Đặc điểm và vai trò của họp đồng thương mại điện tử *l* Đặc điểm của hạp đồng thương mại điện tử Họp đồng điện tử cũng là một hình thức của họp đồng, nên ngoài nhữngđặc tính cơ bản cần p
Trang 1Cần Thơ, 11/2010
Trang 2Nhận Xét Của Giảng Viên Hướng Dần
so BO ca
Trang 3so BO ca
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞĐẰU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 3
1.1 Khái quát chung về thương mại điện tử 3
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 3
1.1.2 Quá trình phát triển thương mại điện tử 5
1.1.3 M ột số đặc trưng và bản chất của thương mại điện tử 6
1.1.4 M ột số hình thức chủ yếu của thương mại điện tử 7
1.1.5 V ai trò của thương mại điện tử 10
1.2 Khái quát chung về hợp đồng thương mại điện tử 11
1.2.1 Khái niệm họp đồng thương mại điện tử 11
1.2.1 Đặc điểm và vai trò của họp đồng thương mại điện tử 12
1.2.3 So sánh họp đồng thương mại điện tử và họp đồng truyền thống 16
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 20
2.1 Giao kết họp đồng thương mại điện tử 20
2.1.1 Nguyên tắc giao kết họp đồng thương mại điện tử 20
2.1.2 Quy trình giao kết họp đồng thương mại điện tử 22
2.1.2.1 Đe nghị giao kết họp đồng thương mại điện tử 22
2.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng thương mại điện tử 24
2.1.3 Chủ thể của họp đồng thương mại điện tử 25
2.1.4 Hình thức của họp đồng thương mại điện tử 26
2.1.4 N ội dung của họp đồng thương mại điện tử 28
2.1.6 Chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của họp đồng thương mại điện tử 30
2.1.6.1 Chữ ký điện tử 30
2.1.6.2 Giá trị pháp lý của họp đồng thương mại điện tử 34
2.2 Th ực hiện, sửa đổi và chấm dứt họp đồng thương mại điện tử 36
2.2.1 Thực hiện họp đồng thương mại điện tử 36
Trang 5điện tử 40
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG GIAO KẾT HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 45
3.1 Thực tiễn của việc giao kết họp đồng thương mại điện tử 45
3.1.1 Những kết quả đạt được 45
3.1.2 Những khó khăn, yếu kém 50
3.1.3 Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử 54
3.2 Phương hướng và một số giải pháp 60
3.2.1 Phương hướng chung 60
3.2.2 Một số giải pháp 62
KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
LỜI MỞ ĐẰU soBũcs
Lý do chọn đề tài
❖ Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của công nghệthông tin và thưomg mại điện tử trong mọi mặt của đời sống xã hội Thưomg mạiđiện tử đã và đang là xu hướng mới trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới, màhợp đồng điện tử là nhân tố chủ đạo của hoạt động thưomg mại điện tử, mang đếnnhiều lợi ích cho xã hội và mở ra một xu thế và bước phát triển mới cho các hoạtđộng giao kết họp đồng Phưcmg thức kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệhiện đại và một thị trường mới thị trường điện tử phi biên giới thuận tiện hom, gầnrủi hom về mặt không gian lẫn thời gian với tất cả mọi người đã hình thành và pháttriển
Khi nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu hom vào nền kinh tế thế giới,thưomg mại điện tử và hợp đồng điện tử càng được quan tâm và chú trọng phát triển.Bởi lẽ, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ,đổi mới phưomg thức kinh doanh và phải mở rộng thị trường để có nhiều cơ hội kinhdoanh hom Để đảm bảo cho sự phát triển đó thì hàng loạt các văn bản pháp luật đãđược ban hành nhằm tạo cở sở pháp lý vững chắc cho các cho các giao dịch thươngmại điện tử, mà điểm nhấn là việc ban hành Luật Giao dịch điện tử 2005 đã tạo môitrường thuận lợi hom cho việc giao kết và thực hiện họp đồng điện tử trong hoạtđộng thương mại Nhưng trong thực tiễn việc giao kết và thực hiện họp đồng điện tửcòn khá hạn chế, do sự đàu tư thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực hạnchế về số lượng lẫn trình độ chuyên môn, các quy định của pháp luật về họp đồngđiện tử chưa thật sự phù họp và đi vào thực tiễn là những rào cản cho hoạt độnggiao kết họp đồng điện tử, chưa tạo được lòng tin cho các chủ thể khi muốn thamgia giao kết họp đồng điện tử, vì lẽ đó họp đồng điện tử vẫn còn khá xa lạ tronghoạt động thương mại
Nhận thấy được tầm quan trọng, những lợi ích mà họp đồng điện tử mang lạicho hoạt động thương mại, cho sự phát triển của nền kinh tế và sự cần thiết của hợpđồng điện tử trong nền kinh tế giai đoạn hội nhập Với mong muốn đưa ra những cơ
sở lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về họp đồng điện tử để có thêmnhững cách nhìn từ nhiều góc độ về khung pháp lý họp đồng điện tử của nước ta
hiện nay Đó là lý do mà người viết chọn đề tài “ Một số vấn đề pháp lý về họp đồng thương mại điện tử”.
Trang 7*l* Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu kỹ hơn những quy định của pháp luật
và thực tiễn giao kết, thực hiện hợp đồng điện tử trong hoạt động thương mại ở ViệtNam để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luậtcũng như trong hoạt động giao kết để tìm ra phương hướng hoàn thiện
*l* Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý về họp đồng điện tửtrong hoạt động thương mại, đó là các quy định về trình tự thủ tục ký kết họp đồngđiện tử, về chữ ký điện tử, các quy định về giải quyết tranh chấp trong giao kết hợpđồng điện tử và một số quy định có liên quan Do đây là lĩnh vực tương đối rộngnên người viết chỉ tập trung phân tích những khía cạnh chính yếu của họp đồng điện
tử trong hoạt động thương mại chứ không đi sâu phân tích tất cả các vấn đề về họpđồng điện tử Đề tài chỉ tập trung phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam
về việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử, chủ yếu là Luật Giao dịch điện tử
2005 và một số văn bản pháp luật liên quan
❖ Lý do chọn đề tài Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài người viết đã dùng phương pháp tổng hợp: thu thập tổnghợp tài liệu, phân tích, diễn giải dựa trên các nguồn tài liệu, sách báo có liên quan,người viết tiến hành tổng hợp, hệ thống theo bố cục đề tài và tiến hành phân tích,đánh giá
❖ Lý do chọn đề tài Kết cấu của đề tài
Kết cấu nội dung của đề tài gồm ba chương (không bao gồm phần mở đầu,phàn kết luận, danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1: Một số vấn đề chung về thương mại điện tử và họp đồng thương
mại điện tử.Chương 2: Những quy định của pháp luật về họp đồng thương mại điện tử.Chương 3: Thực trạng giao kết họp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam
và hướng hoàn thiện
Trang 8Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
CHƯƠNG1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
VÀ HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái quát chung về thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là một lĩnh vực tương đối mới mà đặc biệt là ở ViệtNam Ngay đến tên gọi cũng có khá nhiều: có thể gọi là “thương mại trực tuyến”(Online trade), “thương mại điều khiển học” (Cybertrade), “kinh doanh điện tử”(Electronic business), “thương mại không có giấy tờ” (Paperless commerce, hoặcPaper trade) Hiện nay, tên gọi “thương mại điện tử” (Electronic commerce) được
sử dụng rộng rãi nên trở thành quy ước chung, được đưa vào văn bản pháp luật quốc
tế, tuy nhiên các tên gọi khác vẫn có thể dùng và được hiểu với cùng một nội dung
Thương mại điện tử (Electronic Commerce) là quy trình mua bán thông quaviệc truyền dữ liệu giữa các thiết bị truyền tin trong chính sách phân phối của tiếpthị Tại đây một mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp
và khách hàng được tiến hành thông qua việc truyền tin Theo nghĩa rộng, thươngmại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tácgiao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thỏa thuận haycung cấp dịch vụ Thương mại điện tử là hình thái hoạt động thương mại bằng cácphương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phươngtiện công nghệ điện tử mà nói chung là không càn phải in ra giấy trong bất cứ côngđoạn nào của quá trình giao dịch
Hiện nay, định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa
ra song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử Nhìn một cáchtổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm quan điểm:
- Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc muabán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua internet1 vàcác mạng liên thông khác Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), “Thương mạiđiện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm đượcmua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữuhình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạngIntemet” Còn theo ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Họp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC), “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh đượctiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Internet
Trang 9%BB% AD.
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
- Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính vàthương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện
tử và các hoạt động như gửi - rút tiền bằng thẻ tín dụng
+ Luật mẫu về Thương mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về LuậtThương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: “Thuật ngữ thương mại cần đượcdiễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tínhchất thương mại dù có hay không có họp đồng Các quan hệ mang tính thương mạicommercial bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giaodịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đạidiện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các côngtrình; tư vấn, kỹ thuật công trình; đàu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuậnkhai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặckinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không,đường sắt hoặc đường bộ” Theo đó, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mạiđiện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt độngmua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử
+ Còn theo ủy ban châu Âu: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thựchiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý vàtruyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh” Có thể thấy thươngmại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hóa; dịch vụ; giaonhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếuđiện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng;mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bánhàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng)
và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính);các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt độngmới (như siêu thị ảo) Nó không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ theo các hiểuthông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụngthương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.2
Ngày nay khái niệm thương mại điện tử được thừa nhận một cách rộng rãi đólà: thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt động thương mại dựa trên các công
cụ điện tử , đặc biệt là Internet và World Wide Web (WWW)
Trang 10Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
1.1.2 Quá trình phát triển thương mại điện tử
Thuật ngữ “thương mại điện tử” được nói đến rất nhiều và hầu như nhiềungười nghĩ rằng thương mại điện tử là sản phẩm của xã hội hiện đại Tuy nhiên,thương mại điện tử “hình thức kinh doanh được tiến hành bằng cách gửi và nhậnthông điệp qua mạng” đã được biết đến và sử dụng rộng rãi trên thế giới Nhưngthương mại điện tử còn khá là mới và chỉ có bước chuyển mạnh mẽ ở Việt Namtrong những năm hờ lại đây
Đầu những năm 1960, trong khi đang làm việc tại Công ty Du Pont, Edward
A Guilbert đã phát triển một chuẩn dành cho các thông điệp điện tử để gửi thông tinhàng hoá giữa Công ty Du Pont và hãng vận chuyển Chemical Leahman TankLines Năm 1965, hãng vận chuyển Steamship Line (liên doanh giữa một hãng của
Mỹ và một hãng của Hà Lan) bắt đầu gửi cho hãng vận chuyển Atlantic những bản
kê khai chuyển hàng dưới dạng những thông điệp telex (TELegraph Exchange) màsau đó có thể in ra giấy hoặc nhập vào máy tính
Đến năm 1968, rất nhiều các công ty vận chuyển đường sắt, hàng không,đường bộ và vận chuyển đường biển đã sử dụng những chuẩn kê khai điện tử liênngành do Uỷ ban Phối hợp Truyền dữ liệu (Transportation Data CoordinatingCommittee - TDCC) của Mỹ khởi xướng và vào năm 1975, TDCC đã xuất bản tàiliệu đặc tả kỹ thuật thuật trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange - EDI)đàu tiên của mình
Ngành lương thực - thực phẩm bắt đầu một dự án thử nghiệm về trao đổi dữliệu điện tử vào năm 1977 Đến đầu những năm 1980, Tập đoàn ôtô Ford Motor vàTập đoàn ôtô General Motor yêu càu những nhà cung cấp của họ sử dụng trao đổi
dữ liệu điện tử (EDI) Những nhà bán lẻ lớn như Sears, Roebuck và Co và KmartCorp cũng bắt đàu sử dụng EDI
Tuy nhiên, trong khi trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) tiết kiệm cho khách hàngrất nhiều tiền bạc bằng cách loại bỏ tất cả các thủ tục giấy tờ, thì nó lại tỏ ra rất đắtđối với những nhà cung cấp Nó đòi hỏi nhà cung cấp phải sử dụng phần mềm đắttiền và những mạng gia tăng giá trị (VAN) Ngoài ra, những nhà cung cấp thườngphải sử dụng những hệ thống EDI khác nhau cho các khách hàng lớn của mình vìkhông có khách hàng nào hoàn toàn tuân thủ tập chuẩn con EDI bong ngành củaminh Trước tình hình phần lớn khách hàng lớn đều yêu cầu các nhà cung cấp phải
sử dụng EDI, sự lựa chọn trở nên khá đơn giản: Không có EDI, không có doanh thu
Đến năm 1991, khoảng 12.000 doanh nghiệp Mỹ đang sử dụng trao đổi dữliệu điện tử (EDI) Đó cũng là năm chính phủ Mỹ bãi bỏ hạn chế thương mại sửdụng Internet, và là năm Tim Bemers-Lee đã tạo ra trình duyệt web đầu tiên Một
Trang 11kiểu thương mại điện tử mới, từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng, trên web đãbùng nổ.
Năm 1994, trình duyệt Web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ
"cookies"3, những tệp dữ liệu nhỏ được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạođiều kiện cho việc tạo những cửa hàng trên Web có khả năng nhận dạng nhữngkhách hàng, tập hợp dữ liệu về họ và cá nhân hoá việc bán hàng để phủ hợp vớikhách hàng
Trong khi những cửa hàng lớn trên mạng như Amazon.com Inc bán nhữngsản phẩm trực tuyến với giá thoả thuận và không cần phải cất giữ hàng hoá trongkho hàng, những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống lại đổ xô để tạo sự hiệndiện của mình trên web Một cơ sở hạ tàng tổng thể đã phát triển và đủ độ chín để
hỗ trợ những công ty dotcom: United Parcel Service Inc và FedEx Corp., chuyên vềchuyển hàng; một số công ty bên thứ ba cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng, những
hệ thống tiền điện tử và thậm chí American Express Co còn giới thiệu Blue, một
"thẻ thông minh" đặc biệt được thiết kế cho việc mua hàng trên mạng
Internet đã làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử của cácdoanh nghiệp Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều
so với VANs và những người sử dụng EDI ở quy mô lớn đã phát triển những hệthống giao dịch trực tuyến của họ dựa trên Web, dựa trên những ngôn ngữ đánh dấutương thích với Web thay cho những tài liệu EDI cứng nhắc Năm 2001, một phiênbản của XML (Extensible Markup Language - ngôn ngữ đánh dấu mở rộng) đượcthiết kế cho thương mại điện tử, được gọi là ebXML (Electronic business XML), đãchính thức được chuẩn hoá và những người sử dụng ngày nay đang tiến hành kếthợp những yếu tố tốt nhất của EDI và ebXML để tạo ra một loại hình thương mạiđiện tử hoàn hảo hơn.4
1.1.3 Một số đặc trưng và bản chất của thương mại điện tử
Các đặc trưng của thương mại điện tử
3 http://suppart.mozilla.com/vi/kh/cookies
4 http://www.diendantmdt.com/forum/showthread.php ?t=10180
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 12http://vi.wikipedia.arg/wiki/M%E1%BA%A1ng_m%C3%A1y_t%C3%ADnh
6 http://vi.wikipedia.arg/wiki/Th%C6%B0_%C4%91i%E1%BB%87n_t%E1%BB%AD
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
- Trong các hoạt động giao dịch thương mại điện tử điều có sự tham gia ítnhất của ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấpdịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực
- Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phươngtiện trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính làthị trường
♦♦♦ Bản chất của thương mại điện tử
- Thương mại điện tử gồm toàn bộ các chu trình và các hoạt động kinhdoanh của các tổ chức và cá nhân được thực hiện thông qua phương tiện điện tử
- Thương mại điện tử phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc về
cơ sở hạ tàng (bao gồm cơ sở hạ tàng về kinh tế, công nghệ, pháp lý và nguồn nhânlực)
=> Trong thương mại điện tử, bản chất của thông tin không thay đổi Nó chỉbiến đổi cách thức khởi tạo, trao đổi, bảo quản và xử lý thông tin, hoàn toàn khôngthay đổi những chức năng cơ bản của thông tin đối với các bên tham gia truyềnthống của hợp đồng
1.1.4 Một số hình thúc chủ yếu của thương mại điện tử
Thư điện tử
❖ Lý do chọn đề tàiThư điện tử (Electronic mail, viết tắt là e-mail) là một hệ thống chuyển
nhận thư từ qua các mạng máy tính 5 E-mail là một phương tiện thông tin rất nhanh.
Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thôngthường và được chuyển qua các mạng máy tính đặc biệt là mạng Internet Nó có thểchuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùnglúc Cùng với sự phát triển của Công nghệ thông tin thì những tính năng của e-mailngày càng hoàn thiện hơn, e-mail không chỉ đơn thuần là truyền gửi được chữ, nócòn có thể truyền được các dạng thông tin khác như các fĩle chương trình, văn bản,hình ảnh, âm thanh, và được phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong đó cóhoạt động kinh doanh.6 Các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, sử dụng thưđiện tử để gửi thư cho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng Thông tin trongthư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào
♦♦♦ Thanh toán điện tửThanh toán điện tử (Electronic payment) là việc thanh toán tiền thông quabản tin điện tử (Electronic message) thay cho việc giao dịch dùng tiền mặt; như việctrả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ
Trang 13mua hàng, thẻ tín dụng thực chất đều là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sựphát triển của thưomg mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vựcmới.
- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange,gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giaodịch với nhau bằng điện tử
- Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi pháthành (ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự dosang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nướccũng như giữa các quốc gia (Digital cash)
- Túi tiền điện tử (Electronic purse), hay “ví điện tử” là nơi để tiền mặtInternet, chủ yếu là thẻ thông minh (Smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (Storedvalue card), tiền được trả cho bất kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tửtương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Intemet”
- Giao dịch ngân hàng số hóa (Digital banking), giao dịch chứng khoán sốhóa (Digital securities trading) Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một
hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
+ Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng+ Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêuthị, )
+ Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng+ Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác
♦♦♦ Trao đổi dữ liệuTrao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việctrao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (Stuctured form), (có cấu trúc nghĩa làcác thông tin trao đối được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủ theo mộtkhuôn dạng nào đó) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa cáccông ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau, theo cách này sẽ tự động hóahoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người
Theo ủy ban Liên họp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL),việc trao đổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDỊ)
là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khácbằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúcthông tin”
Thương mại điện tử có đặc tính phi biên giới (Cross - border electroniccommerce), về bản chất phi biên giới là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các
Trang 14Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, công việc trao đổi EDI thường là các nộidung sau:
♦♦♦ Bán lẻ hàng hóa hữu hìnhCho đến nay thì danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng từhoa tới quần áo, ôtô, và xuất hiện một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử”(Electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng” Ở một số nước, Internet bắt đầutrở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hóa hữu hình (Retail of tangible goods).Tận dụng tính năng đa phương tiện (Multimedia) của môi trường Web7 và Java8,người bán xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (Virtual shop), là vì cửa hàng cóthật nhưng chúng ta chỉ tham quan cửa hàng và các hàng hóa chứa trong đó trêntừng trang màn hình Để có thể mua - bán hàng, khách hàng tìm trang Web của cửahàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanhtoán điện tử
Ban đầu việc mua - bán còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồi đặthàng thông qua mẫu đơn (Form) cũng đặt ngay trên Web Nhưng có trường hợpmuốn lựa chọn giữa nhiều loại hàng ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửahàng) thì hàng hóa miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác nêngây ra nhiều phiền toái Để khắc phục điều đó đã làm xuất hiện loại phần mềm mớigiúp cho việc mua - bán trở nên thuận tiện hơn Cùng với hàng hóa của cửa hànghên màn hình đã có thêm phần “xe mua hàng” (Shopping cart, Shopping trolly), giỏ
7 http://www.3c com vn/Stary/vn/hotrokhachhang/cauhoithuonggap/intcrnctcoban/2006/12/5354.html#l.
8 http://www.echip.com.vn/echiproot/weblh/suutam/99/thds/javalg.htm
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 15mua hàng (Shopping basket, Shopping bag) giống như giỏ mua hàng hay xe muahàng thật mà người mua thường dùng khi vào cửa hàng, siêu thị Xe và giỏ muahàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này đến trang Webkhác để chọn hàng, khi tìm được hàng vừa ý, người mua ấn phím “Hãy bỏ vào giỏ”( Put in into shopping bag); các xe hay giỏ mua hàng này có nhiệm vụ tự động tínhtiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua Nay, các hãng bánhàng đã chuyển sang hệ thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là “thương điểm điệntử”: Store - front, hay: Store - building) có tính năng cao hơn, cho phép người muagiao tiếp thoải mái hơn nữa với cửa hàng và hàng hoá Vì hàng hóa là hữu hình,nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng theo kiểu truyềnthống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng Điều quan trọng nhất là khách hàng cóthể mua hàng tại nhà (Home shopping) mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.
1.1.5 Vai trò của thương mại điện tử
Thế kỷ 21 đã chứng kiến sự bùng nổ và phát triển vượt bậc của Công nghệthông tin (CNTT) Công nghệ thông tin đang làm thay đổi thế giới và tạo nên mộtcuộc cách mạng thực sự trong mọi lĩnh vực Việc ứng dụng Công nghệ thông tin là
xu thế tất yếu của mọi sự phát triển Và việc ứng dụng Công nghệ thông tin tronghoạt động thương mại hay còn gọi là thương mại điện tử cũng là sự phát triển tấtyếu đó, đã dần thay thế phương thức kinh doanh cũ với nhiều ưu điểm nổi bật nhưnhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian
và thời gian,
Việc ứng dụng thương mại điện tử giúp cho các Doanh nghiệp nắm đượcthông tin phong phú về thị trường và đối tác, nhờ đó có thể xây dựng được các chiếnlược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trongnước, khu vực, và thị trường quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ - động lực phát hiển chủ yếu trong các nền kinh tế hiệnnay; giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng khônggiấy tờ (Paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếmchuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như bỏ hẳn) Điều quanhọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ
có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đưa đến những lợi ích to lớn và lâu dài;làm giảm chi phí bán hàng và tiếp thị, bằng phương tiện Intemet/Web, một nhânviên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, catalo điện tử(Electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật sovới catalo in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời Thông qua internetgiúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao
Trang 16Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
dịch, thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trìnhthương mại, tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa Thương mại điện tử sovới các kênh phân phối truyền thống có các điểm đặc biệt là tính linh hoạt cao độ vềmặt cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn vận tải với các đối tác kinh doanh Các phítổn khác như phí tổn điện thoại và đi lại để tìm kiếm khách hàng hay phí tổn trìnhbày giới thiệu cũng được giảm xuống Các doanh nghiệp và các cá nhân có thể dùngthương mại điện tử để giảm các chi phí giao dịch bằng cách đẩy luồng thông tin vàtăng cường thêm sự phối hợp các hoạt động để giảm bớt tình trạng không rõ ràng.Bằng việc giảm bớt chi phí tìm kiếm thông tin về người kinh doanh, người bán vàtăng số lượng tham gia thị trường, thương mại điện tử có thể thay đổi sự thu hútthống nhất theo chiều thẳng đứng đối với rất nhiều công ty
Hầu như tất cả các doanh nghiệp đều rất quan tâm tới thương mại điện tử đơngiản vì nó có thể giúp họ tăng thêm lợi nhuận qua việc tăng lượng bán và giảm chiphí Quảng cáo tốt trên Web có thể các doanh nghiệp nhỏ quảng bá hình ảnh củacông ty mình tới người tiêu dùng ở mọi quốc gia trên thế giới Chi phí cho việc xử
lý những yêu cầu bán hàng, cung cấp các yêu cầu hỏi về giá cả, và xác nhận các sảnphẩm có sẵn có thể giảm nhờ thương mại điện tử trong hỗ trợ kinh doanh và quátrình đặt hàng của một doanh nghiệp
1.2 Khái quát chung về hợp đồng thương mại điện tử
1.2.1 Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử
Cùng với sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của công nghệ thì thì nhữngquan niệm về hình thái truyền thống của hợp đồng đã dàn thay đổi, các hình thái củahợp đồng ngày càng đa dạng Đặc biệt việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạtđộng thương mại tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cùng với
đó đã hình thành nên phương thức giao dịch mới giao dịch điện tử Với những lợithế nối bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạnbởi không gian và thời gian so với phương thức giao dịch truyền thống Do vậy,giao dịch điện tử ngày càng chiếm ưu thế và được nhiều chủ thể quan tâm, đặc biệt
là các doanh nghiệp với nhiều lợi ích mang lại như đã nói Sự thông dụng của giaodịch điện tử tất yếu hình thành nên hình thức hợp đồng mới “hợp đồng điện tử”(elcetronic contracts) tương ứng Các bên có thể giao kết hợp đồng với nhau thôngqua các phương tiện điện tử mà không phải gặp nhau trực tiếp
Thuật ngữ “hợp đồng điện tử” còn mới khá mới mẽ trong các giao dịch cũngnhư trong sự ghi nhận của các vãn bản pháp luật Luật mẫu về thương mại điện tửcủa ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) năm 1996quy định “Ve hình thức hợp đồng, trừ khi các bên có quy định khác, chào hàng và
Trang 17chấp nhận chào hàng có thể được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu Khi thông điệp
dữ liệu được sử dụng để hình thành hợp đồng, họp đồng đó không bị phủ nhận giátrị pháp lý chỉ vì nó được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu” 9, theo đó “họp đồngđiện tử được hiểu là họp đồng được hình thành thông qua các phương tiện truyền dữliệu điện tử” Họp đồng thương mại điện tử cũng là họp đồng điện tử nhưng nóđược tiến hành trong hoạt động thương mại hay cụ thể hơn là trong hoạt độngthương mại điện tử
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm họp đồng điện tử được ghi nhận cụ thểtrong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 “Họp đồng điện tử là họp đồng được thiếtlập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này”10 Theo đó thông điệp
dữ liệu được hiểu là “thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữbằng phương tiện điện tử (là phương tiện hoạt động dựa hên công nghệ điện, điện
tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệtương tự)”11 và được thể hiện dưới hình thức “trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện
tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác”12
1.2.1 Đặc điểm và vai trò của họp đồng thương mại điện tử
*l* Đặc điểm của hạp đồng thương mại điện tử
Họp đồng điện tử cũng là một hình thức của họp đồng, nên ngoài nhữngđặc tính cơ bản cần phải có của một họp đồng, mặt khác do được giao kết thông quacác phương tiện điện tử nên họp đồng điện tử còn có một số đặc trưng riêng của nó:
- Tính phi biên giới: Trong các giao dịch điện tử có phạm vi trong nướchay quốc tế, trong các giao dịch thương mại được thực hiện bằng việc truyền cácthông tin dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử và mạng thông tin toàn cầu, dovậy khái niệm biên giới không còn ý nghĩa trong các giao dịch điện tử Một thươngnhân hay một cơ quan, tổ chức thậm chí là một cá nhân dù đang ở đâu, ở vào thờiđiểm nào cũng có thể giao dịch với các chủ thể khác mà không có bất kỳ rào cản địa
lý nào Họp đồng điện tử được ký kết thông qua các phương tiện điện tử và mạngviễn thông, điển hình là mạng Internet Chính các công nghệ này mở rộng phạm vi
ký kết họp đồng điện tử ra khắp thế giới Đặc biệt là việc sử dụng mạng Internettrong quá trình ký kết họp đồng đã giúp các bên có thể ký kết họp đồng điện tử vớimọi đối tác từ mọi nơi trên thế giới mà không bị rào cản về biên giới quốc gia hạnchế Do không có rào cản về biên giới nên hoạt động kinh doanh được lợi rất nhiều,
9 Điều 11 Luật mẫu về thương mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) năm 1996.
10 Điều 33 Luật Giao dịch điện tử 2005.
11 Điều 4, khoản 10, khoản 12 Luật Giao dịch điện tử 2005.
12 Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Trang 18Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
tuy nhiên việc xác định địa điểm giao kết hợp đồng sẽ khó khăn hơn hợp đồngtruyền thống, vấn đề này trở nên phức tạp hom trong trường hợp hợp đồng được giaokết với thương nhân nước ngoài, đôi khi việc xác định địa điểm giao kết là khôngthể tiến hành được
- Tính vô hình, phi vật chất: Hợp đồng điện tử, như đã nói ở trên, được tạolập và ký kết bởi các thông điệp dữ liệu Các nội dung của hợp đồng điện tử đượchiển thị bằng các thiết bị điện và điện tử như: máy tính, điện thoại di động, nên hệthống mạng, hệ thống điện phải ổn định và phải có một đội ngũ cán bộ không chỉ
am hiểu về thương mại, về pháp lý mà còn phải giỏi về công nghệ thông tin Hìnhthức của hợp đồng điện tử hoàn toàn khác với hình thức phổ biến của hợp đồngtruyền thống trên giấy Hợp đồng điện tử do các phương tiện điện tử tạo ra, truyềngửi và lưu trữ, cỏ nghĩa là hợp đồng điện tử được giao kết thông qua các phươngtiện điện tử nhờ sự tiến bộ của các công nghệ hiện đại như: công nghệ điện tử, côngnghệ số, mạng viễn thông không dây, mạng Intemet Chính đặc điểm này của hợpđồng điện tử tạo cảm giác hợp đồng điện tử là “ảo”, “phi giấy tờ”, không dễ dàng
“cầm nắm” và “sử dụng” một cách dễ dàng Tuy vậy đặc điểm này cũng mang lạinhiều khó khăn trong việc xác định các vấn đề về bản gốc, chữ ký, về bằng chứngpháp lý của hợp đồng,
- Tính hiện đại chính xác: Việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử dựatrên các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại như: công nghệ điện tử, côngnghệ số, mạng viễn thông không dây, mạng Intemet có độ chính xác cao Việc sửdụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông giúp việc giao kết hợp đồng trởnên thuận tiện, chính xác và nhanh hơn so với việc ký kết hợp đồng truyền thống, cótrường hợp những hợp đồng điện tử được ký kết hoàn toàn tự động giữa một bên làkhách hàng và một bên là doanh nghiệp được đại diện bởi Website bán hàng tựđộng
- Tính rủi ro: Việc giao kết hợp đồng điện tử phụ thuộc vào tính hiện đạicủa công nghệ, của kỹ thuật tin học Bên cạnh sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí do
sử dụng phương tiện điện tử và mạng viễn thông để ký kết hợp đồng điện tử, việc kýkết và thực hiện hợp đồng điện tử cũng gặp phải một số khó khăn do chính nhữngyếu tố này tạo ra Đó là sự trục trặc về mặt kỹ thuật có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, sự
sử dụng kỹ thuật công nghệ chưa thành thạo có thể dẫn đến rủi ro; sự tấn công củahacker có thể tạo ra sự mất an toàn trong công tác bảo mật thông tin của các thươngvụ việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử còn cần phải tuân theo một quy trì nh
và thủ tục đặc biệt nhằm phòng tránh rủi ro do chính yếu tố kỹ thuật đem lại
Trang 19- Pháp luật điều chỉnh: Với tính đặc thù về mặt kỹ thuật công nghệ như đãphân tích, nên pháp luật điều chỉnh về họp đồng điện tử cũng có những điểm khácvới luật điều chỉnh họp đồng truyền thống Pháp luật điều chỉnh về việc giao kếthọp đồng truyền thống không đề cập đến những vấn đề như thông điệp dữ liệu, traođổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử, Do vậy không thể nào áp dụng pháp luật điềuchỉnh các vấn đề về giao kết và thực hiện họp đồng truyền thống để giải quyếtnhững vấn đề phát sinh trong việc giao kết và thực hiện họp đồng điện tử, đom giản
là do những vấn đề này không tồn tại trong giao kết họp đồng truyền thống nhưng làmột phàn quan trọng của họp đồng điện tử Vậy nên vấn đề hoàn thiện pháp luật vềlĩnh vực này là điều cấp thiết, tạo nền tảng vững chắc về cơ sở pháp lý cho sự pháttriển bền vững của thương mại điện tử, đem lại niềm tin cho các chủ thể thực hiệncác giao dịch về họp đồng điện tử, và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinhtrong giao kết họp đồng điện tử
Vai trò của hạp đồng thương mại điện tử
❖ Lý do chọn đề tài
Thông qua thực tiễn của việc giao kết cho ta thấy được vai trò của hợpđồng điện tử, nó đã mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng mà đặc biệt là các nhàkinh doanh, tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia và của
cả thế giới Vai trò của họp đồng điện tử được thể hiện thông qua những lợi ích cụthể mà nó mang lại như:
- Giúp các bên tiết kiệm thời gian đàm phán, giao kết họp đồng Quá trìnhgiao kết họp đồng luôn phải trải qua nhiều công đoạn từ việc tìm đối tác, giới thiệusản phẩm dịch vụ, gửi chào hàng, thỏa thuận các điều khoản họp đồng, ký hợpđồng, sửa đổi, lưu trữ họp đồng, Trước khi có họp đồng điện tử thì những giaiđoạn trên sẽ phải diễn ra bằng phương thức truyền thống, trên giấy tờ do vậy thờigian để hoàn thành một họp đồng về cơ bản là khá dài Đặc biệt là giai đoạn gửichào hàng và trả lời chấp nhận chào hàng mất khá nhiều thời gian Qua các cuộcđiều tra thực tế cho thấy việc giao kết họp đồng điện tử thông qua mạng internet sẽtiết kiệm được 80% thời gian so với việc giao kết họp đồng theo cách truyền thống.Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax, bằngkhoảng 0,5% thời gian giao dịch qua bưu điện.13
- Việc giao kết bằng họp đồng điện tử giúp cho các doanh nghiệp tiết giảmđược chi phí giao dịch, bán hàng Thông qua mạng internet thì các chủ thể kinhdoanh cùng lúc có thể giao dịch với nhiều đối tác và giao kết được nhiều họp đồngtrên thị trường không biên giới, điều mà việc giao kết họp đồng theo phương thứctruyền thống không thể có được Thông qua công cụ thương mại điện tử giúp cho
13 http://www.itgatevn.com vn/?u=nws&su=d&cid=-l&id=2541.
Trang 20Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
các bên mua - bán tiết giảm được đáng kể thời gian và chi phí trong quá trình giaodịch Như đã phân tích bằng hợp đồng điện tử thì thời gian giao kết họp đồng đượcrút ngắn do đó sẽ làm cho các chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch giảmxuống Chi phí giao dịch qua Intemet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua Fax hayqua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Intemet chỉ bằng10% - 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.14 Việc ứng dụng thưomg mạiđiện tử thông qua các công cụ thông tin internet cỏ thể thay thế các cuộc gặp gỡ trựctiếp giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng, mà có thể trao đổi các thông tin, thỏathuận về nội dung họp đồng và tiến hành ký kết bằng các ứng dụng hỗ trợ thông quamạng internet một cách nhanh chóng và cắt giảm một lượng chi phí phát sinh thựctế; mặt khác việc sử dụng họp đồng điện tử sẽ làm giảm chi phí về các giấy tờ liênquan do tất cả thông tin được trao đổi trực tiếp qua mạng máy tính mà không cầnthể hiện bằng bất kỳ hình thức giấy tờ nào Bên cạnh đó việc lưu trữ, bảo quản cáchọp đồng điện tử và các thông tin dữ liệu điện tử sẽ trở nên đom giản, tiện lợi và gọnnhẹ hơn nhiều so với việc lưu trữ chúng trên giấy tờ
- Việc sử dụng họp đồng điện tử sẽ đẩy nhanh tiến độ số hóa đối với việcmua bán một số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Các giao dịch thương mại điện tử cóthể được chia thành hai nhóm cơ bản sau: giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụthông thường và giao dịch mua bán các sản phẩm, dịch vụ số hóa
+ về các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ thông thường Trong
trường họp này, mạng thông tin internet được sử dụng như một công cụ cho cáchoạt động như chào hàng, trả lời chấp nhận, giao kết họp đồng hay cho cả việcthanh toán, nhưng việc giao hàng và cung ứng các dịch vụ vẫn được thực hiện theophương thức truyền thống Các giao dịch có sự tương đồng với phương thức giaodịch truyền thống, các quy trình giao dịch thương mại được phối họp, đan xen giữacác quy trình của phương thức truyền thống và các quy trình giao dịch điện tủ Nótạo ra những ưu điểm và thuận lợi nhất định cho quá trình giao dịch thương mạiđiện tử, mà cụ thể hơn là cho việc giao kết họp đồng điện tử vào giai đoạn chuyểnđổi tù giao dịch thương mại truyền thống sang hình thức giao dịch thương mại điện
tử Nó phù họp với các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để chuyển đổi hoàn toànsang quy trình giao kết thương mại điện tử và các quốc gia đang trong xu thế mởcửa hội nhập kinh tế quốc tế
+ về giao dịch mua bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ số hóa Các
vấn đề về việc giao dịch, giao kết họp đồng, thanh toán và cung ứng hàng hóa, dịch
vụ được thực hiện thông qua việc truyền các thông điệp dữ liệu số hóa, được thực
14 http://www.itgatevn.com vn/?u=nws&su=d&cid=-l&id=2541.
Trang 21hiện theo quy trình thưomg mại điện tử toàn diện Công nghệ thông tin đã và đang đivào các lĩnh vực kinh tế, xã hội và tạo nên một số sản phẩm đặc thù là những sảnphẩm số (Digital Products) nhu: các chuơng trình phần mềm, các website, nhạc,sách điện tử, chúng có thể đuợc giao hàng qua mạng.
- Giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế Trong điều kiện nền kinh tế thế giới phát triển nhanhchỏng và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thế giới ngày càng trở nên gaygắt, việc tìm kiếm thêm nhiều đối tác, thị truờng mới, việc tổ chức các kênh cungứng linh hoạt, nhanh chóng với chi phí giảm và khả năng phản ứng nhanh nhạytrước những thời cơ kinh doanh chính là lợi thế không thể thiếu với những doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển trong thị trường phi biên giới Thương mại điện tử
cụ thể là họp đồng điện tử là chìa khỏa mở ra những cánh cửa đầy cơ hội cũng nhưnhững thách thức giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trongmôi trường của sự hội nhập
1.2.3 So sánh hợp đồng thu'0'ng mại điện tử và họp đồng truyền thống
Như đã biết họp đồng truyền thống là những họp đồng được giao kết theophương thức truyền thống là các bên gặp gỡ trực tiếp thỏa thuận và giao kết hợpđồng trực tiếp bằng văn bản, lời nói hay bằng cả hành vi cụ thể hoặc thực hiện giaokết thông qua trao đổi thông tin, tài liệu qua đường bưu điện Còn họp đồng điện tửđược giao kết, thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Từ góc độ pháp lý thìhọp đồng điện tử và họp đồng truyền thống điều là hợp đồng, do vậy chúng sẽ cónhững điểm tương đồng và cũng có những điểm khác biệt cơ bản
Những điểm tương đồng
❖ Lý do chọn đề tài
Thương mại điện tử, sự xuất hiện của nó không làm thay đổi bản chất củakhái niệm thương mại truyền thống, nó chỉ là một hình thức kinh doanh mới thôngqua một phương tiện, một cách thức mới dựa vào việc ứng dụng các công nghệ hiệnđại Vậy nên họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống vẫn tồn tại những điểmgiống nhau:
- về bản chất, họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống điều là hợp
đồng: “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ với nhau”15 được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự 2005 Do vậy dù đượcgiao kết dưới những hình thức khác nhau: bằng lời nói, hành vi cụ thể, bằng văn bảntruyền thống hay bằng các phương tiện điện tử thì họp đồng chỉ được xác lập khicác bên giao kết thỏa thuận được với nhau về các nội dung của họp đồng Do đó sự
Trang 22Điều 389 Bộ luật Dân sự 2005.
17 Điều 412 Bộ luật Dân sự 2005.
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
thống nhất ý chí giữa các chủ thể là điểm nhấn quan trọng để một hợp đồng đượcxác lập
- Khi tiến hành giao kết hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống điềuphải dựa trên những cơ sở pháp lý và tuân thủ những quy định về hình thức, chủ thểcủa hợp đồng, về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về quy trình giao kết, tráchnhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng và vấn đề giải quyết khi có tranh chấp phátsinh
- Khi giao kết thì các chủ thể giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyêntắc chung về giao kết hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và LuậtThương mại 2005, là nguyên tắc “tự do giao kết hợp đồng nhưng không được tráipháp luật, đạo đức xã hội” và “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực
và ngay thẳng”16, và được áp dụng mọi loại hợp đồng
- Cả hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống khi được thực hiện điềuphải tuân theo những nguyên tắc về thực hiện hợp đồng, là các nguyên tắc: “thựchiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,phương thức và các thoả thuận khác”, “thực hiện một cách trung thực, theo tinh thầnhợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau” và “không được xâmphạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp củangười khác”17
Những điểm khác biệt
❖ Lý do chọn đề tàiBên cạnh đó, do được giao kết thông qua các phương tiện điện tử, trongmột thị trường phi biên giới nên hợp đồng điện tử có nhiều điểm khác biệt so vớihợp đồng truyền thống:
- về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử Trong giao dịch điện tử
ngoài người mua - bán, chủ thể chính của việc giao kết như trong các giao dịchtruyền thống thì đã xuất hiện thêm bên thứ ba có liên quan chặt chẽ trong quá trìnhgiao kết họp đồng điện tử, là các nhà cung ứng dịch vụ mạng và các cơ quan chứngthực chữ ký số Bên thứ ba này có nhiệm vụ truyền đi, lưu trữ các thông tin giữa cácchủ thể tham gia giao dịch, và cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tincậy của các thông tin trong giao dịch điện tử Như đã nói, họp đồng điện tử với đặcthù hình thảnh trong môi trường ảo, môi trường số hóa và được giao kết dưới hìnhthức phi giấy tờ, nên việc giao kết họp đồng điện tử sẽ gặp rất nhiều rủi ro nếukhông có các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký số Nhàcung ứng dịch vụ mạng có trách nhiệm duy trì liên tục hệ thống mạng luôn trong
Trang 23tình trạng tối ưu, việc hệ thống mạng xảy ra sự cố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việckinh doanh của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cơ quan chứng thực chữ ký số cũngđóng vai hò khá quan trọng trong việc đảm bảo độ tin cậy của hợp đồng điện tử,không bị giả mạo và không thể phủ nhận khi tranh chấp phát sinh Do vậy họp đồngđiện tử chỉ có thể thực hiện một cách thuận lợi khi có hệ thống mạng, các cơ quanchứng thực chữ ký số và chúng phải hoạt động thật sự tốt và có hiệu quả Chủ thểthứ ba trong họp đồng điện tử không tham gia vào các giai đoạn đàm phán, giao kếthay thực hiện họp đồng, mà với vai trò bảo đảm tính hiệu quả và tính pháp lý củahọp đồng điện tử.
- về nội dung thì họp đồng điện tử có một số khác biệt với họp đồng
truyền thống, cụ thể là:
+ Địa chỉ pháp lý của các bên: ngoài địa chỉ địa lý thông thường, hợpđồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, mã doanh nghiệp, có ý nghĩaquan trọng để xác định tính hiện hữu và sự tồn tại thực chất của các chủ thể tronggiao kết họp đồng điện tử
+ Các quy định về phạm vi thời gian, và phạm vi địa lý của giao dịch, về
chữ ký điện tử hay một phương thức khác để xác định các thông tin xác thực về chủthể giao kết họp đồng
+ Các xác nhận điện tử (chứng nhận/xác thực: certiíication/authentication) những giao dịch về quyền truy cập và cải chính thông tin điện tử, vàcách thực thi quyền này
+ Các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử và về trunggian đảm bảo chất lượng
- về quy trình giao kết là điểm khác biệt nhất giữa họp đồng điện tử và hợp
đồng truyền thống Việc giao kết một họp đồng thông thường được tiến hành bằngcách các bên gặp gỡ trực tiếp để thỏa thuận hay trao đổi các thông tin với nhauthông qua giấy tờ và thực hiện việc ký kết bằng chữ ký tay Còn họp đồng điện tửđược giao kết bằng các phương tiện điện tử và được ký bằng chữ ký điện tử Do haiphương thức tiến hành giao kết khác nhau sẽ tạo ra những điểm khác biệt trong quytrình giao kết của họp đồng điện tử và họp đồng truyền thống như: việc xác địnhthời gian, địa điểm giao kết họp đồng, thời điểm gửi - nhận một thông điệp dữ liệu
và việc tạo ra một chữ ký điện tử hay việc áp dụng một con dấu trong môi trường ảo
là tương đối khó khăn và không dễ thực hiện như họp đồng truyền thống
- Pháp luật điều chỉnh, ngoài những quy định chung về họp đồng được ghinhận trong Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005, do những đặc tính riêngbiệt về công nghệ của họp đồng điện tử và những vấn đề pháp lý đặc biệt phát sinh
Trang 24Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
trong quá trình giao kết nên phải được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạmpháp luật dành riêng cho họp đồng điện tử Để phát triển bền vững hoạt độngthưomg mại điện tử và thúc đẩy việc giao kết bằng họp đồng điện tử phải xây dựngkhung pháp lý hoàn thiện riêng cho hoạt động thương mại điện tử, cho họp đồngđiện tử và quá trình giao kết họp đồng
Trang 25Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT YÈ HỢP ĐÒNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2.1 Giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Giao kết hợp đồng là thuật ngữ chỉ quá trình ký kết hợp đồng, giao kết hợpđồng điện tử là quá trình đàm phán, thỏa thuận, tạo lập và ký kết hợp đồng thôngqua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu, chúng được lưu trữ một phần hoặc hoàntoàn ở dạng dữ liệu điện tử Luật Giao dịch điện tử 2005 ghi nhận “Giao kết hợpđồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộgiao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng”18, theo đó quá trình giao kết hợp đồngđiện tử được thực hiện qua nhiều giai đoạn, có thể được tiến hành nhiều giao dịch
và chúng có thể được thực hiện thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằngcác phưomg tiện điện tử như: điện báo, điện tín, fax, e-mail, Thực tế việc giao kếthợp đồng điện tử có thể đom thuần chỉ là việc một người tiêu dùng thực hiện mộtgiao dịch đom giản thông qua các phưomg tiện điện tử, như việc đặt vé (vé máy bay,
vé tàu, vé xem phim, ) qua điện thoại, mua hàng tiêu dùng qua website, và cũng
có thể được giao dịch, mua - bán nhằm mục đích thưcmg mại giữa hai hay nhiềuchủ thể, do đó có thể hình thành nên một hợp đồng hay một bộ hợp đồng có giá trị
và tính chất phức tạp Việc giao kết hợp đồng thưcmg mại điện tử cũng là việc giaokết hợp đồng điện tử nhưng nó diễn ra trong hoạt động kinh doanh thưcmg mại, vìvậy khi phân tích hợp đồng điện tử người viết sẽ phân tích hợp đồng điện tử ở khíacạnh hoạt động thưomg mại
2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Việc giao kết hợp đồng trong hoạt động thưomg mại điện tử phải tuân thủnhững quy định chung của pháp luật về hợp đồng và những quy định về họrp đồngđiện tử, bên cạnh đó còn phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản khi giao kết hợpđồng nhằm đảm bảo tính chính xác cũng như tính pháp lý của hợp đồng Cũnggiống như hợp đồng truyền thống, việc giao kết hợp đồng điện tử cũng phải dựa trên
cơ sở của sự tự do, thỏa thuận của các chủ thể khi thực hiện, nên được pháp luật ghinhận và tôn trọng Theo đó Bộ luật Dân sự 2005, ghi nhận hai nguyên tắc “tự dogiao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” và “tự nguyện,bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”19, hai nguyên tắc cơ bảnnày chi phối chung cho việc giao kết hợp đồng điện tử Bên cạnh đó khi giao kết
Trang 26Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
hợp đồng thương mại, các bên còn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong hoạtđộng thương mại được quy định trong Luật Thương mại 2005 là “nguyên tắc bìnhđẳng trước pháp luật của thương nhân ừong hoạt động thương mại”, “nguyên tắc tự
do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại”, “nguyên tắc áp dụng thóiquen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên”, “nguyên tắc áp dụngtập quán trong thương mại”, “nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêudùng” và “nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạtđộng thương mại”20, các nguyên tắc này chi phối việc giao kết hợp đồng điện tửtrong hoạt động thương mại Trong đó có việc thừa nhận giá trị pháp lý của củathông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại, theo đó “trong hoạt động thươngmại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy địnhcủa pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản”
Đặc biệt khi giao kết hợp đồng điện tử, các chủ thể của hợp đồng điện tử phảituân thủ đầy đủ các nguyên tắc được quy định trong Luật Giao dịch điện tử 2005, đó
là các nguyên tắc: “tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiệngiao dịch”, “tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịchđiện tử”, “không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điệntử”, “bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử”, “khi giao kết vàthực hiện họp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứngthực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến họp đồng điện
tử đó”, “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích củaNhà nước, lọi ích công cộng”, và “việc giao kết và thực hiện họp đồng điện tử phảituân thủ các quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về họp đồng”.21
Như vậy có thể thấy rằng, khi tiến hành giao kết họp đồng thương mại điện
tử thì các bên tham gia giao kết nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Tự do giao kết, tự nguyện lựa chọn và thỏa thuận phương thức tiến hànhgiao kết
- Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể giao kết và đảm bảo antoàn trong giao kết
- Bên cạnh đó còn phải bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các bên liênquan
- Và quá trình giao kết phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật cóliên quan
20 Những nguyên tắc cơ bàn trong hoạt động thương mại từ Điều 10 đến Điều 15 Luật Thương mại 2005.
21 Nguyên tắc chung tiến hành giao dịch điện tử, Điều 5 Luật Giao dịch điện tử 2005;
Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, Điều 35 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Trang 27Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
Qua đó cho thấy tính đặc thù và sự phức tạp của việc giao kết họp đồng điện
tử, nên việc hiểu biết cụ thể về chúng là điều rất cần thiết Vì vậy, khi giao kết hợpđồng điện tử, các chủ thể giao kết họp đồng cần phải nắm vững các nguyên tắc cơbản về giao kết họp đồng nhằm đảm bảo tính hiệu lực về mặt pháp lý của họp đồngđiện tử Bên cạnh đó, các chủ thể khi tham gia giao kết họp đồng điện tử còn phảinắm vững những quy định về quy trình giao kết họp đồng điện tử, cũng như quytrình kỹ thuật
2.1.2 Quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Cũng như họp đồng thông thường, việc giao kết họp đồng điện tử cũng phảiđược tiến hành theo một trình tự và thủ tục nhất định Tuy nhiên do những đặc thùriêng biệt nên việc giao kết họp đồng điện tử còn phải tuân thủ những quy trình vàthủ tục riêng của họp đồng điện tử Quá trình giao kết họp đồng điện tử sẽ không cóquy trình các bên giao kết gặp nhau trực tiếp thỏa thuận mà chủ yếu sử dụng quytrình trao đổi dữ liệu điện tử Theo quy định tại Điều 36, khoản 2 của Luật Giaodịch điện tử năm 2005 “trong ký kết họp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác,
đề nghị giao kết họp đồng và chấp nhận giao kết họp đồng có thể được thực hiệnthông qua thông điệp dữ liệu”, cho thấy quy trình ký kết họp đồng điện tử cũng trảiqua hai giai đoạn là đề nghị ký kết hợp đồng và chấp nhận ký kết họp đồng Để thấy
rõ quy trình giao kết họp đồng điện tử, chúng ta sẽ phân tích thủ tục và quy trình kýkết họp đồng điện tử thông qua hai bước cụ thể là đề nghị giao kết họp đồng vàchấp nhận đề nghị giao kết họp đồng điện tử
2.I.2.I Đê nghị giao kết họp đồng thương mại điện tử
Đề nghị giao kết họp đồng điện tử cũng giống như đề nghị giao kết hợpđồng truyền thống, là thủ tục đàu tiên của quá trình đàm phán, thỏa thuận để tiến tới
sự thống nhất ý chí của các bên giao kết họp đồng Theo đó, đề nghị giao kết hợpđồng là việc bên đề nghị thể hiện rõ ý định giao kết họp đồng và chịu sự ràng buộc
về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị22 Và thời điểm để đề nghịgiao kết họp đồng có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấnđịnh thì đề nghị giao kết họp đồng có hiệu lực từ thời điểm bên được đề nghị nhậnđược đề nghị đó.23 vấn đề ở đây đòi hỏi chủ thể đưa ra lời đề nghị phải có ý chí rỏràng muốn đi đến giao kết họp đồng, và ý chí đó phải được thể hiện một cách cụ thểtrong lời đề nghị Khi đã đưa ra lời đề nghị thì bên đề nghị còn phải chịu sự ràngbuộc và chịu trách nhiệm đối với bên được đề nghị về những nội dung trong phạm
vi lời đề nghị trong thời hạn mà đề nghị có hiệu lực Thời điểm và thời hạn có hiệu
Trang 28Điều 12 Nghị định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 của Chính phủ về Thương mại điện tử.
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
lực của lời đề nghị có thể do bên đề nghị ấn định, hết thời hạn này mà lời đề nghịvẫn không được trả lời chấp nhận thì những ràng buộc trong lời đề nghị đươngnhiên không còn
Tuy nhiên khác với hợp đồng truyền thống, thời điểm giao kết họp đồngđiện tử được bắt đầu khi bên đề nghị giao kết họp đồng gửi thông điệp dữ liệu, theoquy định tại Điều 17, khoản 1, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, “thời điểm gửi mộtthông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tinnằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo”, qua đó ta thấy Luật Giao dịch điện tửkhông quy định cụ thể về việc đề nghị giao kết họp đồng điện tử, mà việc đề nghịgiao kết họp đồng điện tử được hiểu là việc huyền gửi thông điệp dữ liệu Và cũngtại khoản 2 điều này có quy định “địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở củangười khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của ngườikhởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân Trường họp người khởi tạo có nhiều trụ sởthì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giaodịch” Ở đây đề nghị giao kết họp đồng được khỏi tạo dưới dạng thông điệp dữ liệu
và được gửi đến cho bên được đề nghị thông qua các phương tiện điện tử, thay vìđược lập dưới dạng văn bản truyền thống và được gửi đến trực tiếp cho bên được đềnghị hay được gửi qua đường bưu điện, Nhìn chung việc đề nghị trong giao kếthọp đồng điện tử và họp đồng thông thường là cơ bản giống nhau chỉ khác ởphương thức thực hiện do những đặc điểm riêng biệt của họp đồng điện tử về mặtcông nghệ
Còn theo Nghị định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 của Chính phủ vềThương mại điện tử (Nghị định 57/2006/NĐ-CP), có ghi nhận vấn đề thông báo về
đề nghị giao kết họp đồng, cụ thể “một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghịgiao kết họp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giaokết họp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm của mìnhtrong trường hợp nhận được hả lời chấp nhận”24 Bên cạnh đó trong Thông tư09/2008/TT-BCT ngày 21/07/2008 của Bộ Công Thương hướng dẫn Nghị địnhThương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết họp đồng trên website thươngmại điện tử (Thông tư 09/2008/TT-BCT), ghi nhận vấn đề thông báo về đề nghịgiao kết họp đồng của thương nhân “nếu một website thương mại điện tử có chứcnăng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu hênwebsite đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liênquan được xem là thông báo về đề nghị giao kết họp đồng của thương nhân sở hữuhàng hóa hoặc dịch vụ đó” Việc đề nghị giao kết họp đồng của khách hàng được
Trang 29Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử.
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
quy định, “chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụngchức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của kháchhàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó”25.Như vậy, việc thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thểthì đó chỉ là một lời mời chào chứ chưa được xem là một đề nghị giao kết hợp đồng,
do không có bên nhận cụ thể nên không có sự ràng buộc của bên đưa ra thông báovới một bên nào đỏ khi nhận được thông báo và trả lời chấp nhận với nội dung củathông báo đó Còn trong trường hợp thông báo có các điều khoản chỉ rỏ trách nhiệmcủa bên đưa ra thông báo về việc giao kết hợp đồng khi nhận được trả lời chấp nhận
từ bên nhận được thông báo đó thì thông báo khi đó có thể xem như là một đề nghịgiao kết hợp đồng Quy định về giao kết hợp đồng điện tử trên website thương mạiđiện tử thì những thông báo về thông tin sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và các điềukhoản liên quan vẫn được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân, do đãmang đầy đủ những nội dung của một đề nghị và vẫn có sự ràng buộc trách nhiệmkhi khách hàng chấp nhận một sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nào đó và thực hiện thaotác đặt hàng thì xem như hợp đồng đã được giao kết Qua đó ta có thể thấy được,quá trình đề nghị giao kết hợp đồng điện tử về cơ bản trước hết là đề nghị giao kếtphải được gửi cho bên nhận cụ thể, xác định; bên cạnh đó phải thể hiện rõ ý chí giaokết và chịu sự ràng buộc về đề nghị đó
Một đề nghị giao kết hợp đồng dù được gửi đến một chủ thể xác định thìvẫn chưa đủ, để đi đến xác lập hợp đồng thì nhất thiết phải có sự trả lời chấp nhậncủa bên được đề nghị thì khi đó hợp đồng mới được xem là đã được giao kết
2.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó “là sự ưả lời của bên được
đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” đượcghi nhận khá cụ thể tại Điều 396, Bộ luận Dân sự năm 2005, có thể thấy rằng việcchấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của bên được đề nghị về việcđồng ý giao kết hợp đồng trên cơ sở những nội dung đã nêu trong đề nghị giao kếttrước đó, và thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm mà bên đề nghị nhận được trảlời chấp nhận giao kết hợp đồng Chỉ có thể xem là đã chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng khi bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ các nội dung trong đề nghị giaokết hợp đồng, việc thay đổi hay bổ sung những nội dung cơ bản ngoài đề nghị giaokết hợp đồng khi trả lời chấp nhận đề nghị giao kết được xem như là một đề nghịmới
Trang 30Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
Do những điểm riêng biệt về mặt công nghệ nên việc chấp nhận đề nghịgiao kết hợp đồng điện tử được tiến hành thông qua các phương tiện điện tử vàmạng thông tin Và việc chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng điện tử cũng khôngđược pháp luật về giao dịch điện tử ghi nhận một cách cụ thể, mà việc chấp nhận đềnghị giao kết họp đồng điện tử được hiểu là việc nhận thông điệp dữ liệu từ ngườikhởi tạo thông điệp dữ liệu đó Theo quy định tại Điều 18, Luật Giao dịch điện tửnăm 2005, thì “người nhận thông điệp dữ liệu là người được chỉ định nhận thôngđiệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp dữ liệu nhưng không bao hàm người trunggian chuyển thông điệp dữ liệu đó” Trong trường hợp các bên tham gia giao kếtkhông có thoả thuận khác thì “người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữliệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định
và có thể truy cập được” Và theo quy định tại Điều 6, Thông tư 09/2008/TT-BCTthì “Khi trả lời chấp thuận đề nghị giao kết họp đồng, thương nhân phải cung cấpcho khách hàng những thông tin sau: danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụkhách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị họp đồng; thờihạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ; thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi vềtình trạng thực hiện họp đồng khi cần thiết”
Tuy nhiên trong một số trường hợp, hệ thống giao dịch điện tử tự động cóthể tự thực hiện việc chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng điện tử thay mặt cho mộthoặc hai bên trong giao kết họp đồng Như quy định tại Điều 13, Nghị định57/2006/NĐ-CP về việc sử dụng hệ thống thông tin tự động, cụ thể là “họp đồngđược giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân,hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp
lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụthể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay họp đồng được giao kết” đã cho
ta thấy rõ điều đó
2.1.3 Chủ thể của hạp đồng thương mại điện tử
Khi nói đến chủ thể của hợp đồng chúng ta sẽ nhắc đến các bên mua - bánhàng hóa hay dịch vụ Khác với hợp đồng thương mại truyền thống, chủ thể giao kếtthường là các thương nhân, các doanh nghiệp, chủ thể của họp đồng điện tử có thể
là thương nhân, doanh nghiệp, người tiêu dùng hoặc thậm chí là cơ quan nhà nướctham gia vào hoạt động thương mại điện tử Chủ thể tham gia giao kết họp đồngđiện tử cũng có điểm giống với họp đồng truyền thống cũng bao gồm các bên mua -bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ nhưng được tiến hành thông qua các phươngtiện điện tử và mạng thông tin Tuy nhiên trong giao kết họp đồng điện tử còn cóthêm chủ thể thứ ba cũng khá là quan trọng và không thể thiếu đó là các nhà cung
Trang 31Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực Hợp đồng điện tử được giao kết giữanhiều chủ thể khác nhau, nhìn chung có ba nhóm chủ thể chính tham gia vào thươngmại điện tử và sử dụng họp đồng điện tử là: Cơ quan nhà nước (G - Govemmet),doanh nghiệp (B - Business) và người tiêu dùng (C - Consumer) Để họp đồng cóhiệu lực thì các chủ thể tham gia giao kết phải thỏa mãn các quy định của pháp luật
về năng lực của chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Do nhữngđặc thù về tính chất công nghệ và môi trường giao kết nên việc xác định năng lựccủa các chủ thể trong giao kết họp đồng điện tử là tương đối khó khăn
Luật Giao dịch điện tử 2005, xác định chủ thể của họp đồng điện tử thôngqua việc quy định về người khởi tạo và người nhận thông điệp dữ liệu Theo đó,người khởi tạo thông điệp dữ liệu là cơ quan, tổ chức, cá nhân tạo hoặc gửi mộtthông điệp dữ liệu trước khi thông điệp dữ liệu đó được lưu giữ và người nhậnthông điệp dữ liệu là người được chỉ định nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạothông điệp dữ liệu nhưng không bao hàm người trung gian chuyển thông điệp dữliệu Có thể thấy Luật Giao dịch điện tử 2005 không dùng thuật ngữ người gửithông điệp dữ liệu bên cạnh thuật ngữ người nhận thông điệp dữ liệu mà lại sử dụngthuật ngữ người khởi tạo thông điệp dữ liệu để chỉ chủ thể đưa ra đề nghị giao kếthọp đồng điện tử Bởi lẽ trong giao dịch điện tử người khởi tạo thông điệp dữ liệukhông nhất thiết phải thực hiện việc gửi đi thông điệp dữ liệu đã khởi tạo, mà việcgửi đi thông điệp dữ liệu về đề nghị giao kết có thể được thực hiện bởi người khởitạo hay người trung gian được chỉ định việc gửi đề nghị hoặc việc gửi đi thông điệp
dữ liệu được thực hiện bằng hệ thống tự động đã được thiết lập Bên cạnh đó chủthể trung gian trong giao kết họp đồng điện tử bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân
Họ đại diện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc gửi, nhận hoặc lưutrữ một thông điệp dữ liệu hoặc cung cấp các dịch vụ khác liên quan đến thông điệp
dữ liệu đó (Điều 4, khoản 9, Luật Giao dịch điện tử 2005) Họ thực hiện việc truyềngửi, nhận hay lưu trữ dữ liệu khi được yêu cầu hay được chỉ định trước, nên vềnguyên tắc họ không biết về thông tin trong thông điệp dữ liệu đã gửi hay nhận và
họ cũng không có trách nhiệm liên quan đến quá trình giao kết
2.1.4 Hình thức của họp đồng thương mại điện tử
Hình thức của họp đồng là phương thức thể hiện của họp đồng mà pháp luậtquy định các bên giao kết họp đồng phải tuân thủ khi tiến hành giao kết Khác vớihọp đồng truyền thống, có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hay bằnghành vi cụ thể.26 Do họp đồng điện tử được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu,họp đồng điện tử có thể được soạn thảo và gửi qua thư điện tử hay thông qua các
Trang 32Luật Thương mại 2005, Điều 15 Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt
động thương mại
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
trang web bán hàng trực tuyến thì đó chỉ là việc “nhấn nút đồng ý” khi người mua
đã tham khảo những thông tin về sản phẩm hay dịch vụ trên trang web khi đó hợpđồng được xem như đã giao kết và các bên tiến hành thực hiện các nội dung như đãcam kết Tuy nhiên các nội dung cam kết đó có được đảm bảo thực hiện và vấn đềxác định trách nhiệm pháp lý được thực hiện như thế nào?
Trong Luật Giao dịch điện tử 2005, chưa quy định cụ thể về hình thức củahợp đồng điện tử, như đã nói Luật Giao dịch điện tử lại ghi nhận rằng hợp đồngđiện tử được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu Theo đó tại Điều 10, Luật Giaodịch điện tử 2005 quy định về hình thức thể hiện thông điệp dữ liệu “thông điệp dữliệu được thể hiện dưới hình thức ừao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện
tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác”, và giá trị pháp lý của nókhông bị phủ nhận đồng thời nó cỏ cũng giá trị như văn bản27 Thực tiễn các dạngbiểu hiện về hình thức giao kết họp đồng điện tử được áp dụng phổ biến hiện naytrong các giao dịch điện tử là: trao đổi dữ liệu điện tử, thư điện tử, thanh toán điệntử
- Hình thức trao đổi dữ liệu điện tử Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic DataInterchange - EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “cấu trúc” (Structuredform), có nghĩa là các thông tin trao đổi được các đối tác thỏa thuận sẽ tuân theomột dạng khuôn nào đó từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữacác bên giao kết đã có sự thỏa thuận Với hình thức này thì quá trình thực hiện sẽđược tự động hóa hoàn toàn không cần đến sự can thiệp của con người Việc traođổi dữ liệu điện tử theo quy định của ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mạiquốc tế (UNCITRAL) ghi nhận “trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giaothông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện
tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin” Theo luậtGiao dịch điện tử 2005, trao đổi dữ liệu điện tử là sự chuyển thông tin từ máy tínhnày sang máy tính khác bằng phương tiện điện tử theo một tiêu chuẩn đã được thỏa
Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.
Luật Giao dịch điện tử 2005, Điều 11 Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Luật Giao dịch điện tử 2005, Điều 12 Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bang văn bàn thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa bong thông điệp dữ liệu đó có thế truy cập và sử dụng được
để tham chiếu khi cần thiết.
Trang 33Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
thuận về cấu trúc thông tin.28 Việc trao đổi dữ liệu điện tử trong môi trường phi biêngiới giữa các chủ thể giao kết được tiến hành thông qua giao dịch kết nối, đặt hàng,giao dịch gửi hàng và thanh toán
- Hình thức thư điện tử, là hình thức phổ biến của họp đồng điện tử, trongthực tế các doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng thường sử dụng thư điện tử để gửi đềnghị giao kết họp đồng đã được soạn thảo trước kèm theo hoặc được soạn thảo trựctiếp trong phần nội dung của thư, và trả lời chấp nhận giao kết cho bên gửi, hay cácbên dùng thư điện tử để trao đổi trực tiếp với nhau các thông tin về họp đồng Như
đã phân tích thì trong Luật Giao dịch điện tử có ghi nhận về hình thức thể hiện củahọp đồng điện tử trong đó có thư điện tử và cũng thừa nhận giá trị cũng như giá trịpháp lý của chúng Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúcđịnh trước cụ thể nào
- Hình thức thanh toán điện tử, là một trong những dạng biểu hiện của hợpđồng điện tử Thanh toán điện tử (Electronic payment) là việc thanh toán tiền thôngqua bản tin điện tử (Electronic message) thay cho việc dùng tiền mặt như là việc trảlưomg qua tài khoản ngân hàng, trả tiền mua hàng hóa bằng thẻ mua hàng, thẻ tíndụng, Ngày nay việc thanh toán điện tử đã phát triển mở rộng và được thực hiệndưới nhiều hình thức khác nhau: trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (FinancialElectronic Data Interchange - FEDI) thực hiện thanh toán giữa các công ty giaodịch với nhau bằng điện tử; tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua
từ một nơi phát hành sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thôngqua internet; túi tiền điện tử (Electronic purse) là nơi để tiền mặt internet chủ yếu làthẻ thông minh (Smart card); giao dịch ngân hàng số hóa (Digital banking), giaodịch chứng khoán số hóa (Digital securities trading)
Qua đó có thể thấy, do những đặc trưng về mặt kỹ thuật công nghệ đã hìnhthành nên những hình thức riêng cho họp đồng điện tử mang nhiều yếu tố kỹ thuậtnên khi giao kết hợp đồng điện tử việc hiểu rõ các hình thức của họp đồng điện tử làđiều hết sức cần thiết Bên cạnh các vấn đề về hình thức của họp đồng điện tử thìnội dung của họp đồng điện tử cũng là điều kiện quan trọng để họp đồng có giá trị
2.1.4 Nội dung của hạp đồng thương mại điện tử
Nội dung của họp đồng bao gồm các điều khoản thỏa thuận giữa các chủ thể.Theo đó Điều 402 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về nội dung của họp đồng cụ thể
“tùy theo từng loại họp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:đối tượng của họp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không đượclàm; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương
Trang 34Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợpđồng; phạt vi phạm hợp đồng; các nội dung khác”
Trong Luật Giao dịch điện tử chưa quy định một cách cụ thể về nội dung củahợp đồng điện tử, còn theo quy định tại Mục III của Thông tư 09/2008/TT-BCT củaCông Thương về cung cấp thông tin về các điều khoản của hợp đồng trên websitethương mại điện tử từ Điều 12 đến Điều 16 thì các thông tin về: “hàng hóa, dịch vụ”(Điều 12), “giá cả” (Điều 13), “các điều khoản giao dịch” (Điều 14), “vận chuyển
và giao nhận” (Điều 15), và “các phương thức thanh toán” (Điều 16) có thể đượcxem như các yếu tố cơ bản cấu thành nội dung của hợp đồng điện tử Nhưng nhữngquy định này vẫn chưa thật sự cụ thể để có thể áp dụng trong mọi trường hợp giaokết nên về mặt nguyên tắc nội dung của họp đồng điện tử tuân thủ theo những quyđịnh chung về họp đồng
Tuy nhiên khác với họp đồng truyền thống, về phương thức giao kết và vớinhững đặc thù riêng về mặt công nghệ nên nội dung của họp đồng điện tử hàm chứayếu tố kỹ thuật rất cao Vì vậy khi giao kết hợp đồng điện tử ngoài những yếu tố cơbản của nội dung họp đồng về đối tượng, số lượng, chất lượng, giá cả, các bêngiao kết nhất thiết phải quan tâm đến những quy định có tính kỹ thuật công nghệ, làcách thể hiện nội dung của họp đồng điện tử Nếu thực hiện các thao tác về quytrình kỹ thuật không tốt, chính xác thì về nội dung trong giao kết họp đồng điện tửcũng khó có thể đạt được Cho nên yếu tố kỹ thuật phải gắn kết chặt chẽ với khungpháp lý của quy trình giao kết về vấn đề nội dung của họp đồng điện tử, cách thểhiện nội dung của họp đồng điện tử cũng chính là cơ sở pháp lý mà các chủ thể phảituân thủ khi giao kết họp đồng điện tử, đặc biệt là họp đồng thương mại điện tử.Hiện nay, cách thể hiện nội dung của họp đồng điện tử được sử dụng phổ biến là:
- Hiển thị không có đường dẫn (Without hyperlink) Với phương thức này,người bán không thể hiện các điều khoản về nội dung của họp đồng một cách trựctiếp mà thường ghi chú ở phần cuối của đơn đặt hàng là “họp đồng này tuân theocác điều khoản tiêu chuẩn của công ty” (“This contract is subject to company'sStandard terms and conditions”), điều này khiến cho người mua khó khăn trong việctiếp cận các điều khoản thuộc về nội dung họp đồng
- Hiển thị có đường dẫn (With hyperlink) Phương thức này cũng có sự ghichú như cách hiển thị không có đường dẫn nhưng có thêm đường dẫn đến trang webchứa các điều khoản tiêu chuẩn về họp đồng của công ty, tuy nhiên không thể chắcrằng người mua có thể vào trang Web để đọc những điều khoản đó Phần lớn cáchthức này được người bán trực tuyến sử dụng
Trang 352002, trang 101.
Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
- Hiển thị điều khoản ở cuối trang Web Theo cách này, thay vì tạo đườngdẫn đến trang web khác để xem nội dung các điều khoản thì người bán hiển thị cácđiều khoản ở cuối hang Web Người mua nếu muốn xem phải di chuyển đến cuốitrang để có thể xem qua các điều khoản đó, còn việc có đọc hay không là tùy thuộcvào sự quan tâm của người mua, tuy nhiên việc này cũng đã thể hiện ý chí củangười bán mong muốn thông tin các nội dung hợp đồng đến khác hàng
- Hiển thị điều khoản ở dạng hộp thoại (Dialogue box) Trường hợp này khingười mua muốn giao kết họp đồng thì phải di chuyển xem qua các điều khoản rồimới đến được hộp thoại như “tôi đồng ý” hay “tôi đã xem qua các điều khoản” vàkhi thực hiện thao tác nhấp vào hộp thoại này thì xem như họp đồng đã được giaokết, nên người mua phải có hách nhiệm đọc những điều khoản đã được thể hiệntrước khi đồng ý Tuy nhiên, cách thể hiện này cũng có thể gây tâm lý nhàm chánkhi phải đọc những điều khoản dài, họ có thể bỏ qua khi tiến hành giao kết, nhất làtrong các giao dịch nhỏ Cách hiển thị này được sử dụng rất phổ biến trên các hangweb bán hàng, nó thể hiện rõ thiện chí giao kết của người bán qua việc truyền tảithông tin rõ ràng đến khách hàng, và qua đó người mua cũng dễ dàng tiếp cận đượccác thông tin cần thiết trong quá trình giao kết.29
Ngoài các nội dung cơ bản được thể hiện rõ ràng trên trang web, các chủ thểgiao kết họp đồng điện tử còn bị ràng buộc bởi những điều khoản ngầm, là nhữngđiều khoản không có trong họp đồng điện tử nhưng mặc nhiên được pháp luật vàthực tiễn thương mại thừa nhận Như những ràng buộc về hàng hóa phải thuộcquyền sở hữu của người bán, không bị hanh chấp, hay là phải có chất lượng phùhợp với mục đích sử dụng, Tùy theo tính chất của họp đồng điện tử mà định nênnhững điều khoản ngầm tương ứng cụ thể Bên cạnh đó trong họp đồng điện tử còn
có một số điều khoản liên quan đến tính hiệu lực của họp đồng điện tử: điều khoản
về hình thành họp đồng (còn gọi là điều kiện để họp đồng điện tử có hiệu lực); điềukhoản về miễn, giảm hách nhiệm; điều khoản về thanh toán và giao hàng
2.1.6 Chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của hạp đồng thương mại điện tử 2.I.6.I Chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử
❖ Lý do chọn đề tàiTrong các giao dịch truyền thống, hình thức văn bản đã trở thành hìnhthức cơ bản để thể hiện nội dung của họp đồng, nội dung của họp đồng trong vănbản được xác nhận bằng chữ ký hoặc điểm chỉ của chủ thể có thẩm quyền giao kết
và chịu trách nhiệm về nội dung ừong văn bản của họp đồng Hình thức thể hiện nội
Trang 36Một số vẩn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử
dung của họp đồng điện tử khác với họp đồng truyền thống nên việc xác nhận chủthể khởi tạo nội dung của họp đồng điện tử để xác định độ chính xác và tính toànvẹn của các thông tin đã đuợc thể hiện cũng có điểm khác biệt, nó cũng phải đuợcthực hiện thông qua các phuomg tiện điện tử Và giải pháp đuợc công nhận, áp dụngphổ biến là chữ ký số (Digital signatures) hay chữ ký điện tử Theo đó, chữ ký điện
tử (Electronic signature) là thông tin đi kèm theo dữ liệu (văn bản, hìnhảnh, video, ) nhằm xác định người chủ của dữ liệu đó, được sử dụng trong các giaodịch điện tử từ thực tế là chữ ký điện tử cũng cần đảm bảo các chức năng về việcxác định người chủ của một dữ liệu (văn bản, ảnh, video, ) và dữ liệu đó có bị thayđổi hay không
Theo quy định tại Điều 21, khoản 1, Luật Giao dịch điện tử 2005, “Chữ
ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thứckhác bằng phưomg tiện điện tử, gắn liền hoặc kết họp một cách lôgíc với thông điệp
dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấpthuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Thực tế, chữ kýđiện tử tồn tại ở nhiều dạng, nhằm phát triển việc giao kết họp đồng điện tử, người
ta đã đom giản đi các quy định về chữ ký điện tử và công nhận nhiều hình thức của
nó Chỉ cần một sự “xác nhận” nào đó thì về cơ bản xem như đã đủ điều kiện để chữ
ký điện tử có hiệu lực, dù vậy thì cách thức này không đảm bảo tính an toàn và dễ
bị sao chép nên phải kèm theo nó những quy định chặt chẽ có liên quan nhằm hạnchế các hành vi sao chép hay mạo danh chữ ký điện tử Vì vậy việc giao kết họpđồng điện tử mà không tìm hiểu rõ các quy định pháp lý về chữ ký điện tử sẽ manglại cho các doanh nghiệp rất nhiều rủi ro không mong muốn
Vấn đề bảo mật chữ ký điện tử
❖ Lý do chọn đề tàiNhư đã nói vấn đề rủi ro trong giao kết họp đồng điện tử là rất cao nếunhư không có các biện pháp bảo đảm, đặc biệt vấn đề chữ ký điện tử để xác nhậnhọp đồng điện tử có thể bị đánh cắp hay mạo danh Nên vấn đề bảo mật chữ ký điện
tử luôn được quan tâm, và phương pháp bảo mật chữ ký điện tử được áp dụng phổbiến là mã hóa chữ ký điện tử Mã hóa là khoa học về an ninh thông tin, nó luôn gắnliền với các hệ thống xáo ưộn (mã hóa) thông tin và sau đó là sắp xếp lại (giải mã)thông tin này Để chuyển đi một thông điệp dữ liệu mà đảm bảo được sự bảo mật và
an toàn khi đến với người nhận, thì chúng phải được mã hóa theo một quy trình nhấtđịnh và khi người nhận muốn đọc được thông điệp dữ liệu thì phải giãi mã nó bằngkhóa mã đã được đặt trong quá trình mã hóa Hiện nay phương pháp mã hóa chữ kýđiện tử được sử dụng thiên về phương pháp Mã hóa công khai (Public Key
Trang 37Inữastructure - PKI), là một trong những phương pháp đảm bảo an toàn trong việcgiao kết họp đồng điện tử.
Phương pháp mã hóa chữ ký điện tử chỉ mới được sử dụng một cách rộngrãi trong những năm trở lại đây, và đa phần các nước phát triển điều ban hànhnhững đạo luật ghi nhận chữ ký điện tử và quy trình bảo mật chữ ký điện tử LuậtGiao dịch điện tử 2005 được xem như là cơ sở pháp lý ban đầu cho những quy định
về chữ ký điện tử ở Việt Nam Luật đã dành trọn Chương in để ghi nhận về chữ ký
điện tử và vấn đề chứng thực chữ ký điện tử, từ Điều 21 đến Điều 32, và đã cónhững hướng dẫn khá là cụ thể, rõ ràng về chữ ký điện tử, về điều kiện để bảo đảm
an toàn cho chữ ký điện tử, về nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử và của bênchấp nhận chữ ký điện tử,
- về điều kiện để bảo đảm an toàn cho chữ ký điện tử Điều 22, khoản 1,
Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định cụ thể rằng chữ ký điện tử được xem là bảođảm an toàn nếu được kiểm chứng bằng một quy trình kiểm tra an toàn do các bêngiao dịch thỏa thuận và đáp ứng được các điều kiện sau đây:
+ Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký trong bối cảnh
- về nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử Điều 25, khoản 2, Luật Giao
dịch điện tử 2005 quy định rằng người ký chữ ký điện tử có các nghĩa vụ sau đây:
+ Có các biện pháp để tránh việc sử dụng không hợp pháp dữ liệu tạo chữ
ký điện tử của mình;
+ Khi phát hiện chữ ký điện tử có thể không còn thuộc sự kiểm soát củamình, phải kịp thời sử dụng các phương tiện thích họp để thông báo cho các bênchấp nhận chữ ký điện tử và cho tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện
tử trong trường hợp chữ ký điện tử đó có chứng thực;
+ Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm tính chính xác và toàn vẹncủa mọi thông tin trong chứng thư điện tử trong trường hợp chứng thư điện tử đượcdùng để chứng thực chữ ký điện tử