuế
Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và định hướng phát triển trongtừng thời kỳ mà xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật về thuế Trong hệ thống
pháp luật về thuế đó, Nhà nước đã thiết kế một cơ chế điều tiết, tác động đến kinh tế
-xã hội theo định hướng của Nhà nước, dựa trên những nguyên tắc đảm bảo tính khoa
học để xây dựng được một hệ thống thuế tối ưu Sau đây là các nguyên tắc chung cần
được đảm bảo khi xây dựng một luật thuế:
1.1.4.1 Nguyên tắc công bằng
Tính công bằng là một yêu cầu quan trọng ừong xây dựng luật thuế, thể hiện ởhai mặt: pháp lý và kinh tế Theo các nhà kinh tế, tính công bằng của thuế được xem
xét ở hai giác độ: công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc
+ Công bằng theo chiều ngang là các đối tượng có tình trạng và khả năng nộpthuế ngang nhau thì phải được đối xử về thuế như nhau
+ Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đốitượng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau
Tính công bằng về thuế còn được các nhà kinh tế xem xét ở khía cạnh khả năngđóng thuế và lợi ích của người nộp thuế Theo quan niệm này, người dân chỉ đóng thuế
theo tỉ lệ tương ứng với những lợi ích mà họ nhận được từ Nhà nước và họ chỉ đóng
Trang 2212 Điều 52 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Mọi công dân đều bình đẳng hước pháp luật”.
thuế theo khả năng của họ Xét ở khía cạnh lý luận, những quan điểm này rất hợp lý và
thể hiện giá trị nhân văn cũng nhu dân chủ của chính sách thuế, tránh đuợc tình trạng
tận thu thuế cũng nhu đòi hỏi Nhà nuớc phải chú ý đến việc cung cấp các lợi ích công
cộng tuomg ứng với sự đóng góp của nhân dân về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam
luôn hướng đến nguyên tắc công bằng, bình đắng Nguyên tắc này đã được ghi nhận
tại điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 200112 Theo đó, mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử Nguyên tắc công
bằng này được đảm bảo bằng việc gắn chặt chính sách thuế với chế độ dân chủ và Nhà
nước pháp quyền
1.1.4.2 Nguyên tắc khả thi
Nguyên tắc khả thi rất quan trọng trong việc xây dựng bất kỳ một đạo luật nào
Đối với luật thuế, nguyên tắc khả thi thể hiện ở những điểm sau:
+ Khi xây dựng luật thuế phải tính đến khả năng đóng thuế của người dân để từ
đó đưa ra cách thức điều chỉnh thích hợp Nhà nước không thể bắt người dân đóng
thuế khi họ không có khả năng đóng góp, khả năng đóng góp của người dân thể hiện ở
chỗ họ chỉ phải đóng thuế khi mà thu nhập chịu thuế của họ là khoản thu nhập còn dư
ra sau khi chi cho những nhu cầu cần thiết Nếu thu nhập của họ không vượt quá định
mức này thì họ không phải đóng thuế Bên cạnh đó, khả năng đóng thuế của người dân
còn thể hiện ở chỗ, họ có tiền để đóng thuế hay không, mặc dù, xét về sự giàu có về tài
sản, họ có thể rất giàu Lúc này, Nhà nước phải xem xét có đánh thuế hay không, nếu
đánh thuế thì những người này sẽ làm gì để không phải đóng thuế hoặc phải làm gì để
có tiền đóng thuế, từ đó, đưa ra qui định phù hợp với ý chí của Nhà nước (trong thời
điểm đó)
+ Nguyên tắc khả thi cũng thể hiện ở việc thi hành luật thuế Cơ quan thuế phải
có khả năng xác định đúng đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, số thuế phải thu,
ngoài ra, cơ quan thuế cũng phải có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các trường
hợp trốn thuế, tránh thuế
1.1.4.3 Nguyên tẳc rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu
Đóng thuế là nghĩa vụ của người dân, do đó, người dân có quyền được “hiểu”
pháp luật thuế của Nhà nước Nguyên tắc này đặt ra nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm
thu thuế đối với người nộp thuế, ngăn ngừa hiện tượng tham ô thuế ở cán bộ thuế Hơn
nữa, sự rõ ràng của thuế, xét dưới góc độ hành thu giúp cho người dân nhận thức toàn
diện và chính xác hơn về thuế, từ đó, ý thức về nghĩa vụ thuế của người dân ngày càng
trở nên tự nhiên hơn Việc người dân hiểu được pháp luật thuế sẽ khuyến khích họ
Trang 2313Phạm Văn Khoan: Giảo trình Quản lý tài chinh công, Nxb Tài chính, năm 2007.
chấp hành luật và góp phần hạn chế tình trạng không công bằng trong việc thu và nộpthuế Thông thuờng, nguời dân cần được biết những vấn đề sau:
+ Họ cỏ phải là đối tượng nộp thuế/chịu thuế không?
+ Neu có, họ phải nộp thuế/chịu thuế bao nhiêu?
+ Khi nào thì họ phải nộp thuế/chịu thuế?
+ Chuyện gì sẽ xảy ra khi họ không đóng thuế?
1.1.4.4 Nguyên tẳc ổn định
Nguyên tắc ổn định được hiểu là luật thuế phải được ban hành và thực thi trongthực tiễn trong một khoảng thời gian thích hợp, hạn chế việc sửa đổi, bổ sung thườngxuyên và khi thay đổi phải có kế họach và thời hạn để các đối tượng có liên quanchuẩn bị, sự ổn định của pháp luật thuế là một đòi hỏi chính đáng của người thực hiệnnghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Theo Giáo trình Quản lý tài chính công, sự ổn địnhcủa hệ thống thuế là điều kiện quan trọng để ổn định môi trường đầu tư, kinh doanh,đảm bảo điều kiện để các thể nhân và pháp nhân lựa chọn kinh doanh và quyết địnhhình thức đầu tư, nếu nhà đầu tư không chắc chắn về nghĩa vụ thuế của họ đối với Nhànước thì họ sẽ không thể tính toán chính xác lợi nhuận của họ13 Tính ổn định của phápluật thuế cần được bảo đảm trong việc xác định đối tượng chịu thuế, đối tượng nộpthuế, thuế suất, thời gian nộp thuế, chế tài khỉ vi phạm nghĩa vụ về thuế, v.v
Tuy nhiên, sự không ổn định cũng có điểm tích cực trong việc ngăn ngừa tìnhtrạng trốn thuế và tránh thuế Một số người vì biết rõ những chế tài mà họ sẽ bị ápdụng khi trốn thuế lại trốn thuế vì có thể chế tài quá nhẹ và họ cũng biết rằng khả năngphát hiện hành vi trổn thuế của cơ quan quản lý thuế là không nhiều Ngược lại, sựkhông ổn định của chế tài lại có thể làm cho người ta sợ mà không trốn thuế
1.1.4.5 Nguyên tắc hiệu quả
Nguyên tắc hiệu quả thể hiện trên các mặt sau:
+ Hiệu quả đối với nền kinh tế: một chính sách thuế đúng đắn sẽ điều chỉnh tốc
độ tăng trưởng cao, bền vững và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,ngược lại, một chính sách thuế không phù họp với thực tế và thiếu khoa học sẽ kìmhãm sự phát triển của nền kinh tế
+ Hiệu quả với số thu Ngân sách Nhà nước: chính sách thuế phải bao quát hếtcác nguồn thu, có diện thu rộng, thuế suất điều tiết phù họp với khả năng nộp thuế củacác thành phần kinh tế, làm cho thuế được trang trải họp lý trên mọi đối tượng chịuthuế vừa công bằng hơn vừa tăng thu Ngân sách Nhà nước Tính hiệu quả của thuế cònđược thể hiện là tổng số thuế thu được nhiều nhất, trên cơ sở chi phí trực tiếp của cơquan thuế và chi phí gián tiếp của người nộp thuế là thấp nhất
1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 241.2.1 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ rất cần thiết để Nhà nước kiểm soátthu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội, quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
+ Để kiểm soát thu nhập dân cư, Nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơchế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh và kêkhai nộp thuế thu nhập cá nhân Tuy rằng, việc áp dụng hai cơ chế này vào thời điểmban đầu có thể chưa chính xác nhưng đó sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục
vụ chương trình, mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phùhợp, khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên
+ Vai trò là công cụ thực hiện công bằng xã hội thể hiện ở chỗ trong mỗi quốcgia, thu nhập của cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độlao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tốnói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thunhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàunghèo, bất bình đẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đã dùngnhiều hình thức và biện pháp khác nhau, trong đó, thuế thu nhập cá nhân được xemnhư một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao,đảm bảo công bằng xã hội
+ Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý về thuế thu nhập cá nhân màNhà nước sẽ có giải pháp tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớpdân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó, có tác dụng co hẹp hay kíchthích kinh tế phát triển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế màchính sách thuế thu nhập cá nhân góp phần tác dụng đáng kể
- Thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của Ngânsách Nhà nước Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chínhsách thuế trực thu nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng chính là việc tạo lập vàphát triển nguồn thu vững chắc cho Ngân sách Nhà nước Cùng với xu hướng tăngtrưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu ngườingày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước thông quathuế thu nhập cá nhân sẽ càng tăng và ngày một dồi dào
- Xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân là gópphần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển bềnvững và hội nhập với kinh tế thế giới của nước ta trong giai đoạn hiện nay Việc banhành Luật thuế Thu nhập cá nhân là bước thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng
về lĩnh vực tài chính tiền tệ, đồng thời, là bước đi phù họp với lộ trình cải cách thuếtheo mục tiêu, chiến lược mà Chính phủ đã hoạch định
Trang 251.2.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nuớc thực hiệnviệc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Nhà nuớc sử dụng thuế thu nhậpdoanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập, đảm bảo yêucầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào Ngân sách Nhà nước được công bằng vàhợp lý Mặt khác, các doanh nghiệp thua lỗ ừong sản xuất kinh doanh vừa không phảiđóng thuế thu nhập doanh nghiệp vừa có thể được chuyển lỗ sang các năm sau để có
cơ hội phục hồi và giảm tình trạng phá sản doanh nghiệp
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhànước Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng gồm cá nhân, nhómkinh doanh và các tố chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
có phát sinh thu nhập chịu thuế Một khi nền kinh tế thị trường phát triển, tăng trưởngkinh tế được bảo đảm, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lạinhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước thôngqua thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ ngày càng dồi dào Mặt khác, so với các loại thuếkhác, thuế thu nhập doanh nghiệp dễ thu, ít tốn kém chi phí nên hiệu quả thu cũng caohơn nhiều Ở các nước đang phát triển, tiền thu được từ thuế thu nhập doanh nghiệpnhiều hơn nhiều so với thuế thu nhập cá nhân Còn ở các nước phát triển, mặc dù, thu
từ thuế thu nhập doanh nghiệp ít hơn so với thuế thu nhập cá nhân nhưng thuế thunhập doanh nghiệp giữ vai trò là loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích,thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triểntoàn diện của Nhà nước Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư,kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước ưu tiênkhuyến khích phát triển trong từng giai đoạn nhất định
Trang 261.3 So sánh thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
có tính công bằng hom thuế gián thu Bởi lẽ, phần đóng góp về thuế thường phù hợpvới khả năng của từng đối tượng, thu nhập cao thì nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thìnộp thuế ít, thu nhập chỉ đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu nhập thìkhông phải nộp thuế Do đó, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp cótác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mứcsống của các tầng lớp dân cư Tuy nhiên, tồn tại của thuế trực thu là hạn chế sự cốgắng tăng thu nhập của đối tượng chịu thuế
- Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng chịu thuế
là thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế có những đặc điểm sau:
+ Thu nhập chịu thuế rất đa dạng và mỗi sắc thuế xác định những khoảnthu nhập cụ thể là đối tượng chịu thuế riêng biệt
+ Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập trực tiếp mà đối tượng nộp thuế cóđược bằng chính hành vi của mình làm phát sinh thu nhập
+ Thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, hợp lýđược pháp luật công nhận bằng những hoạt động, những hành vi cụ thể củangười chịu thuế tạo ra
- Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp là hai nguồn thu quantrọng trong tổng thu Ngân sách Nhà nước Hiện nay, do quá trình tự do hóa thưcmgmại đang diễn ra sôi nổi nên nhiều loại thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuếxuất khẩu, nhập khẩu bị giảm nguồn thu đáng kể, do vậy, nguồn thu nội địa ngàycàng trở nên quan ừọng đối với tổng thu Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là nguồn thu từthuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đều được sử dụng nhưmột công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao nănglực hiệu quả xã hội
- Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp được sử dụng như mộtcông cụ trong việc phân phối thu nhập, rút ngắn khoản cách giàu nghèo trong xã hội
1.3.2 Khác nhau
Tiêu chí so Thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 27Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hưởng để xuất
1 Đối tượngnộp thuế
2 Thu nhậpchịu thuế
3 Mục đích
- Cá nhân cư trú, cá nhân không
cư trú theo quy định của phápluật
Gồm: Thu nhập từ kinh doanh,thu nhập từ tiền lương, tiền công,thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập
từ chuyển nhượng vốn, thu nhập
từ chuyển nhượng bất động sản,thu nhập từ trúng thưởng, thunhập từ bản quyền, thu nhập từnhượng quyền thương mại, thunhập từ thừa kế, thu nhập từ quàtặng
- Điều tiết vĩ mô nền kinh tế,kiểm soát thu nhập của các tầnglớp dân cư, thực hiện công bằng
xã hội;
- Thuế TNCN có tính tất yếu gắnvới chính sách xã hội của mỗiquốc gia cho dù quốc gia đó cómục tiêu hoàn thiện chính sáchthuế, xây dựng một chính sáchthuế có tính trung lập khôngnhằm nhiều mục tiêu khác nhau
Thể hiện, nỏ luôn quy định loạitrừ một số khoản thu nhập trướckhi tính thuế TNCN như thunhập mang tính trợ cấp xã hội,
-Tổ chức hoạt động sản xuấtkinh doanh hàng hóa, dịch vụ
có thu nhập chịu thuế (Doanhnghiệp)
Gồm: Thu nhập từ hoạt độngsản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch vụ và thu nhập khác (thunhập từ chuyển nhượng vốn,chuyển nhượng bất động sản,thu nhập từ quyền sở hữu,quyền sử dụng tài sản, từchuyển nhượng, cho thuê, thanh
lý tài sản, từ lãi tiền gửi, chovay vốn, bán ngoại tệ, hoànnhập các khoản dự phòng; thukhoản nợ khó đòi nay đã đòiđược14
- Điều tiết vĩ mô nền kinh tế,đảm bảo công bằng xã hội;
- Khuyến khích, thúc đẩy sảnxuất, kinh doanh theo địnhhướng, kế hoạch, chiến lượccủa Nhà nước;
- Thuế TNDN không được xemxét để giảm trừ các khoản nhưgiảm trừ gia cảnh, bảo hiểm bắtbuộc, trợ cấp xã hội,
Trang 284 Thuế suất
khoản chi cần thiết cho cuộcsống cá nhân, gia đình nguời nộpthuế, khoản chi mang tính nhânđạo xã hội;
- Neu cá nhân, hộ kinh doanhhoạt động kinh doanh bị lỗ thìkhông được chuyển lỗ sang nămsau;
- Thuế thu nhập cá nhân là loạithuế có độ nhạy cảm cao vì nóliên quan trực tiếp đến lợi ích cụthể của người nộp thuế và liênquan đến hầu hết mọi cá nhântrong xã hội
Có sự phân biệt giữa cá nhân cưtrú và cá nhân không cư trú:
+ Cá nhân cư trú: áp dụng cảthuế suất cố định và biểu thuế lũytiến từng phần, dựa trên nguyêntắc khả năng trả thuế và thuế suấtcủa nó nhằm đảm bảo tính côngbằng giữa các đối tượng trả thuế
-Thuế TNDN phụ thuộc vào kếtquả hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp hoặc nhà đầu
tư nên chỉ khi các nhà đầu tưkinh doanh có lợi nhuận mớinộp thuế TNDN Bên cạnh đókhi doanh nghiệp kinh doanh bịthua lỗ, thì những khoản lỗ màdoanh nghiệp chịu sẽ đượcchuyển sang năm sau và đượcchuyển liên tục trong 5 năm;
- Thuế TNDN là loại thuế khấutrừ trước thuế TNCN, thu nhập
mà các cá nhân nhận được từhoạt động đầu tư như lợi tức cổphần, tiền lãi ngân hàng, lợinhuận do góp vốn liên doanh,liên kết là phần thu nhập đượcchia sau khi nộp thuế TNDN
- Mặc dù đều là thuế trực thunhưng thuế thu nhập doanhnghiệp không gây phản ứngmạnh mẽ bằng thuế TNCN
Mức thuế suất áp dụng đối vớiThuế TNDN là 25% hoặc từ32% - 50% phù hợp với từng
dự án từng cơ sở kinh doanh
Trang 29từ kinh doanh) và biểu thuế toànphần với các khoản thu nhậpkhác).
+ Cá nhân không cư trú:
- Căn cứ: là thu nhập tính thuế vàthuế suất (không được xem xétgiảm trừ gia cảnh, bảo hiểm bắtbuộc, chi phí phát sinh để tạo thunhập chịu thuế, chịu thuế ừên thunhập phát sinh tại Việt Nam vớimức thuế suất cố định)
- Phương pháp: số thuế cá nhânphải nộp = thu nhập tính thuế *thuế suất
- Căn cứ tính thuế là Thu nhậptính thuế và thuế suất
- Phương pháp: số thuế DNphải nộp = Thu nhập tính thuế *Thuế suất
1.4 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
1.4.1 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
Xuất phát từ nguồn gốc xuất hiện thuế và vai trò của thuế trong kết cấu nguồnthu Ngân sách, bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn đạt tới số thu từ thuế ngày càngtăng Qua kết quả nghiên cứu về lịch sử phát triển của thuế qua các thời kỳ của cácquốc gia, có thể thấy, nguồn thu từ thuế chiếm phần lớn trong tổng số thu Ngân sáchNhà nước Hệ thống pháp luật thuế đang tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nguồnthu ổn định với tỷ ừọng ngày càng tăng trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước Nguồnthu từ thuế đã góp phàn đảm bảo được nguyên tắc cân đối các khoản thu từ thuế, phí,
Trang 30lệ phí và các khoản thu bắt buộc khác, không những đảm bảo chi trả cho toàn bộ cáckhoản chi thuờng xuyên mà còn đáp ứng được một phần cho chi đầu tư phát triển Tuynhiên, với việc nước ta đã, đang và sẽ thực hiện những cam kết về kinh tế với quốc tếtrong thời gian sắp tới, nguồn thu từ thuế có nguy cơ sẽ bị giảm mạnh Đặc biệt, khiViệt Nam đã là thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO),hàng loạt các loại thuế như thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giátrị gia tăng bị giảm nguồn thu đáng kể Do đó, việc ban hành Luật thuế Thu nhập cánhân năm 2007 và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã góp phần giải quyếtđược khó khăn trên Trước hết, hai luật thuế thu nhập trên đã đảm bảo được nguồn thucho Ngân sách Nhà nước trước tình trạng cắt giảm thuế quan như hiện nay Bên cạnh
đó, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế Thu nhập cá nhân đã có nhiều sửađổi, bổ sung so với trước đây Với việc thay thế Pháp lệnh thuế Thu nhập đối vớingười có thu nhập cao, Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 đã bổ sung thêm nhiềunguồn thu mà trước đó Pháp lệnh chưa điều chỉnh như các khoản thu từ cho vay,chuyển nhượng vốn Đồng thời, việc áp dụng cách tính thuế, và mức thuế suất khácnhau đối với những khoản thu nhập khác nhau như thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từchuyển nhượng vốn đã góp phàn điều tiết họp lý nguồn thu từ cá nhân, doanh nghiệpcho Ngân sách Nhà nước và ngày càng phù họp hơn với thông lệ quốc tế về việc điềutiết thu nhập trong dân cư Riêng đối với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, mặc dù,mức thuế suất áp dụng của Luật này hiện nay là 25%, thấp hơn mức thuế suất tươngứng trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 là 28% nhưng khoản thu được từthuế Thu nhập doanh nghiệp có phần tăng thu hơn so với trước đây15
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh phát triển kinh tế, vận độngmọi công dân thực hiện kinh tế tư nhân, hộ gia đình Do đó, Nhà nước đã đưa ra nhiềuchính sách ưu đãi đàu tư, nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vàonhững ngành, lĩnh vực mà Nhà nước đang cần Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế thunhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải là nguồn thu cơ bản và chủ đạo củaNgân sách, đảm bảo nguồn tài chính dồi dào cho Ngân sách Nhà nước
1.4.2 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần phân bỗ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cẩu kinh tế
Trước hết, ta cần làm rõ khái niệm cơ cấu kinh tế là gì Vì sao nước ta phải thựchiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo Karl Marx (1818 - 1883) cơ cấu kinh tế của xãhội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù họp với quá trình phát triển nhất định củacác lực lượng sản xuất vật chất Đồng thời, Marx cũng nhấn mạnh, khi phân tích cơ
15 Báo cáo ngân sách hàng năm,
http://www.mof.gov.vn/partal/page/partal/mof vn/1351583/2126549/2117088?p pers id=&p íòlder id=15263 855&P recurrent news 1(1=15302815, [Truy cập ngày 25/03/2011].
Trang 31Cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phânchia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấukinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứngcủa chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định họp thành.
Các nhăn tổ ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cẩu kinh tế
%> Nhóm nhăn tổ tác động từ bên trong
+ Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội;
+ Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;
+ Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giaiđơạn nhất định;
+ Cơ chế quản lý ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinhtế
Mọi hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của Nhà nước, song khôngphải Nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các đơn vịkinh tế Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế.Đối với những sản phẩm, ngành, lĩnh vực cần khuyến khích, Nhà nước giảm thuế hoặcquy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao, còn đối với những ngành,nghề, lĩnh vực cần hạn chế, Nhà nước sẽ quy định mức thuế suất cao nhằm hạn chế cácnhả đầu tư, đầu tư phát triển Những ngành, nghề hoặc lĩnh vực không ai muốn đầu tư,sản xuất nhưng sản phẩm của nó lại rất cần cho xã hội thì Nhà nước tự đầu tư, tự tổchức sản xuất Nhà nước cũng có thể khuyến khích lao động chuyển đến các nơi có tàinguyên, có nhu cầu lao động thông qua các chính sách kinh tế - xã hội Ngược lại, khiNhà nước muốn hạn chế tình trạng di dân thì phải đầu tư phát triển các thị xã, thị trấn
để có điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần tương đương như các đô thị lớn
Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ thực hiện được cơ cấu sản xuất, cơ cấu dân
cư, tạo ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập giữa các vùng và giảm bớt khoảngcách giàu nghèo giữa thành thị với nông thôn
%> Nhóm nhân tổ tác động từ bên ngoài
+ Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình
thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
+ Xu thế toàn cầu hoá kinh tế, quốc tế hoá lực lượng sản xuất
Một đất nước muốn phát triển được toàn diện, bền vững phải có một cơ cấukinh tế họp lý, do đỏ, mục tiêu mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới là thu nhậpcủa các chủ thể kinh tế của quốc gia không ngừng tăng lên, rút ngắn khoản cách giàunghèo giữa thành thị và nông thôn, phát triển kinh tế đất nước Muốn làm được điều
đó, Nhà nước phải có nhiều đòn bẩy có hiệu quả để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, trong đó, thuế đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu chuyển dịch cơ
Trang 32Cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đặc biệt là với chính sách củathuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có sự phân biệt theongành, vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngành kinh tế mũinhọn, then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần khuyến khích chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế mà Nhà nước có thể sử dụng đểkhuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thờigian miễn, giảm của thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước có thể khuyến khích cácnhà đầu tư trong nước cũng như nhả đầu tư nước ngoài đầu tư vào những ngành, lĩnhvực, địa bàn ưu đãi đàu tư như các cơ sở mới thành lập, đàu tư ở miền núi, hải đảo vàcác vùng cỏ nhiều khỏ khăn để khuyến khích thực hiện định hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh đó, với chính sách thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước có thể sử dụng đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng cách khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông quaviệc thu hay không thu thuế đối với những khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư Đồng thời, với thuế suất lũy tiến từng phần, cá nhân có thu nhập đến mức chịu thuếmới nộp thuế và thu nhập càng cao thì mức thuế suất áp dụng cũng càng cao, góp phầnđiều tiết thu nhập trong dân cư, hạn chế việc phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Do vậy, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đóng vai trò quantrọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay
1.4.3 Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
1.4.4.1 Sự cần thiết của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phạm vi áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Bắt đầu từ thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật, nền kinh tế thế giới đã có sự chuyển biến sâu sắc, sự áp dụng các thành tựu khoahọc, kỹ thuật là động lực cơ bản làm thay đổi và tăng nhanh năng suất lao động, lựclượng sản xuất ngày càng phát triển và mang tính xã hội hoá cao Các quốc gia đãnhận thức rõ sự phát triển của mỗi dân tộc phải đặt trong sự phát triển chung của thờiđại trong mối quan hệ kinh tế toàn cầu Đầu tư quốc tế là sự di chuyển các phương tiệnđầu tư như tiền vốn, tài sản, kỹ thuật công nghệ từ nước này sang nước khác để kinhdoanh tìm kiếm lợi nhuận Các nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư vào những nơi thuđược nhiều lợi nhuận cũng như có khả năng chiếm lĩnh được thị trường Do đó, chínhsách thuế là một nhân tố quan trọng được các nhà đầu tư quan tâm Bởi lẽ, nghĩa vụ vềthuế của nhà đàu tư không chỉ được qui định bởi chính sách, pháp luật thuế tại quốcgia của họ mà còn được điều chỉnh bởi chính sách, pháp luật thuế của các quốc gia,
Trang 3316 Mục III phần A Thông tư số 133/2004/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2004 hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối vói các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam vói các nước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam.
vùng lãnh thổ mà họ đến đầu tư Như vậy, về mặt pháp lý, nhà đầu tư vừa thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế đối với quốc gia của mình, vừa phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với
quốc gia nơi thực hiện đầu tư, dẫn đến việc các nhà đầu tư phải chịu thuế nhiều lần đối
với một khoản thu nhập Để bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư cũng như phân chia
quyền lợi về thuế giữa các quốc gia liên quan, họ cần có một giải pháp hợp lý để xử lý
vấn đề này Trong bối cảnh đó, Chính phủ các nước thống nhất ký kết Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế đối với thuế đánh vào thu nhập và tài
sản
Hiệp định nhằm không thu thuế trùng đối với thu nhập của nhả đầu tư ở cácquốc gia khác nhau Loại thuế được áp dụng ừong Hiệp định là thuế trực thu như thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Nội dung của Hiệp định tránh đánh
thuế hai lần còn đề cập việc xác định quyền đánh thuế được phân chia giữa hai nước
như thế nào hoặc quyền đánh thuế được dành hoàn toàn cho một trong hai nước (nếu
áp dụng biện pháp miễn thuế) Khi quyền đánh thuế được phân định trong Hiệp định,
hai nước căn cứ vào luật của nước có quyền đánh thuế để xác định chế độ đánh thuế
hên thu nhập đó
1.4.4.2 Các loại thuế áp dụng Hiệp định tránh đảnh thuế hai lần + Thuế thu nhập cá nhân
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp
1.4.4.3 Nguyên tắc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 16
+ Trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định tại Hiệp định và các quy địnhtại luật thuế trong nước, quy định của Hiệp định sẽ được ưu tiên áp dụng
+ Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn so với luậtthuế trong nước Ví dụ, trường hợp tại Hiệp định có các quy định mà theo đó Việt
Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó nhưng Luật thuế Việt Nam
chưa cỏ quy định thu thuế đối với thu nhập đỏ hoặc quy định thu với mức thấp hơn thì
áp dụng theo quy định của Luật thuế Việt Nam
+ Khi Việt Nam thực hiện các quy định tại Hiệp định, vào từng thời điểm nhấtđịnh các từ ngữ chưa được định nghĩa trong Hiệp định sẽ có nghĩa như quy định tại
Luật của Việt Nam theo mục đích thuế tại thời điểm đó, trừ trường họp ngữ cảnh đòi
hỏi có sự giải thích khác
1.4.4.4 Thuế thu nhập cả nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan
hệ với Hiệp định tránh đảnh thuế hai lần
Trang 3418 Điều 2 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008
Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân vá thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hướng để xuất
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần áp dụng cho những đối tượng cư trú tại mộthoặc cả hai nước ký kết Hiệp định Đồng thời, Hiệp định chủ yếu điều chỉnh thuế đánhvào thu nhập Hiện nay, ở Việt Nam, thuế thu nhập bao gồm thuế thu nhập cá nhân vàthuế thu nhập doanh nghiệp Hiệp định chủ yếu quy định về các khoản thu nhập từ:
+ Lợi tức doanh nghiệp;
+ Xí nghiệp liên kết (góp vốn đàu tư);
+ Tiền lãi cổ phần;
+ Tiền lãi cho vay;
+ Hoạt động dịch vụ độc lập của cá nhân;
+ Tiền lưomg, tiền công
Các Hiệp định tránh đánh thuế nhằm loại bỏ hoặc giảm việc đánh thuế hai lànđối với một số khoản thu của đối tượng nộp thuế Việc đánh thuế trùng được xem như
là rào cản thưong mại, là trở ngại đối với tự do hóa giao lưu, họp tác kinh tế Vì vậy,với mục đích là loại bỏ trở ngại trên, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần góp phần thúcđẩy hoạt động đàu tư, trao đổi thưomg mại, kinh tế giữa các nước ký kết
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết được hơn 58 Hiệp định tránh đánh thuế hai lầnvới các nước trên khu vực và thế giới như Ôxtrâylia, Pháp, Thái Lan, Nga, Thụy Điển,Hàn Quốc, Anh, Singapore, Ân Độ, Hung-ga-ri, Ba Lan, Hà Lan, Trung Quốc, ĐanMạch, Nauy, Nhật Bản, Đức, Rumani, Malaixia, Lào, Bỉ, Luc-xam-bua,Udobekixtang, Ucraina, Thụy Sĩ, Mông cổ, Bun-ga-ri, Italia, Belarut, Sec, Canada,Indonexia, Đài Bắc, Angieri, Mianma, Phần Lan, Philippin, Aixolen, CHDCND TriềuTiên, Cu Ba, Pakittang, Bangladet, Tây Ban Nha, Xây-sen, Xri-Lanca, Ai Cập,Brunây, Ai len, Ô-man, Áo, Xlovakia, Venexuela, Ma-rốc, Hồng Kông, Các Tiểuvương quốc Ả-rập Thống nhất, Cata, Co-oet, Ixraen17
1.4.1 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ bồ trợ cho nhau
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đều là thuế trực thu, đánhtrực tiếp vào thu nhập của đối tượng chịu thuế, nhằm điều tiết một phần thu nhập của
cá nhân, doanh nghiệp vào Ngân sách Nhà nước Thuế thu nhập doanh nghiệp có đốitượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập từ hoạtđộng khác của doanh nghiệp18 Trong khi đó, thuế thu nhập cá nhân có đối tượng chịuthuế là thu nhập có được của các cá nhân bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất,kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ
http://www.tapchi thue.com/c32tl3899-cac-nuoc-da-ky-ket-hiep-dinh-ữanh-danh-thue-hai-lan-voi-viet-nam.htm, [Truy cập ngày 25/12/2010]
Trang 3519 Điều 2 Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007
20Alan B.Morrison: Những vẩn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ, Khoa Luật, ừường Đại học New York, Nxb Chính
trị quốc gia, năm 2007, trang 943-959.
chuyển nhượng vốn19 Mỗi sắc thuế đều hướng đến cho mình một đối tượng điều
chỉnh riêng, độc lập với nhau, tuy nhiên, cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập
doanh nghiệp cùng tham gia điều chỉnh đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ
đàu tư vốn và thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân và tổ chức Do đó, giữa hai
sắc thuế đều có mối liên hệ, liên kết với nhau và bổ trợ cho nhau nhằm giúp cả hai
được hoàn chỉnh và thực thi có hiệu quả hom trên thực tế, tránh tình trạng bỏ sót nguồn
thu cho Ngân sách Nhà nước cũng như tránh được tình trạng đánh chồng thuế, đảm
bảo được tính thống nhất cho hệ thống pháp luật về thuế thu nhập (sẽ được trình bày
nhập tương tự như thuế thu nhập Liên bang Tuy nhiên, thuế thu nhập Liên bang là
quan trọng nhất, nó không chỉ ảnh hưởng đến tất cả công dân, người cư trú và doanh
nghiệp Hoa Kỳ, mà còn cả các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ với
Hoa Kỳ Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của mình người viết chủ yếu nêu lên
những quy định pháp luật Liên bang về thuế thu nhập ở Hoa Kỳ
1.5.1.1 Thuế thu nhập Liên bang đổi với cá nhãn ở Hoa Kỳ 20
Đơn vị tính thuế thu nhập là cá nhân Hoa Kỳ không đánh thuế theo đơn vị giađình Một ngoại lệ đối với nguyên tắc này là vợ và chồng được phép kết hợp thu nhập
+ Phúc lợi phụ trợ tư nhân
+ Thu nhập cổ tức và lãi suất, cổ tức bằng tiền hay hiện vật trả trên cổ phầncông ty phải chịu thuế, trừ trường họp công ty không có lãi
Trang 36trị quốc gia, năm 2007, trang 960-971.
Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hưởng để xuất
+ Thu nhập kinh doanh cũng giống như các thu nhập khác, điểm khác nhau làkhoản khấu trừ được phép, thường áp dụng cho tất cả các loại hình kinh doanh, bao
gồm cả doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần hay hợp danh
Các khoản chi được khẩu trừ theo quy định của luật thuế thu nhập Liên bang đổi với cả nhăn ở Hoa Kỳ:
• Chi phí kinh doanh thông thường: được khấu trừ khi tính tổng thu nhập điều
chỉnh bao gồm tiền lưomg, tiền thuê nhà, đồ tiêu hao, lãi suất tiền vay, dịch vụ tiện ích,
quảng cáo Tuy nhiên, doanh nghiệp không được khấu trừ các chi phí bị coi là vi
phạm chính sách công, dù chúng liên quan trực tiếp đến việc kinh doanh
• Khẩu hao: số tiền trả cho tài sản có thời gian hữu dụng trong nhiều năm, được coi là chi phí “vốn cơ bản'” và không được khấu trừ ngay Tuy nhiên, cá nhân và doanh
nghiệp được phép khấu trừ khấu hao hàng năm cho phần giá trị suy giảm của tài sản
kinh doanh hay tài sản tạo thu nhập
• Chi phỉ phát triển: thường được khấu trừ với điều kiện không có tính chất vốn
cơ bản
+ Thu nhập miễn thuế bao gồm: bảo hiểm y tế, phụ trợ tư nhân chủ yếu phục vụchủ sử dụng lao động, nhận tiền vay, khoản thanh toán chuyển giao nhận được từ
chính quyền, quà tặng và nhận thừa kế không tính vào cơ sở chịu thuế của người nhận,
thu nhập hiểu ngầm từ dịch vụ hay sử dụng tài sản
Sau khi tính tổng thu nhập, người nộp thuế được khấu trừ một số chi phí Thuếđược tính trên thu nhập thuần gọi là thu nhập chịu thuế
Thuế suất: hiện nay ở Hoa Kỳ có 5 khung thuế suất từ 15% - 39.6%.
1.5.1.2 Thuế thu nhập Liên bang đổi với công ty ở Hoa Kỳ 21
Không giống như luật thuế thu nhập ở nhiều quốc gia khác trên thế giới quyđịnh thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong một đạo luật riêng
biệt, ở Hoa Kỳ chỉ cỏ một luật thuế thu nhập áp dụng cho cả cá nhân và doanh nghiệp
Theo quy định của luật thuế thu nhập ở Hoa Kỳ thì chỉ có tổ chức kinh tế kinh doanh
thì mới phải nộp thuế thu nhập công ty
Hoa Kỳ có một hệ thống thuế công ty cổ điển, tức là lãi của công ty phải chịuhai lần thuế, một lần ở cấp công ty và một lần ở cấp cổ đông, do đó cần phải xác định
thực tế một thực thể có phải là một công ty chịu thuế hay không Để bị đánh thuế với
tư cách công ty, thực thể đó phải có ít nhất ba trong các đặc điểm sau:
+ Tồn tại liên tục;
+ Quản lý tập trung;
+ Tự do chuyển giao lợi ích;
Trang 3722 http://www.thuvieirphapluat.vn/default.aspx?CT=NW&NĨD=25994 [Truy cập 15/12/2010].
+ Trách nhiệm hữu hạn.
Công ty Hoa Kỳ bị đánh thuế đối với thu nhập toàn cầu là công ty được thànhlập ở Hoa Kỳ, bất kể chúng được hoạt động hay được quản lý ở đâu vấn đề nguồn thunhập không được xét đến
Thuế ở cấp công ty:công ty chịu thuế đối với thu nhập ròng, được tính tưomg tựnhư phưomg pháp tính thu nhập kinh doanh cá nhân
Hiện nay ở Hoa Kỳ cỏ bốn khung thuế suất từl5%-35%
Thành lập công ty:
+ Việc đóng góp tài sản vào công ty thường không phải chịu thuế đối với cổ
đông nếu những người đóng góp chiếm từ 80% cổ phần trở lên và nếu họ nhận lại cổphiếu hay chứng khoán để bù đắp cho tài sản đó Công ty không bao giờ được thừanhận lãi hay lỗ khi nỏ phát hành cổ phiếu
+ Sau khi công ty đã thành lập, việc một cổ đông không có quyền kiểm soátđóng góp tài sản vào công ty được coi là một sự kiện chịu thuế, cổ đông phải thừanhận giá trị lãi hay lỗ bằng chênh lệch giữa giá thị trường công bằng của cổ phiếu nhậnđược với giá trị cơ sở của tài sản
Chia cổ tức:Công ty không được khấu trừ khi chia cổ tức cho cổ đông, đồngthời cổ đông cũng thường phải chịu thuế đối với thu nhập cổ tức nhưng lãi suất màcông ty trả cho người sở hữu trái phiếu lại được khấu trừ Vì vậy, cơ chế này khuyếnkhích đáng kể công ty Hoa Kỳ theo hướng huy động vốn bằng vay nợ hơn là bán cổphần Từng cá nhân cổ đông bị đánh thuế đối với phần cổ tức thông thường được chia,với điều kiện chúng thể hiện thu nhập và lãi của công ty
Công ty mua lại cổ phần của mình:Công ty mua lại cổ phần trong tay cổ đôngcũng bị coi là chia cổ tức hay thu nhập trên vốn và phải chịu thuế
Trả cố tức bằng cố phần:được miễn thuế
Thanh lý:Thanh lý toàn bộ công ty là một sự kiện chịu thuế
Tải tổ chức:cỏ thể thực hiện theo phương thức chịu thuế hay miễn thuế
1.5.2 Trung Quốc
1.5.2.1 Luật thuế Thu nhập cả nhân của Trung Quốc 22
Thuế thu nhập cá nhân là một nguồn thu lớn của Ngân sách Nhà nước TrungQuốc, thuế thu nhập cá nhân có đối tượng chịu thuế tương đối rộng và là một trongnhững loại thuế phức tạp ở Trung Quốc, được phân thành hai nhóm chính sau:
♦ Thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công và thuế thu nhập cá nhân từ kỉnh doanh:
Người nộp thuế: Cá nhân cư trú hoặc không cư trú nếu có mặt tại Trung Quốc
từ một năm trở lên phải đóng thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập toàn cầu; Nếu có
Trang 38(%) Trừ nhanh (nhân dân tệ)
5 Trên 20.000 đến 40.000 nhân dân tệ 25 1.375
6 Trên 40.000 đến 60.000 nhân dân tệ 30 3.375
7 Trên 60.000 đến 80.000 nhân dân tệ 35 6.375
8 Trên 80.000 đến 100.000 nhân dân tệ 40 10.375
Mức Thu nhập chịu thuế hàng tháng Thuế suất
(%) (nhân dân tệ) Trừ nhanh
Công thức tính thuế: Thu nhập chịu thuế hàng tháng = Tổng tiền lương, tiềncông hàng tháng - 800 nhân dân tệ
Thu nhập tính thuế hàng tháng = Thu nhập chịu thuế hàng tháng * Thuế suất Khoản trừ nhanh
-Cá nhân không thường trú ở Trung Quốc nhưng có thu nhập từ tiền lương, tiền côngtại Trung Quốc hoặc cá nhân cư trú tại Trung Quốc nhưng có thu nhập từ tiền lương,tiền công bên ngoài Trung Quốc thì được khấu trừ bổ sung (hiện nay là 3.200 nhân dân
tệ mỗi tháng)
+ Thu nhập từ cá nhân kinh doanh: Đối với cá nhân kinh doanh, khoản thuếphải nộp được tính trên tổng thu nhập kinh doanh hàng năm trừ đi các khoản chi phíliên quan và chuyển lỗ, áp dụng 5 mức thuế suất luỹ tiến như sau:
Trang 39Công thức tính thuế: Thu nhập chịu thuế hàng năm = Tổng thu nhập kinh doanhhàng năm - Chi phí liên quan - Chuyển lỗ.
Thu nhập tính thuế hàng năm = Thu nhập chịu thuế hàng năm * Thuế suất Khoản trừ nhanh
-♦ Quỉ định khác
Thuế thu nhập từ họp tác kinh doanh hoặc cho thuê doanh nghiệp; thuế thunhập từ dịch vụ cá nhân, quyền tác giả, bản quyền, cho thuê tài sản; thuế thu nhập từchuyển nhượng tài sản và các khoản thu nhập được miễn thuế
- Thu nhập từ họp tác kinh doanh hoặc cho thuê doanh nghiệp: thu nhập từ họptác kinh doanh hoặc cho thuê doanh nghiệp được đánh thuế dựa trên chênh lệch giữatổng thu nhập hàng năm trừ đi khoản giảm trừ (hiện nay là 800 nhân dân tệ mỗi tháng)
và áp dụng mức thuế suất như biểu thuế suất áp dụng cho thu nhập của cá nhân kinhdoanh
- Thu nhập từ dịch vụ cá nhân, quyền tác giả, bản quyền, cho thuê tài sản.Khoản thu nhập này được tính cho mỗi lần thanh toán thu nhập như sau:
♦ Neu khoản thu nhập nhỏ hơn hoặc bằng 4.000 nhân dân tệ, thì thu nhập tínhthuế là khoản còn lại sau khi trừ đi 800 nhân dân tệ
♦ Nếu khoản thu nhập lớn hơn 4.000 nhân dân tệ, thì khoản thu nhập tính thuế
là khoản thu nhập còn lại sau khi trừ đi 20% khoản thu nhập này
Thuế suất áp dụng là 20%
Công thức tính thuế như sau: Thu nhập tính thuế = Thu nhập ròng - 800 nhândân tệ ( hoặc 20% thu nhập)
Thuế phải nộp = Thu nhập tính thuế * 20%
- Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản: Thu nhập này được đánh thuế dựa trêngiá chuyển nhượng trừ đi giá vốn của tài sản và trừ đi các chi phí họp lý Thuế suất ápdụng là 20%
Công thức tính thuế như sau: Thu nhập tính thuế = Giá chuyển nhượng - Giávốn - Chi phí
Thuế phải nộp = Thu nhập tính thuế * 20%
Các khoản thu nhập được miễn thuế:
♦ Các giải thưởng về thành tựu trong khoa học, giáo dục, công nghệ, văn hoá,sức khoẻ, bảo vệ môi trường được cấp bởi Chính quyền nhân dân cấp tỉnh, các Bộ và
Uỷ ban trực thuộc Hội đồng Nhà nước, các đơn vị quân đội giải phóng nhân dân TrungHoa cấp binh chủng hoặc cao hơn, các tổ chức nước ngoài và quốc tế;
♦ Tiền lãi tiết kiệm, tiền lãi trái phiếu quốc gia do Bộ Tài chính phát hành vàtiền lãi trái phiếu phát hành được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn;
♦ Các phụ cấp, trợ cấp đặc biệt theo quy định của Hội đồng Nhà nước;
Trang 40Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân vá thuế thu nhập doanh nghiệp - Bất cập và hướng để xuất
♦ Các khoản thanh toán an sinh xã hội;
♦ Tiền bồi thường bảo hiểm;
♦ Tiền thôi việc phục viên của quân nhân;
♦ Tiền định cư, tiền thôi việc và nghỉ hưu của công viên chức theo quy địnhcủa Nhà nước;
♦ Tiền thanh toán bảo hiểm y tế, lưomg hưu theo quy định;
♦ Thu nhập của người làm ừong cơ quan ngoại giao, lãnh sự và cá nhân kháctheo qui định của các luật liên quan;
♦ Các khoản thu nhập miễn thuế quy định theo các Công ước quốc tế mà Chínhphủ Trung Quốc đã ký kết
1.5.2.2 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Trung Quốc 23
Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc làm kinh ngạc cả thế giới, để có
sự phát triển đó, chính sách thuế đóng một vai trò then chốt trong chính sách kinh tế vĩ
mô của Chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp củaTrung quốc Trước ngày 01 tháng 01 năm 2008, tại Trung Quốc có hai loại thuế thunhập doanh nghiệp là thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho doanh nghiệp trongnước và thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vàdoanh nghiệp nước ngoài được thay thế bởi thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thunhập doanh nghiệp được áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Sau đây là một số nội dung cơ bản trong luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp của Trung Quốc:
- Người nộp thuế: Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm doanhnghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp táckinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và các tổ chức khác
- Căn củ tính thuế:Thu nhập toàn cầu của người nộp thuế từ hoạt động sảnxuất, kinh doanh và các nguồn khác đều phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Thuếthu nhập doanh nghiệp được tính trên cơ sở thu nhập chịu thuế, thu nhập chịu thuế làtổng thu nhập trong năm tính thuế trừ đi chi phí được phép ừong cùng năm tính thuế
Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có trụ sở chính tại Trung Quốc thì chịu thuếthu nhập ừên thu nhập toàn cầu Doanh nghiệp nước ngoài chỉ chịu thuế thu nhập trêntrên thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại Trung Quốc Doanh nghiệp nước ngoài không
có cở sở hoặc địa điểm ở Trung Quốc nhưng cỏ thu nhập như lợi nhuận, tiền lãi, tiềnbản quyền và các thu nhập khác phát sinh ở Trung Quốc, thì các khoản thu nhập này bịđánh thuế trên khoản thu nhập ròng
Thuế suất và phương pháp tỉnh thuế: