Hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế có đặc điểm như thế nào; luật Việt Nam và CISG quy định ra sao vềhiệu lực họp đồng, các phương thức giao kết, hình thức họp đồng, quyền và nghĩa vụcác bê
Trang 1LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2008-2012
ĐÈ TÀI :
SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIÊT NAM VÀ CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VÈ HỢP ĐONG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TÉ
Giảng viên hướng dẫn
Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quốc Việt MSSV: 5086015
Lớp : Luât Thương Mại 2
Trang 2NHẶN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
—soGQlGa—
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẰU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ HỢP ĐÒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TÉ 4
1.1 Khái niệm hạp đồng, họp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4
1.1.1 Khái niệm họp đồng 4
1.1.2 Khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa 4
1.1.3 Khái quát họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 6
1.1.3.1 Khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam .6
1.1.3.2 Khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế qua các văn bản pháp luật quốc tế 9
1.2 Nguyên tắc giao kết họp đồng và hình thức giao kết họp đồng 10
1.2.1 Nguyên tắc giao kết họp đồng 10
1.2.2 Hình thức giao kết họp đồng 11
1.3 Đặc điểm họp đồng mua bán hàng hóa trong nước và họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
1.3.1 Đ ặc điểm họp đồng mua bán hàng hóa trong nước 12
1.3.2 Đ ặc điểm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.4 Nguồn luật điều chỉnh họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15
1.4.1 Pháp luật quốc gia 16
1.4.2 Điều ước quốc tế 17
1.4.3 Tập quán thưomg mại 19
CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CISG VÈ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 21
2.1 Hiệu lực họp đồng 21
2.1.1 Hiệu lực họp đồng theo luật Việt Nam 21
2.1.2 Hiệu lực họp đồng trong CISG 26
2.2 Giao kết họp đồng 27
2.2.1 Giao kết họp đồng theo luật Việt Nam 27
2.2.1.1 Đ ề nghị giao kết 27
2.2.1.2 Chấp nhận đề nghị 29
Trang 42.2.2.2 Châp nhận giao kêt 32
2.3 Hình thức hợp đồng 34
2.3.1 Hì nh thức hợp đồng theo luật Việt Nam 34
2.3.2 Hì nh thức họp đồng theo CISG 35
2.4 Quyền và nghĩa yụ các bên 36
2.4.1 Quyền và nghĩa vụ các bên theo luật Việt Nam 36
2.4.1.1 Nghĩa vụ cơ bản của bên bán 36
2.4.1.2 Nghĩa vụ cơ bản bên mua 43
2.4.2 Quyền và nghĩa vụ các bên theo CISG 45
2.4.2.1 Nghĩa vụ của người bán 45
2.4.2.2 Nghĩa vụ của người mua 48
2.5 Trách nhiệm do vi phạm 49
2.5.1 Trách nhiệm do vi phạm theo luật Việt Nam 50
2.5.1.1 Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm họp đồng mua bán hàng hóa 50
2.5.1.2 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm họp đồng mua bán hàng hóa 52 2.5.1.3 Miễn trách nhiệm do vi phạm họp đồng 56
2.5.2 Trách nhiệm do vi phạm theo CISG 57
2.5.2.1 Chế tài hủy họp đồng 57
2.5.2.2 Buộc thực hiện đúng họp đồng 58
2.5.2.3 Chế tài bồi thường thiệt hại 59
2.5.2.4 Các trường họp miễn trách 59
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐÈ XUẤT TỪ VIỆC so SÁNH LUẬT VIỆT NAM VÀ CISG VÀ VẤN ĐÈ GIA NHẬP CISG 61
3.1 Những đề xuất sửa đổi, bổ sung luật Việt Nam 61
3.1.1 Bổ sung khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hoàn thiện hình thức họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vào luật Việt Nam 61
3.1.1.1 Bổ sung khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 61
3.1.1.2 Hoàn thiện hình thức họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 63
3.1.2 Hoàn thiện các vấn đề về giao kết họp đồng 64
3.1.2.1 Đề nghị giao kết 64
3.1.2.2 Chấp nhận giao kết 66
3.1.3 Hoàn thiện quy định về thời hạn khiếu nại, thời hạn trả lời chấp nhận giao kết trong họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 69
3.1.3.1 H oàn thiện về thời hạn khiếu nại 69 3.1.3.2 H
Trang 53.2.1 Lợi ích của Việt Nam khi gia nhập CISG 743.2.1.1 Đối với hệ thống pháp luật 743.2.1.2 Đ
ối với doanh nghiệp 763.2.2 Những điểm bất cập của CISG mà Việt Nam cần lưu ý 77
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẰU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau vàđặc biệt là trước những biến động to lớn của thế giới Cuộc cách mạng khoa học côngnghệ ngày nay đang phát triển nhanh chóng với trình độ ngày càng cao đã thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội.Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những cơ hội phát triển trong đó, những ưu thế vềvốn, công nghệ thị trường thuộc về các nước phát triển buộc các nước chậm phát triển
và đang phát triển phải đối đầu với những thách thức to lớn Trong quan hệ quốc tế, xu
hướng hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng ưở thành những đòi hỏi bức
xúc của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Các nước đều dành ưu tiên cho phát triểnkinh tế, coi tăng trưởng kinh tế, có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnhtổng họp của quốc gia đồng thời tham gia vào quá trình họp tác, liên kết khu vực và thếgiới trong mọi lĩnh vực
Tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu và ngày càng có tác động lớn đến hoạtđộng của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực ký kết, thực hiện họpđồng thương mại quốc tế nói chung và họp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Cácdoanh nghiệp Việt Nam có được sự chủ động ừong việc ký kết và thực hiện các loạihọp đồng thương mại quốc tế hay không còn phụ thuộc vào sự hiểu biết, nắm bắt cácquy định của pháp luật thương mại quốc tế cũng như các tập quán thương mại quốc tếcủa từng doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết luật pháp quốc tế của các doanhnghiệp Việt Nam còn rất hạn chế
Để hòa chung với nhịp độ phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã vàđang thực hiện các chính sách kinh tế đối ngoại nhằm mở rông quan hệ với các nướctrong khu vực cũng như trên thế giới ở nhiều lĩnh vực Hơn nữa, trước yêu cầu đổi mớiphát triển kinh tế từ cơ chế tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần tiếp cận, đẩy mạnh nghiên cứu và vận dụng pháp luậtquốc tế nhằm tạo cơ sở cho các hoạt động đối nội và đối ngoại, thúc đẩy các quan hệthương mại quốc tế đã và đang phát triển mạnh mẽ giữa các thương nhân Việt Nam vớicác chủ thể thương mại quốc tế
Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế luônluôn “nóng” Ngoài ra người viết nhận thấy, trong đời sống kinh tế quốc tế ngày nay,hoạt động mua bán hàng hóa và những vấn đền liên quan đến hoạt động mua bán hànghóa là điều mà các chủ thể tham gia vào thương mại quốc tế đang tìm hiểu và gặp nhiềubâng khuâng do chưa tìm thấy cơ chế ổn định đế áp dụng Người viết nhận thấy, chếđịnh cơ bản của thương mại quốc tế phổ biến nhất hiện nay là Công ước Viên 1980
Trang 7(CISG) quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được cộng đồng quốc tế đánhgiá cao về tính ổn định và được nhiều quốc gia áp dụng, kể cả quốc gia không là thànhviên của công ước trong đó có Việt Nam áp dụng Công ước Viên 1980 sẽ được ngườiviết giới thiệu ở phàn sau Hiện nay Việt Nam chưa là thành viên của Công ước trongkhi giao dịch thương mại quốc tế đang ngày càng trở thành một phàn hết sức quanghọng trong nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn có những quy định về hoạtđộng mua bán hàng hóa được áp dụng chủ yếu trong nước Người viết xét thấy giữa luậtViệt Nam và Công ước viên có những điển tương đồng và những điểm cần bổ sung chonhau về hoạt động mua bán hàng hóa nên người viết chọn đề tài “So sánh về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế trong Công ước Viên và luật Việt Nam” với mục đích hoànthiện luật Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam chưa là thành viên công ước
Qua đề tài, người viết mong muốn pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa củaViệt Nam trở nên hoàn thiện hơn nhằm giảm bớt khó khăn cho các chủ thể Việt Namkhi tham gia vào thương mại quốc tế Tuy vậy, theo nhiều quan điểm của các chuyêngia Việt Nam cần khẩn trương gia nhập công ước vì: gia nhập sẽ giúp hoàn thiện phápluật về mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng và pháp luật mua bán hàng hóa nói chungcủa Việt Nam, giúp thống nhất pháp luật mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam vớinhiều quốc gia ừên thế giới và tạo điều kiện để việc giải quyết tranh chấp nếu có từ hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế thuận lợi hơn
2 Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu về đề tài này, mục đích của tác giả là muốn hiểu sâu hơn về hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế từ pháp luật Việt Nam và CISG Hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế có đặc điểm như thế nào; luật Việt Nam và CISG quy định ra sao vềhiệu lực họp đồng, các phương thức giao kết, hình thức họp đồng, quyền và nghĩa vụcác bên và trách nhiệm do vi phạm họp đồng của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.Qua đó có những đề xuất nhằm hoàn thiện luật Việt Nam về họp đồng mua bán hànghóa quốc tế cùng vấn đề gia nhập CISG của Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài người viết chủ yếu so sánh điểm giống và khác nhau của các quyđịnh về hiệu lực họp đồng, giao kết họp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên do vi phạm,trách nhiệm do vi phạm trong công ước và luật Việt Nam về họp đồng mua bán hànghóa quốc tế Luật Việt Nam với phạm vi áp dụng giới hạn ở quốc gia sẽ có những điểmchưa phù họp trong điều chỉnh một họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Trong khiCISG lại được soạn thảo phù họp cho một họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Với sự
so sánh các quy định của luật Việt Nam và CISG, người viết đưa ra những điểm mà luậtViệt Nam cần sửa đổi và bổ sung để phù họp với thương mại quốc tế Từ đó, người viết
Trang 8đề xuất hoàn thiện luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế lẫn trong nước Ngoài
ra, người viết còn nêu những nhận định của mình trong việc gia nhập Công ước Viên
1980 của Việt Nam
4 Bố cục đề tài
Người viết chia đề tài làm ba chưomg
Chương 1: Khái quát chung về họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương này chủ yếu nêu lên những khái niệm cơ bản về họp đồng, họp đồngmua bán hàng hóa quốc tế, nguồn luật điều chỉnh
Chương 2: So sánh quy định của pháp luật Việt Nam và CISG về họp đồng muabán hàng hóa quốc tế
Chương này chủ yếu so sánh về hiệu lục họp đồng, giao kết họp đồng, hình thứchọp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên do vi phạm, trách nhiệm do vi phạm theo quy địnhcủa Công ước Viên 1980 và luật Việt Nam
Chương 3: Những đề xuất từ việc so sánh luật Việt Nam và CISG và vấn đề gianhập CISG
Chương này tác giả đề xuất ý kiến cá nhân để bổ sung làm hoàn thiện hơn phápluật mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam
Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để có cơ hội hoàn thiện
đề tài này
Trang 9CHƯƠNG1 KHẮT QUÁT CHUNG VÈ HỢP ĐÒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm hạrp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1 Khái niệm họp đồng
Có nhiều định nghĩa cho từ họp đồng Nói chung họp đồng là một giao ước bịràng buộc pháp lý và có thể thi hành pháp lý hay một loại giao ước giữa hai hay nhiều
bên có thẩm quyền Nói cách khác, họp đồng là “ một giao ước hay một loạt giao ước
mà sự vi phạm các giao ước đó, luật pháp sẽ điều chỉnh hay công nhận việc thực hiện các giao ước đó” Trong một vài phương thức nào đó, luật pháp công nhận như là
một trách nhiệm, về thực chất, một họp đồng là bất kỳ thỏa thuận nào giữa hai haynhiều bên mà tòa án sẽ công nghận là một thỏa thuận tạo lập những trách nhiệm vànghĩa vụ bị ràng buộc pháp lý giữa các bên
Theo đó khái niệm họp đồng theo nghĩa chung nhất là “sự thỏa thuận giữa hai
hay nhiều bên về một vẩn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đối hay chẩm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên đó” Hiện nay pháp luật Việt Nam quy
định ba loại họp đồng cơ bản là họp đồng dân sự, kinh tế, lao động
Ví dụ: A và B giao kết họp đồng mua bán ô tô Trong đó A là bên bán và B làbên mua Trong họp đồng A có nghĩa vụ giao hàng tại nơi A cư trú, nếu có thay đổi nơigiao hàng A phải thông báo cho B trước ngày giao hàng 10 ngày, A có quyền nhận đầy
đủ số tiền đã thỏa thuận trong họp đồng B có quyền nhận ô tô theo đúng tiêu chuẩn đãthỏa thuận, B có nghĩa vụ trả số tiền đã thỏa thuận trong họp đồng
1.1.2 Khái niệm về họp đồng mua bán hàng hóa
Mua bán là phương thức chủ yếu để dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản
từ chủ thể này sang chủ thể khác, vì thế giao dịch mua bán tài sản là giao dịch chủ yếubong các giao dịch dân sự diễn ra trong đời sống kinh tế hằng ngày Họp đồng mua bántài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bênmua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán1 Nhưvậy, mua bán tài sản là những giao dịch theo đó, người bán có nghĩa vụ chuyển giaoquyền sở hữu tài sản cho người mua và nhận tiền; còn người mua có nghĩa vụ thanhtoán cho người bán, nhận tài sản và quyền sở hữu tài sản theo sự thỏa thuận của cácbên
Điều 428 BLDS 2005
Trang 10Điều 3 khoản 8 luật thương mại 2005
Dựa vào chủ thể, mục đích của chủ thể thực hiện hành vi mua bán và đối tượnggiao dịch mua bán có thể phân chia thành giao dịch mua bán tài sản có tính chất dân sự
và mua bán tài sản trong thưomg mại (mua bán hàng hóa) Mua bán tài sản mang tínhdân sự thông thường mục đích các chủ thể hướng đến không mang tính lợi nhuận Muabán tài sản trong thương mại mục đích các chủ thế hướng đến là nhằm sinh lợi và cácbên chủ thể đều là thương nhân Mua bán hàng hóa là nội dung trọng tâm của hoạt độngthương mại Chính vì thế ban đầu khái niệm về hoạt động thương mại hầu như chỉ đượcbiết đến như là hoạt động mua bán hàng hóa
Theo luật thương mại 2005, mua bán hàng hóa được định nghĩa là: “hoạt động
thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng
và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận ” 2
Hoạt động mua bán hàng hóa và các dịch vụ gắn kiền với mua bán hàng hóađược gọi là thương mại hàng hóa Với đối tượng là hàng hóa, các giao dịch thương mạihàng hóa được pháp luật điều chỉnh có những nội dung khác biệt nhất định với các giaodịch thương mại khác
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là họp đồng mua bán hàng hóa Họp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung củahọp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụtrong quan hệ mua bán Luật thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về họp đồngmua bán hàng hóa song có thể xác định bản chất pháp lý của họp đồng mua bán hànghóa trong thương mại trên cơ sở quy định Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) về họpđồng mua bán tài sản Từ đó cho thấy họp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại làmột dạng cụ thể của họp đồng mua bán tài sản Một họp đồng mua bán hàng hóa có thể
là thỏa thận về việc mua bán hàng hóa ở hiện tại hoặc mua bán hàng hóa sẽ có ở mộtthời điểm nào đỏ ở tương lai Bất cứ khi nào, một người mua bán hàng hóa bằng tiềnhoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hóa thì khi đó hình thànhquan hệ họp đồng mua bán hàng hóa
Dựa vào điều 428 BLDS 2005, người viết xin đưa ra khái niêm họp đồng mua
bán hàng hóa như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên bản có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán
Ví dụ 1: A và B ký kết họp đồng mua xe gắn máy Đây là họp đồng mua bán tàisản mang tính chất dân sự
Trang 11Ví dụ 2: Nhà máy A ký kết hợp đồng mua máy xay lúa với công ty B nhằm tăngnăng suất sản suất của nhà máy Dựa vào chủ thể và mục đích của chủ thể, đây là hợpđồng mua bán hàng hóa.
Hợp đồng mua bán hàng hóa được chia làm hai loại là hợp đồng mua bán hànghóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.3 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
I.I.3.I Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp
luật Việt Nam
Xem xét các quy định của pháp luật Việt Nam từ trước đến nay, cũng như cácđiều ước quốc tế có liên quan thì họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đều được xácđịnh (dù trực tiếp hay gián tiếp) là một họp đồng mang tính chất thương mại Vì thế, sẽphù họp và thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu và kiến giải để hoàn thiện pháp luật nếuchúng ta tiếp cận họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dưới góc độ là họp đồng mua bánhàng hóa bong lĩnh vực thương mại (vì mục đích lợi nhuận) có yếu tố nước ngoài, cónghĩa chỉ là một nhóm họp đồng trong tổng thể các họp đồng mua bán có yếu tố nướcngoài Với quan điểm này thì họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không bao hàm cáchọp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnh vực dân sự truyền thống (vì mục đích sinh hoạttiêu dùng hàng ngày) có yếu tố nước ngoài
Họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là họp đồng mua bán hàng hóa có yếu tốquốc tế hay tính quốc tế Mặc dù loại họp đồng này đã được sử dụng trong thực tiễnthương mại ở nước ta nhưng việc đưa ra một khái niệm rõ rang, chính xác cho họp đồngnày chưa được quan tâm thích đáng trong khoa học pháp lý Việt Nam
Có thể nói rằng, việc làm rõ khái niệm “họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” có
ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác định luậtnào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ của các bên trong họp đồng Nếu họp đồng làhọp đồng mua bán thông thường (họp đồng nội địa) thì sẽ được pháp luật trong nướcđiều chỉnh Nếu là họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nó sẽ được điều chỉnh bằngpháp luật thương mại quốc tế: có thể là pháp luật của các quốc gia khác nhau, các điềuước quốc tế liên quan và trong nhiều trường họp liên quan đến cả tập quán thương mạiquốc tế, nên cần thiết phải lựa chọn luật nào trong số đó để áp dụng cho họp đồng.Không những thế mà trong một số trường họp còn cho phép xác định được pháp luậtcủa quốc gia nào được sử dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong họpđồng Vì vậy, hết sức cần thiết phải có một khái niệm chung rõ ràng về họp đồng mua
Trang 12PGS.Ts Nguyễn Văn Luyện, Ts Dương Văn Sơn, Ts Lê Thị Bích Thọ, Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, 2005
bán hàng hóa quốc tế, hay nói cách khác là phải có cách xác định tương đối thống nhất
tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế.3
Luật thương mại 2005 không định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếsong có thể dựa vào quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
để nhận biết họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Điều 758 BLDS 2005: một quan hệ
dân sự (bao gồm quan hệ thương mại) có sự hiện diện của một trong ba dấu hiệu sau
đây thì được xem là quan hệ dân sự (bao gồm quan hệ thương mại) có yếu tố nước
- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Từ quy định trên, tác giả nhận thấy, một họp đồng đươc coi là họp đồng mua bánhàng hóa quốc tế khi có một trong các yếu tố sau đây:
- Hàng hóa là đối tượng của họp đồng đang tồn tại ở nước ngoài (kể cả trườnghọp các bên giao kết họp đồng có cùng quốc tịch và họp đồng được thực hiện ngay ở
nước mình)
- Họp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết họpđồng không mang quốc tịch hoặc không cùng nơi cư trú hoặc không có trụ sở) và có thể
được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba
- Họp đồng được giao kết và thực hiện bởi các bên không cùng quốc tịch hoặckhông cùng nơi cư trú (đỏi với cá nhân) hoặc không cùng nơi đóng trụ sở (đối với pháp
Trang 13- Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật” (Điều 28 Khoản 1)
- Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thố Việt Nam được coi là khu vực hảiquan riêng theo quy định của pháp luật” (Điều 28 Khoản 2)
- Tạm nhập, tái xuất hàng hoá là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ nước ngoài
hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam vàlàm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam” (Điều 29 Khoản 1)
- Tạm xuất, tái nhập hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa
vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làmthủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam” (Điều 29 Khoản 2)
- Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán
sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩuvào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam” (Điều 30 Khoản 1).Chuyển Khẩu hàng hóa được thực hiện qua các hình thức:
+ Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩukhông qua cửa khẩu Việt Nam
+ Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửakhẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tụcxuất khẩu ra khỏi Việt Nam
+ Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửakhẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại các cảngViệt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu
ra khỏi Việt Nam
Với năm khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập
và chuyển khấu nêu trên, có thể thấy Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã sử dụngtiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng có thể được di chuyển qua biên giới của ViệtNam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ); hoặc di chuyển qua khu chếxuất, khu vực hải quan riêng để xem xét tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế
Như vậy, nếu đối tượng của họp đồng mua bán là bất bông sản thì họp đồng đókhông phải là họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho dù bất động sản được bán chongười nước ngoài Mua bán bất động sản với người nước ngoài phải theo một cơ chếpháp lý riêng
Trang 14Người viết nhận thấy, pháp luật Việt Nam nhận biết họp đồng mua bán hàng hóaquốc tế bằng yếu tố nước ngoài của họp đồng mà chưa có khái niệm về họp đồng muabán hàng hóa quốc tế.
I.I.3.2 Khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa qua các văn bản pháp luật quốc tế
Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình:tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở cácnước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của họp đồng, được chuyển qua biên giới mộtnước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nướckhác nhau (Điều 1 của Công ước) Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì
sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yeu tố quốc tịch của các bên không có ýnghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của họp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Theo Công ước Viên năm 1980 của Liên Hiệp Quốc về Họp đồng Mua bán Quốc
tế Hàng hoá (United Nations Convention on Contracts for International Sales of Goods,Vienna 1980 - CISG, gọi tắt là Công ước Viên năm 1980): tính chất quốc tế được xácđịnh chỉ bởi một tiêu chuẩn duy nhất, đó là các bên giao kết họp đồng có trụ sở thươngmại đặt ở các nước khác nhau (điều 1 Công ước Viên năm 1980) Và, giống như Côngước Lahaye năm 1964, Công ước này cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch củacác bên khi xác định tính chất quốc tế của họp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Khácvới Công ước Lahaye năm 1964, Công ước Viên năm 1980 không đưa ra tiêu chí hànghoá phải được chuyển qua biên giới của một nước để xác định tính chất quốc tế của họpđồng mua bán hàng hoá quốc tế
Theo quan điểm của Pháp: khi xác định yếu tố quốc tế của họp đồng mua bánhàng hoá quốc tế, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý Theo các tiêuchuẩn kinh tế, một họp đồng quốc tế là họp đồng tạo nên sự di chuyển qua lại biên giớicác giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, họp đồng đó thể hiện quyềnlợi của thương mại quốc tế Theo tiêu chuẩn pháp lý, một họp đồng được coi là họpđồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốctịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ họp đồng, nguồn vốn thanh toán ,4
1.2 Nguyên tắc giao kết họp đồng và hình thức giao kết họp đồng
1.2.1 Nguyên tắc giao kết họp đồng
Theo điều 389 BLDS 2005, việc giao kết họp đồng phải tuân thủ theo cácnguyên tắc sau đây:
Trang 15http://thongtinphapluatdansu.wordprcss.com/2009/10/01/3889/ - Hợp đồng thương mại quốc tế - những nội dung
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội:
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạođiều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần Dựa trênnguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể đều có thểtham gia giao kết bất kỳ một giao dịch/ hợp đồng dân sự nào, nếu muốn Tuy nhiên, hợpđồng chỉ có hiệu lực pháp luạt, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của cácbên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước Hay nói cách khác, sự tư do ýchí giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định -giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Neu
để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kể giàu bóc lộtngười nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, phải đi xa hơnnữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ pháp luật tư,các việc dân sự không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự canthiệp của nhà nước vào các quan hệ dân luật Chính vì vậy, trong xã hội ta - xã hội xãhội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hộikhông cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến nhữnghợp đồng dân sự thành phương tiện bóc lột Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình,các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự do của mỗichủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng, của toàn xãhội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chícủa các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủthể nói chung
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chỉ, hợp tác, trung thực và ngay thẳng:
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồngkhông ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng thời thể hiệnbản chất của quan hệ pháp luật dân sự Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khi thamgia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau; không ai được viện lý do khác biệt vềhoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo để tạo ra sự bấtbình đẳng trong quan hệ dân sự Hơn nữa, ý chí tự nguyện của cac bên chủ thể tham giahợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện.Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bìnhđẳng và ý chí tự nguyện của môt trong các bên chủ thể Tuy nhiên, trên thực tế thì việcđánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa,trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạpbởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan khác nhau 4
Trang 16Như chứng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bêntrong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí củachủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà chủ thểnày đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng đã đảm bảo nguyêntắc tự nguyện hay chưa Hay nói cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ được coi là tựnguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mongmuốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do bịnhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giaokết và do đó bị vô hiệu
Luật thương mại 2005 không quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng trongthương mại Nhưng pháp luật Việt Nam có đề ra nguyên tắc khi luật chuyên ngành (luậtthương mại 2005) không quy định thì áp dụng theo luật chung (BLDS 2005) Như vậy,nguyên tắc giao kết hợp đồng trong thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hànghóa nói riêng cũng phải tuân thủ theo điều 389 BLDS 2005
1.2.2 Hình thức giao kết hợp đồng
Hình thức giao kết hợp đồng là yếu tố luôn được các bên chủ thể tham gia vàoquan hệ mua bán quan tâm Vì khi hình thức giao kết được xác định cụ thể sẽ hỗ trợ vềmặt căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh trở nên hiệu quả hơn Thôngthường, các bên nhận thức hình thức hợp đồng ở hai dạng đó là giao kết trực tiếp vàgiao kết gián tiếp
- Dựa vào pháp luật Việt Nam, để xác định như thế nào là giao kết trực tiếp vàgiao kết gián tiếp người viết dựa vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhậngiao kết
Theo điều 404 BLDS 2005, “hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên
đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết; thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói
là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng; thời điểm giao kết hợpđồng bằng vãn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”, về nguyên tắc, thờiđiểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết nêu trên Tuy nhiên, cầnlưu ý đó là các bên có thể thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác về thời điểm
có hiệu lực của họp đồng Tác giả nhận thấy BLDS 2005 xác định thời điểm giao kếthọp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thoả thuận giữa các bên, khôngphụ thuộc vào hình thức, thủ tục của họp đồng Với ý đồ này có thể thấy, dường nhưnhà làm luật đã không có sự phân biệt trường họp giao kết họp đồng giữa những người
doanh nghiệp cần quan tâm, truy cập ngày 16/3/2012
Trang 17Điều 3 khoản 6 nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài
gặp mặt hoặc trao đổi trực tiếp với nhau với trường hợp giao kết họp đồng giữa những
người không gặp mặt hoặc không trao đối trực tiếp với nhau
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn quy định về giao kết họp đồng dân sự vắngmặt Theo đó, “giao kết họp đồng dân sự vắng mặt là việc giao kết họp đồng dân sự
thông qua phưomg tiện điện tử hoặc các phưomg tiện khác mà các bên giao kết họp đồng
không có mặt tại cùng một địa điểm để ký kết họp đồng”5
Như vậy, với những căn cứ trên tác giả có thể kết luận pháp luật Việt Nam có haihình thức giao kết họp đồng đó là giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp thông qua đề
nghị giao kết họp đồng và chấp nhận đề nghị
- Đối với CISG, người viết dựa vào chào hàng và chấp nhận chào hàng để xácđịnh giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp
Trong quá trình tìm hiểu CISG, người viết không tìm thấy quy định về thời điểm
có hiệu lực của giao kết bằng văn bản hoặc bằng lời nói như BLDS 2005 Theo khoản 2
điều 18 CISG “chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được
chấp nhận Chấp nhận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp nhận ấy không
được gửi tới người chào hàng trong thời gian mà người này đã quy định trong chào
hàng, hoặc nếu thời gian đó không được quy định như vậy, thì trong một thời gian họp
lý, xét theo tình tiết của sự giao dịch” Với quy định trên, tác giả nhận thấy CISG quy
định đề nghị giao kết họp đồng mang tính thụ động vì nó liên quan đến thời gian để
chào hàng và chấp nhận chào hàng có hiệu lực
Bên cạnh đó CISG còn quy định chào hàng có thể bị thu hồi, “cho tới khi họpđồng được giao kết, người chào hàng vẫn có thể thu hồi chào hàng, nếu như thông báo
về việc thu hồi đỏ tới noi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp
nhận chào hàng” Quy định này thể hiện sự vắng mặt của các bên trong giao kết
CISG chỉ nói đến hai hình thức giao kết là chào hàng và chấp nhận chào hàng vàvới những căn cứ như trên, tác giả kết luận CISG chỉ điều chỉnh hình thức giao kết gián
tiếp
1.3 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa và hạp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.3.1 Đặc điểm họp đồng mua bán hàng hóa
Họp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định xuất phát từ bản chấtthưomg mại của hành vi mua bán hàng hóa Trước khi phân tích đặc điểm của họp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, người viết xin sơ lược về họp đồng mua bán hàng hóa trong
nước Dựa trên họp đồng mua bán tài sản, họp đồng mua bán hàng hóa trong nước có
đặc điểm như:
Trang 18Điều 6 khoản 1 luật thương mại
- về chủ thể: hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể là
thương nhân Theo quy định luật thương mại 2005, thương nhân gồm tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên và có đăng ký kinh doanh6
- về đổi tượng: hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa Hiểu theo
nghĩa thông thường hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằmmục đích thỏa mãn nhu cầu của con người Theo luật thương mại 2005, hàng hóa gồm
“tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắnliền với đất”7
- về hình thức: hợp đồng, theo luật thương mại hợp đồng có thế lập thành văn
bản, bằng lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể, đối với các loại hợp đồng muabán hàng hóa mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản thì phải tuân theo quy định
đó (điều 24 luật thương mại 2005)
1.3.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng có những đặc điểm tương tự với hợpđồng mua bán hàng hóa trong nước nhưng vẫn có điểm khác biệt:
- Chủ thể: chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người
bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Ví dụ, thươngnhân A (Việt Nam) ký một hợp đồng mua bán với thương nhân B (Trung Quốc).Chủ thể bên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác địnhcăn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch Chủ thể bên ViệtNam là thương nhân được phép hoạt động thương mại trực tiếp với nước ngoài
- về đoi tượng: đối tượng của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là động sản,
tức là hàng hóa có thể chuyển qua biên giới của một nước
- Tiền tệ và phương thức thanh toán: họp đồng được ký kết giữa các chủ thể
của những quốc gia khác nhau Giữa các quốc gia thường sử dụng một đồng tiềnriêng trừ những quốc gia trong khối Liên minh Châu Âu sử dụng đồng tiền chung làEuro Vì vậy, trong họp đồng thương mại quốc tế khi giao kết họp đồng các bên sẽ thỏathuận sử dụng một đồng tiền có thể là đồng tiền của một trong các bên, cũng có thểkhông là đồng tiền của bên nào cả Trên thực tế, cho thấy các bên thường sử dụngđồng USD để thanh toán Đó là điểm khác biệt với họp đồng nội địa Chẳng hạn, haidoanh nghiệp Việt Nam ký kết thỏa thuận giá trị trong họp đồng là 100 triệu, thôngthường hai bên ngầm hiểu là 100 triệu VNĐ hoặc các bên ghi rõ 100 triệu VNĐ khi
ký kết để tránh những phát sinh về sau khi một trong hai bên không cho là đồng tiền
sử dụng là đồng Việt Nam Cũng có trường họp, họp đồng được giao kết sử dụng
Trang 19Điều 3 khoản 2 luật thương mại
đồng USD như hợp đồng mua bán ô tô nhưng đó không phải là đặc điểm cơ bản củahợp đồng trong nước về tiền tệ như hợp đồng quốc tế Một điểm cũng khá quantrọng của hợp đồng về tiền tệ là các bên thường sử dụng tỷ giá “cố định” (tỷ giá chết)
có nghĩa là sử dụng tỷ giá quy đổi tại thời điểm giao kết hợp đồng như 1 USD= 16VNĐ Việc sử dụng tỷ giá quy đổi “chết” sẽ thuận lợi cho các bên vì tại thời điểm kýkết các bên đã xác định được lợi nhuận của mình đạt được Khác với trường hợp cácbên sử dụng tỷ giá quy đổi dạng mở, như đồng USD quy đổi theo tỷ giá tại thờiđiểm thanh toán hợp đồng Tỷ giá mở có thể gây nguy cơ thiệt hại cho một trongcác bên khi tỷ giá thay đổi như lên hoặc xuống Tỷ giá lên thì người bán được lợi,người mua thiệt hại ngược lại tỷ giá giảm người mua được lợi về phương thức thanhtoán cũng thế, khi ký hợp đồng các bên nên đưa vào hợp đồng điều kiện thanh toánchẳng hạn sử dụng phương thức thanh toán L/C.Thanh toán quốc tế trong lĩnh vựcngoại thương ở Việt Nam được thực hiện chủ yếu bằng phương thức thanh toán L/Cthương mại Áp dụng phương thức thanh toán bằng L/C sẽ thuận lợi vì ICC đã banhành một bộ tập quán quốc tế điều chỉnh về L/C và bộ tập quán này được 174 nướcthành viên của ICC tuyên bố áp dụng, trong đó có Việt Nam
- về thủ tục hải quan: một trong những đặc điểm của hợp đồng mua bán là hàng
hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng được chuyên chở qua biên giới hai hay nhiềuquốc gia Đe xuất hoặc nhập hàng hoá, dịch vụ cần thiết phải thực hiện một số thủ tụchải quan do luật của mỗi quốc gia quy định Vì vậy trong nội dung của hợp đồng,nhiều trường hợp phải có điều kiện phân chia trách nhiệm của các bên trong việcthực hiện các thủ tục nói trên, cũng như thủ tục quá cảnh qua một nước thứ ba Thuếquan cũng là một phần ảnh hưởng đến lợi ích của các bên Thuế quan là do mỗi quốcgia ấn định tùy vào từng loại hàng hóa cụ thể mà mức thuế khác nhau Nhưng đối vớicác quốc gia có ký kết các Hiệp định đa phương, Hiệp định song phương về thuếquan thì sẽ được hưởng sự ưu đãi Như Việt Nam ký kết với Nhật ưu đãi thuế vềcác mặt hàng nông sản thì khi hàng hóa của Nhật hay của Việt Nam được nhập hayxuất đến mỗi quốc gia khi 2 bên ký kết hợp đồng sẽ chịu thuế suất 0% Điều này rất
có lợi cho những doanh nghiệp của những quốc gia đó
- về ngôn ngữ của hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được
ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh Điều nàyđòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ
- về luật điều chỉnh hợp đồng (luật ảp dụng cho hợp đồng): luật áp dụng cho hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế mang tính chất đa dạng và phức tạp Điều này có nghĩa
là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể phải chịu sự điều chỉnh không phải chỉ
Trang 20của luật pháp nước đó mà cả của luật nước ngoài (luật nước người bán, luật nước ngườimua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào), thậm chí phải chịu sự điều chỉnh củađiều ước quốc tế, tập quán thưomg mại quốc tế hoặc cả án lệ (tiền lệ pháp) để điều chỉnhhợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- về cơ quan giải quyết tranh chấp: tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực
hiện họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là toà án hoặc trọng tài nước ngoài Vàmột lần nữa, vấn đề ngoại ngữ lại được đặt ra nếu muốn chủ động tranh tụng tại tòa ánhoặc trọng tài nước ngoài
Họp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, dù được giao kết hoàn chỉnh, chi tiết đếnđâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những vấn đề, những tìnhhuống có thể phát sinh trong thực tế Do đó, cần phải bổ sung cho họp đồng mua bánhàng hoá quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho họpđồng đó Vì họp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điều chỉnh họp đồng nàycũng có thể là luật người bán, cũng có khi là luật nước người mua Neu luật áp dụng
là luật nước người mua thì luật này là luật nước ngoài đối với người bán Người bánphải có sự hiểu biết về nó, trong đó ít ra người bán phải hiểu rõ được luật này có bảo vệquyền lợi cho người bán hay không Và ngược lại, đối với người mua cũng vậy Nhưvậy, không chỉ người bán và người mua cần có sự hiểu biết để lựa chọn, để tuân thủ luật
áp dụng mà ngay cả cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) cũng phảinghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho họp đồng đó thì mới có thể làm tốt được chức năng,nhiệm vụ của mình
1.4 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Các giao dịch mua bán hàng hóa thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật.Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa là hệ thống các quy phạm do nhànước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa Các quy phạmpháp luật về mua bán hàng hóa có thể thuộc nhiều nguồn luật khác nhau, trong đó cócác văn bản pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán và thói quen thương mại.Nguồn luật cơ bản về mua bán hàng hóa của Việt Nam được quy định trong Bộ luật dân
sự (BLDS) 2005 và luật thương mại 2005
1.4.1 Pháp luật quốc gia
Đối với các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc gia có thể được
áp dụng theo những điều kiện nhất định Thông thường luật quốc gia được áp dụngtrong các trường họp sau:
- Các bên trong họp đồng thỏa thuận lựa chọn áp dụng
- Điều ước quốc tế mà các quốc gia (có các chủ thể của họp đồng mang quốc tịchcủa quốc gia đó) ký kết hoặc tham gia có quy định điều khoản về luật áp dụng cho họpđồng mua bán quốc tế là luật cua một quốc gia nhất định
Trang 21- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp chọn luật áp dụng (khi các bênkhông đạt được thỏa thuận về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng).
Trong trường hợp có hai hay nhiều hệ pháp luật khác nhau cùng có thể được ápdụng để điều chỉnh mối quan hệ họp đồng mua bán hàng hóa, xung đột pháp luật sẽ nảysinh và đòi hỏi phải được giải quyết Thực chất của việc giải quyết xung đột pháp luật
về họp đông mua bán hàng hóa là lựa chọn một hệ thống pháp luật để áp dụng cho quan
hệ họp đồng mua bán Khi được chọn áp dụng, luật quốc gia được hiểu là toàn bộ hệthống pháp luật Neu luật của Việt Nam được chọn áp dụng thì toàn bộ các quy định cóliên quan đến họp đồng mua bán hàng hóa sẽ được áp dụng
Các bên trong họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể lựa chọn áp dụng phápluật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản củapháp luật Việt Nam (khoản 2 điều 5 luật thương mại)
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh về họp đồng mua bán quốc tế chủ yếu được quyđịnh trong BLDS 2005 và luật thương mại 2005, ngoài ra còn được điều chỉnh bởi luậthàng hải, luật hàng không dân dụng Trong giới hạn đề tài, người viết chỉ nghiên cứuchủ yếu ở BLDS 2005 và luật thương mại 2005
Nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS 2005 và luật thương mại
2005 ra đời thay thế BLDS 1995 và luật thương mại 1997 BLDS 2005 có hiệu lực ngày01/01/2006, quy định những vấn đề pháp luật mang tính chất chung về họp đồng Luậtthương mại 2005 có hiệu lực ngày 01/01/2006 quy định những vấn đề mang tính chuyênngành về họp đồng mua bán hàng hóa Mối quan hệ giữa họp đồng dân sự và họp đồngchuyên ngành được giải quyết theo hướng ưu tiên áp dụng luật họp đồng chuyên ngành
Luật thương mại 2005 cũng được xây dựng có phần dựa trên CISG về mặtnguyên tắc khái niệm hành vi thương mại của luật đã có sự tương thích với pháp luậtquốc tế, phù họp với thông lệ quốc tế Không những thế, vị trí của nó trong hệ thống cácvăn bản pháp luật cũng được xác định (mối liên hệ với luật khác được quy định tạikhoản 2, với Bộ luật dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại) Kháiniệm hoạt động thương mại trong cũng được mở rộng so với luật thương mại 1997, hoạtđộng mua bán hàng hóa cũng được dành cho một chương riêng so với luật cũ Tuynhiên, cần xác định luật thương mại là một văn bản pháp luật mang tính riêng biệt đểgiải quyết những quan hệ tài sản đặc thù Tính đặc thù của các quan hệ tài sản do Luậtthương mại điều chỉnh là mục đích thu lợi nhuận, là hành vi kinh doanh Do vậy, luậtthương mại phải đạt được mục tiêu là tạo thuận lợi, hỗ trợ cho các cá nhân, pháp nhântiến hành hoạt động thương mại - trong một khuôn khổ pháp lý họp lý
BLDS Việt Nam được xây dựng theo kiểu Pháp Người Pháp đã nổ lực La tinhhóa hệ thống pháp luật Việt Nam Trong lĩnh vực dân sự, luật Việt Nam thời kỳ thuộcđịa được xây dựng theo khuôn mẫu luật Pháp có cải biên phù họp với bối cảnh kinh tế
Trang 22Khoản 1 điều 5 luật thương mại 2005
xã hội Việt Nam thời kỳ đó Cho đến nay, Việt Nam vẫn theo hệ thông pháp luật dân sự.Với chính sách kinh tế thị trường bắt đầu từ năm 1987, việc tích lũy và cải cách tư nhânđược khuyến khích và như một hệ quả tất yếu, lưu thông dân sự phát triển nhanh Nhằmkịp thời điều chỉnh các quan hệ tài sản càng lúc càng trở nên phong phú và đa dạng, nhànước đã xây dựng hàng loạt quy phạm pháp luật dân sự Những kinh nghiệm từ việc ápdụng các văn bản ấy đã được đúc kết nghiên cứu nhằm đặt cơ sở cho việc xây dựngBLDS Việt Nam hoàn thiện hom BLDS Việt Nam 2005 tuy còn nhiều bất cập nhưng đãthể hiện rõ hơn nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủthế trong quan hệ dân sự, giảm bớt sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các quan
hệ dân sự
Tuy vậy, chất lượng của luật Việt Nam có một số quy định còn chưa được thốngnhất với các văn bản pháp luật liên quan; mặc dù mối quan hệ với các luật khác đã đượcxác định nhưng chưa thật rõ ràng; tính nhất quán chưa cao; không được áp dụng trựctiếp mà phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành như việc áp dụng khái niệm “vi phạm cơbản” gặp nhiều khó khăn vì không có hướng dẫn, giải thích cụ thể
1.4.2 Điều ước quốc tế
Trong lĩnh vực thương mại và mua bán hàng hóa nói riêng, có rất nhiều điều ướcquốc tế song phương và đa phương đã được thiết lập mà Việt Nam đã hoặc trong tươnglai gần sẽ là thành viên
Điều ước quốc tế được áp dụng đối với các họp đồng mua bán hàng hóa quốc tếtrong trường họp:
- Đối với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước quốc
tế có quy định khác với pháp luật quốc gia thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc
tế8
- Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên thì các bêntrong họp đồng mua bán cỏ quyền thỏa thuận áp dụng những nội dung không trái vớinhững nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Trong các điều ước quốc tế về mua bán hàng hóa, quan trọng phải kể đến Côngước viên về họp đông mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) CISG là kết quả thỏa thuậncủa các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật án lệ và hệ thống luật thành văn, các quốcgia phương Đông và phương Tây, các nước phát triển và các nước đang phát triển Hiệnnay, Việt Nam chưa tham gia CISG song với đòi hỏi của thực tiễn mua bán ngoạithương hiện nay, việc tham gia CISG là rất cần thiết và cần khẩn trương đối với ViệtNam
Trang 23Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho họp đồng mua bán hànghóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi Unidroit (Việnnghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Hayenăm 1964: một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập họp đồng mua bánquốc tế các động sản hữu hình”, Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bánquốc tế các động sản hữu hình” Công ước thứ nhất điều chỉnh việc hình thành họpđồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng) Công ước thứ hai đề cập đến quyền và nghĩa
vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi mộưcác bên vi phạmhọp đồng
Tuy vậy, hai Công ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng Theocác chuyên gia có 4 lý do chính khiến các nước bài trừ ULIS và ULF và muốn phát triểnmột công ước mới: Hội nghị La Haye chỉ có 28 nước tham dự với rất ít đại diện từ cácnước XHCN và các nước đang phát triển, vì thế người ta tin rằng các Công ước nàyđược soạn có lợi hơn cho người bán từ các nước tư bản; các Công ước này sử dụng cáckhái niệm quá trừu tượng và phức tạp, rất dễ gây hiểu nhầm; các Công ước này thiênhướng về thương mại giữa các quốc gia cùng chung biên giới hơn là thương mại quốc tếliên quan đến vận tải biển; và (4) quy mô áp dụng của chúng quá rộng, vì chúng được
áp dụng bất kể có xung đột pháp luật hay không
Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Họp Quốc về mộtkhuôn khổ mới với “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế chính trị khácnhau”, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về phápluật nội dung áp dụng cho họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho haiCông ước La Haye năm 1964 Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Côngước La Haye, song Công ước Viên 1980 có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản.Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghịcủa ủy ban của Liên họp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diệncủa khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 (khi
có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước)
Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, CISG đã trở thành một trong cáccông ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất Trong phạm
vi hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa (như các côngước Hague 1964), CISG là Công ước quốc tế có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc giatham gia và mức độ được áp dụng Với 74 quốc gia thành viên, ước tính Công ước nàyđiều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới Sự thànhcông của Công ước Viên 1980 được khẳng định trong thực tiễn với hơn 2500 vụ tranhchấp đã được Tòa án và trọng tài các nước/quốc tế giải quyết có liên quan đến việc ápdụng và diễn giải Công ước Viên 1980 được báo cáo Điểm cần nhấn mạnh là 2500 vụ
Trang 24việc này không chỉ phát sinh tại các quốc gia thành viên Tại các quốc gia chưa phải làthành viên, Công ước vẫn được áp dụng, hoặc do các bên trong họp đồng lựa chọnCông ước Viên 1980 như là luật áp dụng cho họp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tàidẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp Nhiều doanh nhân tại các quốc gia chưa phải làthành viên CISG đã tự nguyện áp dụng CISG cho các giao dịch thưomg mại quốc tế củamình, bởi vì họ thấy được những ưu việt của CISG so với luật quốc gia.
1.3.3 Tập quán thương mại
Tập quán thương mại là nguồn luật ngày càng phổ biến trong điều chỉnh các giaodịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế Theo luật thương mại
2005, tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thươngmại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được cácbên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.Tập quán thương mại thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ mua bán hànghóa quốc tế khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi họp đồng giữa các bênhoặc điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia Ngoài ra, thói quen thương mại cũng lànguồn quy phạm điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa Theo luật thương mại 2005,thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hìnhthành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiênthừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại
Hiện nay trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, một trong những tập quánthương mại quốc tế được sử dụng phổ biến là các điều kiện thương mại quốc tế gọi tắt
là Incoterms (Intemational Commercial Terms) được phòng thương mại quốc tế ICC(International Champer of Commerce) soạn thảo và phát hành Đây là một bộ các quytắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Incotermquy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán vàbên mua) trong một hoạt động thương mại quốc tế Incoterms quy định các điều khoản
về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các bên: ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm tráchcác chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổnthất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển , thời điểm chuyển giao tráchnhiệm về hàng hoá Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất có hiệu lực kể từ ngày 1tháng 1 năm 2011
Trang 25CHƯƠNG 2
SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỆT NAM VÀ CISG VÈ HỢP ĐÒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
2.1 Hiệu lực hợp đồng
Một hợp đồng được ký kết, nếu không có hiệu lực thì hợp đồng đó chưa thể tạo
ra quyền và nghĩa vụ giữa các bên, chưa ràng buộc các bên với nhau và pháp luật cũngchưa tác động đến cách xử sự của các bên theo qui định của hợp đồng đó Vì vậy,trước khi giao kết hợp đồng, thậm chí ngay trong quá trình thực hiện hợp đồng, cácbên tham gia hợp đồng phải biết về hợp đồng và những qui định của pháp luật liênquan đến tính hiệu lực của hợp đồng Có thể nói, pháp luật về hiệu lực của hợp đồngcàng hoàn thiện thì việc giao kết và thực hiện hợp đồng của các chủ thể ngày càngthuận lợi
2.1.1 Hiệu lực họp đồng theo luật Việt Nam
Luật thưomg mại 2005 không quy định cụ thể các điều kiện để họp đồng mua bán
có hiệu lực Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của họp đồng mua bán hàng hóa, cần dựa vàocác điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong BLDS 2005 Theo BLDS
2005, họp đồng phải tuân thủ các điều kiện bắt buộc để họp đồng có hiệu lực: chủ thểhọp đồng phải có năng lực hành vi dân sự; đối tượng họp đồng không trái pháp luật;mục đích họp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;các bên ký kết họp đồng hoàn toàn tự nguyện
* Chủ thể:
Chủ thể của họp đồng là cá nhân hoặc pháp nhân tham gia xác lập, thực hiện họpđồng có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ họp đồng và chịu trách nhiệm cho những gì đãthỏa thuận
Theo quy định pháp luật chủ thể cần có một năng lực chủ thể nhất định, theo đóchủ thể tham gia họp đồng cần có “năng lực hành vi dân sự” điều kiện tiên quyết để họpđồng có hiệu lực pháp luật và tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế
- Đổi với cá nhân:
Cá nhân cần đạt đến độ tuổi nhất định để tham gia vào hoạt động thương mạitrong nước Theo điều 18 BLDS 2005, người từ đủ 18 tuổi là người thành niên Theođiều 19 BLDS 2005, người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Theoquy định BLDS 2005, cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tự mình xáclập hợp đồng dân sự Một cá nhân không có năng lực hành vi dân sự không thể tham giavào hoạt động thương mại trong nước đồng nghĩa không thể tham gia hoạt động thươngmại quốc tế cũng như việc không thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 26Điều 13 luật doanh nghiệp 2005
về tình trạng tư pháp, cá nhân không rơi vào trường hợp pháp luật quốc giakhông cho phép hoạt động kinh doanh thương mại Đó là: người chưa thành niên; người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; người đangchấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh; người có tiền
án về các tội do lỗi cố ý hoặc người đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khácnhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; người nghiện
ma túy; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản
Theo luật một số nước cá nhân hoạt động trong những ngành nghề nhất địnhkhông được tham gia hoạt động thương mại Theo quy định của luật Việt Nam cá nhân
đó gồm: “cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; sĩ quan,
hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơquan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam”
Như vậy, người viết nhận định, đối với cá nhân muốn tham gia hoạt động thươngmại trong nước càn thỏa mãn các điều kiện về nhân thân và nghề nghiệp như đã nêu ởtrên Từ đó cá nhân đó có tư cách chủ thể để tham gia hoạt động thương mại quốc tếcũng như giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Đối với pháp nhân:
Thuật ngữ pháp nhân (tổ chức) dùng để phân biệt với thể nhân (con người) Neumột tổ chức có "tư cách pháp nhân" thì tổ chức đó có đầy đủ quyền và nghĩa vụ củapháp nhân mà luật dành cho pháp nhân Một tổ chức có tư cách pháp nhân đáp ứng cácđiều kiện của BLDS năm 2005:
+ Được thành lập hợp pháp+ Có cơ cấu tổ chức chặc chẽ+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản độc lập đó
Loại hình doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân vì không có tài sảnđộc lập với chủ doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình)
Ngoài ra, theo quy định của Việt Nam, Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũtrang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ bảo vệ thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình thì không được tham giahoạt động thương mại9
Theo quy định của luật Việt Nam, cá nhân và pháp nhân phải là thương nhân đểtham gia hoạt động thương mại quốc tế Theo đó, cá nhân và pháp nhân trước hết càn
Trang 27Điều 141 luật thuơng mại 2005
đầy đủ điều kiện để là thương nhân trong nước Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên và có đãng ký kinh doanh Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trongcác ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà phápluật không cấm Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhànước bảo hộ (điều 6 luật thương mại 2005)
Ngoài ra, họp đồng mua bán hàng hóa vẫn được ký kết thông qua người đại diện.Điều 139 BLDS 2005, đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhândanh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thựchiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Cá nhân, pháp nhân, chủ thế khác có thếxác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nhân không được đểngười khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiệngiao dịch đó Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền Ngườiđược đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xáclập Khi xác định thẩm quyền giao kết họp đồng mua bán, cần lưu ý quy định tại điều
145 BLDS 2005, theo đó khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện họpđồng mua bán sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bên họp đồng được đạidiện, trừ trường họp được người đại diện họp pháp của bên được đại diện chấp thuận.Bên đã giao kết họp đồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho bênkia để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này không có trả lời thì họp đồngkhông làm phát sinh quyền nghĩa vụ đối với bên được đại diện nhưng người không cóquyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên đã giao kết họp đồng với mình,trừ trường họp bên đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện
Luật thương mại 2005 quy định: “Đại diện cho thương nhân là việc một thươngnhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đạidiện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thươngnhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện; ừong trường họp thương nhân cửngười của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”10.Phạm vi đại diện: “Các bên có thể thoả thuận về việc bên đại diện được thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đạidiện.”11
Theo quy định của một số nước, khi cá nhân tổ chức đã thỏa mãn các điều kiện
để trở thành thương nhân trong nước thì đương nhiên trở thành thương nhân trong hoạtđộng thương mại quốc tế Nhưng theo pháp luật Việt Nam, để trở thành thương nhântrong hoạt động thương mại quốc tế, thương nhân đó, “muốn xuất khẩu nhập khẩu phải
Trang 28Điều 143 luật thương mại 2005
tư trực tiếp của nước ngoài: trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừngxuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu tạm ngừng xuất khẩu, thương nhânđược xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinhdoanh13
- Quốc gia, chủ thể đặc biệt của thương mại quốc tế:
Quốc gia là chủ thể đặc biệt trong thương mại quốc tế vì quốc gia được hưởngquyền miễn trừ Quyền miễn trừ của quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét xử, quyềnmiễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ đốivới các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài
* Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Họp đồng mua bán hàng hóa cũng là một dạng của họp đồng mua bán tài sản.Theo điều 429 BLDS 2005 đối tượng của họp đồng mua bán là tài sản được phép giaodịch Như vậy hàng hóa có thể giao dịch trong mua bán hàng hóa quốc tế phải là hànghóa được phép giao dịch (xuất khẩu, nhập khẩu) Theo điều 28 khoản 3 luật thương mại
2005, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế màCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danhmục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩutheo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thủ tục cấp giấy phép Từ đóhàng hỏa là đối tượng của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của ViệtNam phải không nằm trong liệt kê trong danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhậpkhẩu
* Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội:
BLDS 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận14 Nhưng để bảo vệlợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của chủ thể khác, BLDS 2005 cũngquy định một số hạn chế quyền tự do của các bên trong việc thiết lập họp đồng Theo
Trang 29Điều 122 khoản 1 điểm b BLDS 2005
16 Điều 128 BLDS 2005
17 Điều 123 BLDS 2005
18 Điều 4 BLDS 2005, điều 11 luật thương mại 2005
đó, nội dung và mục đích của hợp đồng “không được vi phạm điều cấm của pháp luật
và không trái đạo đức xã hội”15 Hợp đồng có “mục đích và nội dung vi phạm điều cấmpháp luật và trái với đạo đức xã hội thì vô hiệu”16
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thểtham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng Mục đích của giaodịch dân sự (hay hợp đồng) là: “lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khixác lập giao dịch đó”17
Mỗi xã hội có quan điểm về đạo đức khác nhau Phạm trù đạo đức khá trừutượng, không phải bất biến và phụ thuộc vào nhận thức mỗi người, vấn đề thế nào làhợp đồng trái đạo đức vẫn con nhiều ừanh cãi trên thực tiễn
Một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực pháp lý thì mục đích, nộidung không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội Ví dụ như một công
ty A ở nước X bán thức ăn đóng họp cho công ty B ở nước Y Công ty A biết rằng thức
ăn đóng hộp của công ty mình chưa đạt các điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩmnhưng vẫn bán cho công ty B (công ty B không biết về chất lượng sản phẩm) thì hợpđồng mua bán hàng hóa này vô hiệu do mục đích vụ lợi xấu, trái đạo đức xã hội
* Chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện:
Tự nguyện xác lập hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có tham giahay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình mà không chịu
sự chi phối hay tác động, can thiệp chủ quan nao của người khác Pháp luật đòi hỏinhững người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện Tựnguyện còn là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật dân sự và pháp luật thươngmại18
Hợp đồng do chủ thể xác lập thực hiện không tự nguyện thì có thể bị vô hiệuhoặc đương nhiên vô hiệu
2.1.2 Hiệu lực hợp đồng trong CISG:
về cơ bản CISG không quy định về hiệu lực của hợp đồng Điều 4 của CISG quyđịnh: Công ước này chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng mua bán và các quyền và nghĩa
vụ của người bán và người mua phát sinh từ hợp đồng đó Trừ trường hợp có quy địnhkhác được nêu trong Công ước, Công ước không liên quan tới:
+ Tính hiệu lực của hợp đồng, hoặc bất cứ điều khoản nào của hợp đồng, hoặcbất kỳ tập quán nào
+ Hậu quả mà hợp đồng có thể đối với quyền sở hữu các hàng hóa đã bán
Trang 30Ts Lê Minh Hùng-Hiệu lực hợp đồng theo pháp luật Việt Nam luận án tiến sĩ luật học năm 2010 trang 39
20 Ts Lê Minh Hùng - Hiệu lực hợp đồng theo pháp luật Việt Nam luận án tién sĩ luật học năm 2010 trang 39
Người viết nhận thấy, CISG không điều chỉnh tính có hiệu lực của hợp đồng vàcác điều khoản của nó Nhưng trong CISG vẫn có quy định về tính hiệu lực khi phátsinh giao dịch, đó là các giao dịch chào hàng và chấp nhận chào hàng
về hiệu lực chào hàng: CISG quy định một đề nghị phải thoả mãn ba điều kiệnmới trở thành một chào hàng Một là đề nghị đó phải được gửi tới một hoặc nhiều người
cụ thể Hai là đề nghị đó phải đủ chính xác, tức là phải nêu rõ tên hàng và ấn định rõràng hoặc ngầm định hay quy định phưomg pháp xác định số lượng và giá cả Ba là phảichỉ rõ ý chí của người đề nghị muốn tự ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp có chấpnhận Trường hợp một đề nghị không thoả mãn điều kiện thứ nhất, nhưng người đề nghịnêu rõ đó là một chào hàng thì đề nghị đó cũng được coi là một chào hàng
Chào hàng và chấp nhận chào hàng sẽ được người viết phân tích rõ ở phàn sau.Người viết nhận thấy, tuy không có quy định cụ thể về tính có hiệu lực của hợp đồngtrong CISG nhưng theo nguyên tắc quốc tế, cụ thể là các văn bản pháp luật của các quốcgia khác vẫn có quy định về hiệu lực hợp đồng
Theo quy định trong BLDS Pháp, họp đồng được thừa nhận là có hiệu lực thìphải thỏa mãn bốn điều kiện chủ yếu: các bên giao kết họp đồng phải hoàn toàn tựnguyện, các bên giao kết phải có năng lực giao kết, đối tượng và nội dung chủ yếu củahọp đồng phải xác định, mục đích căn cứ của họp đồng phải họp pháp19
BLDS Đức cũng có các quy định tưomg tự BLDS 2005 về các điều kiện xác lậpgiao dịch: không được thiếu yếu tố tự nguyện, nội dung giao dịch không được trái phápluật đạo đức20
Tác giả xét thấy, bản chất của họp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên và có tínhràng buộc các chủ thể về mặt pháp lý Qua các văn bản luật của quốc gia khác có thểthấy được điểm tưomg đồng với luật Việt Nam về điều kiện có hiệu lực của họp đồng,
đó là chủ thể phải có năng lực giao kết, đối tượng của họp đồng là hàng hóa cụ thểkhông vi phạm hàng hóa bị cấm và nội dung của họp đồng không trái với pháp luật vàđạo đức xã hôi Tác giả nhận định có thể vì lý do pháp luật các quốc gia có điểm tưomgđồng như trên nên không có quy định về hiệu lực họp đồng trong công ước
2.2 Giao kết hợp đồng
2.2.1 Giao kết hợp đồng theo luật Việt Nam
Như đã đề cập ở chưomg 1 về hình thức giao kết họp đồng, pháp luật Việt Namđưa ra hai phưomg thức giao kết là giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp thông qua haihình thức là đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết
2.2.1.1 Đề nghị giao kết
Trang 31Luật Việt Nam không dùng thuật ngữ chào hàng và chấp nhận chào hàng như
CISG thay vào đó là thuật ngữ đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết Theo đó, đề nghị
giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về
đề nghị này của bên đề nghị đổi với bên đã được xác định cụ thể, trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thủ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh 21
Như vậy pháp luật Việt Nam hiện hành không sử dụng thuật ngữ “chào hàng” như phápluật của hàu hết các nước cũng như CISG Theo ý kiến của các nhà luật học, việc không
sử dụng thuật ngữ chào hàng sẽ gây khó khăn ừong việc ký kết hợp đồng, cụ thể là chủthể ký kết khó phân biệt được đề nghị giao kết với quảng cáo và đặc biệt là với lời mờiđưa ra đề nghị giao kết hợp đồng Vì theo nguyên tắc, quảng cáo, lời mời chào hàng vàbản thân chào hàng đều được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên giá trị pháp lýcủa chúng lại hoàn toàn khác nhau
Từ điều 390 BLDS, có thể nhận thấy, trong trường hợp đề nghị giao kết hợpđồng không quy định thời hạn trả lời thì thì việc thay đổi, rút lại đề nghị sẽ được thựchiện khi nào thì luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: do bên
đề nghị ẩn định, nếu bên đề nghị không ẩn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó 22 Bên cạnh đó, để xác định thời
điểm nhận được đề nghị, khoản 2 điều 391 BLDS 2005 quy định: đề nghị được chuyểnđến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được
đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được
đề nghị; khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua cácphương thức khác
Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị
do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thôngbáo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được
đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng23 Quy định này thể hiện sự chặt chẽ
Trang 32Đồ nghị giao kết họp đồng chấm dứt trong các trường họp sau đây:24 25 26
+ Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận+ Het thời hạn trả lời chấp nhận
+ Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực+ Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực
+ Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờbên được đề nghị trả lời
Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất: khi bên được đề nghị đã chấp nhậngiao kết họp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này
đã đưa ra đề nghị Trong trường họp này, bên được đề nghị xem như đưa ra một đề nghịmới
2.2.I.2 Chấp nhận giao kết
Một ừong những vấn đề liên quan đến việc ký kết họp đồng cần phải được quantâm đó là sự im lặng có được coi là chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng hay không.Pháp luật Việt Nam, về mặt nguyên tắc cũng không coi im lặng là sự chấp nhận chào
hàng Tuy nhiên khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định rằng, hợp đồng cũng được xem
như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.
Chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối vớibên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị27 Như vậy nếu bên được
đề nghị chỉ chấp nhận một phần nội dung đề nghị và đề xuất sửa đổi hoặc đưa ra điều
Trang 33đề nghị mới của bên chậm trả lời Trong trường họp giao kết trực tiếp, bên được đề nghịphải trả lời ngay có chấp nhận hay không chấp nhận trừ trường họp có thỏa thuận khác.Tuy nhiên, Trong trường họp thông báo chấp nhận giao kết họp đồng đến chậm vì lý dokhách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báochấp nhận giao kết họp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường họp bên đề nghị trả lời ngaykhông đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.28
Bên được đề nghị giao kết họp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kếthọp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận đượctrả lời chấp nhận giao kết họp đồng.29
Định nghĩa về chấp nhận giao kết tại Điều 396 Bộ luật Dân sự năm 2005 khôngnhắc tới các cách thức hay hình thức của chấp nhận và dường như chỉ cho rằng, chấpnhận là “sự trả lời” mà trong khi đó cụm từ “sự trả lời” không rõ nghĩa, đôi khi làmngười ta tưởng lầm rằng sự chấp nhận phải bằng văn bản hoặc lời nói Tuy nhiên, nếugiải thích điều này trong mối quan hệ với Điều 401 và Điều 404 của Bộ luật dân sự năm
2005 có thể hiểu hình thức hay cách thức của chấp nhận phong phú hom như trên đãtrình bày Bộ luật Dân sự năm 2005 đã không dự liệu trường họp khi nào cách thứcchấp nhận hay hình thức chấp nhận được qui định cụ thể trong đề nghị, có nghĩa là đềnghị đòi hỏi chấp nhận phải theo một cách thức hay hình thức nào đó, do vậy gây khókhăn thêm cho việc xác định chấp nhận có hiệu lực hay không nếu chấp nhận đó đượcđưa tới người đề nghị mà không tuân thủ đúng với hình thức hoặc cách thức chấp nhận
đã được đề nghị qui định rõ
Điều 398 BLDS 2005 quy định, trong trường họp bên đề nghị giao kết họp đồngchết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được mời giao kết họp đồng trả lờichấp nhận giao kết họp đồng thì đề nghị giao kết họp đồng vẫn có giá trị Điều này cónghĩa là họp đồng đã được ký kết Cũng tưomg tự, Điều 399 quy định, trong trường họpbên được mời giao kết họp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lờichấp nhận giao kết họp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết họp đồng vẫn có giá trị
Và điều này cũng có nghĩa là họp đồng đã được ký kết
Trang 34Điều 400 BLDS 2005
2.2.2 Giao kết hợp đồng theo CISG
CISG không đưa ra phương thức giao kết trực tiếp mà thay vào đó là phươngthức giao kết gián tiếp Giao kết gián tiếp được thông qua chào hàng và chấp nhận chàohàng Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức:lời nói, văn bản, thông tin điện tử
2.2.2.I Đề nghị giao kết
Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng của họp đồng Vì vậy,BLDS 2005 và CISG đều có quy định về vấn đề này Đề nghị giao kết họp đồng về bảnchất là một hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể bày tỏ ý định giao kết họpđồng với chủ thể khác theo các điều kiện xác định
Chào hàng là một lời đề nghị rõ ràng về việc kỷ kết hợp đồng của một người gửi cho một hay nhiều người xác định Trong đó, người để nghị bày tỏ ỷ chỉ sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận đề nghị đó 30 Chào hàng có thể là chào
bán hoặc chào mua Chào hàng thường hướng tới một hoặc một số người xác định.Người nhận chào hàng có thể là một cá nhân hoặc pháp nhân: cá nhân được xác địnhbởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú), pháp nhân được xácđịnh bởi tên gọi, trụ sở và quốc tịch Tính xác định của người được mời chào hàngthường được thể hiện khi bên chào hàng gửi lời mời chào hàng vì khi đó bên đề nghị đãxác định được họ muốn giao kết họp đồng với ai
Ví dụ: Công ty A bán màn hình LCD Samsung giá khuyến mãi 10 triệu đồng.Dấu hiệu để xác định người mà bên đưa ra đề nghị muốn hướng tới được thể hiện ngaykhi bên đề nghị “gửi” đề nghị, đó là tên của pháp nhân hoặc thể nhân, địa chỉ trụ sởthương mại, địa chỉ bưu chính hoặc địa chỉ thường trú của bên đó, tức là bên đề nghị đãbiết rõ bên được đề nghị là ai khi họ “gửi” đề nghị Như vậy, quảng cáo của Công ty Achỉ là một lời mời chào hàng chứ không phải là một đề nghị giao kết họp đồng, vì nóhướng tới công chúng, một tập họp người không xác định Qua đó, chào hàng phải gửiđến chủ thể xác định nếu không chỉ được coi là lời mời chào hàng Như vậy, người viếtnhận thấy điều 390 BLDS 2005 chưa rõ ràng về mặt xác định cụ thể chủ thể được đềnghị
Chào hàng phải thể hiện ít nhất 3 thông tin quy định tại Điều 14 CISG: tên hàng,
số lượng, giá cả hoặc cách tính giá Đây là những điều khoản chủ yếu của họp đồngmua bán hàng hóa mà CISG đưa ra trong khi pháp luật mua bán hàng hóa ở Việt Namkhông có quy định họp đồng cần có những điều khoản chủ yếu nào Tác giả nhận thấy,CISG đưa ra ba điều kiện để chào hàng có hiệu lực Thứ nhất: chào hàng phải được gửitới một hoặc nhiều người cụ thể Thứ hai: chào hàng phải nêu rõ tên hàng, số lượng, giá
Trang 35Ths Diệp Ngọc Dũng Slide bài giảng Luật Thương Mại Quốc Tế Khoa Luật Đại học cần Thơ
31 Ths Diệp Ngọc Dũng Slide bài giảng Luật Thương Mại Quốc Tê Khoa Luật Đại hoc càn Thơ
32 Điều 397 khoản 1 BLDS 2005
cả Thứ ba: người đề nghị muốn tự ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp có chấpnhận Điều kiện thứ hai là quan trọng nhất vì nó xác định rõ tính chất của giao dịch làgiao dịch mua bán hàng hóa
Theo tinh thần của CISG, có hai loại chào hàng: chào hàng cố định và chào hàngkhông cố định:30 31
+ Chào hàng cố định (chào hàng không thể hủy bỏ): là chào hàng trong đó cónêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề nghị củamình Hay nói cách khác, người chào hàng không thể hủy bỏ chào hàng trong khoảngthời gian hiệu lực đã được quy định trong chào hàng
+ Chào hàng không cố định (chào hàng có thể hủy bỏ): là loại chào hàng ràngbuộc trách nhiệm của người chào hàng ở mức độ thấp hom so với chào hàng có thể hủy
bỏ Điều này có nghĩa người chào hàng có thể hủy bỏ chào hàng trước thời điểm ngườiđược chào hàng gửi trả lời chấp nhận chào hàng
Đe xác định chào hàng không thể hủy bỏ, trong chào hàng sẽ có quy định mộtthời hạn nhất định cho việc trả lời chấp nhận, hoặc chào hàng có ghi rõ là chào hàngkhông thể hủy bỏ Neu có quy định thời hạn, người chào hàng sẽ bị ràng buộc trongkhoảng thời gian đã ấn định đó
Điều 18 khoản 2 CISG: “chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chàohàng nhận được chấp nhận Chấp nhận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấpnhận ấy không được gửi tới người chào hàng trong thời gian mà người này đã quy địnhtrong chào hàng, hoặc nếu thời gian đó không được quy định như vậy, thì trong một thờigian hợp lý, xét theo tình tiết của sự giao dịch” Trong trường hợp, chào hàng khôngquy định thời hạn thì người chào hàng vẫn bị ràng buộc bởi chào hàng của mình.Nhưng thời gian hợp lý được xác định như thế nào thì cà luật Việt Nam và CISG đềukhông quy định cụ thể Luật Việt Nam vẫn chưa ra các quy định điều chỉnh vấn đề đềnghị giao kết không quy định thời hạn trả lời Nhưng đối với đề nghị giao kết có quyđịnh thời hạn trả lời, trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm
vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thìthông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trảlời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị32
về nguyên tắc, chào hàng chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc người chào hàng khi
nó tới nơi người được chào hàng Chào hàng sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộcngười chào hàng trong các trường hợp sau:
+ Chào hàng không tới tay người được chào hàng
Trang 36Điều 15 khoản 2 CISG
34 Điều 17 CISG
35 Điều 16 CISG
36 Điều 18 khoản 1 CISG
37 Ths Diệp Ngọc Dũng Slide bài giảng Luật Thương Mại Quốc Tê Khoa Luật Đại học càn Thơ
38 Điều 19 khoản 1 CISG
+ Thông báo hủy chào hàng đến tay người được chào hàng trước hoặc cùng lúcvới chào hàng33
+ Người chào hàng nhận được thông báo từ chối chào hàng của người được chàohàng34
+ Thông báo hủy chào hàng đến tay người được chào hàng trước khi người nàygửi chấp nhận chào hàng35 (quy định này chỉ áp dụng đối với chào hàng không thể hủybỏ)
2.2.2.I Chấp nhận giao kết
Theo cách gọi của CISG, chấp nhận giao kết được thay bằng chấp nhận chào
hàng Chấp nhận chào hàng là sự thế hiện ý chỉ của người được chào hàng đồng ỷ với những đề nghị của người chào hàng Chấp nhận chào hàng có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động cụ thể
Chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị khi người chào hàng nhận biết được sự chấpnhận đó Sự im lặng hay không hành động của người được chào hàng không mặc nhiên
có giá trị như một sự chấp nhận.36 Nhưng theo quy định tại khoản 2 điều 404 BLDS2005: “họp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bênnhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giaokết”, qua đó một đề nghị giao kết có quy định sự im lặng là trả lời chấp nhận giao kếtthì khi hết thời hạn trả lời chấp nhận, sự im lặng được xem như chấp nhận giao kết
* Hiệu lực của chấp nhận chào hàng:
Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận.Tuy nhiên, không phải sự chấp nhận nào cũng có giá trị pháp lý, một chấp nhận chỉ cóhiệu lực khi:37
+ Chấp nhận vô điều kiện: là sự chấp nhận hoàn toàn đối với nội dung chào hàngcủa người chào hàng đưa ra38 Theo điều 19 CISG, hoàn giá chào là việc trả lời chàohàng với mục đích chấp nhận nhưng có sửa đổi, bổ sung nội dung của chào hàng thìđược coi là hoàn giá chào, hoàn giá chào thực chất là chào hàng mới của người đượcchào hàng đối với người chào hàng ban đầu Khi có hoàn giá chào, vai trò của các bên
đã có sự hoán đổi Họp đồng chỉ được xem là đã xác lập khi bên chào hàng ban đầu bày
tỏ ý chí chấp nhận đối với hoàn giá chào Chỉ những đề nghị sửa đổi, bổ sung làm biếnđổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng ban đầu thì mới được xem là hoàn giá
Trang 37Điều 18 khoản 2 CISG
40 Điều 21 CISG
41 Điều 20 khoản 2 CISG
chào Những đề nghị liên quan đến: giá cả, điều kiện thanh toán, chất lượng, số lượng,địa điểm giao hàng, thời gian giao hàng, trách nhiệm của các bên, phương thức giảiquyết tranh chấp mới được xem là biến đổi cơ bản Người viết nhận thấy, giữa CISG vàluật Việt Nam có điểm khác biệt Theo điều 395 BLDS 2005, khi bên được đề nghị đãchấp nhận giao kết họp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi nhưngười này đã đưa ra đề nghị mới BLDS 2005 không đưa ra quy định sửa đổi, bổ sunglàm biến đổi cơ bản đề nghị thì được xem là đề nghị mới như CISG
+ Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trongchào hàng hoặc trong thời gian họp lý.39
+ Một chấp nhận chào hàng chậm ừễ vẫn có hiệu lực nếu được người chào hàngchấp nhận, hoặc người chào hàng không bày tỏ ý chí phản đối.40 Sự chấp nhận chậm trễ
do lỗi của người được chào hàng chỉ có giá trị khi được người chào hàng bày tỏ ý chíchấp nhận (không mặc nhiên có giá trị) Sự chấp nhận chậm trễ do những yếu tố kháchquan thì sẽ mặc nhiên có hiệu lực nếu người chào hàng không bày tỏ ý chí phản đốingay lập tức
Các ngày lễ chính thức hay ngày nghỉ việc rơi vào khoảng thời hạn được quyđịnh để chấp nhận chào hàng không được trừ, khi tính thời hạn đó Tuy nhiên, nếukhông báo về việc chấp nhận chào hàng không thể giao tại địa chỉ của người chào hàngvào ngày cuối cùng của thời hạn quy định bởi vì ngày cuối cùng đó là ngày lễ hay ngàynghỉ việc tại nơi có trụ sở thương mại của người chào hàng, thì thời hạn chấp nhận chàohàng sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên kế tiếp các ngày đó41 Do yêu cầu củathực tiễn thương mại quốc tế, CISG còn đưa ra quy định về việc kéo dài thời hạn hiệulực của chào hàng khi ngày cuối cùng của chào hàng lại rơi vào ngày nghỉ hay ngày lễ,trong khi luật Việt Nam không quy định gỉ về vấn đề này
Đối chiếu với các quy đinh liên quan của CISG, có thể nói, ngoại trừ một số chitiết cụ thể, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết họpđồng đều tương thích với những nguyên tắc cơ bản của Công ước Viên 1980 Chỉ cómột số khác biệt nhỏ, thể hiện ở những quy định chi tiết hơn của Công ước CISG quyđịnh cụ thể về điều khoản chủ yếu của họp đồng mua bán hàng hóa (gồm tên hàng, sốlượng, giá cả), còn pháp luật về mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay không có quyđịnh họp đồng mua bán hang hóa phải có những điều khoản chủ yếu nào Ngoài ra,CISG còn quy định rất rõ tại điều 19.3 về nội dung của chấp nhận chào hàng, qua đó cóthế xác định được những sửa đổi bổ sung nào của chấp nhận chào hàng là cơ bản khiếncho chấp nhận chào hàng đó trở thành một chào hàng mới Bộ luật dân sự Việt Nam
Trang 38Điều 27 khoản 2 luật thương mại 2005
43 Điều 11 CISG
44 Điều 29 khoản 1 CISG
năm 2005 không có quy định cụ thể như vậy Ngoài ra, CISG còn đưa ra quy định vềviệc kéo dài thời hạn hiệu lực của chào hàng khi ngày cuối cùng của chào hàng lại rơivào ngày nghỉ hay ngày lễ, trong khi luật Việt Nam không quy định gì về vấn đề này
2.3 Hình thức hợp đồng
2.3.1 Hình thức hợp đồng theo luật Việt Nam
Hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật Đe hợp đồng muabán có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lậ p theo những hình thức được phápluật thừa nhận Theo điều 24 luật thương mại 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa đượcthế hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loạihợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phảituân thủ theo quy định đó
Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sởhợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương42 Cáchình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữliệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (điều 3 khoản 15 luật thương mại2005)
Theo BLDS 2005 điều 401, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói,bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đóphải được giao kết bằng một hình thức nhất định; trong trường hợp pháp luật có quyđịnh hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phảiđăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó
Như vậy, trường hợp các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luậtbắt buộc phải thỏa thuận bằng văn bản (ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế)
sẽ là lý do dẫn đến hợp đồng vô hiệu
2.3.2 Hình thức hợp đồng theo CISG
Hình thức của hợp đồng không nhất thiết phải được lập dưới hình thức văn bản.Hợp đồng có thế được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhânchứng43 Quy định này của CISG tương tự khoản 1 điều 401 BLDS 2005, hợp đồng dân
sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một sốloại hợp đồng có yêu cầu riêng Một hợp đồng có thể được sửa đổi hay bổ sung bằngthỏa thuận đơn thuần giữa các bên44
Ví dụ: A và B giao kết hợp đồng bằng lời nói Trước khi thực hiện hợp đồng, Bgửi văn bản sửa đổi giao kết hợp đồng bằng lời nói với A Hành vi của B được CISGcông nhận
Trang 39Điều 29 khoản 2 CISG
Một họp đồng bằng văn bản chứa đựng một điều khoản quy định rằng mọi sự sửađổi hoặc chấm dứt họp đồng phải được các bên làm bằng văn bản thì không thể bị sửađổi hay chấm dứt theo thỏa thuận giữa các bên dưới một hình thức khác Tuy nhiênhành vi của một bên có thể không cho phép họ được viện dẫn điều khoản ấy trongchừng mực nếu bên kia đã căn cứ vào hành vi này45
Ví dụ:46
H và G giao kết họp đồng bằng văn bản, có quy định mọi sửa đổi, bổ sung phảiđược lập bằng văn bản Trong họp đồng cũng quy định, H có nghĩa vụ giao hàng cho Gvào ngày 01/01 Sau khi họp đồng được giao kết, G gọi điện cho H đề nghị lùi thời hạngiao hàng vào ngày 01/02 (chậm hom so với quy định 1 tháng) H đồng ý
Tuy nhiên, vào ngày 05/01, G kiện H yêu càu hủy họp đồng và H phải bồithường thiệt hại cho B
Lý do: H đã không giao hàng vào ngày 01/01 như họp đồng đã quy định Đề nghịthay đổi thời hạn giao hàng do G đưa ra là không có giá trị pháp lý vì đã không được lậpdưới hình thức văn bản?
CISG đã đưa ra trường hợp ngoại lệ ở khoản 2 điều 29, “tuy nhiên hành vi củamột bên có thể không cho phép họ được viện dẫn điều khoản ấy trong chừng mực nếubên kia đã căn cứ vào hành vi này” Qua đó hành vi của B là có giá trị pháp lý, B khôngthể yêu cầu hủy họp đồng và bồi thường thiệt hại
Người viết nhận thấy, theo CISG về nguyên tắc, CISG công nhận nguyên tắc tự
do về hình thức họp đồng, các bên có thể sửa đổi, bổ sung họp đồng dưới bất kỳ hìnhthức nào (không nhất thiết phải theo hình thức của họp đồng) Đây là một điểm khácbiệt cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức của họp đồng Tuy nhiên, sựkhác biệt này không cản trở việc Việt Nam tham gia CISG vì Việt Nam có quyền bảolưu sự khác biệt này theo điều 96 của CISG Trong trường họp, họp đồng đã được thiếtlập dưới hình thức văn bản và có quy định việc bổ sung, sửa đổi phải được thể hiện dướihình thức văn bản thì các bên chỉ có thể sửa đối, bổ sung dưới hình thức văn bản (tương
tự điều 24 luật thương mại 2005)
2.4 Quyền và nghĩa vụ các bên
Những thỏa thuận trong họp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên, cótính chất “luật” giữa các bên Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theođúng họp đồng Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồngthời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ, pháp luật quy địnhnhững nguyên tắc có tính chất bắt buộc phải tuân theo đối với các chủ thể trong quátrình thực hiện họp đồng Quyền và nghĩa vụ các bên được xác định bởi họp đồng giữa
Trang 40Ths Diệp Ngọc Dũng Slide bài giảng Luật Thương Mại Quốc Te Khoa Luật Đại học càn Thơ
các bên và quy định của pháp luật Trong thực tiễn, không thể tiên liệu đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong mọi quan hệ họp đồng mua bán Bởi lẽ, sựsáng tạo của các bên trong thỏa thuận họp đồng là vô cùng phong phú và nội dungnhững thỏa thuận đó thường cụ thể, phù họp với điều kiện hoàn cảnh của các bên.Trong mục này sẽ phân tích quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong họp đồng muabán
2.4.1 Quyền và nghĩa vụ các bên theo luật Việt Nam 2.4.I.I Nghĩa vụ Ctf bản của bên bán
Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong họp đồng mua bán hànghóa Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên bán đều liên quan và nhằm mục đíchhoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua Theo quy định của luật thương mại 2005,bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong họp đồng về số lượng, chấtlượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong họp đồng Trường họpkhông có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan
- Giao hàng đúng đoi tượng và chất lượng:
Đối tượng và chất lượng hàng hóa là những nội dung cơ bản của họp đồng muabán hàng hóa Bên bán phải thực hiện giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏathuận và quy định của pháp luật Trong việc giao nhận hàng hóa, vấn đề xác định hànghóa có phù họp với họp đồng về đối tượng và chất lượng hay không có ý nghĩa rất quantrọng, về nguyên tắc, phải căn cứ vào nội dung cụ thể của họp đồng để xác định vấn đềnày Trường họp không thể xác định được thì căn cứ vào quy định của pháp luật Theoquy định luật thương mại 2005, trường họp họp đồng không có quy định cụ thể thì hànghoá được coi là không phù họp với họp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong cáctrường họp sau đây:
+ Không phù họp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùngchủng loại;
+ Không phù họp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bánbiết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết họp đồng;
+ Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đãgiao cho bên mua;
+ Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hànghóa đó hoặc không theo cách thức thích họp để bảo quản hàng hoá trong trường họpkhông có cách thức bảo quản thông thường 46