1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh

116 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết “về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ ĐỨC HOÀN

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHƯỜNG HÀ AN,

THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ ĐỨC HOÀN

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHƯỜNG HÀ AN,

THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ẢNH

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và

chƣa đƣợc dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc

hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong

luận văn đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc./

Thái Nguyên, ngày tháng 1 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hoàn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ,

công chức phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”, tôi đã

nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã

tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng lý Đào tạo, các khoa,

phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị

-Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và

hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng

dẫn PGS.TS Lê Hữu Ảnh

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà

khoa học, các thầy, cô giáo trong Trườ Kinh tế và Quản trị Kinh

doanh - Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác

của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các

bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành

nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày tháng 1 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hoàn

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán bộ công chức cấp cơ sở 6

1.1.2 Yêu cầu và đặc điểm của nâng cao năng lực của cán bộ, công chức cấp cơ sở 12

1.1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cán bộ, công chức ở cấp cơ sở 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức 27

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 43

2.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 44

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 44

2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu 45

Chương 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨ PHƯỜNG HÀ AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN,TỈNH QUẢNG NINH 46

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên và phường Hà An 46

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên 46

3.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường Hà An 56

3.2 Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường H - 58

3.2.1 Thực trạng về chính sách đối với cán bô, công chức phường Hà An 58

3.2.2 Thực trang đội ngũ cán bộ, công chức phường Hà An 67

3.3 Các nhân tố tác động tới năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chức phường Hà An 72

3.3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 72

3.3.2 Công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã 73

3.3.3 Công tác đánh giá CBCC 74

3.3.4 Bổ nhiệm CBCC 74

3.3.5 Điều động, luân chuyển CBCC 75

- 75

3.4.1 Những kết quả đạt được 76

3.4.2 Những tồn tại hạn chế cần hoàn thiện 76

3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế 78

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC - 80

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

-Ninh và dự báo triển vọng 80

4.1.1 Quan điểm 80

4.1.2 Mục tiêu 81

4.2 Một số giải pháp nâng cao năn - 82

4.2.1 Giải pháp về công tác quy hoạch cán bộ công chức 82

4.2.2 Giải pháp về tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức, thực hiện việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền 85

4.2.3 Giải pháp về thu hút và tạo nguồn cán bộ; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch từng chức vụ, chức danh cán bộ, công chức chính quyền 88

4.2.4 Giải pháp về kiện toàn, bố trí, sắp xếp lại cán bộ, công chức; thực hiện chính sách thôi việc; điều động, luân chuyển cán bộ, công chức về cơ sở 91

4.2.5 Giải pháp về đánh giá cán bộ, công chức gắn với bố trí, sắp xếp phù hợp với năng lực, sở trường 94

4.3 Một số kiến nghị 98

4.3.1 Đối với Nhà nước 98

4.3.2 Đối với thị xã Quảng Yên 98

4.3.3 Đối với phường Hà An 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 105

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC : Cán bộ công chức CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GTSX : Giá trị sản xuất

HĐND : Hội đồng nhân dân KCN : Khu công nghiệp

KH : Kế hoạch

KT - XH : Kinh tế - Xã hội KTTĐBB : Kinh tế trọng điểm Bắc bộ MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Kết quả điều tra sự hài lòng về công việc đối với CBCC 58Bảng 3.2 Bảng lương đối với cán bộ cấp phường chưa qua đào tạo

chuyên môn 59Bảng 3.3 Kết quả điều tra sự hài lòng về chế độ tiền lương và chế độ phụ

cấp đối với CBCC 62Bảng 3.4 Kết quả điều tra sự hài lòng về chính sách đãi ngộ đối với

CBCC 62Bảng 3.5 Đội ngũ CBCC phường Hà An năm 2013 67Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC phường Hà An giai

đoạn 2010 - 2013 68Bảng 3.7 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC phường Hà An

giai đoạn 2010 - 2013 70Bảng 3.8 Độ tuổi của đội ngũ CBCC 71

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

Sự thành bại, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc vào đội ngũ những người điều hành bộ máy nhà nước của quốc gia đó Đối với nước ta hiện nay, vấn đề chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức có tầm quan trọng đặc biệt, vừa ở tính lý luận vừa là yêu cầu bức xúc của thực tiễn

Xây dựng, nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (gọi chung là cán bộ, công chức) là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính Vì vậy, trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, xây dựng, nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức là một trong bảy chương trình hành động có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Nói về cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của

công việc" [Error! Reference source not found.], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [Error! Reference source not

found.] Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm

chăm lo đến công tác cán bộ Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa VIII đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế

độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [Error! Reference

source not found.]

Thực tiễn đã chỉ ra rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, để giữ vững ổn định xã hội và khai thác tốt mọi nguồn lực nhằm phát triển kinh tế thì phải luôn chú trọng tới xây dựng chính quyền cơ sở Cấp cơ

sở bao gồm xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là nơi nhân dân cư trú

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sinh sống, là cầu nối trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với dân, là nơi tổ chức, vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân; phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, khai thác mọi tiềm năng ở địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, ở xã, phường, thị trấn có

đủ tiêu chuẩn và có phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị

quyết “về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị ở cơ

sở xã, phường, thị trấn”, trong đó xác định: Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở

có năng lực tổ chức và vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán

bộ cơ sở Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X cũng đã xác định: Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoá chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở

[Error! Reference source not found.]

Trong những năm qua, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đã có những bước chuyển biến tích cực nhưng chất lượng và đặc biệt là năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn vì nhiều nguyên nhân cả chủ

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quan và khách quan Do vậy, vấn đề nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp

cơ sở được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề trên tôi đã lựa chọn đề

tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phườ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của phường Hà An, thị Xã Quảng Yên – Tỉnh Quảng Ninh , tìm ra những ưu điểm

và những tồn tại, hạn chế Từ đó, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phường Hà An đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ cán bộ, công chức phường

Hà An, thị Xã Quảng Yên – Tỉnh Quảng Ninh và các vấn đề liên quan đến năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức phường Hà An

- Phạm vi về nội dung: Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, Luận văn

không đi sâu tìm hiểu, phân tích quá trình phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức khối phường Hà An, ập trung nghiên cứu, tìm hiểu

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường Hà An,

Yên, t ừ năm 2011 đến năm 2013, đó là:

+ Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được phân công phụ trách

+ Tính sáng tạo trong công việc

+ Khả năng thích ứng mới các điều kiện môi trường công việc

+ Kỹ năng áp dụng các chủ trương, chính sách vào thực tiễn

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

*Ý nghĩa mặt lý luận

Góp phần hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức; công tác cán bộ và xây dựng cán bộ, công chức chính quyền cấp phường

*Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Đề tài giúp cho công tác quản lý nhà nước trong việc nâng cao chất lượng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường ở thị xã Quảng Yên- Tỉnh Quảng Ninh được hoàn thiện hơn

Các giải pháp của đề tài sẽ làm cơ sở để xây dựng được bộ tiêu chuẩn khung để dựa vào đó các cấp quản lý, các nhà lãnh đạo có thể đánh giá, phân loại được cán bộ, công chức

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực và nâng cao năng lực của đội ngũ

cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Nghiên cứu về thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công

Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cho

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy, chính quyền cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cấp xã / phường) được hiểu là một bộ máy quản lý nhà nước, cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp

cơ sở, nhưng gắn nhiều hơn với tính chất tự quản

1.1.1.2 Khái niệm về cán bộ, công chức cấp cơ sở

* Khái niệm cán bộ công chức

Có nhiều khái niệm về công chức ở các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa về công chức được sử dụng ở Việt Nam

Khái niệm công chức được quy định lần đầu tiên tại Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng

hòa, như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển

để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức, trừ những trường hợp riêng biệt, do Chính phủ quy định” Tuy nhiên, theo như khái niệm này thì phạm vi công chức còn rất

hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm việc trong các

cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan của Nhà nước

Sau đó suốt một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên Nhà nước, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân

Thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại Tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/ 5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, khái niệm công chức được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể

Hiện nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của đời sống chính trị pháp lý Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008,

có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định tại Điều 4 của Luật cán bộ công chức như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4)

Như vậy, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức Song, có thể khái quát, công chức là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công việc thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay Công an nhân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

* Cán bộ công chức cấp cơ sở

Theo quy định của Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX: Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động, làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm:

Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: Cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND những người đứng đầu Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Cán bộ chuyên môn được UBND tuyển chọn gồm: Công an trưởng, xã đội trưởng, cán bộ văn phòng, địa chính, tài chính - kế toán, tư pháp, văn hoá - xã hội Số lượng cán bộ chuyên trách do Chính phủ quy định

Cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức Nhà nước; khi không còn

là cán bộ chuyên trách mà chưa đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí, được tiếp tục tự đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng phụ cấp một lần theo chế độ nghỉ việc Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vào ngạch công chức ở cấp trên Pháp lệnh cán bộ, công chức hiện hành cần được sửa đổi theo hướng bao gồm cả cán bộ, công chức cơ sở

Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, UBND cấp tỉnh quy định khung về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở (kể cả trưởng thôn)

Theo quy định tại khoản 1, điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003):

Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế bao gồm:

Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp cơ sở

Theo quy định tại điều 2, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn

1 Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (gọi chung là cán bộ chuyên trách cấp xã) gồm có các chức vụ sau đây:

a Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ (nơi có Phó Bí thư chuyên trách công tác Đảng), Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp cơ sở);

b Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND

c Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND

d Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội nông dân

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và Chủ tịch Hội cựu chiến binh

2 Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp cơ sở), gồm các chức danh sau đây:

a Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy)

g Văn hoá - Xã hội

Theo các quy định trên thì cán bộ chính quyền cấp phường gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; công chức xã gồm: Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã hội

1.1.1.3 Năng lực cán bộ công chức

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân

nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do

tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có

Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung

và năng lực chuyên môn

Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như: năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lực tái lập, năng lực tưởng tượng…

Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như: năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học

Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả

và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình

độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người

Năng lực còn được hiểu theo một cách khác: Năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau, những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng

và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau, có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình độ trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng

Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực

ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau:

- Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực

- Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chung chung nào

- Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn

- Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực

Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lênin

đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có:

Sự minh mẫn và tài xắp xếp công việc; sự hiểu biết mọi người; tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người; sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn; các phẩm chất ý chí; khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào, chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt

1.1.2 Yêu cầu và đặc điểm của nâng cao năng lực của cán bộ, công chức cấp

cơ sở

1.1.2.1 Yêu cầu của việc nâng cao năng lực cán bộ, công chức ở cấp cơ sở

Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy tính tự quản của cộng đồng

Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Các nội dung cơ bản của CNH, HĐH đất nước là: Thay thế phần lớn

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lao động thủ công bằng lao động cơ khí hoá, điện khí hoá và một phần tự động hoá, thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ trong GDP và trong lao động xã hội; tiếp cận và vận dụng, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ; nâng cao dân trí, chất lượng nguồn lực con người ngang bằng khu vực với bản lĩnh, bản sắc của văn hoá Việt Nam; thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở cơ sở

Ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân có những đặc trưng sau đây:

Một là, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật và đảm bảo cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân,

sự phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

CBCC chính quyền cấp cơ sở là người hướng dẫn nhân dân phát huy tính tự quản ở cộng đồng dân cư Hoạt động tự quản nhằm giữ gìn đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ thực hiện pháp luật, trợ giúp trong sản xuất, cùng nhau giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội (trong thôn, bản)

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân; phát huy tốt tính tự quản ở cộng đồng dân cư Yêu cầu đặt ra đối với CBCC là phải: Trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác

Hồ đã lựa chọn, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, am hiểu pháp luật, gần gũi với cơ sở, tâm huyết với cơ sở, có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân Để đáp ứng yêu cầu đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp cơ sở

Xuất phát từ vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã CBCC chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; hình ảnh và uy tín của họ là niềm tin của nhân dân đối với Đảng

và Nhà nước

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay một số CBCC chính quyền cấp xã chưa xứng với các vị trí, vai trò chưa làm tròn bổn phận của mình, còn quan liêu hách dịch, cửa quyền, lên mặt làm "quan cách mạng" của nhân dân; chưa kịp thời giải quyết và phản ánh những yêu cầu chính đáng cấp thiết của nhân dân, bản thân và gia đình chưa đi đầu gương mẫu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; hiểu biết đường lối, chính sách chưa có hệ thống, chưa sâu sắc, tự trao cho mình những đặc quyền, đặc lợi làm mất dân chủ ở cơ sở, dẫn đến hiệu lực quản lý nhà nước chưa đảm bảo, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, ảnh hưởng đến sự ổn định của cả hệ thống chính trị như ở Thái Bình, Tây Nguyên Các thế lực thù địch lợi dụng tình hình để thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình" làm cho lòng tin của nhân dân bị giảm sút

Để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, chúng

ta phải quán triệt sâu sắc rằng: Mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" phải bắt đầu từ cơ sở, CNH, HĐH phải bắt nguồn từ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, mà động lực của mục tiêu trên

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

là CBCC chính quyền cấp cơ sở

Chính vì vậy, muốn đảm bảo hiệu lực và nâng cao hiệu quả quản lý phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã Vì nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã mới phát huy được vị trí, vai trò của CBCC chính quyền cấp xã

1.1.2.2 Những đặc điểm về năng lực công tác của cán bộ, công chức ở cấp

cơ sở

Xuất phát từ chức trách nhiệm vụ của CBCC chính quyền cấp cơ sở, năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã thể hiện ở những điểm sau đây:

- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp phường thể hiện:

+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các kỳ họp, năng lực chủ trì tham gia xây dựng nghị quyết, năng lực giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND

+ Năng lực tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến cử tri, tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân

+ Năng lực quan hệ với đại biểu HĐND và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, năng lực báo cáo công tác với các

cơ quan hữu quan

+ Năng lực chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu HĐND theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp phường thể hiện:

+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các phiên họp UBND, năng lực quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của UBND, năng lực tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trên, Nghị quyết của HĐND và các quyết định của UBND cấp phường

+ Năng lực tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, năng lực giải quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn

+ Năng lực áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính ở cơ sở; năng lực trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Năng lực báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên

+ Năng lực tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật

- Năng lực của công chức Tài chính - Kế toán:

+ Năng lực xây dựng, thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của phường

+ Năng lực thực hiện việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại cơ sở

+ Năng lực tham mưu cho UBND trong khai thác nguồn thu, thực hiện các hoạt động tài chính ngân sách đúng quy định của pháp luật

+ Năng lực kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách, năng lực thực hiện chi tiền theo lệnh chi: Thực hiện theo quy định về quản lý quỹ tiền mặt

và giao dịch với kho bạc Nhà nước

+ Năng lực báo cáo tài chính, ngân sách

- Năng lực của công chức Tư pháp - Hộ tịch:

+ Năng lực giúp UBND cấp xã soạn thảo ban hành văn bản quản lý; lấy ý kiến nhân dân đối với dự án luật, pháp lệnh; năng lực phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân xã, phường, thị trấn

+ Năng lực giúp UBND cấp xã chỉ đạo cộng đồng dân cư tự quản xây dựng hương ước, quy ước, kiểm tra việc thực hiện hương ước, quy ước;

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, quản lý

tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật, phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hoà giải

+ Năng lực thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch, thực hiện chứng thực, và thực hiện một số công việc về quốc tịch theo quy định của pháp luật

+ Năng lực quản lý lý lịch tư pháp, thống kê tư pháp, thi hành biện pháp giáo dục tại xã theo sự phân công

+ Năng lực giúp UBND xã về công tác thi hành án theo nhiệm vụ cụ thể được phân công

+ Năng lực giúp UBND cấp xã thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất, bất động sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật

+ Năng lực quản lý hồ sơ tài liệu, chế độ báo cáo công tác theo quy định Năng lực thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật

- Năng lực của công chức Địa chính - Xây dựng:

+ Năng lực lập và quản lý hồ sơ địa chính ở xã, phường, thị trấn

+ Năng lực giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật

+ Năng lực tham gia xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch;

kế hoạch sử dụng đất ở xã, phường, thị trấn; tiến hành kiểm kê, thống kê đất đai ở xã, phường, thị trấn Năng lực tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật, đất đai cho nhân dân ở xã, phường, thị trấn

+ Năng lực hoà giải tranh chấp đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết; năng lực kiểm tra phát hiện các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai để kiến nghị UBND cấp phường xử lý

+ Năng lực phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc

đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Năng lực tham mưu cho UBND cấp phường quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương

- Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê:

+ Năng lực giúp UBND cấp phường xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo dõi việc thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; năng lực tổng hợp báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, tham mưu giúp UBND trong chỉ đạo thực hiện

+ Năng lực soạn thảo văn bản

+ Năng lực quản lý văn bản, lập hồ sơ lưu trữ, lập biểu báo cáo thống kê, theo dõi biến động số lượng, chất lượng CBCC cấp phường

+ Năng lực giúp HĐND tổ chức kỳ họp, năng lực giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp khách, nhận đơn từ khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND

và UBND hoặc lên cấp có thẩm quyền giải quyết

+ Năng lực đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của HĐND, cho công việc của UBND

+ Năng lực nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ chức và công dân theo cơ chế "một cửa"

- Năng lực của công chức Văn hoá - Xã hội:

+ Năng lực lập chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động thương binh xã hội và năng lực tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch đó

+ Năng lực tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch, báo cáo thông tin về dư luận quần chúng và tình hình môi trường văn hoá ở địa phương lên Chủ tịch UBND cấp phường

+ Năng lực tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, văn hoá nghệ thuật,

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá

+ Năng lực thông tin dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn, số lượng người hưởng chính sách lao động - thương binh - xã hội

+ Năng lực theo dõi và đôn đốc việc chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động - thương binh - xã hội

+ Năng lực theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo

+ Năng lực báo cáo công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động - thương binh xã hội ở xã, phường, thị trấn

- Năng lực của công chức Trưởng công an phường:

+ Năng lực tổ chức lực lượng công an phường, nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn; tham mưu đề xuất về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thầm quyền phê duyệt

+ Năng lực phối hợp với cơ quan, đoàn thể, tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến an ninh trật tự cho nhân dân, hướng dẫn tổ chức quần chúng làm công tác an ninh trật tự trên địa bàn quản lý

+ Năng lực tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các

tệ nạn xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật

+ Năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ gìn trật tự công cộng và an toàn giao thông, quản lý vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy, quản lý hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền

+ Năng lực xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức việc quản lý, giáo dục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật

+ Năng lực bảo vệ hiện trường, bắt người phạm tội quả tang, tổ chức bắt có lệnh truy nã, tiếp nhận và dẫn giải người bị bắt lên công an cấp trên,

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Năng lực của công chức Chỉ huy trưởng quân sự:

+ Năng lực tham mưu đề xuất về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên Xây dựng kế hoạch và phối hợp với các đoàn thể triển khai thực hiện các nhiệm vụ liên quan tới công tác quốc phòng, quân sự trên địa bàn

+ Năng lực chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục

vụ công tác và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn

+ Năng lực phối hợp với các đoàn thể giáo dục toàn dân ý thức quốc phòng, quân sự và các vi phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng, quân sự

+ Năng lực phối hợp với các tổ chức kinh tế, văn hoá và xã hội thực hiện nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân

+ Năng lực thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định

+ Năng lực tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp, thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã, phường, thị trấn

1.1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cán bộ, công chức ở cấp cơ sở

1.1.3.1 Yếu tố đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở hình thành và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và quan trọng là thông qua đào tạo với mục đích "làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định"

Đào tạo cán bộ, công chức cấp cơ sở là làm cho đội ngũ này có được những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức, năng lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp để thực hiện đạt mục tiêu

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh có những thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng

có nhiều khó khăn, thách thức mới Nhiệm vụ chính trị rất nặng nề phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề cho công tác cán bộ và đào tạo cán bộ Đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ngang tầm, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, có năng lực thực tiễn góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Phải nhận thức sâu sắc rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một khoa học, hơn nữa là một khoa học về con người Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ tạo tiền đề cho quá trình tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đất nước Đại hội IX, X đã tiếp tục khẳng định: Phải chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành và đổi mới quan niệm, phương pháp đánh giá, sử dụng cán bộ trong tình hình mới Trước hết, phải coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn tại chỗ - đây là chiến lược mục tiêu lâu dài

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nghị quyết Trung Ương 5 khóa IX cũng khẳng định:

Nâng cao mặt bằng dân trí; mở rộng mạng lưới trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng ở các tỉnh, huyện, các trường, lớp nội trú cho con em đồng bào các dân tộc để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở Có chính sách thu hút những người được đào tạo chuyên môn, nhất là sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng về làm cán bộ, công chức ở cơ sở Ở những nơi còn thiếu cán bộ tại chỗ, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần kết hợp đào tạo cán bộ thông qua việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, luân chuyển cán bộ ở huyện, tỉnh về công tác

ở cơ sở với nhiệm vụ chính là dìu dắt, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt cho cán bộ, công chức cấp xã là cần thiết và cấp bách Họ là những người trực tiếp gần gũi nhân dân, vì vậy, trước hết phải hiểu sâu sắc đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho dân hiểu và trả lời những thắc mắc của dân; đi sâu đi sát, tìm hiểu thực tế, gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện những chủ trương như xóa đói giảm nghèo, chống quan liêu, tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội và coi đó là nhiệm

vụ của chính mình mà Đảng, tổ chức đã giao cho

Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức ở cơ sở nên nhìn chung cán bộ, công chức chưa thực sự đảm đương được nhiệm vụ trong tình hình mới, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã thuộc khu vực miền núi Những bất cập trong đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở thuộc khu vực miền núi được thể hiện:

- Đối tượng đưa đi đào tạo chủ yếu là xét cử chứ chưa xét tuyển, kết quả đào tạo vì thế còn nhiều bất cập, nội dung chương trình đào tạo còn chưa phù hợp, chưa gắn công tác quy hoạch và công tác đào tạo, các cơ quan quản lý cán bộ chưa có quy hoạch và kế hoạch tạo nguồn cán bộ cơ sở một cách cơ bản do nguồn ở những địa phương này quá mỏng

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Phương pháp chưa linh hoạt, cứng nhắc, không phù hợp, đặc biệt là đối với học viên là người dân tộc thiểu số, không đạt được mục tiêu đào tạo

đề ra, không nâng cao được kỹ năng thực hành; chưa nâng cao được tư duy kinh tế, năng lực quản lý kinh tế cho cán bộ, công chức để có thể tổ chức, điều hành nhằm đưa đời sống của nhân dân ở cơ sở thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu

- Nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp với đối tượng học viên, chưa có sự đầu tư thỏa đáng trong xây dựng chương trình Một số bài giảng khô khan, nặng về truyền đạt lý luận một cách bài bản với những thuật ngữ trừu tượng, phức tạp trong khi trình độ tiếp thu của học viên khá hạn chế

- Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng không khoa học, việc quản

lý mang nặng về phương pháp hành chính đơn thuần, chưa kết hợp chặt chẽ giữa quản lý bằng nội quy, quy chế với quản lý bằng nội dung kiến thức

- Chưa huy động được nhiều nguồn lực tham gia đào tạo đối với cán

bộ, công chức thuộc khu vực đặc biệt khó khăn

- Sau khi đào tạo nhiều người không được sử dụng vào công việc chuyên môn của mình; chính sách về đào tạo chưa hợp lý

Từ những phân tích trên đây cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở Tuy nhiên, những bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhất là đối với các xã miền núi làm cho chất lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của đội ngũ này

1.1.3.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở

Nói đến cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn và bố trí cán bộ cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Như vậy tuyển dụng, bổ nhiệm là hai khâu công việc của quá trình sử dụng cán bộ nhằm đạt mục đích chung, nó vừa là những điều kiện cần thiết vừa là yêu cầu

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

của khoa học quản lý con người Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn của quy luật phát triển xã hội, đường lối, nguyên tắc, phương pháp và những yếu tố tâm lý học để đánh giá, tuyển dụng,

bổ nhiệm Nếu làm tốt công tác tuyển dụng, bổ nhiệm chúng ta sẽ lựa chọn được những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn

Chính vì vậy, công tác tuyển chọn, bổ nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở

Đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn thực hiện cơ chế Đảng cử dân bầu, tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với thi tuyển, lựa chọn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùng với việc một số cấp ủy đảng, một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về chính sách của Đảng đối với khu vực này Các cấp ủy đảng chưa quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng cán

bộ, công chức cấp cơ sở ở vùng dân tộc và miền núi cho các ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho cán bộ, công chức trong điều kiện lịch sử cụ thể cho nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ

sở ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, cán bộ đi học về chưa bố trí, sử dụng đúng năng lực, sở trường Số học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chưa được tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ sung tăng cường về cấp cơ sở, việc tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều khi mang tính hình thức sắp đặt không theo những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực của mỗi chức danh Việc tuyển chọn, bổ nhiệm chưa gắn với công tác đào tạo và quy hoạch Như vậy khó tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng những người kém về năng lực, phẩm chất làm ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.3.3 Yếu tố pháp luật về chế độ, chính sách cán bộ, công chức cấp cơ sở

Chế độ, chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý

xã hội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động của con người, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của mỗi con người Vì vậy, chế độ chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức Có thể nói trong tình hình hiện nay việc đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách đối với cán bộ, công chức

là khâu có tính đột phá

Trong thời gian vừa qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách hướng

về cán bộ, công chức cấp cơ sở nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ, công chức và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở để có thể đảm đương được nhiệm vụ trong thời kỳ mới Tuy nhiên, hệ thống chính sách đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở hiện nay vẫn còn một số bất cập

Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở khu vực miền núi nói riêng, cán bộ, công chức cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung chưa trở thành đòn bẩy kích thích làm việc với sự nhiệt tình hăng say

Hệ thống chính sách vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ Chưa khuyến khích những người công tác ở vùng sâu, vùng xa, cơ chế quản lý, việc xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán, không đồng bộ từ quy hoạch đến đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng đến

cơ chế kiểm tra, giám sát

Những bất hợp lý về chính sách cán bộ như nêu trên dẫn đến kết quả nhiều cán bộ, công chức có năng lực thực sự không muốn tham gia vào công tác địa phương hoặc nếu tham gia thì có quan điểm nay làm mai nghỉ, hoặc cán bộ, công chức đương chức cửa quyền chỉ bố trí người thân cận, người trong dòng họ, người địa phương Có nhiều xã, phường, thị trấn bố trí số lượng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cán bộ, công chức nhiều hơn quy định, nhưng bên cạnh đó có nhiều xã, phường, thị trấn thì đang thiếu các các chức danh này, dẫn đến cán bộ, công chức thiếu đồng bộ về cơ cấu, độ tuổi, giới tính và non kém về năng lực, không biết làm Đây là vấn đề cản trở rất lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và chương trình xây dựng Nông thôn mới

1.1.3.4 Yếu tố quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức cấp cơ sở

Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và giúp cho cán bộ, công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, tiêu cực, phát huy những nhân

tố tích cực, đồng thời nắm vững thực trạng của cán bộ, công chức và là cơ sở

để làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ

Thực tế cho thấy có một số cán bộ khi mới được đề bạt, bổ nhiệm, mới được bầu cử là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận tụy, liêm khiết,

có uy tín đối với đồng bào nhân dân địa phương Song trong quá trình hoạt động thiếu tu dưỡng, rèn luyện học tập, không được quản lý tốt dần dần thoái hóa, biến chất, sa ngã Trong một số điều kiện, vì lòng tham, vì công tác quản

lý bị buông lỏng dẫn đến việc vi phạm vào lợi ích của Nhà nước và nhân dân Điều đó, có phần thiếu sót của công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ Mặt khác, một số cán bộ, công chức cấp xã hiện nay còn trẻ, năng lực có, phẩm chất có, tuy nhiên họ lại chưa tận tâm với công việc, họ ngại làm, ham chơi nên khi được cấp trên giao nhiệm vụ họ thường lơ là, không tập trung giải quyết công việc, lại không được giám sát, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên dẫn đến công việc không hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng chất lượng không cao Điều này cũng do một phần thiếu sót trong công tác quản

lý, kiểm tra, giám sát cán bộ

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Qua đây cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và bảo vệ cán bộ

có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức

1.2.1.1 Kinh nghiệm quốc tế

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia đạt được những thành công trong tăng trưởng và phát triển kinh tế nhờ chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Do vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm của những nước này không chỉ góp phần luận chứng các luận điểm đã nêu ở trên mà còn cung cấp bài học

bổ ích vận dụng trong quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC

* Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp là một nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu, đồng thời cũng là một nước sớm thực hiện chế độ công chức Nền công vụ của Cộng hòa Pháp bao gồm 3 nền công vụ: công vụ nhà nước, công vụ y tế và công vụ địa phương Ở Pháp “khi một người thi đỗ vào công vụ thì trở thành công chức”

Công chức của nước Pháp được phân chia thành ba loại chính:

- Loại A, là công chức có trình độ đào tạo từ đại học trở lên

- Loại B, là công chức thực thi nhiệm vụ, có thể tốt nghiệp phổ thông

- Loại C, là công chức bậc thấp, tối thiểu phải có bằng tốt nghiệp trung cấp Quyền lợi cũng như nghĩa vụ của công chức Pháp được quy định cụ thể trong Nghị định số 83-634 ngày 13/7/1983 và Nghị định số 84-16 ngày 11/01/1984 Theo đó, công chức thuộc một trong ba nền công vụ được coi là một chức nghiệp và được bảo hộ trong suốt cuộc đời bởi những quy chế chung và riêng tùy thuộc vào vị trí việc làm được đảm nhiệm, rất khó có thể bắt công chức thôi việc ngoại trừ trường hợp vi phạm một số điều thực sự nghiêm trọng

● Tuyển dụng công chức

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việc tuyển dụng nhân sự cho hầu hết các vị trí trong bộ máy quản lý nhà nước tại Pháp được quy định trong Nghị định số 2007-196 ngày 13/01/2007 về việc tuyển dụng công chức cho cả 3 nền công vụ Theo đó, việc tuyển dụng công chức cho cả 3 hệ thống công vụ của Pháp đều được tuyển dụng theo các cách sau: tuyển dụng cạnh tranh, tuyển dụng trong nội

bộ, tuyển dụng theo chế độ hợp đồng và tuyển thẳng không qua thi tuyển

Việc tuyển dụng theo 4 hình thức - tuyển dụng cạnh tranh, tuyển dụng nội bộ, tuyển dụng theo chế độ hợp đồng, tuyển dụng không qua thi tuyển - tồn tại xuyên suốt hệ thống hành chính nhà nước; từ việc tuyển chọn nhân sự vào một ngành, nghề thuộc một ngạch bậc cho đến việc chuyển ngạch hay bổ sung các vị trí còn trống…

● Tuyển dụng, bổ nhiệm đối với cán bộ cấp cao

a) Cán bộ quản lý, điều hành cấp Vụ

Trên thực tế không có định nghĩa chính xác về nhóm cán bộ cấp cao mà chúng ta chỉ có thể hiểu một cách đơn giản đó là những tập hợp của các vị trí việc làm vượt ra ngoài ngạch A (có thể gọi là A+ hay A‟ hay A++)

Các yếu tố đặc trưng cho các vị trí việc làm này là:

+ Đây được coi là các vị trí việc làm mang tính chính trị

+ Họ được bổ nhiệm theo Quyết định của Tổng thống nước Cộng hòa Pháp và của các Bộ trưởng

+ Có thể bổ nhiệm những người là công chức hoặc không là công chức (vì tuyển dụng theo phương thức cạnh tranh)

+ Việc bổ nhiệm vào các vị trí việc làm này có thể bị hủy bỏ dù họ có phải là công chức hay không

Nghị định số 85-779 ngày 24/7/1985 hướng dẫn áp dụng Điều 25 của Luật số 84-16 ngày 11/01/1984 quy định về vị trí việc làm cấp cao và việc bổ

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiệm, miễn nhiệm đối với các vị trí này Theo đó các vị trí việc làm được coi là cấp cao bao gồm:

+ Tổng thư ký của Bộ Quốc phòng và An ninh quốc gia

+ Đại biểu liên Bộ

- Trong Bộ Ngoại giao:

+ Tổng Lãnh sự quán

- Trong Bộ Nội vụ và cơ quan phân cấp:

+ Cán bộ đại diện chính phủ ở địa phương,

+ Chánh Thanh tra,

+ Cục trưởng và Chánh thanh tra của Cục Cảnh sát Quốc gia

- Trong Bộ Giáo dục:

+ Giám đốc các Học viện

- Trong Bộ Kinh tế, Tài chính và Công nghiệp:

+ Chánh Thanh tra tài chính

Việc bổ nhiệm vào các vị trí này được công bố theo Quyết định của Tổng thống nước Cộng hòa Pháp và của các Bộ trưởng Quyết định bổ nhiệm ghi rõ vị trí và thời gian bổ nhiệm cũng như hiệu lực thi hành của Quyết định (thông thường là bổ nhiệm trong vòng 3 năm)

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ba tháng trước khi kết thúc thời gian bổ nhiệm, cán bộ cấp cao này có thể nộp hồ sơ dự tuyển để được tái bổ nhiệm (trong trường hợp có thể) Nếu được tái bổ nhiệm thì Quyết định tái bổ nhiệm phải được công bố 2 tháng trước khi Quyết định bổ nhiệm cũ hết hiệu lực, tổng thời gian làm việc của cả hai lần bổ nhiệm và tái bổ nhiệm không được vượt quá 6 năm Với những đặc điểm như trên nên thời gian bổ nhiệm vào một trong các vị trí này không được tính vào thâm niên

Nghị định số 2008-15 ngày 04/01/2008 quy định về luân chuyển và chuyển ngạch cán bộ được tuyển dụng từ Trường Hành chính Quốc gia (ENA) Theo đó những người được tuyển dụng thông qua con đường này phải buộc luân chuyển 2 đến 3 năm, giai đoạn luân chuyển này là luân chuyển bắt buộc trên con đường thăng tiến sự nghiệp sau này

Việc tuyển dụng cho các vị trí quản lý cấp cao thông thường được lấy

từ Ngạch A - ngạch cao cấp - (phần lớn những người được đảm nhận vị trí này đều tốt nghiệp từ Trường ENA, nhưng cũng có những người dựa vào thâm niên công tác và thông qua thi tuyển nội bộ để thi tuyển vào các vị trí này) Tuy nhiên việc thi tuyển nội bộ cho các vị trí này được quy định rất chặt chẽ và yêu cầu cao về bằng cấp cũng như các khả năng khác nhau

Nghị định số 2008-382 ngày 21/4/2008 quy định về công việc của các chuyên gia có trình độ cao Theo đó các chuyên gia có trình độ cao thực hiện các nhiệm vụ tư vấn, kiểm toán hoặc hòa giải đòi hỏi kinh nghiệm đa dạng và năng lực phân tích cũng như khả năng đề xuất cao Các chuyên gia có trình độ cao này được đặt ngang hàng (xét theo vị trí việc làm) với các Tổng thư ký cấp Bộ hoặc các thành viên trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, các Tổng giám đốc điều hành, các trưởng một bộ phận hành chính thuộc trung ương, các đại diện của Chính phủ ở địa phương (tương đương chủ tịch UBND cấp tỉnh), cấp

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trưởng các bộ phận phân cấp hay các giám đốc cơ sở mang tính hành chính nhà nước

b) Cán bộ quản lý cấp phòng

Việc tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ quản lý cấp phòng được thực hiện theo phương thức cạnh tranh công khai bao gồm:

+ Cạnh tranh nội bộ: đây là hình thức tuyển dụng rất mở dành cho tất

cả những người đang là công chức có cùng vị trí việc làm từ các Bộ, các cơ sở hành chính nhà nước khác nhau thuộc ngạch A hay những sinh viên của các trường hành chính sau khi đã hoàn thành xong thời gian thực tập hay thử việc đều có thể tham gia ứng tuyển

+ Cạnh tranh bên ngoài: đối tượng của hình thức tuyển dụng này là những người không nằm trong khối nhà nước, họ có thể là doanh nhân, những người đang tham gia công tác trong khối tư nhân nhưng đáp ứng đủ các điều kiện tuyển dụng về bằng cấp, về kinh nghiệm nghề nghiệp…

Cán bộ được bổ nhiệm vào vị trí này có thể là công chức (nếu là công chức được bổ nhiệm thì phải thuộc ngạch A); hay nhân viên hợp đồng (sẽ được tuyển dụng và bổ nhiệm trong trường hợp không tuyển được công chức ngạch A phù hợp với yêu cầu) Trong trường hợp này nhân viên hợp đồng sẽ được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 3 năm và có thể sẽ được tái bổ nhiệm nếu vẫn chưa tuyển được người thích hợp hơn, tổng thời gian tái bổ nhiệm và bổ nhiệm không được quá 6 năm làm việc và nhân viên hợp đồng không được hưởng đầy đủ các chế độ như công chức nhưng có thể được hưởng lương cao hơn Mặt khác nhân viên hợp đồng sau khi được bổ nhiệm có quyền thi tuyển

để trở thành công chức thuộc ngạch A thông qua kỳ thi tuyển của một trong

số các trường đào tạo chuyên môn thuộc Trường Hành chính Quốc gia (ENA) Từ đó có thể thấy được ENA là một trường chuyên đào tạo ra các công chức ngạch A và sau thời gian luân chuyển bắt buộc 2 đến 3 năm (luân

Ngày đăng: 22/12/2015, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Trọng Bảo (1998), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước , Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
3. Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
4. Nguyễn Thành Hội (1999), Quản trị nhân sự, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: Nguyễn Thành Hội
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
6. Nguyễn Trọng Điều (2002), “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Năm: 2002
9. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2003), Luật Tổ chức HĐND-UBND, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức HĐND-UBND
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
11. Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2003) “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm
Năm: 2003
12. Bộ Nội vụ (2004), Báo cáo về tình hình công chức nhà nước năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình công chức nhà nước năm 2004
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2004
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11 của BCT về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11 của BCT về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
16. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cán bộ, công chức
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
1. Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 66 Khác
5. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 09 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ Khác
7. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ƣơng 5 khóa IX. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Khác
8. Ban Tổ chức Trung ƣơng (2003), Hướng dẫn số 17-HD/TCTW ngày 23/4, về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Khác
10. Nghị định số 114/2003/NĐCP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
14. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2004, tập 5, trang 240 Khác
15. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2004, tập 5, trang 269 Khác
18. Chi cục Thống kê thị xã Quảng Yên, Niên giám thống kê năm 2013 Khác
19. Phòng Thống kê phường Hà An, Niên giám thống kê năm 2013 Khác
20. UBND phường Hà An, Báo cáo kinh tế xã hôi năm 2011, 2012, 2013 Khác
21. UBND thị xã Quảng Yên, Báo cáo kinh tế xã hôi năm 2011, 2012, 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1  cho  thấy,  đối  với  tiêu  chí  “Công  việc  phù  hợp  với  mong  muốn của ông bà” chỉ có 2 người cảm thấy hài lòng tức là cảm thấy phù hợp  với mong muốn, trong khi đó có 9 người đánh giá là không hài lòng tức là  cảm thấy công việc không phù - Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh
ng 3.1 cho thấy, đối với tiêu chí “Công việc phù hợp với mong muốn của ông bà” chỉ có 2 người cảm thấy hài lòng tức là cảm thấy phù hợp với mong muốn, trong khi đó có 9 người đánh giá là không hài lòng tức là cảm thấy công việc không phù (Trang 68)
Bảng 3.5. Đội ngũ CBCC phường Hà An năm 2013 - Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.5. Đội ngũ CBCC phường Hà An năm 2013 (Trang 76)
Bảng 3.6. Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC - Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.6. Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC (Trang 77)
Bảng 3.7. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC  phường Hà An - Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.7. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC phường Hà An (Trang 79)
Bảng 3.8. Độ tuổi của đội ngũ CBCC - Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức phường hà an, thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.8. Độ tuổi của đội ngũ CBCC (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w