1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật việt nam về quan hệ nuôi con nuôi cỏ yếu tổ nước ngoài

62 579 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 678,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng vì thế, ngày 29 tháng 12 năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốchội thông qua, luật này đã có bước phát triển hơn trong việc quy định điều chỉnh vềcác vấn đề hôn nhân và gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẰN THƠ

KHOA LUẬT

Bộ MÔN KINH DOANH - THƯƠNG MẠI

— GS So —

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NIÊN KHÓA 2007 - 2011

ĐẺ TẢI:

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN

HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YỂU TỐ

Cần Thơ-2011

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

— oa go —

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011

Giáo viên hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

— 08 Bo —

Em xin chân thành cảm ơn quý thày cô Khoa Luật trường Đại học càn Thơ, côBùi Thị Mỹ Hương giáo viên hướng dẫn em đề tài này đã tận tình hướng dẫn em hoànthành luận văn Em xin cảm ơn thầy cố vấn Diệp Ngọc Dũng và các thầy cô ở KhoaLuật đã giúp đỡ em ương suốt quá trình học tập ở trường và thực hiện luận văn Emxin cảm ơn cha mẹ em, người đã luôn quan tâm, chăm sóc và động viên để em cố gắnghọc tập và hoàn thành tốt luận văn này Em cũng xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các bạnsinh viên lớp Luật Thương mại 3 - Khóa 33 đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện luận văn Em xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011

Sinh viên thực hiện

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 1

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phưomg pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI 1.1 Lược sử nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam qua các thòi kỳ 4

1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng thảng Tám 1945 4

1.1.2 Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 5

1.1.3 Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đến nay 8

1.2 Khái niệm, hình thức, mục đích nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 9

1.2.1 Khái niệm nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài 9

1.2.2 Hình thức nuôi con nuôi có yếu to nước ngoài 9

1.2.3 M ục đích nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 11

1.3 Các trường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 11

1.3.1 Nuôi con nuôi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tể về con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 12

1.3.2 Nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi 13

1.3.3 Nuôi con nuôi giữa người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam 13

1.4 Phưorng pháp điều chỉnh và nguồn lực điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 14

1.4.1 Các phương pháp điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 14

1.4.2 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 17

1.5 Những nguyên tắc trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 18

1.5.1 Nguyên tẳc chủ đạo trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 19

Trang 5

1.5.2 Nguyên tẳc giải quyết xung đột pháp luật trong nuôi con nuôi có yếu tố

nước ngoài 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT YÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 2.1 Xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 21

2.1.1 Y eu tố tự nguyên trong nuôi con nuôi 21

2.1.2 C ác điều kiện về chủ thể xác lập quan hệ nuôi con nuôi 21

2.1.3 T hẩm quyền, trình tự thủ tục trong nuôi con nuôi 26

2.1.4 Hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có yấi tố nước ngoài 30

2.2 Hợp pháp hóa và trách nhiệm của Ctf quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 34

2.2.1 Hợp pháp hóa trong nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài 34

2.2.2 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi con nuôi cỏ yếu tổ nước ngoài 35

2.2.3 Trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp về nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài 37

2.3 Căn cứ giói thiệu trẻ em được nhận làm con nuôi và trình tự thủ tục giới thiệu trẻ em được nhận làm con nuôi có yếu tố nước ngoài 37

2.3.1 Căn cứ giới thiệu trẻ em được nhận làm con nuôi 37

2.3.2 Trình tự thủ tục giới thiệu trẻ được nhận làm con nuôi 38

2.4 Quyền và nghĩa yụ của người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi 40

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi 40

2.4.2 Quyền và nghĩa vụ của người được nhận làm con nuôi 40

2.5 Hiệu ỉực pháp lý trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 41

2.5.1 Công nhận việc nuôi con nuôi 41

2.5.2 Hệ quả của việc nuôi con nuôi có yểu to nước ngoài 42

2.6 Chấm dứt nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 42

2.6.1 Căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi 42

2.6.2 Chủ thể yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi 44

2.6.3 Hệ quả của chấm dứt nuôi con nuôi 44

2.7 Xử lý vi phạm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 45

2.7.1 Thẩm quyền xử lý vỉ phạm về nuôi con nuôi 45

Trang 6

2.8.1 Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới 47 2.8.2 Trình tự thủ tục xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở

khu vực biên giới 47

CHƯƠNG 3 ĐIỀM MỚI TRONG LUẬT NUÔI CON NUÔI, NHẬN XÉT CHUNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT YÈ NUÔI CON

NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 3.1 Luật Nuôi con nuôi và những điểm mói trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 49 3.2 Nhận xét chung về các quy phạm pháp luật và thực trạng quy phạm pháp

luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Yiệt Nam 53 3.3 Phưong hướng và một số ý kiến hoàn thiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Yỉệt Nam 55 KẾT LUẬN 58

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

— 03 so —

1 Lý do chọn đề tài

Nuôi con nuôi hiện nay đang là vấn đề đuợc xã hội quan tâm, đặc biệt nuôi connuôi có yếu tố nuớc ngoài hiện đang diễn ra phổ biến và phức tạp nhu hiện nay Nhànuớc ta luôn quan tâm đến quyền và lợi ích của trẻ em Việt Nam, nhằm bảo vệ và đemlại các lợi ích tốt nhất cho trẻ em Luật nuôi con nuôi vừa mới ban hành và có hiệu lựcthi hành không tránh khỏi những khó khăn trong việc thi hành và áp dụng pháp luật vềnuôi con nuôi, nhất là nuôi con nuôi có yếu tố nuớc ngoài là một quan hệ khá phứctạp Nuôi con nuôi là một nghĩa cử cao đẹp, bảo vệ quyền lợi của trẻ em đuợc nhậnlàm con nuôi nói chung và trẻ em Việt Nam nói riêng là mục tiêu chung của Luật nuôicon nuôi huớng đến Việc nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội tốt đẹp đang đuợc nhànuớc ta khuyến khích duy trì và phát triển, nhưng một số thành phần cá nhân, tổ chức

đã lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện hành vi trái pháp luật và đạo đức xã hộinhư: buôn bán trẻ em, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục trẻ em và các hình thứcảnh hưởng đến sức khỏe và lợi ích của trẻ em, đặc biệt trong quan hệ nuôi con nuôinước ngoài đang diễn ra rộng rãi, đa dạng và khá phức tạp như hiện nay Chính vì vậy,cần hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi, nhất lànuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đang trở thành một yêu cầu cấp bách của xã hộitrong thời kỳ hội nhập như ngày nay Đặc biệt, xem xét các quy định mới của LuậtNuôi con nuôi năm 2010 trong việc thực thi và áp dụng trong thực tiễn xã hội điềuchỉnh các quan hệ nuôi con nuôi, cũng như nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Cũng

vì lý do đỏ, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Pháp luật Việt Nam về quan hệ nuôi con

nuôi cỏ yếu tổ nước ngoài” nhằm góp phần giải quyết những khó khăn trong việc nuôi

con nuôi và hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàitrong các văn bản pháp luật của Việt Nam, chủ yếu trong luật Nuôi con nuôi 2010 vừamới ban hành Đề tài có những khái quát chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

và những phân tích, nhận định về các quy định pháp luật trong nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài trong Luật Nuôi con nuôi vừa mới ban hành Bên cạnh đó, đề tài còn đưa

xa những nhận xét chung khái quát, phưomg hướng hoàn thiện các quy định điều chỉnhvấn đề về nuôi con nuôi dựa vào các quy định pháp luật hiện hành

Trang 8

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm hai mục đích chủ yếu là:

Thứ nhất, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ hai, đề tài phân tích và làm rõ các quy định mới trong Luật Nuôi con nuôi

2010 về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, góp phần trong việc thi hành và áp dụngtốt các quy định giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích luậtviết, liệt kê và so sánh đưa ra các nhận định về các quan điểm pháp luật nhằm làm rõcác quy định Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các phưomg pháp quy nạp và diễn dịchdựa trên việc phân tích luật viết, tổng họp nhằm đem lại cái nhìn đúng về các quy địnhpháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

5 Kết cấu đề tài

Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về nuôi con nuôi qua có yếu tố nước ngoài

Nội dung chủ yếu của chương này tập trung sơ lược nói về lịch sử hình thànhquan hệ nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn, cũng như quan hệnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó, chương này còn đưa ra khái quát vềnuôi con nuôi, các đặc trưng cơ bản về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Chương này có nội dung là các phân tích các quy định về nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam, chủ yếu là ương Luật Nuôi con nuôi hiệnhành gồm có 3 vấn đề chính:

- Các điều kiện về chủ thể nhận nuôi con nuôi và được nhận con nuôi có yếu tốnước ngoài, quyền và nghĩa vụ của người nhận con nuôi, người được nhận con nuôi

- Thẩm quyền, trình tự thủ tục trong xác lập quan hệ nuôi con nuôi

- Các vấn đề như chấm dứt, căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, hệ quả củaviệc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, nuôi con nuôi ở khu vực biên giới

Chương 3: Điểm mới trong Luật Nuôi con nuôi, nhận xét chung và phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Ở chương này, tập trung xoay quanh các vấn đề thực trạng pháp luật về nuôi connuôi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, xem xét các điểm mới, tiến bộtrong Luật Nuôi con nuôi 2010 vừa ban hành, từ đó có những đề xuất, cũng như cácphương hướng hoàn thiện các quy định và việc thực thi áp dụng pháp luật về nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 9

Ts Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quốc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 139.

CHƯƠNG1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI 1.1 Lược sử nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Yiệt Nam qua các thòi kỳ

1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945

Trong giai đoạn này, nước ta đang trãi qua các cuộc đấu tranh giải phóng dântộc, giành lấy chính quyền Nhà nước ta còn non yếu, hệ thống pháp luật trong thời kỳnày chưa hoàn chỉnh, chủ yếu tập trung quy định hệ thống bộ máy nhà nước Vì thế,các vấn đề nhân và gia đình chưa được quy định nhiều và chặt chẽ Hôn nhân và gia

đình trong giai đoạn này chủ yếu ảnh hưởng tư tưởng phong kiến “sinh con noi dõi

tông đường”, duy trì nòi giống nên quan hệ hôn nhân gia đình chủ yếu điều chỉnh quan

hệ trong họ hàng huyết thống với nhau Tuy nhiên, nuôi con nuôi cũng được đề cậpđến và có bước tiến về điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình, nuôi con nuôi Bộ LuậtHồng Đức là một bộ luật tiến bộ vào thời Lê, Bộ Luật Hồng Đức đã có các quy địnhnói về việc nuôi con nuôi, tuy nhiên chủ yếu xoay quanh vấn đề địa vị pháp lý củangười làm con nuôi và một số quy định về điều kiện làm con nuôi, còn vấn đề nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài không được đề cập đến \ Bộ Luật Gia Long thờiNguyễn cũng quy định tương đối chi tiết về việc nuôi con nuôi, nhưng có nhiều điểmhạn chế và không tiến bộ như Bộ Luật Hồng Đức Bên cạnh đó, Bộ Luật Gia Longcũng như Luật Hồng Đức không điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài mà chỉđiều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi trong nước, chủ yếu là trong huyết thống dòng họ do

ảnh hưởng tư tưởng “duy trì nòi giống”.

Giai đoạn phong kiến này, nuôi con nuôi phát sinh từ nhu cầu cần lao động.Người nuôi con nuôi thường được cho hoặc được bán cho những địa chủ, giai cấp quýtộc vua chúa phong kiến bị bóc lột sức lao động Những người lao động nghèo khổ,không có đất đai canh tác, gia đình nhiều lao động phải đi ở cho những người giàu.Một số trong đó đi làm con nuôi của những người hiếm muộn về con cái, nhằm thoátkhỏi tình trạng đói nghèo Trong thời này, nuôi con nuôi cũng nhằm mục đích đảm bảo

sự duy trì huyết thống, kế tục tổ tiên thờ cứng của những gia đình không có con cái,người nhận con nuôi mong muốn có sự may mắn sẽ có con khi nhận con nuôi Nhữnggia đình này thường hiếm muộn con cái hoặc không thể có con, chết do bệnh tật haychiến tranh Xung quanh việc nuôi con nuôi cũng có những nguyên nhân do tính nhânđạo, muốn làm việc thiện, tích công đức bởi ảnh hưởng của đạo giáo như Phật giáo,Nho giáo 1

Trang 10

Ngô Vãn Thâu, Pháp luật về Hôn nhân vả gia đình trước vả sau Cách mạng tháng Tám, NXB Tư pháp, Hà

Nội, tr 99.

3Ts Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quắc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 140.

4Ts Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quốc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 149.

Dù có nhiều nguyên nhân, nhưng những người đi làm con nuôi trong giai đoạnnày chủ yếu do nhu cầu cuộc sống bị áp bức, bóc lột muốn thoát khỏi nghèo khổ và sự

dư thừa lao động trong thời kỳ phong kiến, nhận con nuôi cũng từ đó mà xuất hiện.Vào thời Pháp thuộc đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam và miền Bắc, đấtnước ta chịu sự cai trị của thực dân Pháp nhưng nền pháp luật có sự tiến bộ trong tưtưởng làm luật Bộ Dân Luật Bắc Kỳ đã quy định về điều kiện, quyền và nghĩa vụ củacha mẹ đối với con nuôi khá nhiều các vấn đề về nuôi con nuôi đã được điều chỉnhtrong Thiên thứ VII của bộ luật 2 Trong quan hệ nuôi con nuôi, pháp luật đã có sựđiều chỉnh cụ thể và chi tiết hom về điều kiện nuôi con nuôi, độ tuổi của người làm connuôi, quyển và nghĩa vụ trong nuôi con nuôi Đặc biệt, Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và BộDân Luật Trung Kỳ đã có nhiều điểm tiến bộ hom các bộ Luật trước đây về việc điềuchỉnh nuôi con nuôi và đã điều chỉnh việc nuôi con nuôi với người nước ngoài 3

Nói chung, giai đoạn này pháp luật trong hôn nhân và gia đình, mà đặc biệt vềnuôi con nuôi đã có sự phát triển đáng kể về nuôi con nuôi trong nước và nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài

1.1.2 Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến Luật Hôn nhân và gia đỉnh 2000

♦♦♦ Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến Luật Hôn nhân và gia đình 1959

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời, một nhà nước còn non trẻ và mới vừa giành được một nửa độc lập tự chủ Nước

ta trong thời gian này đang ra sức bảo vệ thành quả cách mạng vừa đạt được, ra sứccủng cố và bảo vệ chính quyền, chống thù trong giặc ngoài và thống nhất hai miềnNam - Bắc Chính vì đất nước còn nhiều khó khăn nên trong thời gian này có ít vănbản pháp luật về hôn nhân và gia đình được ban hành Đến khi nước ta thông qua bảnHiến pháp mới tại kỳ họp Quốc hội thứ 11, ngày 31 tháng 12 năm 1959, xuất phát từthực trạng hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, Luật hôn nhân và gia đình năm

1959 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11, ngày 29 tháng 12 năm 1959 vàđược Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13 tháng 01 năm 1960 4

Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình 1959 lại không điều chỉnh quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàicũng không có quy định điều chỉnh Nuôi con nuôi chưa được quy định điều chỉnh củaLuật hôn nhân và gia đình 1959 do trong giai đoạn này hoạt động nuôi con nuôi chưaphát sinh nhiều, nuôi con nuôi chủ yếu trong quan hệ huyết thống gia đình và trong

Trang 11

Điều 14 Luật Quốc tịch năm 1998.

phạm vi trong nước Đất nước còn chiến tranh, đời sống chưa ổn định, nạn đói và sựảnh hưởng thời phong kiến, đạo Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong nhân dânnên việc nuôi con nuôi với người nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, hônnhân và gia đình và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn là hoạt động chưa đượcLuật hôn nhân và gia đình 1959 quy định điều chỉnh

❖ Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình 1959 đến Luật hôn nhân và

gia đình 1986

Trong giai đoạn này pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có sự phát triển và tiến

bộ so với thời kỳ trước đó Pháp luật đã có những văn bản quy định điều chỉnh nhữngquan hệ hôn nhân gia đình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được quy định vàgiải quyết Tuy nhiên, do chỉ mới có những quy định ban đầu chưa được cụ thể vàhoàn thiện nên còn gây khỏ khăn trong việc áp dụng, thi hành và giải quyết khi có cácvấn đề mới phát sinh

Cũng vì thế, ngày 29 tháng 12 năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốchội thông qua, luật này đã có bước phát triển hơn trong việc quy định điều chỉnh vềcác vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng lại gây ra sự thiếu sóttrong việc quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Điều này đã làm phát sinh nhiều bất cập trong việc quản lý và giải quyết các vấn đềtrong trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đây là một hạn chế lớn của luậtHôn nhân và gia đình 1986 và cho thấy sự phát triển tư tưởng về quan hệ này của cácnhà làm luật ừong giai đoạn sau

❖ Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình 1986 đến Luật hôn nhân và

gia đình 2000

Có thể nói Luật hôn nhân và gia đình nước ta gắn với từng bước phát triển của lịch

sử và xã hội Giai đoạn này nước ta có nhiều đổi mới đất nước và từng bước hoànthiện hệ thống pháp luật Có thể thấy, sau Luật hôn nhân và gia đình 1959 và Luật hônnhẵn và gia đình năm 1986 nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm phápluật điều chỉnh về các vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài, các vãn bản hướng dẫn thi hành Sự ra đời của Luật quốctịch năm 1988 cũng đã cho thấy sự phát triển và ngày càng hoàn thiện hệ thống phápluật về hôn nhẵn và gia đình ở nước ta Đặc biệt về nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài, Luật quốc tịch năm 1988 cũng có một số quy định về quốc tịch của con nuôi

sau khi được nhận làm con nuôi như: “trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi

người nước ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam ’’ 5 Ngoài ra, ngày 29 tháng

04 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/HĐBT, quy địnhtạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn

Trang 12

Ts Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quắc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 159.

tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động - thương binh và xã hội quản lý Quyếtđịnh trên đã góp phàn giải quyết các khó khăn trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài trong thời kỳ này nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết trongviệc thi hành và áp dụng

Ngày 19 tháng 01 năm 1993, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Bộ tưpháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT, hướngdẫn thi hành Quyết định số 145/HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nướcngoài nhận con nuôi là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng dongành lao động - thương binh và xã hội quản lý một cách chi tiết, cụ thể hóa các vấn

đề về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài6 Nghị định 184/CP năm 1994, quy định thủtục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nhận đỡ đàu giữa công dân Việt Nam và ngườinước ngoài, Hiến pháp năm 1992, Luật Dân sự 1995 cũng đã có nhiều quy định điềuchỉnh về trình tự thủ tục, thời hạn, quyền hạn, trách nhiệm giải quyết của cơ quan nhànước cũng như điều kiện của người nhận con nuôi và con nuôi Trong đó, các vấn đề

về xác lập quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoài, điều kiện về chủ thể, đạo đức,năng lực hành vi dân sự đầy đủ cũng được quy định khá đầy đủ, góp phần giải quyếtcác vấn đề về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Tuy vậy, trong quá trình giải quyết quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoàivẫn con nhiều khó khăn hạn chế cần quy định điều chỉnh, công tác quản lý chưa thốngnhất ở các nơi và trong thẩm quyền giải quyết, việc áp dụng pháp luật giải quyết, xungđột pháp luật Nhà nước ta đã thấy được những khó khăn trên và yêu cầu của xã hộinên đã có bước tiến bộ trong việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình 2000, cũng nhưviệc ký kết các hiệp định với các nước trong việc giải quyết các vấn đề hôn nhân giađình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Vì vậy, văn bản pháp luật điều chỉnh quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này khá đầy đủ và thống nhất,phù hợp với các hệ thống pháp luật quốc tế như: Công ước của Liên hiệp quốc vềquyền trẻ em 1989, Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác bong vấn đề nuôi connuôi giữa các nước 1993 Các vãn bản ừên đã góp phần giải quyết các khó khăntrong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này

1.1.3 Giai đoạn từ sau Luật hôn nhân và gia đình 2000 đến nay

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá hoànchỉnh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cũng như văn bản điều chỉnh quan hệ hônnhân và gia đình, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, xã hội ngày càngphát triển thì quan hệ có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp, nhất làtrong thời kỳ Việt Nam đang phát triển và hội nhập nền kinh tế thế giới Từ sau khi

Trang 13

Luật hôn nhân và gia đình 2000 được ban hành và các văn bản pháp luật khác điềuchỉnh, quan hệ nuôi con nuôi nước ngoài đã được giải quyết nhưng chưa thật sự khảthi và áp dụng con thiếu hiệu quả Cũng vì vậy, có một số cá nhân, tổ chức đã lợi dụng

sự non yếu trong pháp luật điều chỉnh mà thực hiện các hành vi trái pháp luật và đạođức xã hội, gây nên các tệ nạn xã hội như: buôn bán trẻ em, bóc lột sức lao động trẻ

em, xâm hại tình dục trẻ em và các mục đích trái pháp luật, đạo đức xã hội khác Thếnên, nước ta cần nhanh chỏng hoàn thiện hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi, nhằmđem lại những lợi ích cho trẻ em Việt Nam trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người đượcnhận làm con nuôi

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài, nhất là giai đoạn hiện nay việc kết hôn với người nước ngoài, nuôi connuôi của người nước ngoài đối với trẻ em Việt Nam diễn ra phổ biến và phức tạp Việcxây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này ngày càng bức thiết, nhất là quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Luật Nuôi con nuôi 2010 được ban hành và cóhiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011 đã đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện hệ thốngpháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, phù họpvới yêu cầu xã hội trong thời kỳ hội nhập, phù họp nền pháp luật quốc tế hiện nay.Luật nuôi con nuôi 2010 đã cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các quy định điều chỉnh khá đầy đủ và rõ ràng, chitiết góp phần giải quyết các khó khăn về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay.Bên cạnh đó, nước ta cần xây dựng và ký kết các điều ước quốc tế với các nước về hônnhân và gia đình nói chung, nuôi con nuôi nói riêng nhằm điều chỉnh các quan hệ nàymột cách phù họp, dễ dàng hom, đảm bảo quyền và lợi ích họp pháp của chủ thể thamgia vào các quan hệ này

1.2 Khái niệm, hình thức, mục đích con nuôi nuôi có yếu tố nước ngoài.

1.2.1 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi là một khái niệm mang tính chất gia đình, khi phát sinh quan hệnày xuất hiện hai chủ thể người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi con nuôi,cùng xác lập mối quan hệ gia đình nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật và tuânthủ các điều kiện về nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là một quyền và được pháp luật ghi

nhận và bảo vệ (Điều 44 - Luật dân sự 2005), đồng thời được quy định rõ trong các

văn bản pháp luật Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ con giữa người nhậncon nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhằm tạo cho người được nhận làm con

nuôi có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giáo dục tốt, phù họp đạo đức xã hội (Điều 2

-Luật Nuôi con nuôi năm 2010).

Trang 14

Nuôi con nuôi là một nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tình cảm con nguời với nhau,thể hiện tinh thần nhân đạo Vì vậy nuôi con nuôi cần đuợc khuyến khích, phù hợpmục đích và yêu cầu xã hội, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nguời đuợc nhận làm con

nuôi Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nuôi

con nuôi là việc lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”.Theo khoản 5 - Điều - 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 định nghĩa

nuôi con nuôi cỏ yếu tố nuớc ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam vớinguời nuớc ngoài, giữa nguời nuớc ngoài với nhau thuờng trú ở Việt Nam, giữa côngdân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài

Cũng như ừên đã phân tích, ta có thể hiểu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài làviệc xác lập quan hệ cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài Ở mỗi quốc gia có sự khácnhau về việc xác định cỏ yếu tố nước ngoài trong việc nuôi con nuôi, tuy nhiên chủyếu vẫn dựa vào yếu tố chủ thể để xác định yếu tố nước ngoài Chính vì vậy, Việt Namcần ngày càng hoàn thiện hệ thống về nuôi con nuôi hơn nữa để điều chỉnh phù họpvới pháp luật quốc tế

1.2.2 Hình thức nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về hình thức nuôi connuôi cũng như đối với quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đối với các vănbản pháp luật, đây là một quan hệ manh tính chất hôn nhân và gia đình, đối với xã hộiđây là một quan hệ mang tính chất tình cảm gia đình, thể hiện yếu tố tình cảm tựnguyện Chính vì lý do đó, pháp luật Việt Nam không quy định hình thức cụ thể đvớinuôi con nuôi mà chỉ quy định điều chỉnh về các vấn đề điều kiện xác lập, nghĩa vụcác bên, chấm dứt nuôi con nuôi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cũng không quyđịnh điều chỉnh vấn đề hình thức nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, mà pháp luậtnước ta chỉ phân loại nuôi con nuôi làm hai trường hợp nuôi con trọn vẹn và nuôi connuôi đơn giản, trong đó nuôi con nuôi có hai trường hợp nuôi con nuôi đích danh vànuôi con nuôi chưa xác định được con nuôi

Nuôi con nuôi trọn vẹn là hình thức nuôi con nuôi mà khi xác lập quan hệ nuôicon nuôi sẽ làm phát sinh các hiệu lực pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi

và con nuôi Đồng thời chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhậnlàm con nuôi đối với cha, mẹ đẻ Nuôi con nuôi trọn vẹn chính là hình thức xác lậpquan hệ cha, mẹ và con gắn với những quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa các chủ thể.Hiện nay, hĩnh thức nuôi con nuôi trọn vẹn rất phố biến do các bên muốn xác lập quan

hệ lâu bên, yếu tố tình cảm gắn bó đặc biệt người nhận con nuôi thường là trẻ mồcôi hoặc bị bỏ rơi không biết cha, mẹ đẻ

Nuôi con nuôi đơn giản là hình thức nuôi con nuôi hái ngược với nuôi con nuôitrọn vẹn, nuôi con nuôi đơn giản khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh

Trang 15

quyền và nghĩa vụ của các bên nhưng không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cha,

mẹ đẻ đối với người được nhận làm con nuôi Hình thức nuôi con nuôi này thường xảy

ra trong họ hàng huyết thống hom, so với hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn Do yếu tốnhẵn đạo và tự nguyện nên khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi, các chủ thể có quyềnlựa chọn hình thức nuôi con nuôi, pháp luật không quy định bắt buộc tùng trường họp

cụ thể nuôi con nuôi trong nước hay nuôi con nuôi nước ngoài

Trong các trường họp việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi, yếu tố tình cảm giađình luôn được đảm bảo và quan tâm, nhằm đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi.Pháp luật về nuôi con nuôi còn quy định người nhận nuôi con nuôi được nhận nhiều cánhân làm con nuôi nhưng người làm con nuôi chỉ được làm con nuôi của một người

(khoản 3 - Điều 8 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Nuôi con nuôi đích danh là việc xác định được con nuôi là trẻ em nào trước khỉ xác lập việc nuôi con nuôi Đối với nuôi con nuôi đích danh, tùy theo từng trường hợp và từng chủ thể được quy định về xin con nuôi đích danh, không phải chủ thể nào cũng được nhận nuôi con nuôi đích danh mà phải theo quy định của chủ thể đáp ứng các quy định tại khoản 2 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

1.2.3 Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài

*ĩ* Mục đích xã hội

Theo Điều 2 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Việc nuôi con nuôi

nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giảo dục trong môi trường gia đình " Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội tiến bộ, nó đánh dấu

sự phát triển trong tư tưởng của con người khỏi ảnh hưởng của các tu tưởng lạc hậu

“sinh con nối dõi tông đường”, “duy trì nòi giống” và tư tưởng Nho giáo phong kiến

ngày xưa

Nuôi con nuôi trong giai đoạn hiện nay, dù là nuôi con nuôi trong nước haynuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng nhằm mục đích chung là đem lại cuộc sốngtốt đẹp cho người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho trẻ em được giáo dục và pháttriển tốt, được quan tâm, chăm sóc trong môi trường nuôi con nuôi Qua đó, nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ nuôi con nuôi được mở rộng phạm vi chủthể, tạo điều kiện cho nuôi con nuôi phát triển và người nhận nuôi con nuôi, người làmcon nuôi có điều kiện xác lập quan hệ cha, mẹ và con

•ĩ* Mục đích pháp luật

Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội mang tính chất gia đình, Đảng và Nhà nước

ta đã luôn chú trọng và quan tâm phát triển hệ thống pháp luật điều chỉnh về hôn nhângia đình Gia đình là tế bào của xã hội, trẻ em là tương lai của đất nước nhưng xã hộingày càng phát triển các vấn đề hôn nhân gia đình cũng phát triển đa dạng và phức tạp

Trang 16

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hôn nhân gia đình, bảo vệ trẻ em là rất cần thiếtphù họp yêu cầu của xã hội và phù họp với sự phát triển của pháp luật Luật nuôi connuôi đuợc ban hành đã đáp ứng những yêu cầu đó, nó giúp cho việc giải quyết các vấn

đề nuôi con nuôi, nhất là nuôi con nuôi có yếu tố nuớc ngoài đuợc điều chỉnh và giảiquyết đúng đắn Nuôi con nuôi có yếu tố nuớc ngoài là một quy phạm không thể thiếutrong xã hội mà pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh giải quyết Nó góp phần hoàn thiện

hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là hôn nhân và gia đình có yếu tốnuớc ngoài trong nền pháp luật Việt Nam nói riêng và pháp luật thế giới nói chung

1.3 Các trường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trong các quan hệ xã hội, dù trong nước hay nước ngoài thì vấn đề hiểu rõ vàxác định chủ thể các quan hệ xã hội này rất khó, trong quy phạm pháp luật cũng vậy.Khi một quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội cần xác định được chủ thểđược điều chỉnh trong mối quan hệ đó là gì Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngàycàng phố biến ở nước ta, so với các giai đoạn trước thì giai đoạn hiện nay các quan hệnày diễn ra phổ biến và đa dạng hom Nếu không có pháp luật điều chỉnh các quan hệnày một cách chặt chẽ sẽ gây nhiều hậu quả xấu cho xấu trong xã hội, mất an ninh trật

tự và ảnh hưởng đến quyền lợi con người trong quan hệ này Vì vậy, việc xác định rõchủ thể điều chỉnh trong mối quan hệ này và có pháp luật điều chỉnh cụ thể sẽ giúp cho

hệ thống pháp luật nước ta hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi, đồng thời bảo

về quyền và lợi ích của người dân, nhất là trẻ em Việt Nam Nuôi con nuôi vừa là mộtquan hệ xã hội mang tính chất gia đình vừa là một quan hệ pháp luật được pháp luật vềnuôi con nuôi điều chỉnh

1.3.1 Nuôi con nuôi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Theo quy định pháp luật về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quyđịnh tại khoản 1 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trường họp nuôi con nuôigiữa người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng

là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam làm con nuôi là mộttrong những trường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh củaLuật Nuôi con nuôi Theo quy định tại khoản 3 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008quy định về người Việt Nam định cư ở nước được hiểu là công dân Việt Nam và ngườigốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Căn cứ vào quy định trên, ta xácđịnh được người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm hai đối tượng là công dân ViệtNam và người gốc Việt Nam đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Trongtrường họp trên, công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật tức là người cỏ quốc

Trang 17

Khoản 4 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008.

8 Điều 4 - Luật Quốc tịch năm 2008.

tịch Việt Nam, tuy nhiên người này đang cư trú và làm ăn, sinh sống tại nước ngoài.Người có gốc Việt Nam là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh

ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họđang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài1 Đối với trường hợp là người Việt Nam

định cư ở nước ngoài mà có thêm quốc tịch tại nước đó thì nhà nước ta cũng chỉ côngnhận một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam 7 8 Việc xác định chủ thể tham gia vào quan

hệ nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài của Luật Nuôi con nuôi có sự khác biệt so vớicác văn bản pháp luật khác Ngoài các đối tượng nói ừên, người nước ngoài thường trú

ở nước cùng là thành viên điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam cũng đượcnhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và thuộc một trong các trường họp nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài cũng có thể xin nhậnnuôi con nuôi là trẻ em Việt Nam làm con nuôi nếu Việt Nam và nước nơi người nướcngoài đó thường trú có ký kết điều ước quốc tế hoặc gia nhập điều ước quốc tế về nuôicon nuôi Theo nhu quy định này thì người nước ngoài trong trường hợp này khôngcần phải thường trú ở Việt Nam cũng có thể nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam Trongtrường hợp người xin nhận con nuôi thường trú tại nước chưa ký kết hoặc chưa cùnggia nhập với Việt Nam điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi xin nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi thì chỉ được giải quyết trong trường hợp xin đích danh trẻ đangsống tại gia đình

1.3.2 Nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.

Trường hợp nuôi con nuôi mà chủ thể nhận nuôi con nuôi là công dân Việt Namthường trú trong nước, nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, tức là người này là côngdân Việt Nam Theo quy định tại khoản 1 - Điều 5 - Luật Quốc tịch năm 2008 thì

“Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam ”, có nghĩa một người là công

dân Việt Nam thì phải mang quốc tịch Việt Nam, muốn chứng minh người có quốctịch Việt Nam thì dựa vào các loại giấy tờ như: giấy khai sinh, giấy chứng minh nhândân, hộ chiếu Việt Nam, quyết định vho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định cho trởlại quốc tịch Việt Nam Từ đó cho thấy nước ta dựa vào quốc tịch để xác định yếu tốnước ngoài, vậy ta có thể nói trẻ em nước ngoài là trẻ em không mang quốc tịch ViệtNam Theo quy định tại khoản 2 - Luật Quốc tịch năm 2008 thì người có quốc tịchViệt Nam bao gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch ViệtNam Đối với trường hợp chủ thể nhận nuôi con nuôi là công dân Việt Nam nhận nuôicon nuôi là ừẻ em nước ngoài được xem là một trường họp nhận nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài theo quy định tại khoản 3 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 18

Trên thực tế, việc nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi ở Việt Nam rất ít, chủ yếu trẻđược nhận làm con nuôi là trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài Việc nhận connuôi nước ngoài thường xuất phát từ yếu tố nhân đạo và nhu cầu con nuôi của mỗi cánhân, đối với cá nhân là công nhân Việt Nam nhà nước ta khuyến khích nhận nuôi connuôi trong nước vì yêu càu đảm bảo lợi ích và sự phát triển của trẻ được nhận làm connuôi.

1.3.3 Nuôi con nuôi giữa người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi

ử Việt Nam.

Đối với việc người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận nuôi con nuôi thì cóhai trường họp: người nước ngoài thường trú ở Việt Nam xin nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi hoặc người nước ngoài nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.Trong trường này, theo quy định của pháp luật về người nước ngoài, được hiểu làngười không có quốc tịch Việt Nam và bao gồm cả người không quốc tịch Ngoài ra,

theo quy định tại khoản 5 - Điều 3 - Luật Quốc tịch năm 2008 quy định “Người nước

ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam ".Theo Hiến pháp 1992 quy định “Công dân nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”, với quy định này có thể

thấy rõ pháp luật nước ta chủ yếu xác định theo yếu tố quốc tịch và xác định ngườinước ngoài cũng dựa vào hệ thuộc này Đối với trường họp là người không quốc tịch,

theo Luật quốc tịch năm 2008 quy định: “Người không quốc tịch là người không có

quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoàĩ’ (khoản 2 - Điều 3 - Luật quốc tịch năm 2008) Từ quy định này cho thấy, phạm vi xác định người nước ngoài

trong pháp luật Việt Nam bao gồm cả người không quốc tịch, có nghĩa là không cóquốc tịch Việt Nam và không có quốc tịch một nước nào Đối với trường họp ngườinhận nuôi con nuôi là người không quốc tịch, muốn nhận nuôi con nuôi tại Việt Namthì phải thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nướcngoài nhận con nuôi tại Việt Nam bao gồm trường họp người nước ngoài nhận trẻ em

là người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam làm con nuôi Điều này cónghĩa, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam có thể lànhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi tại Việt Nam Chủthể quan hệ nuôi con nuôi trong trường họp này có thể cùng chung yếu tố là ngườinước ngoài với nhau thường trú, tạm trú ở Việt Nam hoặc giữa người nước ngoài vớitrẻ em Việt Nam Việc xác lập quan hệ nuôi của hai chủ thể trên cũng được xem là mộttrường họp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 4 - Điều 28 -Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 19

1.4 Phương pháp điều chỉnh và nguồn pháp luật điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.1 Các phương pháp điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Phương pháp điều chỉnh trong nuôi con nuôi là những quy định về cách thức,phương pháp lựa chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài Do chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này có chủ thể nước ngoài tham giavào, nên sẽ cỏ hai hệ thống pháp luật điều chỉnh Cũng vì vậy, cần có sự thống nhấtpháp luật điều chỉnh giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi ích họp pháp của các bêntham gia vào quan hệ nuôi con nuôi Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một vấn đềtrong hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tức là những phương pháp điều chỉnhquan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng được áp dụng giải quyếttrong nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài Đây là những phương pháp chọn luật cơ bảnđược các quốc gia sủ dụng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoàigồm hai phương pháp: phương pháp xung đột (Quy phạm xung đột) và phương phápthực chất (Quy phạm thực chất)

1.4.1.1, Phương pháp xung đột

Theo khoản 1 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định “Người Việt

Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo pháp luật nơi người đó thường trú", bên cạnh

đó còn tuân theo pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi Điều này có nghĩa, ngoài việctuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, người nhận nuôi connuôi con phải tuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật mà người đóthường trú Trong trường họp việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài thì việc xác lập này được thực hiện theo pháp luật ViệtNam mà ở đây là Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và theo pháp luật nơi người được nhận

làm con nuôi thường trú (Khoản 2- Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Tức là,

trong trường họp người Việt Nam nhận nuôi con nuôi là người nước ngoài, thì phảituân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, còn phải tuân thủtheo pháp luật nơi thường trú của con nuôi (pháp luật nước ngoài nơi thường trú củatrẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi) Neu như vậy, trong trường họp này sẽ cóhai hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một mối quan hệ nuôi con nuôi, vấn đề phápluật áp dụng có thể dẫn đến xung đột pháp luật

Phương pháp xung đột là phương pháp chỉ định áp dụng phải luật nào để giảiquyết để điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài dựa trên quy phạm xung đột phápluật của các nước mà chọn luật áp dụng Đây cũng là quy phạm định ra nguyên tắcchung để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ tươngứng Quy phạm xung đột được quy định trong nhiều văn bản quốc tế và quốc gia, đây

Trang 20

là một quy phạm dẫn chiếu luật Có thể nói, phương pháp xung đột thể hiện ở tính giántiếp, dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật áp dụng, còn việc áp dụng pháp luật điều chỉnhnhư thế nào thì tùy thuộc vào nội dung pháp luật của nước mà được quy phạm dẫn

chiếu đến như Điều 29 - Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Công dân Việt Nam

nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú ”.

Tức là, trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, việc áp dụngcác điều kiện về nuôi con nuôi phải theo quy định của pháp luật nơi người được nhậnnuôi con nuôi thường trú Trên thực tế, quy phạm này thường dựa vào các hệ thuộcnhư: luật nhân thân (lex persionalis) gồm hai hệ thuộc luật quốc tịch (lex patriae) và hệthuộc luật nơi cư trú (lex domicili), luật nơi thực hiện hành vi (lex lociastus) Việc ápdụng các hệ thuộc trên để giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi, cũng như nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài chủ yếu dựa vào pháp luật của từng nước quy định và điềuước quốc tế về nuôi con nuôi mà nước đó là thành viên

I.4.I.2 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất là một phương pháp quy định cụ thể quyền về quyền vànghĩa vụ của chủ thể, là phương pháp áp dụng luật điều chinh trực tiếp Khi phát sinhcác vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì vấn đề chọn luật được đặt ra Việcchọn pháp luật điều chỉnh trong trường họp này dựa vào nội dung các quy phạm vềxung đột pháp luật để giải quyết

Khác với quy phạm xung đột quy định nếu quy phạm xưng đột dẫn chiếu đếnpháp luật nước nào thì áp dụng pháp luật nước đó để giải quyết, còn quy phạm thựcchất lại quy định giải quyết trực tiếp các vấn đề Trong đó, việc quy phạm xung đột ápdụng pháp luật được dẫn chiếu thực chất là áp dụng các quy phạm trong pháp luật củanước đó giải quyết, chủ yếu là các quy phạm thực chất Việc dẫn chiếu áp dụng cácquy phạm thực chất đôi khi dẫn đến trường họp dẫn chiếu ngược hoặc dẫn chiếu đếnpháp luật một nước thứ ba Trong trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến phápluật của một nước thứ ba thì quy phạm pháp luật quy định trong pháp luật được quyphạm xung đột dẫn chiếu đến để điều chỉnh là các quy phạm thực chất

Quy phạm thực chất là phương pháp quy phạm quy định cụ thể quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, cũng như nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài Nó là một quy phạm giải quyết trực tiếp các vấn đề, thôngqua các quy định điều chỉnh, ví dụ như tại khoản 2 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôinăm 2010 quy định về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi của người nhận nuôi

con nuôi là công dân Việt Nam “Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con

nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Nuôi con nuôi năm 2010) ” Điều này cỏ nghĩa người nhận nuôi con nuôi phải tuân theo pháp

Trang 21

Ts Nông Quốc Bình, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quốc tế (2006), NXB Tư pháp, Hà Nội, ừ 73.

luật Việt Nam về điều kiện nhận con nuôi Quy phạm thực chất đuợc xây dựng trongcác điều uớc quốc tế gọi là quy phạm thực chất thống nhất quy định trong hệ thốngpháp luật điều chỉnh các quan hệ có yếu tố nuớc ngoài 9 Việc xây dụng các quy phạmthực chất thống nhất là một sự cần thiết, nó giúp đơn giản trong vấn đề chọn luật và ápdụng pháp luật nuớc ngoài, phù họp với việc điều chỉnh các quan hệ dân sụ quốc tế

1.4.2 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Pháp luật các quan hệ về nuôi con nuôi đuợc quy định trong nhiều văn bản phápluật trong nước và quốc tế Tuy có khác biệt nhau về nguồn pháp luật điều chỉnh,nhưng điều có vai trò như nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài Cũng giống như nguồn pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài khác, nuôi con nuôi có nguồn là điều ước quốc tế vàpháp luật trong nước là nguồn cơ bản và chủ yếu

I.4.2.I Pháp luật quốc gia

Pháp luật là công cụ của nhà nước, nhà nước được hình thành và xuất hiện phápluật Pháp luật được nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh mọi quan hệ xã hội nóichung và quan hệ hôn nhân và gia đình cũng như nuôi con nuôi nói riêng Trong đó,Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất và cũng là nguồn luật cơ bản, quyềnhôn nhân và gia đĩnh được coi là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhậntrong các bản Hiến pháp của Việt Nam Từ đó, trên cơ sở quy định của Hiến pháp, cácnguyên tắc về hôn nhân gia đình trong đó có nuôi con nuôi đã được cụ thể hóa trongcác bộ luật và các văn bản pháp luật liên quan khác Pháp luật điều chỉnh trong nước

về vấn đề nuôi con nuôi còn được quy định trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 vàmột số văn bản quy phạm pháp luật khác Hiệu lực của các quy phạm pháp luật đượcghi nhận ừong pháp luật quốc gia và chỉ có giá trị hên phạm vi lãnh thổ nước ban hànhcác quy phạm đó Do có yếu tố nước ngoài tham gia vào nên phạm vi điều chỉnh củacác quy phạm này có thể áp dụng ở nước khác, nhưng việc được áp dụng giải quyết

còn tùy vào từng trường họp về chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, ở đây việc

nuôi con nuôi có sự tham gia của chủ thể nước ngoài nên việc xác định quyền và nghĩa

vụ của họ được dựa trên dấu hiệu quốc tịch Nói về quốc tịch thì quyền và nghĩa vụcác chủ thể được xác định trên quy phạm của nước mà chủ thể đó mang quốc tịch, điều

đó làm xuất hiện các điều ước quốc tế nhằm điều chỉnh các vấn đề giữa các chủ thểtrong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010vừa ban hành thì việc xác lập, các điều kiện về người nhận nuôi con nuôi và ngườiđược nhận nuôi con nuôi, chấm dứt nuôi con nuôi có yếu tố nước

Trang 22

ngoài được xác định chủ yếu vào pháp luật nơi chủ thể đó cư trú “Người Việt Nam

định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú Điều này cho thấy, pháp luật quốc gia là một nguồn cơ bản và chủ yếu

không thể thiếu ừong hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài củaViệt Nam và các nước

I.4.2.2 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là một nguồn pháp luật điều chỉnh cơ bản và phổ biến trong cácquan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài của Việt Nam Trong những năm gần đây,nước ta đã ký kết nhiều điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với các nước như: ĐàiLoan, Canada, Hoa Kỳ, Ân Độ, Pháp Các điều ước nhằm đưa ra thỏa thuận giữa cácnước tham gia ký kết các điều khoản về nuôi con nuôi, bảo vệ quyền và lợi ích củangười nhận nuôi con nuôi và trẻ em làm con nuôi Những quy định trong điều ướcquốc tế điều chinh một cách trực tiếp và thường được ưu tiên áp dụng trong các trườnghọp có quy định áp dụng Trong một số trường họp, điều ước quốc tế có những hiệucủa nhanh chóng trong vấn đề giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhưng donhiều nguyên nhân, Việt Nam chưa thể ký kết với nhiều nước các điều ước quốc tế vềnuôi con nuôi

Ở mỗi quốc gia, pháp luật trong nước được coi là nguồn pháp luật cơ bản và chủyếu điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật Tuy vậy, ừong nhiều trường họp do các quan hệpháp luật phát sinh, nhất là các quan hệ có yếu tố nước ngoài ngày càng da dạng vàphức tạp nên cần áp dụng điều ước quốc tế để giải quyết Các quy định pháp luật trongtrường họp này không có quy định điều chỉnh hoặc là pháp luật trong nước có quyđịnh điều chỉnh bằng điều ước quốc tế, nhưng điều ước quốc tế có liên quan quy định

áp dụng điều ước quốc tế thì trong trường họp này điều ước quốc tế được áp dụng Khigiải quyết các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền gặpkhông ít khó khăn trong vấn đề chọn luật áp dụng do có các quan điểm khác nhau vềquan hệ pháp luật đó Việc các quốc gia chấp nhận điều ước quốc tế và xem là một cơ

sở pháp lý để coi là nguồn của luật giải quyết các quan hệ pháp luật có tính quốc tế đó

1.5 Những nguyên tắc trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật có tính chất xã hội phức tạp, khi giảiquyết các vấn đề liên quan về nuôi con nuôi cũng cần có những nguyên tắc riêng Cácnguyên tắc này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết quan hệ nuôi con nuôi đúng theopháp luật, phù họp với pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế về nuôi con nuôi Ngoài

ra, việc áp dụng các nguyên tắc này còn đảm bảo quyền và lợi ích họp pháp của các

Trang 23

chủ thể, nhất là trẻ em được nhận làm con nuôi, đảm bảo đúng mục đích của việc nhậnnuôi con nuôi.

1.5.1 Nguyên tắc chủ đạo trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Luật đưa ra một số quy định có tính nguyên tắc nhằm điều chỉnh nhằm điềuchỉnh quá trình nuôi con nuôi ở Việt Nam Mục tiêu cơ bản trong luật là điều chỉnhquan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh quan hệ pháp lý lâu dài giữa cha, mẹ nuôi và connuôi Tất cả quan hệ nuôi con nuôi nào pháp luật điều chỉnh đều hướng tới mục tiêuthiết lập mối quan hệ gắn bó, ổn định và lâu dài giữa cha mẹ và con nuôi về mặt pháp

lý Trong đó, nuôi con nuôi trong nước luôn được ưu tiên hàng đầu, việc nuôi con nuôinước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng

Từ đó cho thấy, nguyên tắc xuyên suốt của Luật nuôi con nuôi năm 2010 là đảmbảo phù họp với đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước về côngtác bảo vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em làm con nuôi Khi giải quyết nuôi connuôi phải tôn họng việc trẻ em được sống trong môi trường gia đình, nhất là môitrường gia đình gốc, việc nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là thay thế gia đình nhằm đảm

bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 4 - Luật Nuôi con nuôi 2010) Đây là mục tiêu và

mục đích mà pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi hướng tới,nhằm đem lại cuộc sống tốt đẹp, những lợi ích tốt nhất cho trẻ em làm con nuôi, cha

có yếu tố nước ngoài sẽ được dựa vào nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự

Nguyên tắc luật nơi cư trú (lex domicili) là nguyên tắc điều các quan hệ pháp luật

có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của nước nơi đương sự cư trú và cũng là nguyêntắc chủ yếu, cơ bản nhất trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Ở Việt Nam, nguyên tắc

áp dụng luật nơi cư trú của đương sự được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nóđược ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong nước và văn bản pháp

Trang 24

luật quốc tế Trong các hiệp định về nuôi con nuôi có yếu tố nuớc ngoài giữa ViệtNam và các nước cũng sử dụng nguyên tắc nơi cư trú của đương sự để giải quyết trongmột số trường họp Theo quy định tại Khoản 2 - Điều 29 - Luật Nuôi con nuôi đã quyđịnh rất cụ thể việc áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú để giải quyết quan hệ nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài trong trường họp nuôi con nuôi giữa người Việt Nam nhận

con nuôi là trẻ em nước ngoài “Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con

nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nơi người làm con nuôi cư trú

Theo các phân tích trên ta thấy, việc áp dụng nguyên tác luật nơi đương sự cư trứ

là một bước đơn giản hóa việc dẫn chiếu của quy định xung đột và phù họp với thực

tế Có thể nhận thấy, ừong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chủ yếu dựa vào nguyên tắcnơi cư trú để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đây là sựkhác biệt lớn trong pháp luật giải quyết về nuôi con nuôi so với Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 và Nghị định 68/2002 Quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Hônnhẵn và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài về nguyên tắc

áp dụng điều chỉnh trong giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài LuậtNuôi con nuôi năm 2010 đã đơn giản hóa các nguyên tắc và chỉ áp dụng hai nguyêntắc cơ bản điều chỉnh giải quyết trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài lànguyên tắc luật nơi cư trú và luật quốc tịch Ngoài ra, trong giải quyết các quan hệnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng cần đảm bảo các nguyên tắc như: nguyên tắcbảo hộ quyền và lợi ích họp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù họp vớipháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TÓ NƯỚC

NGOÀI Ở VIỆT NAM 2.1 Xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

2.1.1 Yếu tổ tự nguyện trong nuôi con nuôi

Trong quan hệ nuôi con nuôi, sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực,không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu

cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (khoản 3 - Điều 31 - Luật Nuôi con nuôi năm

2010) Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con sinh ra ít nhất 15

ngày (khoản 4 - Điều 21 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Điều này nhằm đảm bảo cho

mục đích của nuôi con nuôi, đảm bảo quyền lợi các bên và ưánh các hành vi lợi dụngviệc nuôi con nuôi để thực hiện hành vi trái pháp luật Trên thực tế, có những trườnghọp có người sinh con trong hoàn cảnh không mong muốn nên việc cho con nuôi ngaysau khi con nuôi được sinh ra trước 15 ngày Việc cho con nuôi và xác định yếu tố tựnguyện là hết sức khó khăn đối với cơ quan nuôi con nuôi, do các chủ thể cố ý làm saimục đích của việc nuôi con nuôi hoặc vì lợi ích của bản thân Khi xác lập quan hệ nuôicon nuôi thì mặc nhiên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi con nuôivới người được nhận nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt quyền và nghĩa vụ với cha mẹ

đẻ Trong trường họp nuôi con nuôi trọn vẹn, nếu trẻ em được cho làm con nuôi ở vớicha mẹ đẻ thì phải được sự tự nguyện của cha mẹ đẻ và sự đồng ý của trẻ làm con nuôinếu trẻ đó từ 09 tuổi trở lên Vì vậy, khi đãng ký xác lập quan hệ nuôi con nuôi, cơquan có thẩm quyền cần xác minh, lấy ý kiến, làm rõ các mối quan hệ cũng nhưnguyện vọng của người nhận nuôi con nuôi, điều ưa xác minh kỹ các loại giấy tờ vànguồn gốc con nuôi, quan hệ thành phần gia đình, hoàn cảnh gia đình gốc của ưẻ làmcon nuôi

2.1.2 Các điều kiện về chủ thể xác lập quan hệ nuôi con nuôi

2.I.2.I Điều kiện về chủ thể nhận nuôi con nuôi

Khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, yếu tố chủ thể nhậnnuôi con nuôi được xem xét ở hai khía cạnh: chủ thể ưong nước và chủ thể nướcngoài Đối với từng loại chủ thể có các điều kiện ưong từng trường họp cụ thể, nhằmđáp ứng các quyền và nghĩa vụ khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi Nhà nước ta khuyếnkhích nhận nuôi con nuôi là ưẻ em mồ côi, ưẻ em bị bỏ rơi, ưẻ em bị tàn tật, ưẻ bịnhiễm HIV/AIDS làm con nuôi, sau khi xác lập quan hệ người nuôi con nuôi và người

làm con nuôi sẽ có quyền và nghĩa vụ cha, mẹ và con với nhau

Chủ thể nhận nuôi con nuôi được phân thành hai loại gồm: cá nhân ưong nước và

cá nhân nước ngoài Đối với cá nhân ừong nước gồm những người là công dân mangquốc tịch Việt Nam thường trú ở Việt Nam và người nước ngoài thường trú ở Việt

Trang 26

Khoản 1 - Điều 14 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010

11 Khoản 2 - Điều 14 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

Nam Chủ thể thứ hai là cá nhân nước ngoài bao gồm: cá nhân nước ngoài, người ViệtNam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận ngườiViệt Nam làm con nuôi (trường hợp người nước ngoài thường trú ở nước cùng làthành viên của điều ước quốc tế) Các chủ thể khi tham gia xác lập quan hệ nuôi connuôi phải đáp ứng các điều kiện cơ bản về nhân thân và pháp luật quy định tại Điều 14

- Luật Nuôi con nuôi năm 2010

“1 Người nhận nuôi con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vỉ dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi lừ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều hiền về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Cỏ tư cách đạo đức tốt" 10 11.Bên cạnh đó, người nhận nuôi con nuôi không được nhận nuôi con nuôi trongmột số trường họp như: Không bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưathành niên, hoặc đang bị phạt tù và từng bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, concháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưathành niên vi phạm pháp luật, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em mà chưa đượcxóa án tích, đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cở sở giáo dục, cơ sở chữabệnh u Nếu một cá nhân thuộc vào một trong những trường hợp không được nhậnnuôi con nuôi trên, thì đã không đảm bảo các yêu cầu cơ bản về nhân thân, đạo đức vàđời sống ổn định để đáp ứng điều kiện, mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốttrẻ em được làm con nuôi Điều này không đảm bảo được các mục đích giáo dục tốtcho trẻ được làm con nuôi Điều này sẽ không đảm bảo được các mục đích về nuôi connuôi khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Ngoài ra, cá nhân là chủ thể tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài còn phải tuân thủ theo quy định trong từng trường hợp cụ thể như trong nhận

nuôi con nuôi đích danh (khoản 2 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi 2010) Dù là cá nhân

trong nước hay nước ngoài, khi muốn xác lập quan hệ nuôi con nuôi cũng phải đảmbảo các điều kiện về người nhận nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật và phù hợpvới mục đích của việc nuôi con nuôi Quy định của pháp luật về độ tuổi, khoảng cáchtuổi giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi nhằm mục đích đảmbảo nghĩa vụ chăm sóc cho người được nhận làm con nuôi và mục đích của việc nhậncon nuôi Người nhận nuôi con nuôi có khoảng cách 20 tuối với con nuôi nhằm mụcđích đảm bảo người này có đủ kinh nghiệm sống, tự lập, các điều kiện về tài chính,

Trang 27

Khoản 1 , 2 - Điều 8 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

cuộc sống ổn định, tâm lý và xã hội để đảm bảo vai trò của người cha, người mẹ đốivới con vì thế giữa con và cha mẹ bao giờ cũng phải có khoảnh chênh lệch tuổi tác.Việc quy định về tư cách đạo đức của người nhận nuôi con nuôi nhằm mong muốn trẻ

em được nhận nuôi con nuôi được giáo dục tốt, được sống trong cuộc sống tốt, môitrường giáo dục tốt thành người có ích cho cộng đồng và xã hội Với những quy định

về người nhận nuôi con nuôi như trên nhằm đảm bảo cho mục đích nuôi con nuôi, vìlợi ích của trẻ luôn được ưu tiên hàng đầu

2.I.2.2 Các điều kiện về người được nhận nuôi con nuôi

Trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010, các vấn đề về điều kiện của người nhậnnuôi con nuôi và người được nhận nuôi con nuôi hàu như được pháp nhà nước ta điềuchỉnh khá rõ ràng, đầy đủ so với các vãn bản khác về quan hệ nuôi con nuôi Đối vớingười được nhận làm con nuôi, ngoài những điều kiện chung về người được nhận lảmcon nuôi (trường hợp nhận con nuôi không phải là con nuôi đích danh) thì luật còn quyđịnh các điều kiện về con nuôi con nuôi đích danh Các quy định này dựa vào điềukiện của trẻ em làm con nuôi, trẻ dưới 16 tuổi là những trẻ em chưa thành niên và pháttriển hoàn thiện về thể chất lẫn tinh thần, chưa có khả năng tự lập nên cần được nuôidưỡng, chăm sóc và giáo dục Vì vậy, việc yêu cầu về tuổi là hết sức cần thiết để trẻ cóđược sự chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng tốt

<ỉ* Trường hợp nhận nuôi con nuôi chưa xác định trẻ làm con nuôi

Đối với người được nhận nuôi con nuôi, trong nhiều văn bản pháp luật thườngđược quy định người được nhận làm con nuôi thường là trẻ em Điều này xuất phát từyêu cầu tính chất tự nguyện và nhân đạo nhằm xác lập mối quan hệ gia đình cha, mẹ

và con nên đối tượng được nhận nuôi con nuôi thường là trẻ em Nhà nước ta khuyếnkhích nhận trẻ em mồ côi, đặc biệt là trẻ bị bỏ rơi, có hoàn cảnh đặc biệt khác làm

con nuôi (khoản 4 - Điều 8 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Đây chính là chủ trương

của Đảng và nhà nước ta, nhằm giúp cho trẻ em gặp phải hoàn cảnh hên tìm đượccuộc sống ấm no, môi trường gia đình sống hạnh phúc và được giáo dục tốt Theo quyđịnh của Luật nuôi con nuôi năm 2010, một người được nhận làm con nuôi gồm cácđiều kiện:

" 1 Trẻ em dưới 16 tuổi;

2 Người từ đủ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi ” 1 2

Điều này cho thấy, Luật Nuôi con nuôi quy định điều chỉnh đối tượng được nhậnnuôi con nuôi là trẻ em và người chưa thành niên, không phân biệt là người dân tộc

Trang 28

Khoản 2 - Điều 28 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

hay người nước ngoài Đặc biệt, Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn quy định về người

được nhận nuôi con nuôi như “một người chỉ được làm con nuôi của một người độc

thân hoặc của cả hai người là vợ chồng" (khoản 3 - Điều 8 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Việc nhận con nuôi của hai người là vợ chồng phải là hai người có giới tính

khác nhau đăng lý kết hôn và được cơ quan có thẩm quyền cho phép kết hôn Ngoài ra,nhận nuôi con nuôi còn cho phép nhận nuôi con nuôi là người độc thân nhưng khôngquy định rõ điều kiện về chủ thể này Các quy định trên nhằm hạn chế việc cho nhậncon nuôi của người độc thân có tâm sinh lý về giới tính, không xác định được giới tínhhoặc những trường họp kết hôn đồng tính (giữa hai người có cùng chung giới tính).Thời gian giải quyết việc xin nhận con nuôi chưa xác định được đích danh trẻ em vàphải qua thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi, thời gian này được tính từ ngày Cơquan con nuôi quốc tế nhận được văn bản trả lời đồng ý của người xin nhận con nuôi

về trẻ em được giới thiệu làm con nuôi

*ĩ* Trường hợp xin nuôi con nuôi đích danh

Thời hạn giải quyết đối với việc xin nhận nuôi con nuôi đích danh trẻ em làmcon nuôi đích danh được tính thời gian kể từ ngày Cơ quan nuôi con nuôi quốc tế nhận

đủ hồ sơ họp lệ của người xin nhận con nuôi Nếu trong trường hợp phải yêu cầu cơquan Công an xác minh làm rõ nguồn gốc của trẻ thì thời hạn này được kéo dài thêm.Trẻ em được nhận nuôi con nuôi trong nuôi con nuôi trong trường họp xin đích danh,ngoài đáp ứng đủ các điều kiện chung về người được nhận nuôi con nuôi tại Điều 8 -Luật Nuôi con nuôi năm 2010, thì còn phải đáp ứng các điều kiện về nuôi con nuôiđích danh Quy định các trường họp nuôi con nuôi đích danh được quy định trong LuậtNuôi con nuôi năm 2010 đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HỈV/AỈDS hoặc mẳc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm ’’ 13

Đối với xin nhận nuôi con nuôi, xin con nuôi đích danh quy định có thêm chủ thể

là trẻ em khuyết tật, nhiễm Hrv/AIDS và các bệnh hiểm nghèo khác, đây là điểm tiến

bộ trong quy định pháp luật và trong tư tưởng của xã hội Điều này thể hiện cao tìnhcảm gắn bó của con người với nhau, tình thương, sự tự nguyện, nhân đạo sâu sắc trong

Trang 29

Khoản 1 - Điều 3 - Nghị định 19/2011/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi.

cộng đồng xã hội Việc trẻ em khuyết tật, ừẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đíchdanh làm con nuôi còn phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật nuôicon nuôi Theo đó, trẻ em bị khuyết tật được nhận làm con nuôi gồm trẻ bị sứt môi hởhàm ếch, trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt, trẻ bị câm, điếc, trẻ bị khèo chân, tay, trẻ

em không có ngón hoặc bàn chân và các khuyết tật khác mà cơ hội làm con nuôi bịhạn chế Đây là những trẻ em do dị tật bẩm sinh hoặc do yếu tố môi trường, di truyềntác động dẫn đến dị tật, việc nuôi con nuôi những trẻ em này được nhà nước ta khuyếnkhích, thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc Đối với trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo lànhững trẻ mắc bệnh HTV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh về tim, trẻ em bị thoát vị rốn,bẹn, bụng, trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục, trẻ em bị các bệnh vềmáu, trẻ em bị các bệnh phải điều trị cả đời hoặc các bệnh hiểm nghèo khác14 Nhữnghoàn cảnh trẻ em bị các bệnh và các khuyết tật mà cơ hội làm con nuôi bị hạn chế này

sẽ được nhà nước khuyết khích nhận nuôi con nuôi, mong muốn nhận nuôi các trẻ emnày nhằm cho các em cuộc sống tốt đẹp hơn ở môi trường gia đình Chính vì các trẻ

em này bị khuyết tật hoặc bệnh hiểm nghèo nên khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi cầnxem xét chủ thể nhận nuôi con nuôi có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi hay không.Cần xác định và kiểm tra rõ các đầy đủ điều kiện theo pháp luật về điều kiện kinh tế,đạo đức, tình trạng gia đình để hẻ được nhận làm con nuôi được nuôi dưỡng, giáodục tốt, lợi ích của cha mẹ nuôi đều được đảm bảo

Ngoài ra, người được nhận làm con nuôi còn phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản

khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi như:

- Trẻ em có cha mẹ đẻ hay người giám hộ hoặc được nuôi tại cơ sở nuôi dưỡngthì phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ, cơ sở nuôi dưỡng trẻ

- Trẻ em nhận làm con nuôi từ 09 tuổi trở lên khi nhận nuôi con nuôi phải có sựđồng ý của trẻ em đó

- Trong trường họp trẻ bị bỏ rơi thì phải có bản tường trình sự việc phát hiện trẻ

bị bỏ rơi, biên bản của cơ quan Công an về việc trẻ bị bỏ rơi, giấy tờ chứng minh đãthông báo trẻ bị bỏ rơi trên các phương tiện thông tin đại chúng sau 30 ngày mà không

có thân nhân đến nhận

- Trẻ mồ côi thì phải có giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ của trẻ em đó

- Trẻ em có cha, mẹ hoặc cha hay mẹ mất năng lực hành vi dân sự thì cần có sựđồng ý cho con nuôi bằng văn bản của một trong hai người, nếu cả hai mất năng lựchành vi dân sự hoặc đã chết thì càn có giấy tự nguyện đồng ý cho làm con nuôi củangười giám hộ

Những quy định ữên nhằm đảm bảo yếu tố tự nguyện trong việc cho nhận nuôi connuôi, đảm bảo vì lợi ích tốt nhất của trẻ em làm con nuôi Trẻ em phải được xác định

Trang 30

Khoản 2 - Điều 9 - Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

16 Khoản 3 - Điều 2 - Nghi đinh 19/2011/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con

nuôi.

rõ nguồn gốc trước khi tìm gia đình thay thế cho trẻ, các căn cứ trên giúp cho việcphòng tránh làm giấy tờ giả mạo, thực hiện các hành vi trái pháp luật và đạo đức xãhội trong việc nuôi con nuôi Những trẻ em trên thường có cuộc sống và hoàn khókhăn không được sống trong cuộc sống gia đình nên càn được chăm sóc, nuôi dưỡng

2.1.3 Thẩm quyền, trình tự thủ tục trong nuôi con nuôi

2.13.1 Thẩm quyền

Nuôi con nuôi cỏ yếu tố nước ngoài là một quan hệ pháp luật được xác lập trongnước và được công nhận ngay khi xác lập trên lãnh thố Việt Nam hay bên ngoài lãnhthổ Việt Nam

“ Đổi với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương (sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ

em tại cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi

có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh ”15

Theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi thì thẩm quyền đăng ký nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài là úy ban nhân dân cấp tình, nơi con nuôi thường trú Đốivới việc xin nuôi con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng thì cần có quyết định cho nhận nuôicon nuôi của úy ban nhân dân cấp tình nơi trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng của trẻ làmcon nuôi Các quy định trên phù họp với việc xác định các điều kiện về trẻ được nhậnlàm con nuôi, xác minh nguồn gốc đảm bảo các yêu cầu về con nuôi, tình trạng trẻ em

là trẻ mồ côi hay trẻ có gia đình, cha mẹ đẻ, tình trạng sức khỏe cũng như quan hệ giađình gốc để có quyết định phù họp

Neu xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa người Việt Nam với nhau ở nước ngoài(trường họp người Việt Nam tạm trú ở nước ngoài) thì Cơ quan đại diện nơi tạm trúcủa người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng kýviệc nuôi con nuôi Neu cả hai bên tạm trú ở nước không có cơ quan đại diện thì cả haibên sẽ thực hiện đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan đại diện thuận tiện nhất 16 Quyđịnh này nhằm tạo điều kiện cho việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi dễ dàng, đảm bảocác quyền và lợi ích chính đáng của việc nuôi con nuôi Đối với nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài, người nhận nuôi con nuôi phải tiến hành đăng ký nuôi con nuôi tại cơquan có thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi như sau:

Neu người nhận nuôi con nuôi xin nhận nuôi con nuôi tại cơ sở nuôi dưỡng trẻthì Úy ban nhân dân cấp tình nơi có cở sở nuôi dưỡng trẻ em thực hiện đăng ký việc

Trang 31

người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng đó làm connuôi nước ngoài.

Trường họp người nhận nuôi con nuôi xin nhận trẻ em đang sống tại gia đìnhlàm con nuôi thì thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi tại úy ban nhân dân cấp tỉnhnơi thường trú của cha, mẹ đẻ của trẻ em nhận làm con nuôi Trong trường họp cha,

mẹ của con nhận nuôi có nơi thường trú khác nhau thì úy ban nhân dân cấp tỉnh củacha hoặc mẹ đẻ của trẻ được nhận nuôi con nuôi đó thực hiện việc đăng ký nuôi connuôi Neu trẻ được nhận nuôi con nuôi đang sống với người giám hộ thì úy ban nhândân tỉnh nơi thường trú của người giám hộ đó đăng ký việc nuôi con nuôi

Bên cạnh đó, nếu trẻ được nhận làm con nuôi không có cha mẹ đẻ hoặc ngườigiám hộ không có hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quyđịnh của pháp luật về hộ khẩu Trường hợp này thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đăng

ký tạm trú có thời hạn của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đang nuôi dưỡng trẻ em đóthực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi Sau khi đăng ký nuôi con nuôi tại ủy ban nhândân tỉnh, thời gian giải quyết nuôi con nuôi là 120 ngày trong trường họp xin đíchdanh trẻ em Thời hạn 120 ngày được tính từ ngày Cơ quan nuôi con nuôi quốc tế củaViệt Nam thuộc Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ họp lệ của người xin nhận con nuôi Neu

có yêu cầu cơ quan Công an xác minh nguồn gốc trẻ, hồ sơ, tính họp pháp của giấy tờthì thời hạn này được kéo dài thêm 30 ngày Trẻ em được nhận con nuôi mà chưa xácđịnh được đích danh trẻ em và phải qua thủ tục giới thiệu trẻ thì thời hạn giải quyếtnhiều hơn so với trường họp xin nuôi con nuôi đích danh Ngoài ra, theo quy định tạikhoản 2 - Điều 15 - Nghị định 19/2011/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều

của Luật Nuôi con nuôi quy định: “Trường hợp những người có liên quan do chưa

nhận thức đầy đủ, chưa hiầi rõ những vấn đề được tư vấn hoặc bị ảnh hưởng, tác động bởi yếu tố tâm lý, sức khỏe đã đồng ỷ cho trẻ em làm con nuôi sau đó muốn thay đổi ý kiến, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được lẩy ý kiến, những người liên quan phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp nơi đang giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi Het thời gian này, những người liên quan không được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi ” Theo quy định của pháp luật, việc cho trẻ em làm con nuôi phải

hoàn toàn tự nguyện và vì mục đích nhẵn đạo, nếu trong trường họp người có liênquan đồng ý cho trẻ em làm con nuôi do yếu tố tâm lý hoặc sức khỏe đã đồng ý chocon nuôi nhưng sau đó muốn thay đổi thì vẫn được giải quyết trong thời hạn 15 ngày.Neu sau khi đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và sau hết 30 ngày thì người có liên quankhông được thay đổi ý kiến về việc trẻ em được làm con nuôi Theo quy định này thìthời gian để những người liên quan được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm connuôi dài hơn so với quy định là 15 ngày trước đây trong Nghị định 68/2002/NĐ-CP

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Văn Thâu, Pháp luật về Hôn nhân và gia đình trước và sau Cách mạng thángTám, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Văn Thâu, "Pháp luật về Hôn nhân và gia đình trước và sau Cách mạng tháng"Tám
Nhà XB: NXB Tư pháp
2. Nông Quốc Bĩnh, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông Quốc Bĩnh
2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khác
5. Nghị đinh 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhânvà gia đình Khác
7. Nghị định 19/2011/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi;❖ Sách, giáo trình Khác
7-im-mi-ca-hit-mioi-con-nuoi-&amp;catid=38:vn-bn-mi&amp;Itemid=78 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w