Trong bài viết tác giả đã kháiquát những thuận lợi và khó khăn của các tỉnh miền Trung trong chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, thực trạng cơ cấu kih tế nói chung và cơ cấu kinh tếnô
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chútrọng đến công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà trước tiên là công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bởi vì nước ta đi lên từ một nước nôngnghiệp, dân số hiện nay vẫn tập trung ở nông thôn Trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp là một nội dung vô cùng quan trọng Đại hội VI của Đảng Cộng sản ViệtNam đã xác định việc bố trí lại cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp có ý nghĩa vôcùng quan trọng, Đại hội xác định coi “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” Hộinghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX xác định “công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp chế biến vàthị trường” Điều đó cho thấy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cóvai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nước ta Trong thờigian hơn 20 năm đổi mới, đến nay , tốc độ sản xuất nông nghiệp vẫn được duytrì, cơ cấu kinh tế nông nghiệp bước đầu đã được chuyển đổi theo hướng sảnxuất hàng hóa Tuy nhiên cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch còn chậm và ởnhiều nơi định hướng chuyển dịch chưa rõ ràng, chưa mang lại hiệu quả cao.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn đang là vấn đề đáng quan tâm nhất là trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay
Ở Bình Phước, những năm qua đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp cơ bản đã theo đúng hướng Tuy nhiên, tốc độ chuyển dich cònchậm, cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện tại vẫn chưa phát huy tối đa nguồn lựcsẵn có của tình và chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh nhà
Bù Đăng là một huyện miền núi của tỉnh Bình Phước, huyện cũng đã cónhững định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp dựa trên việc phântích những thuận lợi khó khăn về vị trí địa lý và các nguồn lực của huyện mình.Nhưng việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện diễn rarất chậm, định hướng chuyển dịch trong thực tế chưa rõ nét, cơ cấu nông nghiệphiện tại chưa khai thác tốt tiềm năng của huyện nhất là tiềm năng về lâm nghiệp
Việc phân tích về thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp củahuyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước và tìm ra những giải pháp để thúc dẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nạy là một vấn đề có tính cấp thiết về cả lý
Trang 2nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
ở huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, không phải là một đề tài quámới Đã có những đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,như:
Võ Văn Giảng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền Trung theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đăng trên tạp chí
Kinh tế và Phát triển số 35 (tháng 3, 4 năm 2000) Trong bài viết tác giả đã kháiquát những thuận lợi và khó khăn của các tỉnh miền Trung trong chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, thực trạng cơ cấu kih tế nói chung và cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn nói riêng ở các tỉnh miền Trung trên cơ sở đó tác giả đềxuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2010
Trương Thị Minh Sâm (chủ biên), “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Khoa học
xã hội xuất bản năm 2002, Trong đó, các tác giả đã phân tích thực trạng cơ cấukinh tế nông nghiệp vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh từ trước năm 1975đến năm 2000 và đưa ra những giải pháp chủ yếu để góp phần chuyển dich cơcấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thiện Nhân, Bốn bài học về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nôngnghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên Tạp chí Cộng Sản số 18 (9/2005).Tác giả đã khái quát những thành tựu mà Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được
và phân tích bốn bài học cơ bản của Thành phố Hồ Chí Minh trong chuyển dich
cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Nguyễn Quang Ngọc, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận văn
thạc sĩ Đề tài đã nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của việc chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phân tích thựctrạng, đề ra giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho huyện Bố Trạch, tỉnhQuảng Bình
Các đề tài đã nghiên cứu nhiều về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpnhưng chưa có đề tài nào đề cập đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.Hơn nữa, trên địa bàn huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước hiện chưa có một đề tàinào nghiên cứu toàn diện về đề tài này Mà huyện hiện là một địa phương có quá
Trang 3trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chậm mà định hướng chuyển dịch
lại chưa rõ ràng Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước hiện nay” là rất cần thiết.
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện
Bù Đăng, tỉnh Bình Phước để từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn một cách có hiệu quả nhất
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Bù Đăng, tỉnh Bình
Phước
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp của huyện giai đoạn từ năm 2000 - 2009 Và đề xuất giải phápchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp nông thôn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phuơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài được kết cấu thành 3 chuơng:
Trang 4Chương 1: Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bù Đăng,tỉnh Bình Phước hiện nay
Chưong 3: Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong qúa
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bù Đăng,tỉnh Bình Phước
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Cơ cấu là một phạm trù triết học được sử dụng để phản ánh cấu trúc bêntrong, những tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận của một hệ thống hoặc củađối tượng Cơ cấu được thể hiện như một tập hợp những quan hệ cơ bản, tươngđối ổn định giữa các yếu tố cấu thành của một đối tượng xem xét Cơ cấu kinh tếđược hiểu theo nhiều cách:
- Cơ cấu kinh tế là tổng thể được hợp thành từ nhiều thành phần, yếu tốcủa nền kinh tê quốc dân, có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫnnhau trong quá trình vận động và phát triển [20;4]
- Cơ cấu kinh tế là một tổng thể bao gồm tổng thể các ngành, các lĩnh vực,
bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [25; 13]
- Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện cấu trúc bên trong củanền kinh tế, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất và lượng tương đối ổnđịnh của các yếu tố do các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấttrong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện nhất định [20;5]
Từ những cách tiếp cận đó, có thể hiểu cơ cấu kinh tế là: các yếu tố cấuthành nền kinh tế quốc dân Bao gồm: Các ngành kinh tế; Các loại hình doanhnghiệp với quy mô, trình độ công nghệ khác nhau dựa trên các quan hệ hữu cơnhất định; Các cùng lãnh thổ nơi định vị cho những doanh nghiệp hoạt động
Các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân chiếm một tỷ lệ nhất định trongtổng cơ cấu kinh tế quốc dân và tỷ lệ ấy có sự biến đổi trong quá trình phát triểncủa kinh tế, bởi lẽ cơ cấu kinh tế không phải là một cơ cấu tĩnh mà nó là một cơcấu động Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, dưới sự tác động của nhiềunhân tố bao gồm cả khách quan và chủ quan các yếu tố cấu thành, tỷ lệ các yếu
tố đó trong nền kinh tế quốc dân sẽ biến đổi
Như vậy, cơ cấu kinh tế là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ
Trang 6gian nhất định và trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nó thể hiện đầy đủ
cả hai mặt định tính và định lượng, chất lượng và số lượng phù hợp với mục tiêuxác định của nền kinh tế Mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳquyết định việc hình thành các yếu tố các bộ phận cấu thành cả về chất và vềlượng Mặt chất quy định về vai trò vị trí các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốcdân, mặt lượng thể hiện quan hệ tỷ lệ của các bộ phận phù hợp với mặt chấtlượng đã được xác định
1.1.1.2 Phân loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được xem xét , phân chia thành 3 loại: Cơ cấu gành kinh tế,
cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế
Về cơ cấu ngành kinh tế Trong cơ cấu kinh tế thì cơ cấu ngành kinh tế
là quan trọng nhất, đó là tổ hợp của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế ngành biểu thịquan hệ giữa các ngành kinh tế, những tổng thể đơn vị kinh tế cùng thực hiệnmột loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội theo ngành sảnxuất để sản xuất ra những sản phẩm hoặc dịch vụ có những đặc tính chung nhấtđịnh Sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, do
sự phát triển của sự phân công lao động xã hội quyết định
Xem xét các cuộc phân công lao động trong lịch sử loài người ta thấyrằng: Trong thời kỳ đầu của lich sử loài người cơ cấu kinh tế là nông nghiệp, đếnkhi phân công lao động phát triển, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp thì cơcấu kinh tế là nông - công nghiệp Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp làmcho tỷ lệ công nghiệp cao hơn nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân thì nền cơcấu kinh tế là công - nông nghiệp thay thế cho cơ cấu kinh tế nông - côngnghiệp Vào những năm giữa thế kỷ XX, khi công nghiệp, nông nghiệp pháttriển nhu cầu trao đổi hàng hóa tăng lên thì ngành thương nghiệp dịch vụ pháttriển mạnh mẽ và trở thành một ngành quan trọng trong cơ cấu kinh tế,cơ cấukinh tế lúc này chuyển dịch sang công - nông nghiệp - dịch vụ [20; 5]
Hiện nay cơ cấu ngành kinh tế hiện đại bao gồm ba nhóm ngành chính đó
là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Về cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu này được phân chia dựa trênhình thức sở hữu về tư liệu sản xuất của nền kinh tế Trong các nền kinh tế cóhai loại hình sở hữu đó là công hữu và tư hữu, bên cạnh đó còn tồn tại hình thức
sở hữu hỗn hợp
Theo đó, nền kinh tế nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau: Kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài
Trang 7Nước ta là nước xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế dựa chủ yếu trên chế độcông hữu tư liệu sản xuất vì vậy mà Đảng ta xác định kinh tế nhà nước đóng vaitrò chủ đạo trong cơ cấu thành phần kinh tế nước ta.
Về cơ cấu vùng kinh tế Đó là sự bố trí vùng lãnh thổ của nền kinh tế
Cơ cấu vùng kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặtkhông gian, về địa lý Cơ cấu vùng kinh tế được xây dựng dựa trên vị trí địa lý,khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Mỗi vùng phát triển những ngành nghề khácnhau dựa trên việc khai thác triệt để lợi thế, đặc điểm, ưu thế đặc thù của từngvùng, từng địa phương
1.1.1.3 Các tiêu chí đánh giá một cơ cấu kinh tế hợp lý
Đối với mỗi quốc gia, để tăng trưởng và phát triển kinh tế, cần phải xácđịnh được một cơ cấu kinh tế hợp lý Một cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý khi
cơ cấu kinh tế đó đáp ứng được sáu yêu cầu cơ bản sau:
Một là, cơ cấu kinh tế đó phản ánh được các quy luật khách quan bao gồm
tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế - xã hội mà trong đó quan trọng nhất là nó phải phảnánh được quy luật vận động khách quan của nền kinh tế Đó là các quy luật: Quyluật về sự phù hợp giữa sự phát triển của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất,quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ,
…
Hai là, cơ cấu kinh tế phải đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn
lực của cả nước, của các ngành, các địa phương và của vùng lãnh thổ qua cácphương án sản xuất kinh doanh
Ba là, cơ cấu kinh tế phải đảm bảo sử dụng ngày càng nhiều những lợi thế
so sánh, lợi thế tuyệt đối của đất nước mình so với cá nước khác, của địa phươngmình so với các địa phương khác
Bốn là, cơ cấu kinh tế phải là một cơ cấu kinh tế mở, tức là phải có sự
phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng quốc tế hoá
Năm là, cơ cấu kinh tế phải phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc
cách mạng khoa học - kỹ thuật, xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa Nghĩa là cơcấu kinh tế phải theo hướng hiện đại hóa ứng dụng ngày càng nhiều các thànhtựu khoa học - kỹ thuật và trong sản xuất, kinh doanh, phải có sự hợp tác quốc tếcao, tham gia sự phân công lao động trong khu vực và trên thế giới, có xu hướnghội nhập sâu vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Sáu là, cơ cấu kinh tế phải phát huy cao độ hiệu quả và đồng thời phải
đảm bảo sự phát triển của xã hội
Trang 81.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Theo nghĩa hẹp nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất dựa trên quy luậtsinh trưởng của cây trồng và vật nuôi, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Trongtrồng trọt phân chia thành trồng cây công nghiệp và cây lương thực, cây ăn qủa.Trong chăn nuôi chia thành các loại chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm
Theo nghĩa rộng nông nghiệp là tổ hợp các ngành gắn liền với quá trìnhsinh học bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Do sự phát triển củaphân công lao động xã hội, các ngành này hình thành và phát triển tương đối độclập nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau [ 21; 11]
Nông nghiệp là một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nước, chịu sự chiphối của nền kinh tế quốc dân và gắn bó chặt chẽ vói các ngành khác trên địabàn nông thôn, nhưng đồng thời lại mang những đặc trưng riêng của mình Sảnphẩm của nông nghiệp là nguồn bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước, lànguồn nguyên liêu cho công nghiệp đồng thời là nguồn sản phẩm xuất khẩumang lại ngoại tệ khá lớn cho nền kinh tế
Như vây, nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp vàthủy sản và cả diêm nghiệp) là lĩnh vưc sản xuất vật chất nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho côngnghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệtương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc cáclĩnh vực nông lâm ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế - xãhội cụ thể Nó được biểu hiện bằng sự tương quan về số lượng các yếu tố thànhphần cấu thành nên cơ cấu kinh tế nông nghiệp [25; 26]
1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng
đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và mối liên
hệ của một nền kinh tế theo một chủ đích và phương hướng nhất định Tỷ lệ vềlượng và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế
Đặc trưng của cơ cấu kinh tế là luôn luôn vận động và biến đổi, chuyểndịch theo thời gian và không gian Sự vận động và biến đổi đó là do sự vận động,biến đổi của lực lượng sản xuát và quan hệ sản xuất Sự vận động biến đổi đó đốivới nước ta là sự vận động từ một nền kinh tế tự túc, tự cấp sang nền kinh tếhành hoá, từ một nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, về cơ cấu tỷ trọnggiữa các ngành thì đó là việc giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọngcông nghiệp và dịch vụ
Trang 9Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự vận dụng quy luật kháchquan, nhằm biến dổi nền nông nghiệp theo một hướng chủ đích, phương hướngnhất định Đó là quá trình làm thay đổi các mối quan hệ chủ yếu về mặt chất vàlượng tương đối ổn định của các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp Cụ thể đó
là quá trình thay đổi về tỷ lệ và mối quan hệ giữa các ngành nông nghiệp lâm ngư nghiệp và thủy sản theo hướng hợp lý về cả mặt chất và mặt lượng
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển từ nền sản xuất nôngnghiệp tự cấp, tự túc là chủ yếu, sản xuất nhỏ là phổ biến lên nền nông nghiệphàng hóa, dựa trên những lợi thế sãn có về nông nghiệp kết hợp với việc ứngdụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa quan trọngtrong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng vì nó là nhân tố bảođảm sự ổn định và phát triển cho quá trình này, đồng thời việc chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp cũng là quá trình để thực hiện mục tiêu xóa đói, giảmnghèo và là giải pháp làm giảm sự cách biệt về đời sống văn hóa, kinh tế, dân trígiữa nông thôn và thành thị
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là kết quả của quá trình tăngtrưởng về quy mô với nhịp độ khác nhau của các ngành trong nông nghiệp Tuynhiên, mọi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải xuất phát từtiềm năng các mặt của một lãnh thổ, đặc biệt là lợi thế so sánh giữa các địaphương, các vùng, các quốc gia khác nhau
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp phụ thuộc vào nhiều nhân tố Các nhân tố đó có thể được chia thành banhóm: Nhóm nhân tố tự nhiên, nhóm nhân tố kinh tế - xã hội và nhóm nhân tố
kỹ thuật
Nhóm nhân tố tự nhiên: Đất đai, thời tiết, khí hậu, có ý nghĩa to lớn đối
với sản xuất nông lâm ngư nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp nói riêng Ngành nông nghiệp là ngành có đối tượng là thế giới sinh vật,
nó phát triển theo quy luật tự nhiên và gắn với điều kiện tự nhiên rất chặt chẽ.Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi con người sẽ kết hợp với yếu tố đầu vào đểgiảm sự rủi ro và chi phí thấp để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnhtranh trên thị trường trong nước và ngoài nước
Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội: Ngoài các yếu tố tự nhiên thì các yếu tố
kinh tế - xã hội như: Vốn đầu tư, lao động, cơ sở hạ tầng, thông tin, thị trường,chính sách và tổ chức quản lý sản xuất Có ảnh hưởng to lớn đến quá trình
Trang 10triệt để những yếu tố kinh tế - xã hội này thì tất yếu sẽ đẩy nhanh được quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Nhóm nhân tố kỹ thuật: Nhóm này tác động mạnh mẽ đến việc hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nó mở ra những triển vọng to lớntrong việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào canh tác, chế biến và bảo quảnnông sản nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để có thể hòa nhậpvào thị trường khu vực và thế giới
Mỗi nhóm nhân tố có vai trò, vị trí và có tác động nhất định đến cơ cấukinh tế nông nghiệp, có những nhóm nhân tố có tác động tích cực và có nhữngnhân tố có tác động tiêu cực Cũng như có những nhân tố có thể tích cực ở thờiđiểm này nhưng lại có tác động tiêu cực ở thời điểm khác, hoặc có nhân tố đốivới địa phương này là tích cực nhưng đối với địa phương khác lại có tác độngngược lại Vì vậy mà xét tổng thể mỗi vùng, mỗi địa phương có những tiềmnăng, thế mạnh, lợi thế so sánh nhất định Việc tìm ra và tìm cách phát huynhững tiềm năng, thế mạnh đó là cần thiết trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp
Một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải được thiết lập theo hướng kết hợpchuyên môn hóa và phát triển tổng hợp, tạo nên mối quan hệ hữu cơ giữa cácngành, nghề trong vùng nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững
Hiện nay quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta đangdiễn ra theo những xu hướng sau:
Xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa, phát triển toàn diện bao gồmtrồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản Trong đó ưu tiên đầu tư, khai tháccác nguồn lực để tăng dần về tỷ trọng của các ngành nghề thủy sản, lâm nghiệptrong cơ cấu nông nghiệp theo nghĩa rộng; Nuôi trồng trong cơ cấu nội bộ ngànhthủy sản; trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trong nội bộ ngành lâm nghiệp; Chănnuôi trong nội bộ ngành nông nghiệp; Cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thựcphẩm trong nội bộ ngành trồng trọt
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ
sở khai thác, phát huy đầy đủ các tiềm năng, lợi thế so sánh để dần dần hìnhthành các vùng sản xuất chuyên môn hóa, tập trung quy mô lớn, gắn sản xuất vớichế biến để nâng cao chất lượng hàng hóa, phục vụ nhu cầu trong nước và xuấtkhẩu
Ưu tiên phát triển các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật, có khảnăng, điều kiện thuận lợi để ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, quytrình sản xuất tiên tiến để nâng cao các khâu sản xuất được hiện đại hóa trên cơ
sở thực hiện cơ giới hóa, hóa học hóa, sinh học hóa điện khí hóa, tự động hóa
Trang 11nhằm nâng cao chất lượng sản xuất, năng suất lao động thực hiện mục tiêu pháttriển bền vững nông nghiệp nông thôn.
1.3 Tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một nội dung cơ bản của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông nghiệp nông thôn là quá trình xâydựng cơ sở vật chất của kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại; Gắn nông nghiệp vớicông nghiệp, dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực và lợi thếcủa nền kinh tế nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tếnhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn; Xâydựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ văn minh và xã hội chủ nghĩa.[1; 243 - 244]
Thực chất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
là quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hộicủa một nước công nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải tạo ra đượcmột nền nông nghiệp đa dạng trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, đáp ứngnhu cầu trong nước và hướng mạnh ra xuất khẩu
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải ưu tiên pháttriển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn nhằm khai thác nguyên vật liệu tại chỗ,
sử dụng nguồn lao động và yêu cầu ít vốn, chú trọng phát triển các cơ sở có quy
mô vừa và nhỏ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải dựa rên cơ sở
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nước, rừng; Đảm bảo những yêu cầu về cảitạo môi trường sinh thái ở nông thôn
Đại hội VIII xác định một trong những nội dung cơ bản của công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là phát triển toàn diện nông, lâm, ngưnghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên ngành, có cơ cấu kinh tế hợp lý vềcây trồng, vật nuôi Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ươngĐảng khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn đã xác định “công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng
Trang 12khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại và các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.”
Nội dung tổng quát của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn ở nước ta là:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóalớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; Thực hiện cơ khí hóa, điện khíhóa, thủy lợi hóa trong nông nghiệp; Ứng dụng các thành tựu khoa học, côngnghệ, trước hết là công ngệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đạivào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọnggiá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; Giảm dần tỷtrọng sản phẩm và lao dộng nông nghiệp; Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xãhội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; Tổ chức lại sảnxuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; Xây dựng nông thôn dân chủ, côngbằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thầncủa nhân dân ở nông thôn [1;246 - 247]
Như vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một nội dung cơ bảncủa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.3.2 Sự cần thiết khách quan và vai trò của việc việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.3.2.1 Sự cần thiết khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tronmg quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Từ trong lịch sử nước ta cho đến ngày nay, nông nghiệp, nông thôn và nôngdân có vai trò hết sức to lớn Nông nghiệp là ngành phát triển sớm nhất Nước ta
là nước đi lên từ nền nông nghiệp, nhưng nông nghiệp nước ta lạc hậu, nhỏ bé,manh mún Hiện nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa phù hợp, hàng hóa, nôngsản trên thị trường chưa có sức cạnh tranh cao, chưa tận dụng, phát huy tối đa lợithế sẵn có của mình để hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phát triển cao Tínhđến năm 2009 nước ta còn có 70,4% dân số sinh sống ở nông thôn với một tỷ lệlớn lao động ở đây Trong khi nền kinh tế nông thôn phát triển chậm chạp, cơcấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp chậm chuyển dịch Vì vậy để
Trang 13phát triển và tăng trưởng nền kinh tế nông thôn thì trước tiên cần phải hình thànhđược một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng, việc chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu vì:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là để hình thành một cơ cấukinh tế nông nghiệp hợp lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên,tận dụng những điều kiện kinh tế xã hội nhằm hiệu quả sản xuất nông nghiệp,tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần tăng trưởng
và phát triển kinh tế nông thôn nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm bảo đảm những
điều kiện vật chất cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn nhằm tận dụng những điềukiện do quá trình này để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế c`ông nghiệp
Thứ tư, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn
liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, vì vậy nếu không thực hiệnchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại thì quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn coi như không thành công
1.3.2.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có vai trò to lớn đối với sự pháttriển của nền kinh tế nói chung và sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế và cơ cấukinh tế nông thôn nói riêng Vai trò đó thể hiện như sau:
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cho phép khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng từ đó tăng năng suất lao động Mỗi vùng đều có những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế -
xã hội khác nhau vì vậy việc triển kinh tế cũng sẽ khác nhau Và mỗi vùng tùytheo những điều kiện hiện có mà có lợi thế so sánh với các vùng, các địa phươngkhác Bởi vậy mà việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ra một cơ cấukinh tế nới sẽ tận dụng được tiềm năng, thế mạnh của vùng mình Việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên những tiềm năng, thế mạnh đó(việc nuôi con gì, trồng cây gì… là do điều kiện tự nhiên của vùng quy định) vìvậy hướng chuyển dịch kinh tế nông nghiệp hợp lý là hướng phát huy nhữngtiềm năng đó
Trang 14Hai là, chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp góp phần tạo điều kiện cho công nghiệp, dịch vụ phát triển, từ đó hình thành cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp – dịch vụ hiện đại cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch hợp lý sẽ tạo
điều kiện để công nghiệp, dịch vụ phát triển, bởi lẽ sản phẩm của nông nghiệp lànguyên liệu cho công nghiệp, khi nguyên liệu được đáp ứng thì ngành côngnghiệp sẽ có điều kiện phát triển mạnh hơn với nguồn nguyên vật liệu sẵn cótrong nước; Một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý nghĩa là nền nông nghiệpphát triển mạnh, khi nông nghiệp phát triển mạnh thì nông phẩm hàng hoá tănglên, nhu cầu trao đổi buôn bán tăng lên tạo điều kiện để dịch vụ phát triển Bêncạnh đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thường đi cùng vớiquá trình chuyển dịch lao động Cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển dịch theo hướng công nghiệp, hiện đại nênlượng lao động cần thiết giảm đi, số lượng lao động này sẽ chuyển sang ngànhcông nghiệp và dịch vụ là ngành đòi hỏi một lực lượng lớn lao động tạo điềukiện để hai ngành này phát triển Tuy nhiên cũng có khó khăn là người lao độngtrong công nghiệp dịch vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng lao độngnước ta hiện nay tỷ lệ chưa qua đào tạo rất cao
Ba là, góp phần làm giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp làm cho năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi tăng lên từ đótăng về giá trị nên thu nhập của người nông dân cũng sễ tăng lên là cho đời sốngcủa người nông dân được cải thiện Khi cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịchmột cách hợp lý sẽ tạo điều kiện cho công nghiệp và dịch vụ phát triển và kéotheo đó là quá trình đô thị hóa do việc phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội đểphục vụ nhu cầu phát triển, người dân có xu hướng di dân ra các thành thị đểphát triển hơn Vì thế để hạn chế tình trạng di dân thì phải mở mang các ngành,nghề mới, các ngành công nghiệp, dịch vụ thu hút người lao động, tăng thu nhậpcho người lao động Những việc làm đó sẽ làm cho nền kinh tế nông thôn pháttriển, thu nhập của người dân nông thôn cao dần lên, đời sống vật chất và tinhthần của người dân cũng theo đó mà tăng lên
Bốn là, góp phần biến nông thôn trở thành một địa bàn hấp dẫn đầu tư, tạo điều kiện hấp dẫn cho mọi người dân tiếp cận với những thành tự khoa học – công nghệ Khi cơ cấu kinh tế dần dần chuyển dịch theo hướng hợp lý thì năng
suất lao động cao, nền kinh tế nông thôn cũng phát triển theo, bởi nông nghiệpphát triển sẽ tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển làm cho tổng thể nềnkinh tế nông thôn phát triển Các nhà đầu tư sẽ thấy được việc dầu tư vào địa bànnông thôn là hợp lý, là có lợi Vì thế mà nông thôn sẽ trở thành địa bàn hấp dẫnvốn đầu tư của cả nhà nhà nước và tư nhân, cả trong nước và ngoài nước
Trang 15Khoa học công nghệ có tác động rất lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp Vì vậy, muốn thực hiện tốt việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp phải tạo mọi điều kiện để nông dân tiếp cận được với các thành tựu khoahọc - công nghệ và biết cách áp dụng vào sản xuất nông nghiệp một cách có hiệuquả nhất khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng diễn ra mạnh mẽ thì nguồn thôngtin người dân tiếp cận được ngày càng phong phú hơn và khoa học công nghệ sẽđược người dân tiếp cận nhanh hơn, có hiệu quả hơn
1.2.3 Quan điểm của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Từ sau ngày đất nước thống nhất 1975 đặc biệt là kể từ khi tiến hành côngcuộc đổi mới đến nay việc phát triển nông nghiệp rất được Đảng ta chú trọngquan tâm chỉ đạo, điều đó được thể hiện qua các chủ trương, chính sách củaĐảng
Tại Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng
đã xác định “Phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, đẩy mạnh lâmnghiêp, ngư nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nhằm sớm đảmbảo đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ; cung ứngnguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu Tiến hành sảnxuất để phát triển tất cả các vùng: đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển…sớm hình thành các khu vực tập trung và chuyên môn hóa Coi trọng cả ba mặt:thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích… tập trung đầu tư lớn và phát độngphong trào quần chúng đẩy mạnh thủy lợi; Đẩy mạnh việc sản xuất các loại phânbón ruộng và chú trọng cải tạo đất; Xây dựng hệ thống giống quốc gia, cung ứngcác loại giống mới” (3; 529 - 530)
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Đảng ta xác định “cầnphải tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp đưa nông nghiệp một bước lênchủ nghĩa xã hội, trong một cơ cấu kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nông nghiệp,công nghiệp, hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng.”; Phải sử dụng lao động theohướng thâm canh và kinh doanh tổng hợp, nhằm phát triển trồng trọt, chăn nuôi,chế biến ngành nghề ở nông thôn Bố trí hợp lý và có căn cứ khoa học cơ cấucây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề để đất nông nghiệp cũng như đất lâmnghiệp được sử dụng hợp lý, để môi trường sống được bảo vệ tốt”; cần phâncông lao động hợp lý; Đảng cũng xác định “phát triển nông nghiệp cần phải kếthợp với phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng cả chiều rộng lẫn chiều sâu, ”
Đến Đại hội VI (1986) đã xác định ba chương trình, mục tiêu lớn là
“lương thực phẩm - hàng tiêu dùng - hàng xuất khẩu”, trong đó lương thực, thựcphẩm được ưu tiên hàng đầu Vì vậy nông nghiệp được ưu tiên phát triển vớimục tiêu số một là “sản xuất lương thực, thực phẩm” ngoài ra còn chú trọng phát
Trang 16xây dựng đồng bộ công nghiệp chế biến, phát triển mạnh các ngành nghề, gắnlao động với đất đai, rừng, biển nhằm khai thác đến mức cao nhất những tiềmnăng đó.
Đại hội VII, VIII của Đảng là sự cụ thể hóa về chủ trương, chính sách pháttriển nông nghiệp ở nước ta của Đại hội VI Bắt đầu từ Đại hội VII, Đảng ta xácđịnh “phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa”
Tại Đại hội IX Đảng vấn đề chuyển dịch vơ cấu kinh tế nông nghiệp cũngđược đề cập và bàn bạc, và đặc biệt đến Hội nghi lần thứ năm Ban chấp hànhtrung ương khóa IX đã ra nghị quyết “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” đã chỉ rõ quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp cần phải: “Bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốcgia, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo trên cơ sở hình thành các vùng sản xuấtlúa chất lượng cao, giá thành hạ, gắn với chế biến và tiêu thụ; Phát triển sản xuất
và chế biến các loại nông sản hàng hóa xuất khẩu có lợi thế của từng vùng, vớiquy mô hợp lý; Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranhcủa các sản phẩm này (như lúa gạo, thủy sản, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, chè, cao
su, rau quả nhiệt đới, thịt lợn…) trên thị trường trong nước và quốc tế.”
Đối với mặt hàng còn đang phải nhập khẩu nhưng trong nước có điều kiệnsản xuất có hiệu quả cần phải phát triển sản xuất hợp lý ở các vùng để từng bướcthay thế cho nhập khẩu
Đối với cây lương thực, xây dựng các vùng sản xuất tập trung; Sử dụngcác giống mới có năng suất cao, chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường,
áp dụng các biện pháp đồng bộ để hạ giá thành sản phẩm
Đối với cây công nghiệp, rau quả, hình thành các vùng sản xuất tập trungcác loại cây công nghiệp, rau, hoa quả; Ứng dụng công nghệ sinh học trongchon, tạo giống, nhân giống, kết hợp với nhập khẩu giống và công nghệ nhângiống mới; Thực hiện cơ giới hóa các khâu sản xuất; Phát triển các cơ sở côngnghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu
Đối với chăn nuôi, phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hìnhthành các vùng sản xuất tập trung, an toàn Nâng cấp và đầu tư xây dựng các cơ
sở chế biến các sản phẩm chăn nuôi có trang bị hiện đại, đạt yêu cầu chất lượng
và vệ sinh an toàn thực phẩm, phục vụ nhu cầu trong nước và hướng ra xuấtkhẩu
Đối với lâm nghiệp cần phải tập trung bảo vệ vốn rừng hiện có đồng thờilàm giàu rừng nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ Quy hoạch rừng thànhvùng nguyên liệu gắn với cơ sở chế biến
Trang 17Đối với thủy sản, đầu tư đồng bộ cho cả nuôi trồng và đánh bắt thủy sảngắn với chế biến hiện đại, đảm bảo chất lượng, quy hoạch và khai thác tốt diệntích mặt nước để nuôi trồng thủy, hải sản, phát triển các hình thức nuôi côngnghiệp và bán công nghiệp.
Đối với diêm nghiệp thì cần quy hoạch và đầu tư cho các vùng làm muốivới công nghệ mới để thúc đẩy năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành sảnphẩm, bảo đảm nhu cầu trong nước và xuất khẩu, thay thế nhập khẩu (Theo tinhthần của nghị quyết “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn thời kỳ 2001 - 2010” Về chủ trương phát triển lực lượng sản xuất,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn)
1.4 Kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương trong nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
• Kinh nghiệm cuả Thái Lan
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh , có được thành công
đó là nhờ Thái lan đã áp dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng xuất khẩu Kinh nghiệm của Thái Lan trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp là:
Một là, thực hiện nhiều hình thức sở hữu, quan tâm đến phát triển của các
thành phần kinh thế theo hình thức sở hữu, khuyến khích các thành phần kinh tếnày phát triển
Hai là, kết hợp tốt các loại hình kinh tế hộ gia đình, cá thể, tiểu chủ và
kinh tế trang trại, hợp tác xã… Sự kết hợp các loại hình này sẽ phát huy đượctiềm lực của mọi người dân trong sản xuất nông nghiệp
Ba là, phát huy lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khí
hậu, tài nguyên một cách hợp lý để phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệpchế biến nông sản, công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng tạo nên những mặt hàngxuất khẩu đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện của đất nước và nhu câutrên thế giới
Bốn là, thực hiện tốt việc đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
để nâng cao năng suất, chất lượng nông phẩm để tăng tính cạnh tranh của nôngsản phẩm xuất khẩu của mình, từ đó tạo được uy tín trên thị trường trong nước
và trên thế giới và tìm kiếm những thi trường ổn định cho nông sản phẩm
Trang 18Năm là, đồng thời với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thái
Lan đã biết gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng các vùng chuyên canh nông sảnphù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương trong nước
Sáu là, thực hiện chính sách vùng kinh tế mới nhằm phân bố hợp lý dân
cư đến các vùng có tiềm lực kinh tế chưa được khai thác, tạo điều kiện cho dân
cư có điều kiện đời sống cơ sở vật chất, hạ tầng: trường học, trạm xá, bưu điện,đường giao thông… Để dân cư yên tâm sản xuất phát triển nông nghiệp
Bảy là, Thái Lan đã áp dụng chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất, thuế
nông nghiệp để khuyến khích phát triển sản xuất Có chính sách về trợ cấp giá cả
để có thể xuất khẩu với giá thấp thuận lợi trong cạnh tranh tìm kiếm ngày càngnhiều hơn đầu ra cho nông sản
• Kinh nghiệm của Nhật Bản
Đến cuối thế kỷ XX, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc công nghiệphàng đầu trên thế giới Ngành nông nghiệp tuy chiếm một tỷ lệ nhỏ bé trong cơcấu GDP của nước này nhưng vai trò của nó vô cùng quan trọng Mặc dù trước
đó, thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản sản xuất không đủlương thực cho 130 triệu dân, phải nhờ vào viện trợ của Mỹ và thực hiện chế độđịnh lượng khẩu phần ăn Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do thiếu đấtcanh tác, diện tích đất hoang hóa tăng lên, các làn thuần nông thì phân tán Do
đó , việc phát triển nông nghiệp rất được Nhật Bản chú trọng, trong đó Nhật Bảnquan tâm đên chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Do được quan tâm đầu tư
và có chính sách khôn khéo trong thực hiện nên Nhật Bản đã có bước chuyển đổinhanh chóng trong nôngnghiệp nói riêng và nông thôn nói chung Đến nay NhậtBản cơ bản đã trở thành nước có nền nông nghiệp đa dạng, hiện đại với cơ cấuhợp lý
Từ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản người ta đã rút ranhững bài học cho sự thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
đó là:
Một là, tiến hành cải cách ruộng đất, tự do hóa nông dân, coi trọng phát
triển hình thức nông trang và phát triển các nông trang gắn liền với hợp tác xã,đồng thời với phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp
Nhật Bản coi trọng phát triển nông nghiệp đặc thù, đảm bảo mục tiêu antoàn lương thực, đồng thời cũng phát triển nông nghiệp toàn diện, mở rộng sảnxuất các lại cây trồng khác và phát triển chăn nuôi thông qua phát triển các vùngnông nghiệp đặc thù Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nhật Bản đã ápdụng, thực hiện chính sách an toàn lương thực thông qua cải tạo đất đai, định cư
Trang 19cho nông dân, thiết lập chế độ sở hữu nhỏ, xóa bỏ quyền chiếm dụng ruộng đấtbất hợp pháp để nông dân yên tâm sản xuất.
Hai là, Nhật Bản đã có những chính sách cụ thể, phù hợp vói từng nhiệm
vụ của từng thời kỳ cụ thể giải quyất tốt những vấn đề phát sinh, công tác quản
lý vũ mô nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng được chú trọng đúngmức Sau 1945, bước và thời kỳ khô phục và phát triển nông nghiệp, mục tiêu và
tư tưởng chỉ đạo của Chính phủ Nhật Bản là bảo đảm an toàn lương thực trên cơ
sở phát triển chăn nuôi và các loại cây trồng khác Đến giai đoạn từ năm 1947Nhật Bản ban hành và thực hiện các chính sách và các luật hướng dẫn, hỗ trợnông nghiệp như: Chính sách bình ổn giá, cải cách hành chính, khuyến khíchvốn đầu tư, luật tài trợ cho nông dân bị thiên tai, luật đất đai nông nghiệp Từnăm 1975 khi nông nghiệp phát triển không tương xứng vói công nghiệp và nhucầu xã hội, Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện trên
cơ sở đảm bảo an toàn lương thực, thực hiện trợ giá nông sản, hoàn thiện cơ cấunông nghiệp, đẩy mạnh các công trình phúc lợi nông thôn
Ba là, tăng cường, mở rộng dịch vụ khuyến nông, xây dựng hệ thống dịch
vụ xã hội hóa nhằm phục vụ đầu ra, đầu vào cho nông nghiệp Hệ thống các hợptác xã dịch vụ bảo đảm cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, tài chính, chế biến bảoquản và tiêu thụ sản phẩm của các nông trang, các hộ gia đình sản xuất nôngnghiệp nhưng trên cơ sở bảo đảm các quyền tự chủ kinh doanh của từng trangtrại, từng hộ gia đình
Bốn là, chính phủ Nhật Bản có chính sách, thực hiện chú trọng đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là hệ thống thủy lợi Hệthống thủy lợi đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh đảm bảo phần lớn nhucầu tuới, tiêu cho nông nghiệp Đầu tư hệ thống máy móc, trang thiết bị nhỏ, hợpvới quy mô hộ gia đình và nông trang
Năm là, chỉ đạo cụ thể đến từng ngành, có những chính sách chung để
phát triển nông nghiệp, đồng thời có chính sách phù hợp để phát triển, chuyểndịch cơ cấu trong nội bộ các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Sáu là, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học công nghệ phuc vụ nông
nghiệp, như: Nghiên cứu lai tại giống lúa mới cho năng xuất cao, lai tạo các loạicây trồng, vật nuôi bằng công nghệ gen Đẩy nhanh tốc độ ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất nông nghiêp để nông nghiệp ngày càng phát triển theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
•Kinh nghiệm của tỉnh Bình Định
Trang 20Bình Định là một tỉnh nằm trên sườn Đông của dãy Trường Sơn, thuộcduyên hải Nam Trung bộ Tỉnh có địa hình dốc, hẹp, đất nông nghiệp phân tán, ítmàu mỡ, thời tiết lại khắc nghiệt Vì vậy sản xuất nông nghiệp của tỉnh gặp rấtnhiều khó khăn, trở ngại Do nhận thức được những khó khăn, thách thức đối vớinền nông nghiệp tỉnh nhà, nên tỉnh đã có những chủ trương, biện pháp để pháttriển nông nghiệp Tỉnh quán triệt chủ trương của Đảng, Nhà nước về côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đã được chú trọng với nhiều chương trình, biện pháp và đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể
Những kinh nghiệm rút ra được từ việc chuyển dich cơ cấu kinh tế nôngnghiệp tỉnh Bình Định là:
Thứ nhất, Định hướng chuyển dịch kinh tế nông nghiệp một cách rõ ràng,
khi việc định hướng chuyển dịch cơ cấu rõ ràng thì mới có mục tiêu rõ ràng đểtìm ra các biện pháp hành động hướng về mục đích và hướng về mục đích ấy
Thứ hai, Khoa học công nghệ được ứng dụng một cách rộng rãi trong sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong công tác giống cây trồng, vật nuôi Tỉnh chútrọng công tác khảo cứu, khảo nghiệm, chọn giống, tạo giống cây trồng, vật nuôi
có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng củatỉnh Tỉnh đã thực hiện các chương trình cải tạo giống bò, nạc hóa đàn lợn, pháttriển đàn gia cầm, tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi
Thứ ba, Tiến hành chuyển đổi cơ cấu mùa vụ một cách tích cực, đặc biệt
là chuyển đổi lúa ba vụ bấp bênh, kém hiệu quả sang ba vụ chắc chắn, có chấtlượng
Thứ tư, thực hiện tốt cơ giới hóa các khâu sản xuất, đặc biệt là trong sản
xuất lúa các khâu như làm đất, gieo xạ, thu hoach đã được cơ giới hóa
Thư năm, gắn việc phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp với
việc phát triển công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ
Thứ sáu, đồng thời với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tỉnh tiến
hành chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Thứ bảy, tỉnh tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng nông
thôn, nhất là kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất: sửa chữa và làm mới các hồ chứanước, kiên cố hóa kênh mương, sưa chữa, xây dựng hệ thống đường giao thôngnông thôn
Thứ tám, tỉnh ban hành, thực hiện và điều chỉnh hệ thống chính sách
khuyến khích phát triển nông nghiệp
•Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương quan tâm đến việc chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp một cách tích cực và đạt được những thành quả đánghọc hỏi Bài học mà thành phố Hồ Chí Minh rút ra trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông nghiệp rút ra được là:
Một là, hiệu quả kinh tế là yếu tố động lực quan trọng cho chuyển dịch cơ
cấu sản xuất trong ngành nông nghiệp Bài học đó cho thấy là phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng năng suất, giá trị sản xuất của ngành, lấy hiệuquả kinh tế để làm động lực cho quá trình chuyển dịch
Hai là, yếu tố thị trường cần phải đảm bảo đủ lớn để có thể tăng sản lượng
mà không làm giảm giá thành sản phẩm, nhờ đó để đảm bảo hiệu quả sản xuất
Ba là, phải đảm bảo cung ứng đồng bộ các yếu tố đầu vào và triển khai hai
hoạt động đầu ra cho quá trình sản xuất Các yếu tố đầu vào đó là giống; thức ăn,phân bón; nước; lao động; thuốc chữa bệnh đặc thù; vốn; đất và lao động quản
lý Hai hoạt động đầu ra là hoạt động tiếp thị sản phẩm và hoạt động tổ chứcmạng lưới phân phối sản phẩm
Bốn là, phải cung cấp cho người nông dân những thông tin kinh tế thị
trường cần thiết và có sự hỗ trợ cụ thể cho mỗi hộ để nông dân có thể thực hiệnchuyển dịch cơ cấu sản xuất một cách nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
• Kinh nghiệm ở tỉnh Bình Phước
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác,ngành nông nghiệp của tỉnh Bình Phước đã có những bước chuyển biến đáng kể,
cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh đã chuyển dịch theo hướng phát triển mạnhcác loại cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi và thủy sản một cách hợp lý Để
có được những thành quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tỉnh đãthực hiện đồng bộ nhiều biện pháp về chính sách, vốn đầu tư, khoa học kỹthuật…
Tỉnh ban hành và thực hiện triệt để Nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh
về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với công tác phát triển
cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2006 - 2010 Và nhiều chủtrương chính sách cụ thể cho từng ngành khác
Tỉnh đặc biệt chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn,xem đây là chìa khóa của một nền nông nghiệp bền vững Trong những năm qua,tỉnh đã đầu tư mỗi năn hàng trăm tỷ đồng để phát triển hệ thống thủy lợi, giaothông nông thôn…
Trang 22Về công tác giống cây trồng, vật nuôi cũng được tỉnh đặc biệt quan tâm,hàng năm tỉnh tiến hành hàng loạt các chương trình về cung cấp, phân phốigiống cho các địa phương phục vụ quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất của từnghuyện, thị Đặc biệt có các chương trình trợ giá hoạc cấp phát miễn phí giốngcây trồng, vật nuôi cho một số địa phương.
Về thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thu y, phân bón, thức ăn chăn nuôi… tỉnhcũng tiến hành trọ giá hoặc trả sau cho nông dân để nông dân có điều kiện sảnxuất
Tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật về trồng, chăm sóc các loại cây trồng
và kỹ thuật nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá
Tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, phục vụ cho việc chuyểndịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Huy động nhiều nguồn vốn khác nhau đầu tư vào phát triển nông nghiệp.Như vậy, qua phân tổng hợp kinh nghiệm của các nước trên thế giới vàkinh nghiệp của một số đia phương trong nước, có thể rút ra kinh nghiệm đểchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Bù Đăng trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn như sau:
+ Phải có định hướng và ngày càng hoàn chỉnh định hướng phát triển vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách rõ ràng
+ Phát triển nông nghiệp phải dựa trên việc phát huy lợi thế so sánh
+ Phải đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ứng dụng một cách nhanhchóng những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật
+ Phải có chính sách đầu tư đúng mức, có chính sách khuyến khích sảnxuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý
+ Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn với pháttriển công nghiệp chế biến
+ Phải từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ cho việc phát
triển nông nghiệp
+ Bảo đảm giống cây trồng, vật nuôi Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nôngnghiệp chủ yếu là chuyển dịch về cơ cấu cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp vớiđiều kiện của từng vùng, từng địa phương, vì vậy việc bảo đảm giống là điềukiện quan trọng
+ Đầu tư đúng mức cho các khâu phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp
Trang 23+ Bảo đảm thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, bởi nếu sản xuấtnhưng không có thị trường tiêu thụ, đầu ra bế tắc thì hiệu quả kinh tế không đạt
vì vậy việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp cũng không đạt kết quả
+ Phải ban hành, thực hiện và điều chỉnh kịp thời các chính sách khuyếnkhích phát triển nông nghiệp
Trang 24Chương 2
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH
BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Bù Đăng là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Phước, được thành lậptháng 7/1988 Huyện có diện tích tự nhiên là 150.462 ha, chiếm gần 22% diệntích của tỉnh, bằng 0.45 diện tích toàn quốc, với dân số theo thống kê ngày1/4/2009 là 134.124 người Huyện có 13 Đơn vị hành chính là: Thị trấn ĐứcPhong, xã Đoàn Kết, xã Minh Hưng, xã Đức Liễu, xã Nghĩa Trung, xã PhướcSơn, xã Thọ Sơn, xã Thống Nhất, xã Đăng Hà, xã Đồng Nai, xã Bom Bo, xã ĐăkNhau, xã Phú Sơn
Bù Đăng nằm cách trung tâm tỉnh 54 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 165
km về phía Nam
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Đăk Nông
- Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng
- Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Phước Long
- Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đồng Phú
- Phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai
2.1.1.2 Địa hình
Bù Đăng là huyện có địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằngtheo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Tuy là một huyện miền núi, nhưng BùĐăng lại có địa hình tương đối bằng so với các huyện miền núi khác trong tỉnhcũng như trong cả nước, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Diện tích địahình dốc dưới 15o , thuận lợi cho phát triển nông nghiệp là 59,3% diện tích đất tựnhiên với tổng diện tích là 88.273ha
2.1.1.3 Khí hậu
Bù Đăng là huyện nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xíchđạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít có gió bão và không có mùa đông lạnh.Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa
Trang 25Nhiệt độ bình quân hằng năm cao đều và ổn định từ khoảng 25,8 – 26.6 C.Nhiệt độ bình quân thấp nhất từ 21,5-22oC, nhiệt độ bình quân cao nhất khoảng32,7 - 32,2oC Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ các tháng trong năm không lớnnhưng nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lại khá lớn (khoảng 7 - 9 oC), nhất
là vào các tháng mùa khô Bù Đăng là huyện nằm trong vùng dồi dào nắng, sốgiờ nắng trung bình hàng năm phỏ biến từ 2300 - 2600h, số giờ nắng bình quânhàng ngày từ 6,3 - 7,1h Tổng thời gian nắng nhiều nhất là vào tháng 10, 11, 12,thòi gian nắng ít nhất là tháng 6, 7, 8, 9 hàng năm
Lượng mưa hàng năm của huyện biến động trong khoảng từ 2159 –3231mm Nhưng phân bố theo mùa Lượng mưa tập trung nhiều vào mùa mưa từtháng 5 đến tháng cuối 10 hàng năm, lượng mưa tạp trung lớn, chiếm khoảng 85
- 90% lượng mưa của cả năm Còn vào mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 4năm sau, lượng mưa rất nhỏ, chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm
2.1.1.4 Đất đai
Tài nguyên đất của huyện phong phú và đa dạng Theo các nhà chuyênmôn phân chia thì đất ở huyện Bù Đăng được chia thành 4 nhóm chính: Nhóm 1:Đất phù sa891,6ha; Nhóm 2: Đất đỏ vàng(đất nâu đỏ trên đá bazan, đất nâu vàngtrên đá bazan, đất đỏ vàng trên đá phiến) 132451,1ha; Nhóm 3: Đất dốc tụ,5289,4ha; Nhóm 4: Đất sông, hồ…11830,61ha
Có thể nói Bù Đăng là một huyện có tài nguyên đất khá phong phú và đadạng, có chất lượng tốt, đặc biệt là đất đỏ bazan chiếm 71,63% Vì vậy đây làvùng đất có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp
2.1.1.5 Các điều kiện khác
Tài nguyên nước, trên địa bàn huyện chỉ có một con sông lớn chảy quađoa là sông Đồng Nai, chiều dài của đoạn sông chảy qua huyện là 45 km, consông này đồng thời là ranh giới giữa huyện Bù Đăng và tỉnh Lâm Đồng Trên hệthống sông này đã xây dựng thủy điện Trị An Lòng sông cơ khu vực chảy quahuyện rất hẹp, bờ sông dốc nên khả năng cung cấp nước tưới và khả năng bồiđắp phù sa là rất ít.Vì vậy, nguồn nước ngầm ở huyện tương đối nghèo nàn, việckhai thác và sử dụng nước ngầm để phục vụ sản xuất và sinh hoạt là rất hạn chế
Tài nguyên rừng, trong tỉnh Bình Phước, cũng như trong khu vực ĐôngNam Bộ Bù Đăng là một trong hai huyện có diện tích rừng lớn nhất Nhưng hiệnnay tài nguyên rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng do sức ép về dân số đặc biệt
là dân di cư từ các tỉnh phía Bắc đến, tình trạng phá rừng làm nương rẫy và khaithác rừng bừa bãi của lâm tặc…
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 262.1.2.1 Kinh tế
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ huyện Bù Đăng nhiệm kỳ
2005 - 2010; báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện BùĐăng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 1920, đã đánh giá tình hìnhkinh tế của huyện Bù Đăng như sau: trong những năm gần đây nền kinh tế củahuyện Bù Đăng đã đạt được những thành tựu quan trọng, giữ được tốc độ tăngtrưởng khá, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, quy mô GDP còn nhỏ, trong cơ cấu GDP tỷ lệnông nghiệp còn lớn Bù Đăng có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn, tăng trưởngbình quân GDP giai đoạn 1996 - 2000 là 19,15%, giai đoạn 2001 - 2005 là18,3%
Về tốc độ tăng trưởng GDP trong từng khu vực: Khu vực I (nông - lâmnghiệp - thủy sản) giai đoạn 1996 - 2000 là 20,46%/ năm và năm 2001 - 2005 là17,43%/ năm; Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) giai đoạn 1996 - 2000 là33,61%/ năm, giai đoạn 2001 - 2005 là 34,91%/ năm; Khu vực III (thương mại -dịch vụ) giai đoạn 1996 - 2000 là 11,3%/ năm và giai đoạn 2001 - 2005 là 16 %/năm
Cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp - thủy sản có sự chuyển dịch theo hướngtăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, thuy nhiên sựchuyển dịch chưa lớn, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP
Khu vực I có xu thế giảm dần từ 80,8% năm 1996 xuống còn 72,5% năm
2000 và 63,0 năm 2005
Khu vực II chuyển dịch chậm: Năm 1996 7,4 %, năm 2000 là 7,7% vànăm 2005 là 16,0%
Khu vực III cũng có xu hướng tăng nhưng tăng chậm: Từ 11,8% năm
1996 lên 19,8% năm 2000, đến năm 2005 là 21,0%
Mức thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt 4,48 triệu đông/ người/năm, tuy bình quân đầu người cao nhưng đời sống vật chất và tinh thần củangười dân trong huyện vẫn còn thấp Cơ sở vật chất hạ tầng, kỹ thuật, các côngtrình phúc lợi xã hội vẫn chưa phát triển đáp ứng kịp nhu cầu sản xuất và sinhhoạt của người dân
2.1.2.2 Dân số và nguồn lao động
Xét trên bình diện chung của cả nước thì huyện Bù Dăng, tỉnh Bình Phước
là huyện có diện tích rộng (1503 km2), với số dân theo số liệu điều tra ngày1/4/2009 là 134.124 người, mật độ dân số của huyện là 89 người/ km2 Tốc độ
Trang 27tăng dân số hàng năm khoảng trên 5% kể cả gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học.Như vậy so với cả nước mà nói Bù Đăng là huyện đất rộng người thưa.
Bù Đăng là huyện có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, toàn huyện hiện có
48128 nhân khẩu là người dân tộc thiểu số (chiếm 37% tổng dân số toàn huyện),với 31 thành phần dân tộc thiểu số Trong đó, dân tộc bản địa là người S’tiêngchiếm tỷ lệ cao nhất 49%, dân tộc Tày là 12,9%, Nùng 12,6% còn lại là các dântộc khác
Về nguồn nhân lực của huyện, tổng số người trong độ tuổi lao động củahuyện là 102.471 lao dộng Nguồn nhân lực của huyện lao động chủ yếu tronglĩnh vực nông - lâm nghiệp - thủy sản Ngoài đội ngũ lao động trong các cơ quan
sự nghiệp của huyện, lực lượng tham gia trong các hoạt động kinh tế là 83.104người Trong đó, lao động trong khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản là 63.325người chiếm 76,2%, trong khu vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 6.233người, chiếm 7,5%, lao động trong khu vực dịch vụ là 6.731 người, chiếm 8,1%;
số người trong độ tuổi lao động đang đi học là 2.909 chiếm 4,7%, số lao độngkhác là 3.906 chiếm 4,7%
Chất lượng nguồn lao động của huyện còn thấp Số lao động có trình độchuyên môn, kỹ thuật và quản lý trong các ngành chỉ chiếm 5,5%(737 người)tổng số lao động xã hội Trong số đó, người có trình độ Đại học chỉ chiếm 8,1%(598 người), trình đọ cao đẳng chiếm 2,3% (170 người), trung cấp là 46,2%(3.407 người), sơ cấp chiếm 8,9% (657 người), công nhân kỹ thuật chiếm 34,5%(2.545 người)
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Bù Đăng là một huyện miền núi mới đựơc tái lập, xuất phát điểm về kinh
tế - xã hội thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng kịpthời nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu sinh hoạt của người dân
Tuy rằng trong những năm gần đây cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật củahuyện đã được đầu tư và phát triển để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
và nhu cầu sinh hoạt của người dân nhưng vẫn còn rất nhiều yếu kém cần cóbiện pháp khắc phục nhanh chóng
Về giao thông vận tải, mạng lưới giao thông đã và đang được nâng cấp,
mở rộng, làm mới, nhu cầu đi lại vận chuyển giao lưu kinh tế của nhân dân đãdần dần được cải thiện từng bước Tổng chiều dài các tuyến đường trong huyện
là 670 km, trong đó đường nhựa là 212 km chiếm 32,7%; đường cấp khối vàđường đất đỏ là 464 km, chiếm 67,3% Huyện đã có bến xe khách tại Thị trấnĐức Phong để phục vụ nhu cầu đi lại, trao đổi hàng hóa của người dân Nhưng
Trang 28bến xe chưa được đầu tư đồng bộ về bãi đậu xe, nhà chờ và hệ thống cấp thoátnước nên chất lương của bến kém và chất lượng phục vụ cũng chưa đảm bảo.
Về thủy lợi, toàn huyện hiện có 8 công trình hồ chứa nước, đập dâng lớn,nhỏ Nhưng do địa hình dốc, bị chia cắt nhiều nên hiệu quả cung cấp nước tướiphục vụ sản xuất của các công trình còn thấp Theo thiết kế thì các công trìnhthủy lợi này sẽ phục vụ nước tưới cho khoảng 900 ha đất nông nghiệp, nhưngtrong thực tế chỉ có thể phục vụ được khoảng 458 ha tức là chỉ mơi đạt 50,8%công suất thiết kế Ngoài ra còn có các đập nhỏ theo mùa vụ, hệ thống kênh tướivới chiều dài 2,2 km Như vậy diện tích đất nông nghiệp được phục vụ nước tưới
là rất nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu thực tế, nhất là vào các tháng mùa khôtrời nắng liên tục trong thời gian dài
Về mạng lưới điện, mạng lưới điện của huyện là mạng lưới điện trung thế,mới được xây dựng gần đây nên chất lượng khá đảm bảo Hệ thống mạng lướiđiện trung thế được kéo vào đến trung tâm của100% xã, thị trấn và các cơ quan,ngành, khu vực quan trọng trên địa bàn huyện
Về thông tin liên lạc, hiện tại huyện đã có bưu điện trung tâm đặt tại thịtrấn Đức Phong, ngoài ra còn có 10 điểm bưu điện tại các xã, số điện thọai cốđịnh của huyện đã lên trên 3000 máy; các mạng điện thoại di động đã phủ sónghầu khắp các xã, thị trấn kể cả vùng sâu, vùng xa nhât, tỷ lệ người dùng điệnthoại di động của huyện là rất lớn Nhìn chung, thông tin liên lạc bảo đảm thôngsuốt phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng củahuyện
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
2.1.3.1 Thuận lợi
Với những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội như trên, huyện Bù Đăng,tỉnh Bình Phước có những thuận lợi nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn hiện nay Cụ thể như sau:
- Huyện Bù Đăng nằm trải dài theo quốc lộ 14, là một tuyến quốc lộ quantrọng trong cả nước (thuộc hệ thống đường Hồ Chí Minh) nối liền các tỉnhphía Bắc qua Tây Nguyên và các tỉnh Nam Bộ, lại là huyện nằm trong vùngchung chuyển giữa miền núi cao nguyên và vùng đồng bằng Vì vậy có điềukiện để mở cửa, hòa nhập tìm kiếm thị trường cho nông sản thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 29- Là một huyện có diện tích đất rộng lớn, diện tích đất sản xuất nôngnghiệp là 43.397,69 ha, bình quân đất nông nghiệp là 3.757,25 m2/ người,bình quân đất lâm nghiệp là 827,86 m2/ người Đây là tiềm năng, thế mạnhquan trọng cho phát triển nông nghiệp của huyện.
- Trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của huyện đất đỏ Bazan chiếm72,15 % Loại đất này thích hợp với các loại cây lâu năm, là điều kiện thuậnlợi để phát triển cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả và trồng xen canhcây công nghiệp ngắn ngày
- Diện tích đất lâm nghiệp của huyện là rất lớn vì kết hợp với nguồn laođộng dồi dào là điều kiện thuận lợi để phát triển tăng tỷ trọng lâm nghiệptrong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện
- Địa hình đồi núi của huyện tạo nên những khe giữa núi có khả năng pháttriển các loại cây rau màu, lúa và phát triển thủy sản
- Độ dốc của địa hình không lớn lắm Diện tích đất dốc đươi 20o củahuyện là 123.618 ha, chiếm 76,3 %, độ dốc này thuận lợi cho việc phát triểnnông nghiệp
- Diện tích đất rộng lớn và đặc điểm dân cư thưa là điều kiện để phát triểnngành chăn nuôi với quy mô lớn vì khả năng lây lan của dịch bênh chậm
- Diện tích đất đồi núi có thể phát triển chăn nuôi các loại gia súc như:Trâu, bò, dê
- Nguồn lao động của huyện dồi dào
- Hiện nay thông tin về khoa học kỹ thuật cũng đến với người dân nhanhchóng hơn, nông dân đã ý thức được tầm quan trọng của khoa học - kỹ thuậtđối với sản xuất nông nghiệp, đã thực hiện các chủ trương của huyện vềchuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
- Thời tiết hai mùa, vào mùa mưa cây cối phát triển rất nhanh chóng
- Hệ thống giao thông của huyện cũng đã bước đầu phát triển phục vụ chonhu cầu vận tải hàng hóa nông phẩm đi tiêu thụ
- Dịch vụ nông nghiệp đã phát triển để từng bước đáp ứng nhu cầu vềphân bón, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng cho câytrồng, thuốc thú ý… tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nông lâm nghiệp,thủy sản phát triển
- Huyện giáp với các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai là hai tỉnh phát triển khá
về nông nghiệp nên có đươc nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi gia cầm,gia súc nhỏ
Trang 302.1.3.2 Khó khăn
- Bù Đăng là một huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, xa các trung tâm kinh tếlớn và các thành phố, vì vậy ít có cơ hội được hưởng những sức lan toan của cáctrung tâm kinh tế ấy, và cũng gặp khó khăn trong việc tìm thị trường tiêi thụnông phẩm hàng hóa
- Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tải chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu giaolưu hàng hóa nông phẩm của địa phương
- Dân số của huyện có 18,3% dân số là người Stiêng, cho đến nay một bộ phậnkhông nhỏ của dân tộc này vẫn sống theo lối sống du canh, du cư Điều đó gâytác động không nhỏ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Bởi đểxây dựng được cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý trước hết phải ổn định đượcđịa bàn dân cư
- Công tác truyền đạt và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuấtnông nghiệp vẫn còn chậm và chưa mang lại hiệu quả cao
- Đội ngũ lao động có trình độ còn quá ít, mà để ứng dụng được khoa học côngnghệ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thì cần phải có đội ngũ lao động có trình độcao
- Việc tìm đầu ra cho nông sản hàng hóa chưa tốt, việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thị trường Bởi nếu địa phương có điềukiện phát triển và chuyển dịch theo hướng thuận lợi về các điều kiện khác nhưngthị trướng tiêu thụ cho nông sản hàng hóa không có thì không thể thực hiệnthành công chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
2.2.1 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng nhóm ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản
Trong vòng 10 năm trở lại đây (2000 - 2009), cơ cấu kinh tế nông nghiệphuyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã có sự chuyển dịch Điều đó được thể hiệnqua tốc độ phá triển và tỷ lệ giá trị giữa các ngành với nhau trong tổng giá trịtoàn ngành
Tổng giá trị toàn ngành đạt 183,5 tỷ đồng năm 2000, năm 2009 con số này
là 470,1 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng toàn năm 2009 so với năm 2000 là156,19% Cụ thể giá trị các ngành như sau:
Ngành nông nghiệp đạt giá trị 178,8 tỷ đồng năm 2000 chiếm 97,4%, đến
2009 giá trị ngành này đạt 444,9 tỷ đồng và chiếm 94,7% trong tổng giá trị toàn
Trang 31ngành Như vậy, tuy rằng nông nghiệp tăng lên gấp 2,5 lần về giá trị và tốc độphát triển của ngành năm 2009 so vơi 2000 là 148,82%, nhưng trong cơ cấu giátrị của toàn ngành ngành, ngành nông nghiệp truyền thống có sự giảm đi về tỷ lệ.
Ngành lâm nghiệp cũng có sự chuyển đổi mạnh mẽ, năm 2000 ngành nàyđạt giá trị là 34,7 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ là 15,8% trong tổng giá trị toàn ngành,năm 2005 là 40,1 tỷ đồng chiếm 9,0% Giai đoạn này tỷ lệ cuẩ ngành lâm nghiệpgiảm xuống do tốc độ của ngành nông nghiệp phát triển rất mạnh nên đã chiếm
tỷ lệ cao trong tỷ trọng của toàn ngành nhưng xét về giá trị ngành nông nghiệpcũng tăng lên tuy không nhiều Đến năm 2009, giá trị ngành lâm nghiệp đạt 64,6
tỷ đồng chiếm 12,6%
Ngành thủy sản năm 2000 sản xuất đạt giá trị là 5,3 tỷ đồng nhưng đếnnăm 2009 con số này giảm xuống còn 1,6 tỷ đồng Vì vậy mà tỷ lệ của ngànhtrong tổng giá trị toàn ngành cũng giảm từ 2,5% năm 2000 xuống còn 0,4% năm
2009 Nguyên nhân là do diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản bị thu hẹp, dotình trạng hạn hán, do mưa lụt làm tràn các hồ nuôi cá nên sản lượng giảm, sảnlượng khai thác tự nhiên cũng giảm xuống do hoạt động khai thác bằng các loạichất nổ, điện của con người làm cho thuỷ sản trong tự nhiên bị huỷ diệt
Bảng 2.1: Giá trị và tỷ trọng các ngành nông – lâm – thủy sản
Đơn vị: Giá trị (GO): tỷ đồng
100100100100100100
178,8400,7392,6449,4494,4444,9
81,790,289,389,789,387,0
34,740,144,649,357,564,6
15,89,010,19,810,412,6
5,33,22,52,42,01,6
2,50,80,60,50,40,4
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bù Đăng từ năm 2000 đến 2007 và báo cáo tổng kết của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước từ năm 2000 đến 2009.
Trang 32Về tôc độ tăng trưởng của các ngành nông - lâm - thủy sản qua hai giaiđoạn 2000 - 2005 và 2005 - 2009 Ta thấy rằng tốc độ phát triển toàn ngành khá19,1% giai đoạn 2000 - 2005, 3,55% giai đoạn 2005 - 2009 Trong đó tốc độphát triển của ngành lâm nghiệp là nhanh nhất với tốc độ bình quân của giaiđoạn 2000 - 2005 là 31,5% và giai đoạn 2005 - 2009 là 37,65 % Ngành thuỷ sản
có tốc độ phát triển chậm và đến giai đoạn 20005 - 2009 thì tốc độ phát triểnbình quân giai đoạn này là -17,38% Ngành nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005
có tốc độ phát triển khá cao 18,9% nhưng đến giai đoạn 2005 - 2009 lại giảmxuống tốc độ bình quân còn 3,13%