Mục đích của việc thực hiện dân chủ trong nhà trường là nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Tôi cũng xin cam kết thêm rằng bản Luận văn này là nỗ lực cá nhân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này (ngoài các phần được trích dẫn) đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi
Người viết luận văn
Vũ Khắc Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Hộ, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo UBND, Phòng GD&ĐT, Cán
bộ quản lý và giáo viên các trường THPT thành phố Móng Cái cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân
đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày 08 tháng 8 năm 2014
Tác giả
Vũ Khắc Tùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn 6
9 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1
1.2 Dân chủ, dân chủ cơ sở và dân chủ trong trường học 4
1.2.1 Dân chủ 4
1.2.2 Quy chế dân chủ 9
1.2.3 Quy chế dân chủ trong trường học 10
1.2.4 Quản lý và quản lý nhà trường 13
1.3 Quy chế dân chủ trong trường trung học phổ thông 16
1.3.1 Nội dung thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường THPT 16
1.3.2 Trường THPT và quản lý trường THPT 23
Trang 61.3.3 Quản lý quá trình thực hiện quy chế dân chủ trong trường THPT 27
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ MÓNG CÁI 32
2.1 Vài nét về thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 32
2.1.1 Đặc điểm chung 32
2.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn 33
2.2 Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ sở trong các trường THPT TP Móng Cái 36
2.2.1 Thực trạng việc nhận thức quy chế dân chủ 36
2.2.2 Thực trạng các nội dung thực hiện quy chế dân chủ 44
2.3 Đánh giá chung về thực trạng thực hiện quy chế dân chủ ở các trường THPT trên địa bàn TP Móng Cái 49
2.3.1 Những kết quả đạt được 49
2.3.2 Những hạn chế 51
2.3.3 Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế 53
Chương 3: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI 58
3.1 Định hướng và các nguyên tắc đề xuất biện pháp 58
3.1.1 Định hướng đề xuất biện pháp 58
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 58
3.2 Các biện pháp cụ thể 61
3.2.1 Tuyên truyền, giáo dục về quy chế dân chủ trong trường học cho mọi đối tượng liên quan 61
3.2.2 Hoàn thiện các quy định nội bộ đảm bảo cho quá trình dân chủ hoá được thực hiện tốt trong mọi hoạt động giáo dục của nhà trường 66
Trang 73.2.3 Tăng cường vai trò lãnh đạo và quản lý của Hiệu trưởng trong việc
thực hiện dân chủ ở nhà trường 69
3.2.4 Phối kết hợp tốt hơn nữa các tổ chức, đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong việc thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường 72
3.2.5 Giáo dục cho học sinh ý thức thực hiện quyền làm chủ của mình trong nhà trường 77
3.2.6 Xây dựng bầu không khí dân chủ, đấu tranh phê và tự phê cùng với chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên 80
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 92
TÀI LIỆUTHAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đội ngũ giáo viên THPT của TP Móng Cái 34
Bảng 2.2 Thống kê chất lượng giáo dục THPT của TP Móng Cái 35
Bảng 2.3 Nhận thức của cán bộQL và giáo viên về tầm quan trọng của thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động của nhà trường 37
Bảng 2.4 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động của nhà trường 38
Bảng 2.5 Nhận thức của cha mẹ học sinh về tầm quan trọng của thực hiện quy chế dân chủ trong trường học 39
Bảng 2.6 Nhận thức của CBQL và GV về mục tiêu thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường (n = 120) 40
Bảng 2.7 Quan niệm về các nội dung thực hiện quy chế dân chủ trong các trường THPT 41
Bảng 2.8 Nhận thức về mức độ trách nhiệm của Hiệu trưởng 42
Bảng 2.9 Nhận thức về trách nhiệm của GV, CNV trong thực hiện QCDC 43
Bảng 2.10 Những việc nhà trường đã làm để thực hiện quy chế dân chủ 44
Bảng 2.11 Đánh giá kết quả các nội dung đã thực hiện theo quy chế dân chủ 45
Bảng 2.12 Đánh giá về việc thực hiện nội dung hoạt động 47
Bảng 2.13 Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến thành công trong thực hiện QCDC trong nhà trường 54
Bảng 2.14 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực hiện QCDC 55
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 84
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 84
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 87
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với xu hướng phát triển thời đại - Xu hướng hoà bình, hợp tác
quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới (toàn cầu hoá) đã làm xuất hiện ở nước ta thời cơ và vận hội lớn để nhân dân ta phấn đấu thực hiện khát vọng: Đó là xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh" nhân dân ta không chỉ đứng trước những thời cơ lớn, mà còn phải đối mặt với những thách thức vô cùng khó khăn Muốn thực hiện được mục tiêu xây dựng đất nước, chúng ta phải huy động được sức mạnh của toàn dân; phải thục hiện được lời dạy của Chủ tich Hồ Chí Minh: "Nước ta là nước dân chủ; Bao nhiêu lợi ích đều vì dân; Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân; Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân"
Dân chủ trong khuôn khổ pháp luật được thể chế bằng luật pháp
nhà nước và được thực thi bằng hệ thống chính trị gọi là chế độ dân chủ Hiệu quả dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân là ở cấp cơ sở Đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước có đi vào cuộc sống hay không được thể hiện trực tiếp ở cấp cơ sở
Quy chế dân chủ ở cơ sở là sự pháp luật hoá phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
theo chỉ thị 30 CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị và nghị định số 71/1998/NĐ-CP tháng 9/1998 của chính phủ, ngày 01/3/2000, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường Trong quy chế nêu rõ trách nhiệm của hiệu trưởng, của giáo viên, cán bộ, công chức; những việc người học được biết và tham gia ý kiến; trách nhiệm của nhà trường; trách nhiệm của đơn vị, các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường Quy chế đã đáp ứng được nguyện vọng của cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong các nhà trường theo phương châm: được biết, được bàn, được tham
Trang 11gia ý kiến, được giám sát, kiểm tra và mở ra một cuộc vận động thực hiện dân chủ hoá trong các trường học Từ lãnh đạo ngành giáo dục đến các cơ sở giáo dục đều nhận thức đúng tầm quan trọng của việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động giáo dục và đào tạo Từ đó đã phát huy quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên, công nhân viên, góp phần xây dựng nhà trường văn hoá, nhà giáo mẫu mực, học sinh chăm ngoan thanh lịch Hơn nữa, tăng cường trách nhiệm của hiệu trưởng nhà trường cũng như trách nhiệm của mỗi cán bộ, giáo viên trong việc thực hiện công tác quản lý giáo dục, công tác giảng dạy và phục vụ giảng dạy Mỗi người của ngành giáo dục đều hiểu rõ, thực hiện quy chế dân chủ ở trường học là quyền lợi, trách nhiệm của bản thân, góp phần làm cho
sự nghiệp giáo dục của đất nước ngày càng ổn định và phát triển bền vững Chúng ta đã và đang được hưởng thụ nền giáo dục đang trên đà phát triển Nền giáo dục Việt Nam đang có những bước chuyển mình đáng khích lệ Hiện nay
dư luận và báo giới rất quan tâm tới chất lượng giáo dục và đào tạo
Sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi phải phát huy được
quyền làm chủ của nhân dân lao động, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6 năm 1997) khẳng định, khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân
ở cơ sở Bác Hồ nói rất giản dị rằng dân chủ là dân là chủ, dân làm chủ, là dân tin, dân muốn nói, muốn bàn việc nước và làm việc nước Thực hành dân chủ là nhằm phát huy sức sáng tạo, lực lượng vật chất và tinh thần của nhân dân trong công cuộc kiến tạo xã hội mới ấm no, hạnh phúc Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Với tinh thần ấy, Đại hội IX của Đảng xác định lại một lần nữa vị trí, tầm quan trọng lâu dài và bức
Trang 12thiết của vấn đề dân chủ Đại hội đã xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân còn
bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu, tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và chưa bị đẩy lùi Tình trạng khiếu kiện, điểm nóng chính trị -
xã hội còn xảy ra ở nhiều nơi làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống
Trong các trường THPT ở thành phố Móng Cái, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở bước đầu đã tạo ra không khí dân chủ trong các trường học, góp phần vào việc dạy tốt, học tốt Tuy nhiên cũng giống như nhiều cơ quan, đơn vị thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác, vẫn còn có trường học triển khai chậm hoặc triển khai hình thức Có trường do thiếu dân chủ dẫn đến gây mất đoàn kết, khiếu kiện Điều đó ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dạy và học, đến uy tín của ngành giáo dục đối với xã hội, đối với nhân dân
Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy được quyền làm chủ của cán bộ giáo viên - công nhân viên trong các trường THPT ở thành phố Móng Cái vẫn là một đòi hỏi, một yêu cầu cấp bách góp phần vào thực hiện thắng lợi vào Nghị quyết TW lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương khoá XI
" Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" Vì vậy, việc lựa chọn triển
khai đề tài "Thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường trung học phổ thông
trên địa bàn Thành phố Móng Cái, Quảng Ninh " là cần thiết
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý việc thực hiện Qui chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp triển khai Qui chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Việc thực hiện qui chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Móng Cái đã được quan tâm, bước đầu đã thực hiện khá đầy đủ các các nội dung và hình thức triển khai Tuy nhiên, quá trình triển khai còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập Nếu đề xuất và thực hiện các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi trường thì việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường sẽ đạt được kết quả tốt; sẽ phát huy được vai trò trách nhiệm của mọi thành viên, chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ được cải thiện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về dân chủ cơ sở và dân chủ cơ sở trong trường học và triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở trường THPT;
5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh những năm qua;
5.3 Đề xuất một số biện pháp triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ
sở trong các trường THPT ở thành phố Móng Cái đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong 3 trường: THPT Trần Phú, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Chu Văn An (ngoài công
Trang 14Những người được khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh và học sinh các trường THPT thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp nghiên cứu các tài liệu quản lý, dân chủ cơ sở
và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về dân chủ cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong ngành giáo dục và đào tạo
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của trường khi t riển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở để có thể hiểu rõ hơn tác dụng của quy chế dân chủ cơ sở đến các hoạt động của nhà trường
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để nhận định, đánh giá rõ các mặt mạnh, mặt yếu và tìm ra nguyên nhân của hạn chế, yếu kém về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT thành phố Móng Cái; thăm
dò ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
7.3 Phương pháp xử lý số liệu thu được
Xử lý số liệu thu được bằng thống kê toán học và phân tích các số liệu, các thông tin trong quá trình nghiên cứu, điều tra thu thập, phương pháp này sẽ giúp xác định một cách khách quan về việc triển khai quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT
Trang 158 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ lý luận về Quy chế dân chủ cơ sở và thực hiện Quy chế dân chỉ cơ sở trong các trường THPT
Chỉ ra thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; làm rõ những thành công và hạn chế cùng những yêu cầu mới về việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT ở thành phố Móng Cái theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Đưa ra các biện pháp và khuyến nghị thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn của thành phố Móng Cái
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để tham khảo cho việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường
trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các trường
trung học phổ thông thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Biện pháp thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các trường
trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Dân chủ, dân chủ ở cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở là vấn đề được nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận quan tâm ở những góc độ, khía cạnh khác nhau Hệ thống chính trị của nước ta dựa trên thiết chế quan trọng đó là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” {19,486} Việc phát huy, thực hiện dân chủ phải được tiến hành một cách thực sự có hiệu quả, không tách rời thiết chế trên với sự quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt nam và hệ thống pháp luật là công cụ quan trọng nhất để đảm bảo thực thi quyền dân chủ của nhân dân Nhà nước cũng quan tâm chú trọng tới việc phát huy dân chủ, bên cạnh đó vai trò của các tổ chức đoàn thể có vai trò quan trọng trong việc trong việc phát huy quyền dân chủ ở cơ sở
Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị định
số 71/1998/NĐ-CP ngày 8-9-1998, về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
Trên cơ sở Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của chính phủ nói trên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã ra Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 1-3-2000 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của trường học Mục đích của việc thực hiện dân chủ trong nhà trường là nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nhà trường thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước
Trang 17Sau khi ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường, đã có một số bài viết cũng như công trình nghiên cứu của một
số tác giả đề cập đến vấn đề này, như: Luận văn Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm tăng cường việc thực hiện dân chủ trong nội bộ trường trung học phổ thông; Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học- công
nghệ cấp cơ sở tại trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục và Đào tạo - Hà Nội năm 2001 của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Minh; Các công trình đã đề cập đến một số vấn đề lí luận về dân chủ trong nội bộ nhà trường, tìm hiểu
về thực trạng của việc thực hiện dân chủ trong nội bộ trường THPT hiện nay, như:
- Làm tốt vai trò quản lý nhà nước của hiệu trưởng, kết hợp đúng đắn chế
độ thủ trưởng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà trường
- Phát huy quyền chủ động của nhà trường của nhà trường, thực hiện dân chủ, công khai trong việc quản lý nhà trường đi đôi với việc giữ vững nền nếp, kỷ luật, kỷ cương trong nhà trường
- Nâng cao vai trò của các tổ chức chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội khác trong việc thực hiện dân chủ ở nhà trường và phối hợp cùng nhau đẩy mạnh phong trào thi đua "dạy tốt - học tốt"
- Xây dựng mô hình "Trường học có đời sống văn hoá tốt" Đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở nhà trường
Trong luận văn: Một số biện pháp xây dựng phong cách quản lý dân chủ của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông thành phố Hải Phòng của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh (2004), khoa sư phạm- Đại học quốc
gia Hà Nội, đã nghiên cứu cơ sở lí luận và đi sâu tìm hiểu thực trạng phong cách quản lý của hiệu trưởng trường THPT thành phố Hải Phòng
- Tác giả chú trọng đến biện pháp tác động đến nhận thức của hiệu trưởng, làm sáng tỏ lí do của sự cần thiết phải có phong cách quản lí dân chủ trong trường học
Trang 18- Cung cấp công cụ để các hiệu trưởng tự đánh giá phong cách quản
lí của bản thân Đặt ra định hướng sự rèn luyện của hiệu trưởng
- Tổ chức các hoạt động trong nhà trường theo tinh thần dân chủ hoá
Trong bài viết Thực hiện quy chế dân chủ ở trường học của tác giả
Nguyễn Thị Xuân Mai, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Tạp chí Giáo dục, số 100, 11/2004), tác giả đưa ra một số giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng, tính gương mẫu của đảng viên trong các nhà trường; trách nhiệm của hiệu trưởng nhà trường trong việc triển khai,
tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Tổ chức công đoàn trong các trường học thực hiện tốt chức năng của mình trong phối hợp, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Đề tài "Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" do TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông đồng chủ trì Có
thể tìm hiểu khái quát về công trình nghiên cứu này qua cuốn sách cùng tên do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 2003 Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước
về "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" do PGS.TS Hoàng Chí Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2002 Đề tài "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" - TS Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm,
xu hướng và giải pháp" của TS Vũ Hoàng Công - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002 "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của PGS TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000 Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện Quy chế dân chủ gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói riêng Ở đấy, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường
Trang 19Như vậy, trong các công trình nghiên cứu, những bài viết đã nêu, các tác giả cũng đã ít nhiều bàn đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đưa ra những biện pháp thực hiện quy chế dân chủ ở các trường học từ trường mầm non đến trường trung học phổ thông hoặc của một đơn vị sự nghiệp hay một địa phương nào đó Nhưng các công trình nghiên cứu về thực hiện quy chế dân chủ ở một cơ sở trường học cụ thể thì chưa nhiều Các công trình đi sâu nghiên cứu thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường THPT cũng còn rất hạn chế Vì thế, đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý luận và thực tiễn vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cơ quan, mà ở đây là ở trường THPT trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
1.2 Dân chủ, dân chủ cơ sở và dân chủ trong trường học
1.2.1 Dân chủ
1.2.1.1 Khái quát chung về dân chủ
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, thì: Dân chủ là "hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định Với tư cách là hình thức tổ chức chính trị của Nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Khác với các hình thức khác của thiết chế nhà nước trong thiết chế dân chủ, quyền của đa số, quyền bình đẳng của công dân, tính tối cao của pháp luật được chính thức thừa nhận, những cơ quan cơ bản của nhà nước do bầu cử mà ra"[27]
Nói về dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: dân là chủ và dân làm chủ Không thể có dân chủ nếu nhân dân không được làm chủ Người cũng chỉ ra rõ ràng rằng: Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân
Trang 20Dân chủ là vấn đề không riêng một quốc gia hay một nền chính trị nào quan tâm, nó được phần lớn các thể chế nhà nước trên thế giới, nghiên cứu khoa học, vận dụng Tuy nhiên các thể chế nhà nước có chế độ chính trị khác nhau lại có những cơ chế dân chủ khác nhau Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Dân chủ mang ý nghĩa khởi nguồn là quyền lực thuộc về nhân dân Theo từ điển bách khoa-1994: Dân chủ là “Tôn trọng và thực hiện quyền mọi người tham gia bàn bạc và quyết định công việc chung” Trong ngôn ngữ hiện đại: Dân chủ có thể được hiểu là một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước của một giai cấp, là một nguyên tắc tổ chức và quản lý xã hội, là
tính chất của các mối quan hệ giưã các cộng đồng người, là một giá trị xã hội,
một lý tưởng giải phóng con người hướng tới tự do và thực hiện quyền làm chủ
xã hội, làm chủ nhà nước và làm chủ bản thân mình
Dân chủ phải gắn liền với các mặt khác của xã hội Dân chủ phải đi đôi với văn hoá, dân chủ phải đi đôi với dân trí, dân chủ là tinh hoa của dân trí Dân chủ phải đi đôi với pháp luật, dân chủ phải tuân theo các quy định của Hiến pháp, pháp luật Dân chủ được thể hiện trong mọi lĩnh vực cuộc sống xã hội, dân chủ trong giáo dục và đào tạo cũng đã được quan tâm thể hiện qua “Cuộc vận động dân chủ hoá nhà trường”( Chỉ thị số 21/CT-LT ngày 4/10/1989) với hai nội dung cơ bản là dân chủ hoá quá trình đào tạo và dân chủ hoá quản lý nhà trường Muốn mở rộng dân chủ
ra mọi mặt của đời sống xã hội chúng ta phải thực hiện dân chủ hóa Dân chủ hoá (theo từ điển tiếng Việt 1994) là làm cho trở thành có tính chất dân chủ Nghĩa là phải làm cho các lĩnh vực hoạt động xã hội đều được dân chủ Hay nói khác đi, mọi lĩnh vực hoạt động đều được phát huy tính dân chủ Có thể hiểu dân chủ theo hai ghĩa rộng và nghĩa hẹp
Dân chủ theo nghĩa rộng: Dân chủ được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của dân tộc Việt Nam đã được ghi trong Hiến pháp là “Thực
Trang 21hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”{22,177} Những mục tiêu này đều có mối quan hệ gắn bó với nhau Dân có giàu thì nước mới mạnh Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội Dân chủ thực sự thì dân mới giàu, quốc gia mới mạnh
Dân chủ theo nghĩa hẹp: Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để mọi người dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xã hội với vai trò là người làm chủ xã hội Hình thức dân chủ có 2 loại: Dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện
- Dân chủ trực tiếp: Là người dân được trực tiếp tham gia bàn bạc và quyết định Vấn đề dân chủ trực tiếp khó tổ chức một cách tập trung khái quát, nhưng lại bao quát hết thực tiễn đời sống cũng như ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân
- Dân chủ đại diện: Người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân tham gia bàn bạc và quyết định vấn đề Dân chủ đại diện dễ tổ chức thực hiện dễ tập trung thống nhất, nhưng lại khó bao quát hết thực tiễn đời sống cũng như ý chí nguyện vọng của tầng lớp nhân dân Mặc dù dân chủ trực tiếp hay dân chủ đaị diện đều phản ánh nguyện vọng ý chí quyền lực của nhân dân
1.2.1.2 Quan niệm về dân chủ qua các thời kỳ lịch sử
*Dân chủ trong các hình thái kinh tế xã hội loài người
Khái niệm “ Dân chủ” đã xuất hiện từ thời Hy lạp cổ đại Hêrôđốt
(484-425 trước CN) là người đầu tiên sử dụng khái niệm này Ông cho rằng “Dân chủ” là một thể chế mà quyền lực do nhân dân lao động nắm giữ thông qua con đường phổ thông đầu phiếu Do vậy dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội, nó tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân vì nhân dân lao động là người sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần là yếu tố hàng đầu tạo ra lực lượng sản xuất là nơi tạo ra mọi nguồn lực của xã hội
Trang 22Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, mọi người sống với nhau theo bầy đàn thì chưa có khái niệm dân chủ, song lại xuất hiện hình thức dân chủ đầu tiên của loài người, đó là mọi người cùng chung sống và săn thú, cấy trồng chung và sản phẩm thu được cùng nhau sử dụng Thời kỳ này, hình thức dân chủ với tư cách là hình thức sinh hoạt cộng đồng C.Mác, Ăng ghen đã gọi là nền dân chủ quân sự là nền dân chủ nguyên thuỷ–dân chủ sơ khai, hình thức dân chủ đầu tiên của loài người [9,12]
Chế độ chiếm hữu nô lệ đã có sự phân chia giai cấp, xuất hiện sự chiếm giữ sở hữu tư liệu sản xuất Giai cấp chủ nô đã thiết lập bộ máy bạo lực đặc biệt phục vụ cho quyền lợi của chủ nô đó là Nhà nước, dân chủ được biểu hiện thông qua chế độ nhà nước, nền dân chủ đó phục vụ cho giai cấp chủ nô Mọi quyền lực đều thuộc về giai cấp chủ nô, giai cấp chủ
nô có quyền định đoạt số phận của nô lệ
Khi nhà nước phong kiến ra đời quyền lực nhà nước nằm trong tay của vua chúa với phương thức cha truyền con nối “Con vua thì lại làm vua” Nền dân chủ chủ nô được thay thế bằng nền dân chủ phong kiến, quyền lực được truyền lại cho con cháu do vậy nhân dân lao động đã không có cơ hội nắm giữ quyền lực Những tư tưởng dân chủ tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến đã tạo cơ sở cho tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện
Khi chế độ tư sản ra đời thì nền dân chủ phong kiến được thay thế bằng nền dân chủ tư sản, quyền lực nhà nước nằm trong tay của giai cấp
tư sản Nhân dân lao động làm chủ chỉ là hình thức, thực tế không có quyền lực gì trong xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất cho các chủ tư sản Nhưng họ lại bị áp bức bất công nhất họ bị các ông chủ bóc lột tới tận xương tuỷ Đã có rất nhiều cuộc đấu tranh sảy ra đòi hỏi quyền dân chủ cho người lao động trong thời kỳ này, điển hình là cuộc đấu tranh công xã Paris
Trang 23Bước sang giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi giai cấp công nhân đã đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ tư sản và xây dựng nhà nước dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thì nền dân chủ tư sản đã được thay thế bằng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Người dân có quyền quyết định vận mệnh của đất nước, họ được quyền tham gia xây dựng nhà nước thông qua phổ thông đầu phiếu lựa để chọn những con người đại diện cho giai cấp mình lãnh đạo đất nước và làm chủ trên các mặt hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước
*Vấn đề dân chủ ở Việt nam
- Thời kỳ dựng nước và giữ nước
Từ xa xưa ông cha ta đã biết đoàn kết, biết dựa vào sức mạnh to lớn đó là sức dân để dựng xây đất nước, hình ảnh nhân dân chung sức chung lòng rèn vũ khí cho chú bé làng Phù đổng đứng lên đánh giặc cứu nước, và bao nhiêu cuộc trường trinh giữ nước của ông cha ta đã huy động toàn dân đứng lên bảo vệ đất nước Ông cha ta đã nhận thức được tầm quan trọng của sức dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc như chống giặc Nguyên, Minh Điều đó được thể hiện qua hội nghị Diên Hồng nhà Trần đã lấy ý kiến của dân để thống nhất ý chí đánh giặc bảo vệ đất nước
Và tư tưởng “Khoan thư dân là kế sâu rễ, bền gốc để giữ yên xã tắc” của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đã đề cao việc “lấy dân làm gốc’’, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Ông cha ta đã khẳng định sức dân là sức mạnh cực kỳ to lớn
*Trong thời kỳ đổi mới
Đất nước thống nhất và bước sang chặng đường mới đầy khó khăn gian khổ, do tàn dư của cơ chế cũ để lại, đã có không ít tệ nạn quan liêu, gia trưởng trong một bộ phận cán bộ Tình trạng mất dân chủ xảy ra làm ảnh hưởng đến lòng tin của dân Công cuộc đổi mới trong gần 20 năm qua
đã giành được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng, Văn kiện Đại hội
Trang 24đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng viết “ Cùng với những thắng lợi
đã giành được từ trước công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những thành tựu to lớn và rất quan trọng của 15 năm đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều Cơ sở vật chất –kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường Tình hình chính trị –xã hội cơ bản ổn định…” {19,466} Trong đó, vấn đề dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta Để phát huy dân chủ thì việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao trình độ dân trí Trong tình hình hiện nay khi nước ta đang trên đường CNH-HĐH vấn đề dân chủ càng phải coi trọng nhằm xây dựng nhà nước của dân do dân và vì dân, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
1.2.2 Quy chế dân chủ
1.2.2.1 Khái niệm quy chế dân chủ
Quy chế theo Từ điển tiếngViệt 1994: là tổng thể nói chung những điều quy định thành chế độ để mọi người thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó
Quy chế dân chủ là một văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống các văn bản quản lý nhà nước của Việt Nam, đó là công cụ là phương tiện
để nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình vào việc xây dựng nhà nước và phát triển kinh tế xã hội (Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 12/ 11/1996( sđ & bx )các văn bản hướng dẫn thực hiện ) Quy chế quy định rõ quyền của mọi người dân được giáo dục pháp luật, được tiếp nhận thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước nhất
là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống đến các quyền và lợi ích hàng ngày của người dân
1.2.2.2 Tính tất yếu của quy chế dân chủ
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo
để mọi người dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế,
Trang 25xã hội với vai trò là người chủ của xã hội, ví dụ người dân cầm lá phiếu bầu cử lựa chọn đại biểu của mình Đồng thời dân chủ còn được hiểu là trách nhiệm của chính quyền,của cán bộ, công chức cấp Trung ương và cấp xã thực hiện quyền hạn của mình một cách chí công vô tư
Dân chủ còn có thể được hiểu như một nhu cầu tất yếu, đòi hỏi đương nhiên của nhân dân cần có được một vị thế thực sự bình đẳng trong quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân Bản chất nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì dân
Dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của dân tộc Việt nam đã được ghi rõ trong Hiến pháp “Thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”{22,177} Với mục tiêu phấn đấu như vậy việc phát huy dân chủ ở cơ sở được coi là chủ trương, biện pháp là hành động tất yếu của nhân dân và chính quyền trong quá trình phát triển của đất nước chúng ta
1.2.3 Quy chế dân chủ trong trường học
Dân chủ là vấn đề rất lớn bởi nó gắn liền với các yếu tố con người, chế độ xã hội, tiến trình phát triển của lịch sử Dân chủ phải được thực hiện từ cơ sở Cơ sở là nền tảng xã hội, là nơi diễn ra mọi sinh hoạt về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội quốc phòng, an ninh một cách sinh động, liên quan đến đời sống, lợi ích của từng người dân Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, nơi quyền dân chủ của nhân dân cần được thực hiện một cách trực tiếp và rộng rãi nhất nhằm phát huy nguồn lực mạnh mẽ có ý nghĩa quyết định tới
sự phát triển của xã hội
Dân chủ ở cơ sở là nơi diễn ra các trạng thái dân chủ về chính trị,
về kinh tế, văn hoá, xã hội một cách trực tiếp, sinh động, liên tục đối với mọi con người, mọi lứa tuổi Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trình độ nhận thức đúng đắn với khả năng thực hiện của mỗi người Thực hiện dân chủ xã hội chủ
Trang 26nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tiến hành dưới nhiều hình thức, nhiều cấp độ, trong đó thực hiện dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng cấp bách, cơ bản và lâu dài Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3- khoá VIII, Bộ chính trị đã ban hành chỉ thị số 30- CT/TƯ ngày 18/2/1998 "Về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" Đến nay, chúng ta đã triển khai chỉ thị này rộng rãi trong cả nước bằng việc ban hành và thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở: xã, phường, thị trấn; các doanh nghiệp nhà nước(nhà máy, xí nghiệp, công nông trường ); các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ quan sự nghiệp (trường học, bệnh viện ) Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 1/3/2000 của bộ trưởng BGD&ĐT ban hành Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường là sự cụ thể hoá chỉ thị
số 30-CT/TƯ của BCH TƯ Đảng về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, là sự cụ thể hoá Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT là hành lang pháp lý cho hiệu trưởng thực hiện dân chủ trong nhà trường
Thực hiện dân chủ trong trường học có hai nội dung cơ bản là: dân chủ hoá quá trình giáo dục và dân chủ hoá quản lý nhà trường Để thực hiện được dân chủ hoá nhà trường, trước tiên phải thực hiện được dân chủ hoá quản lý nhà trường Vì quản lý theo tinh thần dân chủ mới đảm bảo tạo nên được những quan hệ xã hội trong nhà trường có tính dân chủ Dân chủ hoá quản lý nhà trường là việc tạo môi trường dân chủ để nhà giáo, cán bộ, người học, gia đình và cộng đồng đều có thể tham gia quản lý nhà trường và cùng nhau giải quyết tại chỗ mọi vấn đề phát sinh trên cơ sở công khai, công bằng, tạo điều kiện để mọi người được kiểm tra, đánh giá
và tự kiểm tra, đánh giá Dân chủ hoá quản lý nhà trường gắn liền với việc tăng cường quyền chủ động của nhà trường, triển khai các biện pháp nhằm huy động tối đa các mối liên hệ bên trong và bên ngoài nhà trường tham gia vào các hoạt động và quản lý các công việc của nhà trường
Trang 27Dân chủ trong nhà trường hay dân chủ trong quản lý nhà trường chính là phát huy các mối quan hệ bên trong nhà trường, huy động cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh tham gia quản lý nhà trường Dân chủ hoá quản lý nhà trường gắn liền với sự hình thành và hoạt động tích cực của các tổ chức tự quản của cán bộ, giáo viên, học sinh, đó là việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa chế độ thủ trưởng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà trường, đó cũng là việc tạo điều kiện cho các tổ chức Đảng, Công đoàn phát huy vai trò của mình đối với việc lãnh đạo và tổ chức cho quần chúng tham gia quản lý nhà trường
Dân chủ trong trường học là thể hiện cụ thể của dân chủ và dân chủ hóa trong giáo dục Giáo dục cũng là một lĩnh vực hoạt động xã hội nên rất cần được quan tâm phát huy tính dân chủ trong các hoạt động Quá trình giáo dục cần được dân chủ hóa
Dân chủ hoá quá trình giáo dục nghĩa là dân chủ hoá các thành tố của quá trình giáo dục như: mục tiêu, nội dung, phương pháp.Trong đó dân chủ hoá quan hệ giữa hai thành tố thầy và trò là trung tâm, là hạt nhân của quá trình dân chủ hoá quá trình giáo dục Đó là thực hiện quyền được học và học được của người học Quyền được học phải gắn liền với khả năng học được của người học Không tạo điều kiện, cơ hội cho người học được học tập thì quyền được học chỉ là khẩu hiệu xuông về dân chủ
Vì vậy ta có thể hiểu dân chủ trong giáo dục là một loại quyền của nhân dân Để nhân dân có quyền dân chủ thực sự về giáo dục, thì Nhà nước phải thể chế hoá quyền dân chủ về giáo dục thành các quyền cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam như các quyền học tập, quyền nghiên cứu khoa học, quyền phát minh, sáng chế, cải tiến kĩ thuật trong các lĩnh vực ( Điều 35, 59, 60 Hiến pháp 1992), không những người dân được học mà còn được tạo điều kiện để có trình độ, năng lực nghiên cứu
KH, tham gia lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục
Trang 28Dân chủ hoá trong quản lý nhà trường nói chung là tạo môi trường dân chủ để tất cả mọi người đều có quyền tham gia quản lý và giải quyết các công việc của nhà trường với phạm vi và đối tượng cụ thể Dân chủ hoá quản lý nhà trường gắn liền với việc tăng cường quyền tự chủ của nhà trường, tranh thủ các lực lượng xã hội vào tổ chức và quản lý công việc nhà trường Khi nghiên cứu thuật ngữ “Dân chủ” ta thấy được dân chủ trường học là một bộ phận trong dân chủ xã hội nói chung nó được quy định xung quanh phạm vi quyền học tập của người dân
Quy chế dân chủ trong nhà trường cũng có thể được hiểu là quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm mọi thành viên trong tập thể sư phạm về việc thực hiện có hiệu quả Luật giáo dục đã được quy định theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong mọi hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
Việc tổ chức thực hiện QCDC ở trong nhà trường là rất cần thiết là công cụ đắc lực cho việc xây dựng nhà trường kỷ cương nề nếp, và hỗ trợ cho hoạt động quản lý trong nhà trường đạt hiệu quả Hiện nay trong các trường việc tổ chức thực hiện QCDC còn có nhiều vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải vận dụng và tổ chức thực hiện các QCDC phù hợp với đặc điểm cấp học và điều kiện cụ thể của trường mình
1.2.4 Quản lý và quản lý nhà trường
1.2.4.1 Quản lý
Khi con người phối hợp ý chí và hành động với nhau một cách có ý thức sẽ hình thành nhóm (tổ chức) Cho dù một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Vậy quản lý có thể được hiểu là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Trang 29Như thế, quản lý xuất hiện một cách tất yếu cùng với hình thức tồn tại đặc biệt của con người trong thế giới khách quan - hình thức xã hội Còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý, tuy nhiên những dấu hiệu chung của quản lý được các định nghĩa đề cập đến bao gồm:
- Phải có mục tiêu
- Phải có chủ thể (cá nhân hoặc một nhóm người)
- Phải có khách thể (con người và vật dụng không phải con người) Quản lý có các chức năng để đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Người ta có thể phân chia các hoạt động quản lý thành các chức năng quản lý, quản lý có 4 chức năng cơ bản sau đây:
- Kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
- Tổ chức: Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch của họ và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng Vấn đề nhân sự, cán
bộ sẽ tiếp nối ngay sau công việc tổ chức
- Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì chủ thể quản lý phải đứng ra chỉ đạo, dẫn dắt
tổ chức Chỉ đạo bao hàm việc liên kết mọi người trong tổ chức và động viên
họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên việc chỉ đạo còn bao gồm sự uốn nắn những sai lệch trong hoạt
Trang 30- Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý giám sát và đánh giá các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động điều chỉnh nếu cần thiết Người ta thường ví kiểm tra như mối liên hệ ngược trong nguyên lý điều khiển
Bây giờ chúng ta nói về quản lý nhà trường (quản lý trường học) Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và từng học sinh
Tác giả Trần Kiểm đưa ra định nghĩa quản lý trường học như sau:
“Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp
lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực
và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”[16, tr.27]
Trang 31Như vậy, có thể thấy: quản lý nhà trường là quản lý là quản lý một
bộ máy để thực hiện mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ
1.3 Quy chế dân chủ trong trường trung học phổ thông
1.3.1 Nội dung thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường THPT
1.3.1.1 Mục đích và nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường
Mục đích thực hiện dân chủ trong nhà trường là nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều trong Luật Giáo dục Phương châm đề
ra từ trước đến nay là: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong mọi hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được tham gia vào công tác giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là "của dân, do dân và vì dân"
Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ
và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nhà trường theo luật quy định của luật, góp phần xây dựng nền nếp, trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm
vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của nhà nước
Nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường: Mở rộng dân chủ trong nhà trường phải đảm bảo có sự lãnh đạo của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện trách nhiệm của hiệu trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường Thực hiện dân chủ trong nhà trường phải phù hợp với hiến pháp
và pháp luật, quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm, dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương của nhà trường Xử lý nghiêm chỉnh những hành vi lợi dụng dân chủ, xâm phạm quyền tự do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của nhà trường
Trang 321.3.1.2 Trách nhiệm của hiệu trưởng
“Luật Giáo dục 2005” của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 và Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật số 38/2005/QH11 tại điều 54 về người hiệu trưởng như sau:
- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận
- Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học
- Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng trường đại học do thủ tướng Chính phủ quy định; đối với các trường ở cấp học khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; đối với cơ sở dạy nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định
Người hiệu trưởng là cán bộ quản lý đơn vị giáo dục cơ sở (nhà trường), có nhiệm vụ rất nặng nề Họ chịu toàn bộ trách nhiệm về hoạt động của nhà trường ở mọi chỗ, mọi lúc, mọi người của đời sống giáo dục Toàn bộ hoạt động giáo dục diễn ra tại cơ sở chính là nhà trường, nơi quá trình sư phạm được triển khai trên thực tế Do đó, đề cập đến vấn đề cán bộ quản lý giáo dục là nói tới người hiệu trưởng
Chương II, mục I, Điều 4 của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định Hiệu trưởng có trách nhiệm:
- Quản lý, điều hành mọi hoạt động của nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường
- Tổ chức thực hiện những quy định về trách nhiệm của nhà trường, nhà giáo, cán bộ, công chức, của người học trong quy chế này
- Lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường và có các biện pháp giải quyết đúng theo chế độ, chính sách hiện
Trang 33hành của nhà nước, theo nội quy, quy chế, điều lệ của nhà trường và phù hợp với thẩm quyền, trách nhiệm được giao của hiệu trưởng Trong trường hợp vượt quá thẩm quyền giải quyết của hiệu trưởng thì phải thông báo cho cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường biết và báo cáo lên cấp trên
- Thực hiện chế độ hội họp theo định kỳ, như họp giao ban, họp hội đồng tư vấn, hội nghị cán bộ, công chức hàng năm
- Thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của Nhà nước; công khai các quyền lợi, chế độ, chính sách và việc đánh giá định kỳ đối với nhà giáo, cán bộ, công chức, người học
- Gương mẫu, đi đầu trong việc đấu tranh chống những biểu hiện không dân chủ trong nhà trường như: cửa quyền, sách nhiễu, thành kiến, trù dập, giấu diếm, bưng bít, làm sai sự thật, làm trái nguyên tắc và những biểu hiện không dân chủ khác
- Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà trường Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể, các cá nhân trong nhà trường, phát huy dân chủ trong tổ chức hoạt động của nhà trường
- Bảo vệ và giữ gìn uy tín của nhà trường
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra hoạt động của cấp dưới trực tiếp trong việc thực hiện dân chủ và giải quyết kịp thời những kiến nghị của cấp dưới theo thẩm quyền được giao
- Phối hợp với tổ chức công đoàn trong nhà trường tổ chức hội nghị cán bộ, công chức mỗi năm một lần theo quy định của nhà nước
1.3.1.3 Trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ công chức
Nhà giáo có những nhiệm vụ sau đây:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường;
Trang 34- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Quyền của nhà giáo:
- Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;
- Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường,
cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác;
- Được bảo vệ nhân phẩm danh dự;
- Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của
Bộ luật lao động
Chương II, mục II, Điều 6 của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ, công chức trong nhà trường:
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục
- Tham gia đóng góp ý kiến về những nội dung quy định tại điều 5 Quy chế thực hiện dân chủ trong nhà trường
- Kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng bè phái, mất đoàn kết, cửa quyền, quan liêu và những hoạt động khác vi phạm dân chủ, kỷ cương, nền nếp trong nhà trường
- Thực hiện đúng những quy định trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Pháp lệnh chống tham nhũng; Pháp lệnh Thực hành tiết kiệm
Trang 35- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, cán bộ, công chức; tôn trọng đồng nghiệp và người học; bảo vệ uy tín của nhà trường
1.3.1.4 Quyền của học sinh trong việc thực hiện dân chủ ở nhà trường
Chương II, mục III, Điều 8 của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định những việc người học được biết:
- Chủ trương, chế độ, chính sách của Nhà nước, của ngành và những quy định của nhà trường đối với người học
- Kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch đào tạo của nhà trường hàng năm
- Những thông tin có liên quan đến học tập, rèn luyện, sinh hoạt và các khoản đóng góp theo quy định
- Chủ trương, kế hoạch tổ chức cho người học phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, gia nhập các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường
Chương II, mục III, Điều 9 của Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường đã quy định những việc người học được tham gia ý kiến:
- Nội quy, quy định của nhà trường có liên quan đến người học
- Tổ chức phong trào thi đua và các hoạt động khác trong nhà trường có liên quan đến người học
- Việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà trường có liên quan đến quyền lợi học tập của người học
Chương V, mục I, Điều 86 của “Luật Giáo dục 2005” đã quy định người học có những quyền sau đây:
- Được nhà trường, cơ sở giáo dục khác tôn trọng và đối xử bình đẳng, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình;
- Được học trước tuổi, học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian, học lưu ban;
- Được cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo theo quy định;
Trang 36- Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác theo quy định của pháp luật;
- Được sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hoá, thể dục thể thao của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;
- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với nhà trường, cơ sơ giáo dục khác các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người học;
- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt
1.3.1.5 Trách nhiệm của các đơn vị, các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường
Chương II, mục V, Điều 12 của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định về trách nhiệm của các đơn vị trong bộ máy quản lý của nhà trường, như sau:
Thủ trưởng các đơn vị trong bộ máy quản lý của nhà trường như phòng, ban, khoa, viện nghiên cứu, trung tâm, tổ bộ môn, tổ chuyên môn, nghiệp vụ là người đại diện cho đơn vị có trách nhiệm:
- Tham mưu, đề xuất những biện pháp giúp hiệu trưởng thực hiện tốt những quy định của quy chế này
- Chấp hành và tổ chức thực hiện tốt các hoạt động dân chủ trong đơn vị
- Thực hiện nghiêm túc lề lối làm việc trong đơn vị, giữa các đơn vị với nhau và giữa đơn vị với nhà trường; thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và những quy định của Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học
Chương II, mục V, Điều 13 của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định về trách nhiệm của các đoàn thể, các tổ chức trong nhà trường
Người đứng đầu các đoàn thể, các tổ chức trong nhà trường là người đại diện cho đoàn thể, tổ chức đã có trách nhiệm:
Trang 37- Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức, thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường
- Nâng cao chất lượng sinh hoạt của các đoàn thể, các tổ chức, dân chủ bàn bạc các chủ trương biện pháp thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường
- Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy chế dân chủ, có trách nhiệm lắng nghe ý kiến của quần chúng, phát hiện những vi phạm quy chế dân chủ trong nhà trường để đề nghị hiệu trưởng giải quyết Hiệu trưởng không giải quyết được thì báo cáo lên cấp có thẩm quyền trong ngành theo phân cấp quản
lý để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết
1.3.1.6 Quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan quản lý cấp trên, chính quyền địa phương
Chương III của “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” đã quy định về việc quan hệ giải quyết công việc giữa nhà trường với các cơ quan quản lý cấp trên, chính quyền địa phương
Điều 15 Nhà trường với cơ quan quản lý cấp trên
- Phục tùng sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên, thực hiện chế
độ báo cáo định kỳ đúng quy định, kịp thời và nghiêm túc
- Kịp thời phản ánh những vướng mắc, khó khăn của nhà trường và kiến nghị những biện pháp khắc phục để cấp trên xem xét giải quyết
- Phản ánh những vấn đề chưa rõ ràng trong việc quản lý chỉ đạo của cấp trên, góp ý phê bình đối với cơ quan quản lý cấp trên bằng văn bản hoặc thông qua đại diện Trong khi ý kiến phản ánh lên cấp trên chưa được giải quyết, nhà trường vẫn phải nghiêm túc chấp hành và thực hiện
sự chỉ đạo của cấp trên
Điều 16 Quan hệ của nhà trường đối với chính quyền địa phương
Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan chính quyền sở tại để phối hợp giải quyết những công
Trang 38việc có liên quan đến công tác giáo dục trong nhà trường và chăm lo quyền lợi học tập của người học
1.3.2 Trường THPT và quản lý trường THPT
1.3.2.1 Trường trung học phổ thông
Trường THPT là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, gồm 3 năm Đây là bậc học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho học sinh, là bậc học tạo nguồn nhân lực cho yêu cầu của xã hội, đồng thời chuẩn bị tích cực, trực tiếp cho thế hệ trẻ chuẩn bị hành trang vào đời, đi vào cuộc sống lao động sản xuất làm nghĩa vụ công dân và có điều kiện để tiếp tục học lên
Trường THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ
- Hoàn chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát triển nhân cách người lao động mới: Năng động, sáng tạo, tích cực chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động, sản xuất, làm nghĩa cụ công dân, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chuẩn bị cho một bộ phận tiếp tục học lên bậc học cao hơn đáp ứng với yêu cầu tạo nguồn đội ngũ cán bộ, công nhân, kỹ thuật lành nghề và tri thức xã hội chủ nghĩa
- Tiếp tục phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu nhằm góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước
- Đảm bảo số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo học sinh THPT phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Phát huy tác dụng về mặt văn hoá tư tưởng, khoa học kỹ thuật ở địa phương
Với những năm đầu của quá trình đổi mới đất nước với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản xuất hàng hoá phát triển, làm cho thị trường lao động được mở rộng, nhu cầu đào tạo tăng lên tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Mặt khác kinh tế thị trường làm thay đổi
Trang 39quan niệm về giá trị, ảnh hưởng đến động cơ học tập, việc lựa chọn các ngành nghề tác động đến các quan hệ trong nhà trường và ngoài xã hội, hầu hết các bậc phụ huynh đều có nhận thức đúng đắn về yêu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trước sự phát triển phong phú và đa dạng của nền kinh tế tri thức sự phân hoá trong xã hội đã hình thành hai xu hướng
Một là: Những em có điều kiện đều có nguyện vọng học lên tiếp hoàn chỉnh học vấn theo ngành nghề
Hai là: Một số em không có điều kiện hoặc do năng lực bản thân hoặc do thi không đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, sau khi tốt nghiệp THPT hoà nhập vào thị trường lao động, chờ đón cơ hội để có thể học thêm
Như vậy giáo dục THPT phải có "Mục tiêu kép" vừa chuẩn bị cho
học sinh vào Đại học - Cao đẳng, vừa chuẩn bị cho học sinh vào đời Từ
đó trong trường THPT ngoài trang bị kiến thức cần phải hình thành cho học sinh, năng lực thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn để chủ động, tự chủ trong lao động, trong cuộc sống và hoà nhập với môi trường lao động
1.3.2.2 Quản lý trường THPT
Trong quản lý nhà trường thì quản lý trường THPT là vấn đề tất yếu được đặt ra và nếu trường THPT là một cơ sở giáo dục thì quản lý trường phổ thông được hiểu là quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp
Như chúng ta đã biết, trong các trường học đặc biệt là trường THPT thì hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra Vì thế có ý kiến cho rằng: Quản lý trường phổ thông là quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn của giáo viên, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mà mục tiêu giáo dục của bậc THPT là một mục tiêu kép: Vừa chuẩn bị kiến thức cho học sinh vào đại học, vừa
Trang 40chuẩn bị cho các em một kỹ năng, tính tự chủ trong lao động điều đó có nghĩa là khác nhiều do với bậc THCS Đối với học sinh THPT thì ngoài trang bị kiến thức cho các em việc hình thành cho các em phương pháp học tập, khả năng tư duy, khả năng thích ứng với cuộc sống cũng là một vấn đề quan trọng Vì thế vấn đề đặt ra đối với việc quản lý trường THPT
chính là: Người quản lý (chủ thể quản lý) tác động như thế nào vào các
thành tố của hệ thống giáo dục, nhằm đem lại kết quả như mong muốn Tác giả cho rằng đây thực sự là vấn đề khó khăn, khó khăn không chỉ bởi công tác quản lý là một công tác mang tính khoa học, đồng thời ở một khía cạnh nào đó cũng mang tính nghệ thuật, mà còn bởi trong sự phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay thì đổi mới giáo dục phổ thông, để đạt được mục tiêu giáo dục không phải là việc dễ dàng Hơn thế, dù giáo dục phổ thông là một lĩnh vực trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm song những bất cập của nó về đội ngũ giáo viên, về cơ sở vật chất cũng bị lộ rõ bởi những lẽ đó tác giả cho rằng, quản lý nhà trường THPT là điều kiện mang tính quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục
Có thể thấy, nếu hoạt động trọng tâm của trường THPT là hoạt động giáo dục, để đạt được mục tiêu giáo dục, người quản lý cần chú trọng đến việc quản lý hoạt động chuyên môn của người giáo viên Bởi muốn có trò
giỏi trước tiên phải có thầy giỏi và người chính là người "kiến thiết" giờ
dạy, định hướng việc học tập cho học sinh Trong quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tác giả nhận thấy: Các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài cũng như Việt Nam đã nghiên cứu và đưa
ra một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng Có một số tác giả đề cập tới chất lượng dạy học của bậc THPT nhưng lại thiên về vấn đề cải tiến phương pháp dạy học bộ môn mà chưa đề cập một cách sâu sắc đến các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục