1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại

62 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 720,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu đề tài PHẦN NỘI DUNG trang 1 trang 1 trang 1 trang 2 trang 2 trang 2 trang 2 trang 4 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG 2.1 Những quy định của pháp luật hiện

Trang 1

XÀÌ P H A T \/r P HAM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2007 - 2011

Đề tài CHÉ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐÒNG

THƯƠNG MAI

Giảng viên hướng dẫn:

Th.s Nguyễn Mai Hân

Bộ môn Thương Mại

Sinh viên thưc hiên: Nguyễn Đức Triệu MSSV: 5075074 Lóp: LK0764A1

Trang 3

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành được Luận vãn tốt nghiệp không phải làmột việc đơn giản như nhiều người đã nghĩ Trong quá trình

thực hiện luận vãn của mình, người viết đã gặp rất nhiều khó

khăn về nguồn tài liệu nghiên cứu cũng như một số vấn đề

pháp lý liên quan Tuy nhiên, với sự hướng dẫn tận tình của

Giảng viên hướng dẫn về nguồn tại liệu, gợi ý các câu hỏi mở,

trao đổi và hướng dẫn khi có sai sót nên người viết đã hoàn

thành tốt luận văn của mình Nghĩ lại trong suốt thời gian làm

luận văn của mình, đó là một khoảng thời gian dài giúp người

viết có thể tự nghiên cứu, tự học hỏi và trãi nghiệm kiến thức

của mình dưới sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn Nay

người viết xin chân thành gởi lời cám ơn đến:

1 Trường đại học cần Thơ, nơi đã cung cấp các cơ sởvật chất và kiến thức nền cho người viết

2 Tập thể giảng viên các bộ môn Khoa Luật trường đạihọc Cần Thơ, vì đã cung cấp các kiến thức chuyên ngành cho

người viết

3 Thư viện Khoa Luật trường đại học cần Thơ vì đãgiúp ích rất nhiều cho người viết có thể tìm được các nguồn

tài liệu để nghiên cứu

4 Và đặc biệt nhất, người viết xin chân thành cám ơnGiảng viên hướng dẫn của mình, Th.s Nguyễn Mai Hân vì đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, điều chỉnh những sai sót của

người viết Bên cạnh đó, người viết cũng xin phép được gởi

đến cô lời xin lỗi chân thành nhất vì những khiếm khuyết của

mình trong quá trình hoàn thành luận văn vì có thể những khi

đó người viết đã làm phiền và tạo nhiều áp lực, khó khăn cho

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn

Trang 4

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

4 Đổi tuợng nghiên cứu

5 Phuơng pháp nghiên cứu

6 Kết cấu đề tài

PHẦN NỘI DUNG

trang 1 trang 1 trang 1 trang 2 trang 2 trang 2 trang 2 trang 4 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG

2.1 Những quy định của pháp luật hiện hành về chế tài phạt vỉ phạm trong họp

2.1.3.1 Xảy ra truờng hợp miễn trách nhiệm mà các bên thỏa thuận trang 29

2.1.3.3 Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nuớc mà các bên không thể biết đuợc vào thòi điểm giao kết họp đồng

Trang 5

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

2.2 Thực tiễn việc áp dụng phạt vỉ phạm trong họp đồng thương mại và giải pháp

Trang 6

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàncầu, hợp đồng thương mại ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình và trởthành công cụ chủ yếu để các nhà kinh doanh thực hiện các hoạt động kinh doanh thulợi nhuận Là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong khoa học pháp lý và thời giangần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, chế định hợp đồngthương mại của các quốc gia đã có nhiều nét tương đồng Bên cạnh đó, với nhữngtruyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tập quán kinhdoanh không đồng nhất, chế định hợp đồng thương mại của các nước còn có sự khácbiệt về quan niệm, nguồn điều chỉnh quan hệ hợp đồng cũng như một số nội dung cụthể của chế định này Với vị trí và vai trò to lớn của hợp đồng thương mại, việc quantâm đến hợp đồng thương mại thật sự là một điều rất cần thiết trong quá trình phát triểnhiện nay Bên cạnh việc quan tâm đến nội dung, hình thức của hợp đồng thương mại,một vấn đề cũng rất quan trọng cần phải được quan tâm đến là việc thỏa thuận, áp dụngcác chế tài ữong hợp đồng thương mại Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam quyđịnh có 6 loại chế tài chính: chế tài buộc thực hiện đúng họp đồng, chế tài phạt viphạm, chế tài bồi thường thiệt hại, chể tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng;chể tài đìnhchỉ thực hiện hợp đồng; chế tài hủy bỏ hợp đồng Với 6 loại chế tài được quy định tạitừng điều khoản riêng của Luật thương mại 2005, mỗi chế tài đều có một vai trò riêngcủa mình Tuy nhiên, khi xét sâu về bản chất, mục đích của việc áp dụng, có thể thấyrằng chế tài phạt vi phạm còn nhiều vấn đề chưa cụ thể, quy định còn bất cập, mâuthuẫn giữa Luật Thương mại và Bộ luật dân sự vì thế mà chế tài này chưa thật sự đápứng được các thỏa thuận thực tế của nhà kinh doanh khi họ tham gia vào thị trườngkinh tể thế giới với các hợp đồng thương mại Đe tìm hiểu rõ các vấn đề về chế tàiphạt vi phạm cũng như giải quyết những vấn đề vướng mắc trong quy định của phápluật về chế tài này, người viết đã chọn đề tài: “Chế tài phạt vi phạm trong hợp đồngthương mại” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 7

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế tài phạt vi phạm trong hoạt độngthương mại

3 Phạm vỉ nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết chỉ tập trung nghiên cứu chế tài phạt vi phạm đượcquy định trong Luật Thương mại 2005, đồng thời người viết cũng dựa vào Bộ luật dân

sự năm 2005 để làm rõ chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng

4 Đổi tượng nghiên cứu

Đe thực hiện được mục đích nghiên cứu, bài viết này tập trung phân tích cácquy định pháp lý về khái niệm, đặc điểm của chế tài phạt vi phạm, so sánh giữa phạt viphạm và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, những vấn đề liên quan đến phạt viphạm và một số ý kiến nhằm làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về phạt vi phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

Đe làm rõ vẩn đề được đặt ra, người viết sử dụng các phương pháp phươngpháp sau đây:

- Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu các quy định củapháp luật Việt Nam hiện hành

- Phương pháp so sánh, đối chiểu được vận dụng để đối chiểu với các quyđịnh của pháp luật khác có liên quan

- Phương pháp chứng minh được sử dụng để đưa ra những dẫn chứng cụ thể

- Phương pháp tổng hợp, thống kê tài liệu như chương trình nhằm tìm kiếm,tra cứu và thu thập tài liệu

6 Kết cấu đề tài

Kết cấu của luận văn bao gồm: lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phần nội dung gồm hai chương

Trang 8

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Chương 1: Khái quát chung về chế tài phạt vi phạm trong họp đồng thương mại

Ở chương 1, người viết chủ yếu giới thiệu sơ lược về họp đồng thương mại và tậptrung nghiên cứu cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến hợp đồng thương mại, nêulên khái niệm, đặc điểm, vai trò, đối tượng, ưu điểm của chế tài phạt vi phạm trong hợpđồng thương mại so với chế tài khác

Chương 2: Những quy định hiện hành của pháp luật về chế tài phạt vi phạm,thực tiễn áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại và giải pháp hoànthiện Ở chương 2, người viết đi sâu nghiên cứu các quy định, điều kiện áp dụng củachế tài phạt vi phạm, nghiên cứu và phân tích mức phạt vi phạm, phân tích so sánh mốiquan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Người viết tập trung nghiêncứu, phân tích các tình huống cụ thể của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong họpđồng Bên cạnh đó đưa ra hướng giải quyết thực tế, đề nghị giải pháp hoàn thiện củachế tài phạt vi phạm nói chung và mức phạt vi phạm nói riêng

Trang 9

Nguyễn Trung Chánh, Phạm Thị Bích Loan, Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư - NXB Đà Nắng, năm 1999, trang 788.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG

hàng (barterý Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa,

dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tươngđương nào đó

Ở Việt Nam thuật ngữ “thương mại” tuy được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống

xã hội và trong nhiều vãn bán quy phạm pháp luật, song cho đến trước khi ban hànhLuật Thương mại năm 2005 thì thuật ngữ này chưa được quy định thống nhất trong cácvăn bản quy phạm pháp luật Năm 1990, Quốc hội thông qua hai đạo luật rất quantrọng, đó là Luật Công ty và luật Doanh nghiệp tư nhân Hai luật này đã đưa ra mộtkhái niệm pháp lý mới có liên quan nhiều đến việc áp dụng pháp luật thương mại, đó là

1

Trang 10

Khoản 3 Điều 2 Luật Doanh Nghiệp 1999.

3 Điều 5 Luật Thương Mại năm 1997.

4 Khoản 1 Diều 3 Luật thương mại 2005.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

khái niệm “kinh doanh” Khái niệm “kinh doanh” cũng được nhắc lại trong luật Doanhnghiệp năm 1999, theo đó “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch

vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”2 Khái niệm này trong một chừng mực nhấtđịnh có những điểm tương

đồng với khái niệm thương mại theo nghĩa rộng được sử dụng phổ biến trên thế giớihiện nay và cũng được giải thích tại Luật Mẩu về trọng tài thương mại quốc tể củaUNCITRAL năm 1985

Theo Luật Thương mại năm 1997 khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp,chỉ bao gồm 14 hành vi mua bán hàng hóa và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bánhàng hóa Thậm chí đối tượng của việc mua bán hàng hóa cũng bị giới hạn ở các độngsản, chủ yếu là các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng,các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hìnhthức cho thuê, mua bán3 Với định nghĩa thương mại theo luật Thương mại năm 2007,

rõ ràng nó đã bó hẹp các phạm vi của giao dịch, thật sự còn nhiều hạn chế vì chưa đủtiến bộ so với các quy định về thương mại trên thế giới

Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm thương mại “Hoạt động thươngmại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”4, vàphạm vi điều chỉnh theo nghĩa rộng Khái niệm này đã được tiếp cận theo đúng bảnchất thương mại, tức gắn liền với “hoạt động nhằm mục đích sinh lời” Điều này tạo cơ

sở quản lý quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tể quốc

tể của Việt Nam Cụ thể hơn hoạt động thương mại là hoạt động kinh doanh thươngmại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, kýgửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, vận chuyển hàng hóa, kháchhàng bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, mua bán cổ phiếu và giấy tờ cógiá khác, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; là quyền chuyển

Trang 11

Điều 29 Bộ luật tó tụng dân sự 2004.

6 Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

giao sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều cómục đích lợi nhuận5

1.1.2 Khái niệm về họp đồng.

Hợp đồng theo nghĩa chung nhất là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thayđổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể Truớc đây, phápluật Việt Nam quy định ba loại họp đồng cơ bản là họp đồng dân sự, thuơng mại, laođộng6 Nhung hiện nay, pháp luật quy định hợp đồng dân sự là một họp đồng mangtính chất bao trùm, họp đồng dân sự bao gồm cả họp đồng thuơng mại và họp đồngthuơng mại chỉ là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân sự Với mỗi khái niệm riêng vềhợp đồng trong mỗi ngành Luật thì đối tuợng áp dụng và nguyên tắc áp dụng cũng cónhiều điểm khác nhau Tuy nhiên, khi xét về bán chất thì hợp đồng là hình thức pháp lýthích hợp nhất thể hiện bản chất của các giao dịch liên quan đến tài sản Quan hệ kinh

tế và giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có chung hình thức pháp lý là hợp đồng

Hợp đồng dù thể hiện duới hình thức nào, bởi ngôn ngữ nào cũng phản ánh bản chất là

sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi và chấmdứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Ở nuớc ta truớc đây, hợp đồng dân sự đuợc quy định trong Bộ luật dân sự còn hợpđồng thuơng mại đuợc quy định trong luật thuơng mại và hợp đồng kinh tế lại đuợcquy định trong Pháp lệnh kinh tế Hai văn bản này đuợc áp dụng đối với hai loại hợpđồng khác nhau: một cho hợp đồng dân sự và một cho hợp đồng thuơng mại Tuynhiên trong nền kinh tế thị truờng hiện nay, rất khó phân biệt giữa hợp đồng dân sự vàhọp đồng thuơng mại Bởi lẽ, cả hai loại họp đồng này có nhiều điểm giống nhua về

Hợp đồng thuơng mại là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đoi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện

kế hoạch của mình.

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và nguời sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trang 12

Xem: Nguyễn Viết Tý, Phương hướng hoàn thiện pháp luật kinh tế trong điều kiện có Bộ luật dân sụ, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, trang 45-48.

8 Nghị Quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005.

9 GS.TSKH Đào Trí úc, Vai trò của Luật dân sự ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, năm 2007, ừang 92-96.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

bản chất, tức là đều phản ánh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nộidung đều là những hành vi mua bán và hao đổi các lợi ích vật chất, chủ thể của chúngđều là pháp nhân, cá nhân và các chủ thể khác Trên thực tế, việc áp dụng luật hợpđồng đã gặp không ít khó khăn và đã từng có những vụ việc mà dựa vào pháp luật hiệnhành mỗi cơ quan có thểm quyền xử lí theo mỗi cách7 Bộ luật dân sự năm 2005 đuợcban hành, thay thế Bộ luật dân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày29/9/1989 (văn bản quan họng nhất của hệ thống pháp luật hợp đồng kinh tế lúc bấygiờ)8 Việc điều chỉnh quan hệ họp đồng ở nuớc ta đuợc thống nhất trong hệ thốngpháp luật hợp đồng Nói nhu vậy, không có nghĩa là không có những quy định dànhcho các hợp đồng trong lĩnh vực thuơng mại Hiện nay, các quy định về hợp đồngkhông những chỉ được quy định trong Bộ luật dân sự mà còn được ghi nhận trong cácvãn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật xây dựng năm 2003; Luật kinh doanh bảohiểm năm 2003; Luật đấu thầu năm 2005; Luật giao dịch điện từ năm 2005 v.v Đặcbiệt, trong Luật thương mại 2005 cùng với việc ghi nhận nội dung các hoạt độngthương mại cụ thể, hợp đồng - hình thức biểu hiện của các hành vi đó cũng được phápluật quy định

Dưới góc độ phương pháp luận, khi xem xét mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự vàhợp đồng thương mại tương tự như xem xét mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành

vi thương mại, bởi lẽ hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại là hình thức của cáchành vi đó về mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại (kinh doanh),theo GS.TSKH Đào Trí úc thì “Hành vi kinh doanh là biểu hiện của một hành vi pháp

lý dân sự, phải là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự và Luật thương mại”9 Nhưvậy, mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại (kinh doanh) được nhìnnhận là mối quan hệ biện chứng giũa cái chung và cai riêng, trong đó, hành vi dân sự làcái chung và hành vi thương mại là cái riêng Tương tự như vậy, mối quan hệ giữa hợpđồng dân sự và hợp đồng thương mại cũng được nhìn nhận là mối quan hệ giữa cáichung và cái riêng, trong đó hợp đồng dân sự là cái chung và hợp đồng thương mại làcái riêng Với tư cách cái chung và cái riêng, hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại

Trang 13

TS Vũ Thị Lan Anh Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới, Tạp chí Luật học số 11/2008, hang 28-36.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

đều tồn tại khách quan và độc lập tuơng đối với nhau; những thuộc tính vốn có của họpđồng dân sự đuợc biểu hiện cụ thể trong họp đồng thuong mại, đồng thời họp đồngthương mại cũng có những đặc thù riêng của nó

Đối với pháp luật của các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưPháp, Đức và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (ví dụ: Bỉ, TâyBan Nha, một số nước ở châu Mỹ La tin, ) phân biệt khá rõ ràng giao dịch dân sự vàgiao dịch thương mại Những nước này xem hợp đồng là dạng của giao dịch khi có sựthống nhất ý chí của hai hay nhiều người nên pháp luật không đưa ra khái niệm về hợpđồng thương mại mà chỉ có khái niệm giao dịch thương mại (hành vi thương mai), theo

đó, mọi giao dịch gắn liền với hoạt động thương mại của thương nhân được xem làgiao dịch thương mại và chịu sự điều chỉnh riêng của pháp luật thương mại.10

Đối với các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ như Anh, Mỹ, các nướcchịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này và một số nước Châu Âu như Ý, HàLan, Thụy Sỹ không phân biệt luật dân sự và pháp luật thương mại và cũng khôngphân biệt hành vi thương mại với hành vi dân sự, lại càng không phân biệt hợp đồngthương mại với hợp đồng dân sự Pháp luật của các nước theo truyền thống Anh - Mỹhoàn toàn không có khái niệm hợp đồng, hợp đồng thương mại, hợp đồng dân sự, ngay

cả khái niệm hợp đồng nói chung cũng được hình thành từ án lệ Hệ thống án lệ Anhquan niệm hợp đồng là một hoặc nhiều cam kết (promise) mà nếu bên đưa ra cam kết

vi phạm thì phải chịu các chế tài Cơ sở hình thành họp đồng là một hoặc nhiều lời camkết tự nguyện nhận về mình những nghĩa vụ pháp lý nhất định Còn theo hệ thống án lệHoa Kỳ thì hợp đồng được hiểu là một hoặc nhiều cam kết mà việc thực hiện chúngđược pháp luật xem là nghĩa vụ; nếu vi phạm thì pháp luật quy định các chế tài Tuynhiên dù hệ thống pháp luật của các nước thoe truyền thống Anh - Mỹ cũng như thựctiễn thương mại không có khái niệm giao dịch thương mại nhưng điều đó không cónghĩa là các nước này không tồn tại các quy định về hợp đồng thương mại Ví dụ:

trong Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) chứa đựng nhiều điều khoản quyđịnh về hợp đồng giữa các thương nhân như: giao kết hợp đồng, điều kiện mua bán,các biện pháp bảo đảm cho người bán, chuyển quyền sở hữu vật; Trong Bộ luật Dân sự

Ý năm 1942 có các điều khoản về một số hợp đồng thương mại thuần túy trong đó có

Trang 14

TS Vũ Thị Lan Anh Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới, Tạp chí Lụật học số 11/2008, hang 37.

12 Khoản 3 Điều 1 Luật Thương Mại ngày 14/6/2005

13 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 24/6/2004.

14 TS Vũ Thị Lan Anh, vấn đề chung về họp đồng thương mại, Tạp chí Luật học số 11/2008, hang 6

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

hợp đồng góp vốn (Điều 1548 1551), hợp đồng tín dụng ngân hàng (Điều 1834 1860).11

-1.1.3 Đặc điểm cùa họp đồng thương mại

Dù hợp đồng thương mại là phần riêng của hợp đồng dân sự, nhưng hợp đồngthương mại vẫn phản ánh những đặc thù, tạo nên sự khác biệt với họp đồng dân sựthuần túy Nét đặc trưng của họp đồng thương mại được thể hiện qua các điểm sauđây:

Thành phần chủ thể đặc biệt của là nét đặc trưng nhất của họp đồngthương mại: các bên hoặc ít nhất một bên của hợp đồng phải là thương nhân12, các chủthể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứngcác điều kiện theo quy định của pháp luật13 Theo Bộ luật thương mại Đức chỉ cần mộtbên hợp đồng là thương nhân thực hiện hoạt động thương mại thì có thể áp dụng phápluật thương mại đối với hợp đồng này Đối với Bộ luật thương mại Pháp xem hợpđồng có cả hai bên chủ thể là thương nhân là hợp đồng thương mại; nếu chỉ có mộtbên là thương nhân, bên kia không phải là thương nhân thì đó là hợp đồng hỗn hợp vànếu có tranh chấp xảy ra từ hợp đồng này thì bên không phải là thương nhân đượcquyền lựa chọn kiện thương nhân tại tòa dân sự thẩm quyền chung hoặc tòa thươngmại, trong khi nếu thương nhân kiện bên không phải là thương nhân thì chỉ có thể kiện

ở tòa dân sự có thẩm quyền chung mà thôi.14

Một đặc điểm nổi bật của họp đồng thương mại, đó là mục đích tìm kiếmlợi nhuận thường xuyên của một hoặc các bên tham gia hợp đồng Bộ luật thương mạiĐức nhấn mạnh rằng hợp đồng thương mại là những hợp đồng được thực hiện trongkhuôn khổ nghề thương mại một cách hệ thống, chuyên nghiệp và nhăm mục đíchkiếm lời Đối với Bộ luật thương mại Pháp xem hợp đồng thương mại là hợp đồng dothương nhân thực hiện trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếmlợi nhuận thường xuyên Đối với Việt Nam, việc thực hiện hợp đồng thương mại phảitiến hành đúng theo các quy định của pháp luật, trong khuôn khổ ngành nghề đãng ký

Trang 15

Điều 7 Luật Thuơng mại 2005.

16 Xem: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=210AaWQ9NTAzJmdyb3VwaW CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

và các mặt hàng dịch vụ mà pháp luật đã quy định, việc thực hiện họp đồng này cũngnhằm mục đích sinh lời

Bên cạnh việc đề cao tự do họp đồng, pháp luật thương mại các nước còn

có những yêu cầu khắt khe hơn đối với thương nhân tham gia quan hệ họp đồng Vídụ: thương nhân phải đáp ứng yêu cầu về sự trung thực, cẩn họng khi tham gia giaokết và thực hiện hợp đồng (Điều 347 Bộ luật thương mại Đức) Nguyên tắc hợp lí vàtận tâm cũng được quy định trong pháp luật của các nước theo truyền thống pháp luậtAnh - Mỹ Theo Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ định nghĩa tận tâm là sựtrung thực và tuân thủ các tiêu chuẩn thương mại hợp lí khi tiến hành các thương vụmột cách trung thực Đối với Việt Nam, thương nhân phải đáp ứng đầy đủ các điềukiện do pháp luật quy định để được công nhận là thương nhân, bên cạnh đó thươngnhân có nghĩa vụ phải đãng ký kinh doanh Trường hợp chưa đãng ký kinh doanh,thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định củaLuật này và quy định khác của pháp luật15

Hợp đồng phải chứa đựng yểu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sựtrùng hợp ý chí của các bên Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyêntắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kếthợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Thỏa thuận theo từđiển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận Thỏa thuậncũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắt buộc phải được nhất trí hoàn toàn) đượcthể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số cácbên liên quan đối với những vẩn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình màmọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cảcác tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùngnhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên

Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuậnquân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành vãn bản gọi là hợp đồng viết hay hợpđồng thành vãn.16

Q9JmtpbmQ9ZXhhY3Qma2V5d29yZDlUSE81ZTElYmElYTIrVEhVJWUxJWJhJWFjTg==&page=l

Trang 16

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp những điều khoản mà các chủ thểtham gia họp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa

vụ dân sự cụ thể của các bên trong họp đồng Đây cũng chính là điều khoản cần phải

có trong một họp đồng Ví dụ: Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nội dung củahợp đồng dân sự như sau: “Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận vềnhững nội dung sau đây:

• 1 Đối tượng của họp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm

• 2 Số lượng, chất lượng;

• 3 Giá, phương thức thanh toán;

• 4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

• 5 Quyền, nghĩa vụ của các bên;

- Những điều khoản cơ bản: Là những điều khoản xác định nội dung chủ yểu củahợp đồng, là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng lọai hợp đồng Neukhông thể thỏa thuận được về những điều khoản đó thì xem như hợp đồng không thểgiao kết được Ví dụ: điều khoản về đối tượng của hợp đồng, giá cả, cách thức thanhtóan hay thực hiện nghĩa vụ Ví dụ: bên A và bên B ký với nhau một hợp đồng muabán hàng hóa, có đầy đủ các điều khoản khác, trong hợp đồng hai bên thỏa thuận loạihàng hóa mua bán là cam sành loại 1 và giá là 35,000 đồng/lkg, thì trong trường hợp

Trang 17

Điều 433 Bộ luật Dân Sự năm 2005.

18 Khoản 3 Điều 432 Bộ luật Dân Sự năm 2005 CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

này việc hai bên thỏa thuận về loại hàng hóa mua bán cam sành loại 1) và giá cả(35,000 đồng/lkg) là những điều khoản co bản của hợp đồng

- Những điều khoản thông thuờng (phổ thông): Là những điều khoản đuợc phápluật quy định trước Neu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận trước nhữngđiều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiên nhưpháp luật đã quy định Ví dụ: địa điểm giao tài sản là động sản trong hợp đồng muabán tài sản là tại nơi cư trú của người mua nếu trong hợp đồng các bên không thỏathuận về địa điểm giao tài sản nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận thì thực hiện theothỏa thuận)17, thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán, nếu các bên không có thỏa thuậnthì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận hàng.18

- Những điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản mà các bên tham gia giao kếthợp đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ của cácbên trong hợp đồng

Các loại điều khoản trong hợp đồng có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy từng trườnghợp và một điều khoản trong hợp đồng có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điềukhoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy nghi Ví dụ: điều khoản về địađiểm giao hàng sẽ là điều khoản cơ bản của hợp đồng nếu khi giao kết các bên có thỏathuận cụ thể về nơi giao hàng nhưng nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bênkhông có thỏa thuận (vì điều khoản đó sẽ mặc nhiên được thừa nhận và thực hiện theoquy định của pháp luật), mặt khác địa điểm giao hàng sẽ là điều khoản tùy nghi nếu cácbên có thỏa thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thựchiện nghĩa vụ giao hàng Như vậy, chế tài phạt vi phạm được xem là một điều khoảntùy nghi trong hợp đồng, bởi vì pháp luật không bắt buộc các bên khi tham gia hợpđồng phải thống nhất và thỏa thuận về mức phạt vi phạm Vì thế mà một hợp đồng vẫn

sẽ có hiệu lực dù không có thỏa thuận về phạt vi phạm, sự có mặt của chế tài phạt viphạm nhằm làm tăng trách nhiệm của các bên khi tham gia thỏa thuận, ký kết, thựchiện hợp đồng

Trang 18

Khoản 1 Điều 408 Bộ Luật Dân sự 2005.

20 Khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự 2005 CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Ngoài ra trong một hợp đồng còn có thể có phụ lục của của hợp đồng Điều 408 của

Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định về phụ lục hợp đồng nhu sau:

- Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản củahợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực nhu hợp đồng Nội dung của phụ lục hợp đồngkhông đuợc trái với nội dung của hợp đồng.19

- Trong truờng hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điềukhoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ truờng hợp có thỏathuận khác Trong truờng hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản háivới điều khoản trong hợp đồng thì coi nhu điều khoản đó trong hợp đồng đã đuợc sửađổi.20

Dựa vào hai nội dung trên, có thể thấy rằng chế tài phạt vi phạm là một chế tài độclập, không bắt buộc trong việc ký kết hợp đồng giữa các bên, nó hoàn toàn có thể làđiều khoản riêng lẻ nằm trong phụ lục riêng lẻ của hợp đồng, có thể dễ dàng đuợc bổsung, thay thế hay hủy bỏ khi có sự thống nhất và thỏa thuận trong hợp đồng Phạt viphạm đuợc xét ra đó là một khoản trong nội dung của hợp đồng mà các bên có quyền

tự do thỏa thuận hoặc là không, việc thỏa thuận này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí củacác bên, mang lại cho các bên một sự thỏa thuận tốt nhất Trong truờng hợp hợp đồngchính bị vô hiệu thì điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng, hay trong phụ lục củahợp đồng cũng sẽ bị vô hiệu theo hợp đồng chính vì xét chung dù phạt vi phạm là mộtthỏa thuận không bắt buộc trong hợp đồng, nhưng khi đã có thỏa thuận về phạt viphạm trong hợp đồng thì nó trực tiếp liên quan đến hợp đồng và phụ thuộc vào hợpđồng chính

1.1.5 Hình thức của họp đồng thương mạỉ

Theo nghĩa chung nhất, hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bênngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức biểuhiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch thương mại đã xác lập Hìnhthức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xácnhận các quan hệ thương mại đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định tráchnhiệm khi có vi phạm xảy ra Hình thức của họp đồng có thể là lời nói, văn bản hoặc

Trang 19

Th.s Phạm Hoàng Giang - Anh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2007, toang 11.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

các hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch thương mại phảiđược thể hiện bằng hình thức văn bản hoặc phải được công chứng, chứng thực, đãng

ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quy định về hình thức khi ký kết hợp đồng

Có thể nói, hình thức hợp đồng còn được hiểu là sự thể hiện nội dung của hợpđồng và những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phảituân thủ khi ký kết một số loại hợp đồng nhất định Việc đưa ra hình thức bắt buộc đốivới một số loại giao dịch là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giaokết kinh doanh và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch kinh doanh,quyền và nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật kinh doanh

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một sốhợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi phạmquy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý Vi phạm các quy địnhbắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công Vì vậy,chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình thức nhấtđịnh theo đòi hỏi của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng Pháp luật một số nướccoi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi ích công cộng nên hợp đồng vô hiệu tuyệtđối Ví dụ, pháp luật của Đức đã đưa ra các đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ nghiêmngặt điều kiện về hình thức để nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đốimặt với những tình huống bất ngờ, cũng như để hạn chế phương pháp chứng cứ Tuynhiên, việc pháp luật quy định hợp đồng phải được thiết lập bởi những hình thức nhấtđịnh sẽ vô tình tạo nên khoảng cách nhất định giữa sự thỏa thuận mong muốn của cácbên với hiệu lực của hợp đồng Hay ở một số nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ(common law), người ta quan niệm hình thức vãn bản là bắt buộc đối với các hợp đồng

có giá trị Đơn cử Anh và úc, hợp đồng bắt buộc phải được lập thành vãn bản khi giátrị của nó lớn hơn 10 bảng Anh Quy định này xuất phát từ hệ thống luật án lệ coi cácvăn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và có tính chất như luật đối với các bên và đóchính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết tranh chấp Nhờ

đó, hợp đồng ở các nước này được soạn thảo rất chặt chẽ.21

Trang 20

Th.s Dương Anh Sơn, Th.s Lê Minh Hùng - Hình thức văn bản, văn bản có chứng thực là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18(179) tháng 9/2010, trang 38-39.

23 Th.s Phạm Hoàng Giang - Anh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2007, hang 13.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Một số nước theo hệ thống luật lục địa (Continental law) như Pháp, Thụy Sỹ thìcoi tự do ký kết họp đồng là nguyên tắc cơ bản Ở các nước này, sự thoả thuận thể hiện

ý chí chung của các bên đã là điều kiện đủ để hình thành nên hợp đồng, cho dù chúngđược thể hiện dưới bất cứ hình thức nào Nguyên tắc này coi trọng “chữ tín”, nghĩa làkhi đã cam kết điều gì thì các bên phải tự giác thực hiện Thực tế này đã giúp loại bỏcác trường hợp hợp đồng bị vô hiệu vì có vi phạm về hình thức Có lẽ do không coihình thức là điều kiện xác định tính hợp pháp của hợp đồng mà luật của nước Pháp có

sự phân biệt giữa giao dịch kinh doanh không có hiệu lực với giao dịch kinh doanh dokhông tuân thủ theo thủ tục nhất định (mà trên thực tế dù hợp đồng có hiệu lực song lạikhông thể chứng minh được, hoặc không đủ chứng cứ để chứng minh trước toà án về

sự tồn tại của họp đồng khi có tranh chấp) Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch kinhdoanh không có hiệu lực và giao dịch kinh doanh có hiệu lực nhưng không thể chứngminh được trên thực tế là không lớn, bởi nếu giao dịch có hiệu lực nhưng không thểchứng minh được một cách dễ dàng thì rất khó khăn để xác định sự tồn tại của nó, màchỉ có thể được xác định khi có sự thừa nhận của các chủ công ty mà thôi Vì vậy, đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ công ty Pháp thường ký kết hợpđồng bằng vãn bản cho dù pháp luật có đòi hỏi hay không.22

Hệ thống pháp luật của Đức lại hoàn toàn khác Mặc dù, hình thức của giao dịchkinh doanh không có chức năng chứng cứ, nhưng vi phạm điều kiện về hình thức sẽđưa đến sự vô hiệu của hợp đồng Sự giải thích duy nhất đối với việc trói buộc một chểtài mạnh như vậy là do nhà làm luật quan tâm tới việc bảo vệ các bên trước những tìnhhuống bất ngờ Do đó, Đức đã đưa vào phần chung của Bộ luật dân sự nguyên tắc: giaodịch pháp luật không được thực hiện bằng hình thức hợp pháp thì sẽ bị vô hiệu hoặckhông có giá trị Điều này được lý giải là các đòi hỏi hình thức được dự liệu để nhằmbảo vệ những người không có kinh nghiệm trước sự bất ngờ, cũng như hạn chế phươngpháp chứng cứ Luật dân sự Việt cũng có cách tiếp cận như vậy về hình thức hợpđồng.23

Đối với các giao dịch thương mại, khuynh hướng của các nước thuộc hệ thốngluật châu Âu là hướng tới sự không bắt buộc về hình thức Khuynh hướng này đã được

Trang 21

Xem: Konrad Zweigert, Hein Kotz, Pháp luật so sánh trong lĩnh vực luật tư, NXB “Quan hệ quốc tế”, Matxcơva 1998, trang 66.

25 Điều 40 Mục 1 Chương rv Luật Thương Mại 2005.

26 Điều 110 Mục 2 Chương rv Luật Thương Mại 2005

27 Xác lập bằng lời nói, hành vi cụ thể.

28 Điều 24 Mục 1 Chương II Luật Thương Mại 2005.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

thể hiện rất rõ trong nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, theo đó không có sự bắtbuộc về hình thức của hợp đồng Ngược lại, ở Mỹ, Bộ luật thương mại đòi hỏi hợpđồng mua bán hàng hoá phải thể hiện bằng văn bản nếu giá cả vượt quá một con số xácđịnh và hướng tới mục đích tất cả các giao dịch đều phải được thể hiện bằng vãn bản.Với pháp luật Hoa Kỳ, Điều 2-201 ucc quy định, hợp đồng mua bán có giá trị từ5.000 USD phải được ký kết bằng vãn bản, nếu không tuân thủ hình thức vãn bản thìhợp đồng vẫn có thể có giá trị pháp lý nhưng các bên khó có thể có giá trị pháp lýnhưng các bên khó có thể bảo vệ được quyền lợi của mình tại tòa, bởi lẻ không cóchứng cứ Từ năm 1982, trong pháp luật Hoa Kỳ hình thành nguyên tắc: hợp đồng vềchuyển quyền sở hữu đối với đất đai vi phạm về hình thức có thể không bị coi vô hiệu,nếu nguyên đơn có đầy đủ cơ sở tin rằng hợp đồng đã được ký kết và làm phát sinhhiệu lực, và trong trường hợp này, để đảm bảo sự công bằng, việc yêu cầu thực hiệnhợp đồng phải được chấp nhận 24

Đối với pháp luật Việt Nam, hợp đồng thương mại trong một số lĩnh vực nhấtđịnh phải được lập thành vãn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương, ví dụ: hợp đồng khuyến mại25, họp đồng dịch vụ quảng cáo thươngmại26, Bên cạnh việc quy định hình thức hợp đồng thương mại phải được lập thànhvãn bản, Luật thương mại 2005 của Việt Nam vẫn chấp nhận các hình thức khác27 củahợp đồng như các quốc gia khác trên thể giới như: hợp đồng mua bán 28 Theo đó, việcquy định hình thức hợp đồng trong Luật thương mại 2005 nhằm mục đích đưa rakhung cơ sở pháp lý vững chắc cho các giao dịch mang tính chất phức tạp, quan trọng

Như vậy, không có hệ thống pháp luật nào có thể miễn trừ hoàn toàn các đòi hỏi

về hình thức, song việc có thừa nhận hình thức là điều kiện hiệu lực của hợp đồng haykhông lại phụ thuộc cách tiếp cận vấn đề của pháp luật từng nước Do vậy, trong giaodịch kinh doanh, trước khi tiến hành ký kết hợp động kinh doanh với các đối tác nướcngoài, chúng ta cần xem xét và nắm vững các quy định pháp luật về hợp đồng của

Trang 22

TS Nguyễn Thế Thuấn và TS Trần Hậu Thành, 100 câu hỏi liên quan đến hợp đồng, NXB Đà Năng, năm

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

nước đó Các công ty là khi ký kết Hợp đồng kinh doanh quốc tế, công ty nên thoảthuận với đối tác để luật điều chỉnh Hợp đồng là luật của nước mình Có như thế, khi

có tranh chấp xảy ra, công ty sẽ đỡ mất thời gian tìm hiểu pháp luật nước ngoài và cóthêm lợi thế để giải quyết các vướng mắc phát sinh

1.2 Khái quát chung về chế tài phạt vỉ phạm 1.2.1 Khái niệm chế tài phạt vỉ phạm

1.2.1.1 Khái niệm chế tài

Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động

mà nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnhcủa nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy định pháp luật.29

Các biện pháp mà nhà nước tác động tới chủ thể vi phạm pháp luật rất đa dạng.Căn cứ vào tính chất của những biện pháp đó và cơ quan có thẩm quyền áp dụngnhững biện pháp đó và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chúng để có thể chia chế tàiquy phạm pháp luật thành các loại sau:30

- Chế tài hình sự (hình phạt) theo luật Hình sự Việt Nam gồm có: cảnh cáo, phạttiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình Ngoài ra còn có cáchình phạt phụ như cấm đoán việc đảm nhiệm những chức vụ làm những nghề hoặccông việc nhất định, cấm cư trú quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tàisản

- Chế tài hành chính gồm các biện pháp: cảnh cáo, phạt tiền Ngoài ra còn có cácbiện pháp bổ sung tước đoạt quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, tịch thu tang vật,phương tiện vi phạm

- Chế tài kỷ luật gồm các biện pháp: trách nhiệm vật chất, bồi thường thiệt hại

- Chế tài dân sự: yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạm vi phạm,

Chế tài qui phạm pháp luật liên quan chặt chẽ với trách nhiệm pháp lý Nhữngbiện pháp mà Nhà nước quy định ở chế tài qui phạm pháp luật không chỉ nhằm mụcđích trừng phạt, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật mà còn mang tính giáo dục mọi

Trang 23

Điều 300 Luật Thương Mại 2005.

32 Khoản 1 Điều 422 Bộ Luật Dân sự 2005.

33 Lê Trung Thảo, Tài liệu nghiên cứu pháp luật về thương mại, NBX Thời Đại, năm 2009, hang 278-302.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

người tôn trọng pháp luật, đấu tranh và phòng chống vi phạm pháp luật, bảo vệ trật tự

xã hội

Và trong đề tài này, người viết chỉ tập trung chủ yếu phân tích và nghiên cứu chếtài dân sự nói chung và chế tài dân sự trong họp đồng thương mại nói riêng

1.2.1.2 Khái niệm chế tài phạt vỉ phạm.

Theo Luật Thương Mại 2005: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên

vi phạm hả một khoản tiền phạt do vi phạm họp đồng nếu trong họp đồng có thỏathuận”31 32

Theo Bộ luật Dân sự 2005: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên tronghợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”

32

Từ hai khái niệm trên, khi phân tích vào câu chữ, tôi thấy rằng đề cập đến phạt

vi phạm từ khi đó là “sự thỏa thuận” giữa hai bên, và điều khoản này nhằm đưa ra phầnnghĩa vụ mà bên còn lại phải thực hiện nếu bị vi phạm Trong khi đó, theo LuậtThương mại thì phạt vi phạm được đề cập đến khi “bên bị vi phạm yêu cầu bên vịphạm trả một khoản tiền do vi phạm hợp đồng” Như vậy, khi so sánh hai khái niệmtrên, một câu hỏi được đặt ra là: khi hai bên tham gia ký kết hợp đồng, có thỏa thuận vềđiều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng, vậy giai đoạn thỏa thuận mức phạt vi phạmnày gọi là gì? Vì như theo câu chữ của Luật Thương mại 2005 thì khi bên vi phạm cóyêu cầu thì đó mới gọi là “phạt vi phạm”, vậy giai đoạn này có phải đó gọi là “thỏathuận phạt vi phạm”

Dù có điểm không đồng nhất của khái niệm phạt vi phạm trong 2 nguồn luật.Nhưng nhìn chung lại, chúng ta có hiểu chế tài phạt vi phạm theo nghĩ sau: Chế tàiphạt vi phạm là một loại chế tài gây bất lợi cho người có hành vi vi phạm, được thỏathuận cụ thể giữa các bên về một mức phạt nhất định khi có hành vi vi phạm mà ở đócác bên dù có lỗi hay không có lỗi vẫn phải chịu hậu quả bất lợi này.33

1.2.2 Đổi tượng áp dụng của chế tài phạt vỉ phạm.

Trang 24

Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp bao gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; tổ chức tín dụng

được thành lập theo Luật các Tổ chức tín dụng; tổ chức bảo hiểm được thành lập theo Luật Kinh doanh bảo hiểm

và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật

35 Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh của chế tài phạt vi phạm trong Bộ luậtdân sự và Luật Thương mại có khác nhau Quy định tại Bộ luật dân sự được áp dụngcho các giao dịch dân sự giữa cá nhân - cá nhân (hoặc tổ chức) không nhằm mục đíchkinh doanh ví dụ: ông A đến cửa hàng ông B ký hợp đồng mua 5 dãy cửa sắt về làmcửa trong nhà (mục đích sử dụng) Còn qui định tại Luật Thương mại chủ yếu được ápdụng cho đối tượng là thương nhân và giao kết hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh,sinh lợi ví dụ: doanh nghiệp tư nhân A tiến hành ký kết mua 2 tấn gạo từ công tyTNHH MTV B để bán lại cho công ty TNHH MTV c (mục đích lợi nhuận) Thươngnhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp34, cá nhân hoạt động thươngmại một cách độc lập, thường xuyên và có đãng ký kinh doanh35 Hoạt động thươngmại một cách độc lập có thể được hiểu là hoạt động của chủ thể nhân danh mình, vì lợiích của bản thân, không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi ý chí của các chủ thể khác

mà được hoạch định bởi chính ý chí của chủ thể đó Chủ thể hoạt động thương mại mộtcách độc lập được toàn quyền quyết định nội dung hoạt động cũng như chịu tráchnhiệm trực tiếp về hành vi của mình Trong hoạt động thương mại, việc nhân danhmình là một hệ quả chính yếu xuất phát từ quyền độc lập kinh doanh của các chủ thểkinh doanh Hoạt động thương mại thường xuyên được hiểu : trên cơ sở có kế hoạchlâu dài, được thực hiện một cách thực tế, lặp đi lặp lại, kế tiếp, liên tục mang tính chấtnghề nghiệp thường xuyên để kiểm sống, tạo ra nguồn thu nhập cho thương nhân Cácquy định về khái niệm thương nhân của Luật Thương mại năm 2005 đã thể hiện sự baoquát và sự tương đồng với Luật Thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới Theo Bộluật Thương mại của Đức, về cơ bản, thương nhân là bất cứ chủ thể nào tiến hành hoạtđộng thương mại, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh và không phụ thuộc vào việcchủ thể có đãng ký kinh doanh hay không (Điều 14); Đối tượng áp dụng của Bộ luậtThương mại Philippin cũng bao gồm các chủ thể là thương nhân nhưng có hoạt độngthương mại nhằm mục đích sinh lời (Điều 2); Luật mua bán hàng hóa của Thụy Điển(thuộc Bộ luật Thương mại Thụy Điển) cũng áp dụng với mọi chủ thể tiến hành hoạtđộng mua bán hàng hóa (tài sản) nhằm mục đích sinh lời (Điều 5) Có thể nói Luật

Trang 25

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

thương mại 2005 điều chỉnh cả các chủ thể khác (không phải là thương nhân) - “tổchức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại”, thực chất là sự công nhậnkhái niệm “thương nhân thực tế” như pháp luật thương mại một số quốc gia trên thếgiới Việc quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể có thể tham gia hoạtđộng thương mại và là cơ sở pháp lý quan ứọng nhằm đảm bảo tính bao quát trongviệc điều chỉnh các chủ thể tham gia vào hoạt động, đặc biệt là trong việc áp dụng phápluật, giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể có hoạt động liên quan đểnthương mại có thỏa thuận cụ thể với nhau về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồngthương mại

Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 cùng được ban hành và có hiệu lựccùng lúc tạo ra bước ngoặt trong trong pháp luật dân sự, thương mại Việt Nam Luậtdân sự, kinh tế hay thương mại không còn là các lĩnh vực tách rời và độc lập với nhaunữa Khái niệm quan hệ dân sự được định nghĩa tại Điều 1 Bộ luật Dân sự 2005 lúcnày bao hàm cả quan hệ kinh doanh, thương mại Đồng thời khoản 3 Điều 4 LuậtThương mại 2005 quy định “Hoạt động thương mại không được quy định trong LuậtThương mại và trong các luật khác thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự” Haiquy luật này đã thiết lập nên quan hệ luật chung (lex generalis) và luật riêng (lexspecialis) giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 với nguyên tắc, nếu luậtriêng quy định thì không áp dụng quy tắc của luật chung (lex specialis derogat le gigenerali) Mối quan hệ này một mặt cho phép Luật Thương mại lược bỏ (không quyđịnh) những vấn đề không cần quy định khác đi so với Bộ luật Dân sự 2005 Ví dụ điểnhình là Luật Thương mại 2005 đã không quy định vấn đề chào hàng và chấp nhận chàohàng như Luật Thương mại 1997 trước kia nữa Thay vào đó các quy định về đề nghịgiao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của Bộ luật Dân sự 2005được áp dụng cho việc thiết lập quan hệ hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 Nóichung, Bộ luật dân sự là bộ luật có tính chất “nền tảng” trong hệ thống pháp luật mộtquốc gia Nguyên tắc và các qui định tại Bộ luật dân sự mang tính lan tỏa và địnhhướng cho các luật khác (gọi là luật chuyên ngành) Tuy nhiên, trong trường hợp có sựkhác biệt giữa Bộ luật dân sự và Luật chuyên ngành thì luật chuyên ngành sẽ được ưutiên áp dụng (Tất nhiên là phải áp dụng đúng đối tượng)

Như vậy, có thể thấy là việc doanh nghiệp ký kết 1 hợp đồng bất kỳ với một chủ thểkhác nhằm mục đích kinh doanh đều thuộc sự điều chỉnh của Luật Thương mại Do

Trang 26

Khoản 1 và khoản 3 Diều 4 Luật thuơng mại 2005 “1 Hoạt động thuơng mại phải tuân theo Luật thương mại

và pháp luật có liên quan 3 Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật

khấc thí ắp dụng quy định của Bộ luật dân sự.”

37 Theo quy định của Pháp lênh hợp đồng kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 29) Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng kinh tế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng kinh tế.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

vậy, trong trường hợp này luật áp dụng mang tính ưu tiên hon chính là Luật ThưongMại Nguyên tắc “ưu tiên luật chuyên ngành” thường được ghi rõ trong luật chuyênngành, trong phần đầu của luật, nó giúp làm sáng tỏ cho đối tượng của luật mà phầnphạt vi phạm được áp dụng36

1.2.3 Vai trò của chế tài phạt vỉ phạm

Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên

bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong hường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệthại37 Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có haykhông có thiệt hại Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồithường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu Cũngchính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng

cố quan hệ hợp đồng thương mại, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật họp đồng kinh tếnói riêng, pháp luật quản lý kinh tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồngthương mại

Phạt vi phạm được nói đến chủ trong Luật thương mại là một trong những biệnpháp chế tài do vi phạm hợp đồng Xuất phát từ quy định nói trên của pháp luật mànhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháptrừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Quan điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh

tế phi thị trường, kế hoạch hoá Bởi vì khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng thươngmại chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiệnnghĩa vụ hợp đồng được xem là kỷ luật của Nhà nước Trong cơ chế kinh tế thị trườngthì mục đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác Vì vậy, cáchhiểu trên trở nên không thích hợp

Trang 27

TS Dương Anh Sơn, TS Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt nam, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/2005, trang 42-48.

39 TS Dương Anh Sơn, TS Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt nam, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/2005, hang 42-48.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ họp đồng trong hoạt động dân sự vàthương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định củacác văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp đồng có các vai trò sau:

- Được xem là biện pháp tăng cường trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hợp đồngkhi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ Với mức phạt được quy định cụ thể thì điều nàygiúp cho các chủ thể có thể biết trước được mực phạt sẽ phải gánh chịu nếu vi phạmhợp đồng và hạn chế được tình trạng vi phạm trong hợp đồng Đối với trường hợp phạt

vi phạm theo hợp đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mụcđích thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực hiệnnghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là tăng cườngmức trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi giao kết hợp đồng Tuy nhiên trong trườnghợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức của tráchnhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉthoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại.38

- Khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợpđồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi

phạm Và sự đền bù vật chất này được quy định cụ thể với một % theo luật định Theo

quan điểm của TS Dương Anh Sơn Và TS Lê Thị Bích Thọ, phạt vi phạm là một tronghai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt màchỉ có chức năng đền bù Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tínhtrừng phạt là chức năng của phạt vi phạm Cách nhìn nhận này trong pháp luật của cácnước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại Trong thực tiễn cónhững trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra,nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoảthuận trước thì rõ ràng là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, vì đó là phầntrách nhiệm mà chính các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.39

Trang 28

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

- Nhằm bảo đảm phân biệt rõ giá trị pháp lý, ý nghĩa riêng biệt của mỗi điềukhoản (nhiều khi phải mất nhiều công sức qua đàm phán, thỏa thuận mới đạt được),cũng như nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng của một bên yêu cầu hủy bỏ giaodịch vì sự vô hiệu của một điều khoản mà trong nhiều tình huống là không cần thiết vàkhông bào vệ được quyền và lợi ích của bên (các bên) còn lại Tuy nhiên đều nàykhông có nghĩa là các bên được quyền tự do thỏa thuận nội dung của điều khoản này

mà nó còn tùy thuộc vào luật điều chỉnh hợp đồng nơi mà pháp luật có thể có nhữngquy định khác và chặt chẽ hơn quyền của các bên khi thỏa thuận điều khoản vô hiệu ,nhất là các quy định bảo vệ nguyên tắc pháp luật quốc gia

- Răn đe, ngăn chặn vi phạm họp đồng (trong trường hợp có vi phạm thì bên viphạm sẽ phải nộp "phạt" không phụ thuộc vào việc thực tế vi phạm đó có gây ra thiệthại cho bên kia không) Mục đích này nhằm cho các bên phải thấy trước được khoảngiá trị vi phạm mà mình phải trả cho bên bị vi phạm, từ đó có một hướng nhìn trước vềtương lai của việc thực hiện hợp đồng, việc cam kết về giời gian, hàng hóa, chất lượng,kho bãi, nhân viên, kỹ thuật,v.v đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện theo đúngnhững gì các bên đã thỏa thuận, nâng cao ý thức, tính trách nhiệm trong quá trình giaokết hợp đồng Chế định trách nhiệm hợp đồng chủ trương áp dụng các biện pháp chếtài đối với mọi hành vi vi phạm hợp đồng (trừ trường hợp được miễn theo quy định củapháp luật hoặc bên vi phạm không yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm) Quy định vềtrách nhiệm hợp đồng có tác dụng rất mạnh mẽ vào ý thức các bên, nâng cao tinh thầntrách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế

vi phạm hợp đồng xảy ra

- Chi trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm theo mức định trước (tức là nếu có

vi phạm gây thiệt hại thì bên bị thiệt hại không được quyền đòi mức phạt vi phạm quámức mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng trước đó, mặc dù lỗi dẫn đến vi phạmtrong hợp đồng hoàn toàn thuộc về bên kia) Việc này đảm bảo một khung pháp lývững chắc theo hình thức thỏa thuận mức phạt vi phạm nhằm ngăn chặn hành vi lợidụng việc vi phạm của một bên mà tăng mức phạt vi phạm đã thỏa thuận trước kiaBên cạnh đó vì phạt vi phạm do pháp luật quy định nên theo quan điểm của một sốtác giả, không thể thực hiện chức năng tăng cường trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, bởi

vì phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể

Trang 29

l.Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

41 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch dân sự vô hiệu do

giả tạo; giao dịch dân sự vô hiệu do nguôi chua thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nguôi bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn; giao dịch dân sự do bị lùa đối, đe dọa; giao dịch dân sự vô hiệu do ngucri xác lập không nhận thức và làm chủ đuợc hành vi của mình; giao

dịch dân sự vô hiệu do nguôi xác lập không nhận thức và làm chủ đuợc hành vi của mình; giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức; giao dịch dân sự vô hiệu từng phần.

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ nói trên Quan điểm này theo tôi là thiếu thuyếtphục bởi những lý do sau đây: thứ nhất, phạt vi phạm đuợc quy định ngay trong phầntrách nhiệm và thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng của pháp luật nhiều nuớc; thứ hai,mặc dù phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ

cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia quan hệ nghĩa vụ đó nhưng khi

ký kết hợp đồng các bên không thể không biết quy định của pháp luật về điều đó

1.2.4 Đặc điểm của chế tài phạt vỉ phạm.

Khi một họp đồng thương mại được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa

vụ phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Việc vi phạm các nghĩa

vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủnghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu chế tài do pháp luật quy định Xét về bảnchất thì phạt vi phạm là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong hoạt độngthương mại

Phạt vi phạm trong hoạt động thương mại có những đặc điểm cơ bản là:

- Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng thương mại có hiệu lựcpháp luật Có nghĩa là việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải phù hợp với pháp luật hiệnhành, bảo đảm đầy đủ các điều kiện của một hợp đồng có hiệu lực theo Điều 122 Bộluật dân sự 200540, không rơi vào các điều khoản được quy định tại Điều 410 Bộ luậtdân sự 2005 41

- Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc tráchnhiệm về tài sản Việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải liên quan trực tiếp đến phầnnghĩa vụ trong hợp đồng mà hai bên giao kết, việc thỏa thuận này không thể nào là mộtthỏa thuận nằm ngoài và không liên quan đến hợp đồng Việc quy định này đảm bảo

a) Nguời tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không hái đạo đức xã hội;

c) Nguời tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của gioa dịch trong truờng hợp pháp luật có quy định.

Trang 30

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

quyền lợi ích cho các bên, tránh được những thỏa thuận trong hợp đồng gây ảnh hưởngđến các bên, ảnh hưởng đến vấn đề cạnh tranh lành mạnh

- Do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị phạt vi phạm ápdụng trên cơ sở pháp luật Khi một bên bắt đầu có hành vi xâm phạm đến hợp đồng đãthỏa thuận, đó có thể là việc thực hiện sai, thực hiện không đúng theo thỏa thuận hoặc

có thể là không thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm đương nhiên có quyền yêu cầubên vi phạm phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt vi phạm như đã thỏa thuậntrong hợp đồng với mình (không đề cập đến những phần nghĩa vụ khác) Khi bên viphạm luôn tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt vi phạmnhư trong thỏa thuận với bên bị phi phạm thì bên bị vi phạm có quyền tiến hành quátrình tố tụng tại cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật Lúc này quyền lợi của bên bị viphạm sẽ được sự bảo đảm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.2.5 Ưu điểm của việc áp dụng chế tài phạt vỉ phạm

Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chứngminh có thiệt hại và mức độ thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra là vấn đề khôngđơn giản và mất nhiều thời gian Bởi vậy, việc áp dụng phạt vi phạm như là một hìnhthức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có những ưu điểm sau:

- Thứ nhất, là công cụ thuận tiện để đền bù những tổn thất, mất mát của người

có quyền do hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra Chếtài phạt vi phạm được xem như một công cụ hiệu quả tức thời mà bên bị vi phạm cóthể nhận lại được phần giá trị vi phạm đó nhanh chóng và phù hợp nhất

- Thứ hai, cho phép thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng Chỉ cần có sự

vi phạm hợp đồng và sự vi phạm này không phải là hậu quả của tình huống bất khảkháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm do các bên thoả thuận là người bịthiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thỏa thuận Việc yêu cầunày có thể được gởi trực tiếp cho bên vi phạm hoặc đến cơ quan có thểm quyền khihợp đồng có điều khoản phạt vi phạm đúng theo quy định của pháp luật hiện hành

- Thứ ba, khi sử dụng hình thức bồi thường thiệt hại, bên có quyền không nhữngcần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, mà còn phải chứng minh được rằng

họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại Điều này gây cho bên bị

vi phạm rất nhiều điều bất lợi và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến việc bên vi phạm

Trang 31

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

sẽ không phải chịu trách nhiệm, bởi vì do những lý do nào đó họ không thể chứngminh một cách đầy đủ những thiệt hại mà họ phải gánh chịu Còn khi sử dụng biệnpháp phạt vi phạm thì bên vi phạm phải chứng minh những sự kiện nói trên nếu họkhông muốn chịu trách nhiệm Việc quy định bên vi phạm hợp đồng phải chứng minhrằng mình đã cố gắng khắc phục hậu quả nhằm tránh thiệt hại, tổn thất cho bên bị viphạm là một quy định hợp lý giúp cho quyền lợi của bên bị vi phạm đuợc bảo đảm vìviệc chứng minh những tổn thất nhu đối với quy định trong bồi thuờng thiệt thại thìthật là một vấn đề khó khăn đối với bên bị vi phạm

- Thứ tu, tránh đuợc những chi phí phát sinh trong quá trình chứng minh thiệthại, mức độ của thiệt hại Rõ ràng, việc chứng minh mức độ thiệt hại không phải làviệc dễ dàng trong thực tể, bên bị thiệt hại trong nhiều truờng hợp phải nhờ đến sựgiúp đỡ của những nguời khác và chi phí này cũng đuợc coi là thiệt hại thực tế và bên

vi phạm phải gánh chịu Việc tránh đuợc những chi phí liên quan trong quá trình phảichứng minh tổn thất, mức độ thiệt hại đối với bên bị vi phạm là một thuận lợi lớn đốivới bên bị vi phạm trong chế tài thưong mại Nó giúp bên bị vi phạm tránh đuợc nhữngkhoản tiền lớn mà mình phải bỏ ra trong quá trình chứng minh, đôi khi số tiền này lạilớn hon so với số tiền mà bên vi phạm phải thanh toán Do vậy, bỏ qua việc chứngminh tổn thất, thiệt hại đối với bên bị vi phạm trong chế tài thuong mại là một quy địnhhợp lý giúp các bên có thể bào vệ đuợc quyền lợi thật sự của mình khi trong hợp đồng

có điều khoản quy định về phạt vi phạm hợp đồng

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Thương Mại ngày 27/6/2005 Khác
2. Luật Thương Mại ngày 10/5/1997 Khác
3. Bộ luật Dân sự ngày 27/6/2005 Khác
4. Bọ luạt Dân sự ngày 28/10/1995 Khác
5. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tể ngày 25/9/1989 Khác
6. Luật Xây dụng ngày 26/11/2003 Khác
7. Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Khác
10. Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 03/2008/KDTM-ST ngày 13 và ngày 18/3/2008, Tòa án nhân dân quận Đống Đa Khác
11. Điều 37, 38 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợ đồng kinh tế.^rSách, báo, tạp chí Khác
1. Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội năm 2001 Khác
2. Giáo trình Luật Thương mại Khoa Luật Đại học cần Thơ năm 2009 Khác
3. Giáo trình Luật Dân sự Khoa Luật trường Đại học cần Thơ năm 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w